1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ngôn ngữ học lịch sử tiếng hán một hướng tiếp cận mới (tạp chí hán nôm, số 5 (90)2008; tr 38 54) (jerry l norman, w south coblin “a new approach to chinese historical linguistics”, 1995)

17 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 301,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI “Chúng tôi dùng khái niệm “Hán ngữ trung cổ” để định danh ngôn ngữ ở giai đoạn khoảng năm 600 với Thiết vận [切韻] là đại biểu, mà n

Trang 1

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 5 (90) - 2008 Jerry L Norman - W South Coblin

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN:

MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI Jerry L Norman () - W South Coblin ()

1 Dẫn nhập

Một trong những đặc trưng rõ rệt

của khẩu ngữ tiếng Hán là tồn tại nhiều

hình thức khác nhau mà qua đó, khẩu

ngữ tiếng Hán tự thể hiện bản thân Các

ghi chép lịch sử cho thấy, những thực

thể khác nhau này, mà ở Trung Quốc gọi

là “方言” (phương ngôn, phương ngữ),

ở phương Tây thường là “dialects”, ít

nhất đã tồn tại từ 1000 năm trước Công

nguyên Đã hơn 3000 năm qua, chúng là

cơ sở và bằng chứng cho lịch sử ngôn ngữ

Trung Quốc Quả thật, lịch sử khẩu ngữ

tiếng Hán có thể được xác định qua quá

trình phát triển của âm vận học ngữ pháp

học, và từ vựng học phương ngôn tiếng

Hán kể từ những trạng thái sớm nhất có

thể nhận biết được cho tới hiện nay

Câu chuyện về các phương ngôn có

liên quan mật thiết đến lịch sử kinh tế xã

hội của dân tộc Trung Quốc Ở đây cần

nhấn mạnh rằng, cái tiến trình phức tạp,

mà qua đó người Trung Quốc di cư từ

các vùng nguyên thổ ở miền Bắc Trung

Quốc đến định cư tại các vùng đất khác,

đã đặt dấu ấn không thể phai mờ lên lịch

sử ngôn ngữ Để nghiên cứu lịch sử

phương ngôn tiếng Hán, cần thiết phải xây dựng và gọt giũa một mô thức lịch

sử cho quá trình vận động và thay đổi ngôn ngữ ở Trung Quốc

2 Mô thức truyền thống của lịch

sử Hán ngữ

Mô thức đầu tiên cho lịch sử Hán ngữ là do Bernhard Karlgren đề xuất Trong 70 năm qua, mô thức ấy đã ảnh hưởng rất mạnh đến các nhà Hán học, vì vậy rất đáng phải làm công việc kiểm nghiệm lại một cách tỉ mỉ về cái định đề hiển ngôn và giả thiết mặc nhận ấy

Trong cuốn Compedium of Phonetics in

Ancient and Archaic Chinese (Trung

thượng cổ Hán ngữ âm vận cương yếu, 1954) của Karlgren, mô thức này đã đạt đến hình thức chín muồi nhất, rốt ráo nhất, và đó cũng là nguồn tư liệu để chúng tôi có những thảo luận dưới đây Hạt nhân trong mô thức của Karlgren là khái niệm “Hán ngữ trung cổ” (Ancient Chinese) Về vấn đề này, ông viết:

()GS Trường Đại học Washington, Mĩ

()GS Trường Đại học Iowa, Mĩ

Trang 2

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

“Chúng tôi dùng khái niệm “Hán

ngữ trung cổ” để định danh ngôn ngữ ở

giai đoạn khoảng năm 600 với Thiết vận

[切韻] là đại biểu, mà nền tảng của nó là

phương ngôn Trường An ở Thiểm Tây;

trong thời Đường, phương ngôn này trở

thành một thứ ngôn ngữ chung (koine),

các tầng lớp trí thức ở các thành phố lớn

hoặc các vùng trung tâm trên toàn quốc

đều sử dụng thứ ngôn ngữ này, trừ vùng

ven biển tỉnh Phúc Kiến” (tr.212)

Trong một chú thích, Karlgren lại

trình bày rõ thêm như sau: “Có căn cứ

để nói rằng, dân cư ở tầng lớp thấp nhất

của rất nhiều tỉnh thành đã giữ được, ở

một mức độ rất lớn, những phương ngôn

thông tục của họ, dấu tích của những

phương ngôn thời “Tiên Đường” này

vẫn còn nhận diện được qua rất nhiều

“thổ ngữ” (t’u-hua vernaculars) Nhưng

thứ ngôn ngữ chung trên được rất nhiều

người truyền thụ và tiếp nhận, từ các

quan lại cao cấp nhất đến các tầng lớp

hạ-trung lưu, khiến cho thứ ngôn ngữ

chung ấy trở thành tổ tiên của gần như

tất cả các phương ngôn hiện nay (trừ

phương ngôn Mân 閩 ở Phúc Kiến và

các vùng lân cận) Sự tương ứng rất gần

gũi giữa âm vận trong Thiết vận và âm

vận trong mỗi phương ngôn hiện đại đã

chứng tỏ một cách chắc chắn rằng Thiết

vận miêu tả một ngôn ngữ thuần nhất và

sống động, chứ không phải là một sản

phẩm nhân tạo, một hỗn thể chiết trung

được tạo thành bởi các yếu tố hỗn tạp từ

rất nhiều phương ngôn, như nhiều học

giả gần đây chủ trương”

Quay trở lại, chúng ta có một giai

đoạn sớm hơn: “Hán ngữ thượng cổ”

(Archaic Chinese), Karlgren trình bày

như sau: “Hán ngữ thượng cổ […] trỏ ngôn ngữ vùng Hà Nam trong những thế

kỉ đầu thời nhà Chu (từ năm 1028 trước Công nguyên) Ngôn ngữ này thể hiện

một phần qua việc gieo vần trong Kinh

Thi cũng như các văn bản sớm khác, và

một phần qua các chữ hài thanh […]” (tr.212)

Rồi tác giả lại viết thêm: “Trong khi trở lại với Hán ngữ thượng cổ nhằm nỗ lực tái lập âm hệ này, chúng ta tất nhiên phải tự dựa vào Hán ngữ trung cổ vừa tái lập Các phương ngôn hiện đại nhìn chung không thể hiện tình hình [ngữ âm]

trước Thiết vận vốn là [ngữ âm] thời

Tùy (chỉ có phương ngôn Mân đôi khi cũng thể hiện một số hiện tượng sớm hơn)” (tr.271)

Đầu tiên, chúng ta hãy chú ý đến sự quan tâm sâu sắc của Karlgren tới âm vận Dù ông cho rằng các khái niệm Hán ngữ thượng cổ và Hán ngữ trung cổ của ông là các phương ngôn có thật ghi khẩu ngữ, nhưng công trình nghiên cứu của ông cho thấy, chính hệ thống âm vận (phonological systems) mới xác định các phương ngôn và mang lại những đặc trưng chân thực về các phương ngôn này Chúng ta không biết Karlgren đã nhìn nhận thế nào về ngữ pháp và từ vựng của các phương ngôn đặc thù trên, vì ông ít khi nhắc tới các vấn đề này Dù sao đi nữa, dường như có thể nói rằng, trong các hệ thống âm vận của Karlgren, Hán ngữ trung cổ và Hán ngữ thượng cổ không phải là “các ngôn ngữ” (languages) với ý nghĩa cụ thể của từ này, mà là các

hệ thống âm vận trừu tượng

Karlgren trình bày rõ ràng rằng, khái niệm Hán ngữ trung cổ của ông là

Trang 3

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 5 (90) - 2008 Jerry L Norman - W South Coblin

phương ngôn của thành Trường An ở

phía nam tỉnh Thiểm Tây trong khoảng

những năm 600 Mặt khác, Hán ngữ

thượng cổ lại là ngôn ngữ của vùng Hà

Nam trong khoảng những năm 1000

trước Công nguyên Hán ngữ thượng cổ

được ông coi là tổ tiên trực tiếp của Hán

ngữ trung cổ Hay nói thẳng ra là, âm hệ

(sound system) của phương ngôn Trường

An thời trung đại (medieval) đã được coi

là cơ sở để tái lập âm hệ của phương

ngôn Hà Nam thời Chu một cách rất “tự

nhiên” Vì vậy, hai khái niệm trên được

Karlgren coi như là những giai đoạn

khác nhau trong lịch sử của cùng một

phương ngôn

Karlgren cho rằng, cùng thời với

Hán ngữ trung cổ, thì bên ngoài Trường

An còn tồn tại “các phương ngôn thông

tục” (vulgar dialects) ở những khu vực

khác, nhưng lịch sử trước thời Đường

của các phương ngôn này không góp

công tạo nên một bộ phận nào trong mô

thức lịch sử của ông Ông khẳng định là,

phương ngôn Trường An trở thành một

“ngôn ngữ chung” (koine) trong suốt

thời Đường Ở đây rất cần chú ý, giả

thiết này có vẻ như không xuất phát từ

các miêu tả lịch sử (dựa trên các tư liệu

văn hiến thời kì sớm) của thời Karlgren

hoặc muộn hơn về một thứ ngôn ngữ

chung Ngược lại, giả thiết này tồn tại

chỉ do suy luận ra từ những sự tương

ứng giữa âm đọc chữ Hán trong các

phương ngôn hiện đại với âm vận trong

Thiết vận Và lại thêm một lần nữa cần

chú ý, dường như có thể nói rằng, ngôn

ngữ chung này có vẻ như được Karlgren

coi là một hệ thống ngữ âm hơn là một

ngôn ngữ hoàn chỉnh Ông không hề

nhắc đến ngữ pháp của ngôn ngữ chung này, còn từ vựng của nó thì có vẻ như không thể phân biệt được với tổng vựng văn tự (large corpus of characters) trong

bộ vận thư Thiết vận

Lời bàn của Karlgren về ngôn ngữ chung thời Đường đã liên quan tới rất nhiều giả thiết về xã hội học và ngôn ngữ học xã hội mà chúng ta cần chú ý

Ví dụ, ông xác quyết rằng, trong xã hội Trung Quốc thời Đường có tồn tại một giai cấp thượng lưu (upper class) gồm

“các quan lại cao cấp nhất” (highest officials), và “tầng lớp hạ-trung lưu” (lower middle class) Giữa hai tầng lớp này, ông cũng đoán định rằng ít nhất cũng có một “tầng lớp trung lưu và/ hoặc thượng-trung lưu” (a middle and/or

an upper-middle class), và dưới tầng lớp hạ-trung lưu thì ít nhất cũng có “tầng lớp

hạ lưu đương thời” (lowest strata of the population) Và trong cách xử lí của ông với các vấn đề trên có một giả thiết hàm ngôn rằng, mỗi tầng lớp lại có tập quán nói năng (speech habits) riêng Bức tranh mà ông vẽ ra, vì vậy, rất giống với tình hình mà người ta có thể bắt gặp ở một nước Bắc Âu cuối thế kỉ XIX Vấn

đề cần đặt ta là nó tương ứng ở mức độ nào với sự thật lịch sử và xã hội Trung Quốc thời Đường

Karlgren cho rằng ngôn ngữ chung thời Đường đã được mọi người tiếp nhận, đến cả tầng lớp hạ-trung lưu, trong khi tầng lớp hạ lưu “đã giữ được, ở một mức độ rất lớn, những phương ngôn thông tục của họ” Nhưng ngôn ngữ chung ấy cuối cùng cũng có vẻ như bằng cách nào đó đã vượt trội và thay thế “các phương ngôn thông tục”, để cho giờ đây

Trang 4

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

“dấu tích của những phương ngôn thời

‘Tiên Đường’ này vẫn còn nhận diện

được qua rất nhiều thổ ngữ” “Vẫn còn

nhận diện được”, có vẻ là như vậy, vì

chúng là “sai quy tắc” (irregular), tức là

chúng không thống nhất với âm loại

trong hệ thống Thiết vận Còn những

yếu tố nào được cho là “đúng quy tắc”

(regular) thì phải thống nhất với hệ

thống Thiết vận Các yếu tố “đúng quy

tắc” này được lấy từ chính ngôn ngữ

chung ấy; đồng thời bản thân sự tồn tại

của ngôn ngữ chung lại được khẳng định

qua sự hiện diện của những yếu tố “đúng

quy tắc” này

Vậy tóm lại, mô hình lịch sử của

Karlgren đã định vị Hán ngữ thượng cổ

là phương ngôn Hà Nam vào khoảng

năm 1000 trước Công nguyên Ngôn

ngữ này được coi là nguồn gốc trực tiếp

của phương ngôn Trường An vào

khoảng năm 600, gọi là Hán ngữ trung

cổ Hán ngữ trung cổ trở thành ngôn ngữ

chung trong thời Đường, khi ấy nó thay

thế hầu hết các thổ ngữ thông tục đương

thời, [ngôn ngữ chung ấy] đầu tiên được

dùng trong tầng lớp hạ-trung lưu và

thượng lưu, và sau đó thì phổ biến hơn

nữa Vì vậy, việc nghiên cứu âm vận học

lịch sử Hán ngữ chính là nghiên cứu sự

phát triển từ Hán ngữ thượng cổ đến

Hán ngữ trung cổ, và từ Hán ngữ trung

cổ đến các yếu tố “phi thông tục”

(non-vulgar) trong các phương ngôn hiện đại

3 Cải chính và tái thông giải mô

thức truyền thống

Mô thức của Karlgren đã được cải

chính ở một số điểm trong suốt 40 năm

kể từ khi mô thức ấy định hình Đầu tiên,

quan niệm về Hán ngữ thượng cổ, bây

giờ thường gọi là “cổ Hán ngữ” (Old Chinese), đã được mở rộng hơn so với phạm vi khá hẹp lúc đầu Ví dụ, Lí Phương Quế cho rằng đó là ngôn ngữ của vùng đồng bằng miền Bắc Trung Quốc trong thời Chu (Lí Phương Quế, 1983), nó có thể đã trở thành ngôn ngữ

tổ tiên của rất nhiều hình thức khẩu ngữ xuất hiện sau và được sử dụng trên một lãnh thổ rộng hơn Gần đây, Baxter (1992: 24) đã chỉ rõ, cổ Hán ngữ là “bất

kì một biến thể nào của Hán ngữ giai đoạn đầu và giữa thời Chu”, rồi ông lưu

ý rằng: “chúng ta đã có thể thảo luận về các phương ngôn và các giai đoạn của

cổ Hán ngữ” Quan điểm về Hán ngữ thượng cổ (cổ Hán ngữ) như vậy, tất nhiên là rộng hơn hẳn Karlgren Nhưng trong cùng một đoạn văn trên, Baxter cũng nói về “việc tái lập cổ Hán ngữ” như là một nhiệm vụ có tính “đặc quyền” của âm vận học, chỉ ra rằng sự quan tâm đầu tiên của Karlgren đến âm vận học vẫn còn giữ địa vị thống trị trong các mô thức hiện hành của lịch sử ngôn ngữ học tiếng Hán

Khái niệm của Karlgren về Hán ngữ thượng cổ đã thực sự gặp thách thức từ phía các học giả sau này Đầu tiên, hiện nay người ta công nhận rộng rãi rằng

Thiết vận không thể phản ánh phương

ngôn Trường An trong khoảng năm 600 Ngược lại, nó dường như liên quan tới các phương ngôn của nhiều trung tâm văn hóa khác nhau ở phía đông Trung Nguyên, đó là Lạc Dương, Nghiệp, Kim Lăng (nay là Nam Kinh) Một số không nhiều học giả tin rằng phương ngôn Lạc Dương là cơ sở chủ yếu cho hệ thống

Thiết vận Số đông các học giả còn lại

Trang 5

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 5 (90) - 2008 Jerry L Norman - W South Coblin

coi hệ thống Thiết vận là chiết trung của

những sai biệt lớn nhất giữa “các truyền

thống độc thư âm” (reading traditions)

[讀書音傳統] của cả ba phương ngôn

trên, rồi lại bị phức tạp hóa qua việc thu

nhận nhiều đặc trưng khác nhau trong

một số vận thư thời kì sớm Như thế là

những quan điểm này mâu thuẫn nghiêm

trọng với xu hướng của mô thức Karlgren,

bởi vì, nếu ngôn ngữ chung thời Đường

được cho là có nguồn gốc từ Trường An,

thì hệ thống Thiết vận không thể là cơ sở

cho ngôn ngữ chung ấy

Đến lượt mình, quan điểm này lại

buộc chúng ta phải suy nghĩ một cách tỉ

mỉ hơn về lập trường của Karlgren, và

nó cũng liên quan tới các vận đồ (rime

tables) nổi tiếng thời Tống Karlgren gần

như chỉ quan tâm tới một vận đồ trong

số này, ông viết: “[…] Một học giả kiệt

xuất đời Tống là Tư Mã Quang đã tiến

hành khảo sát cụ thể về âm hệ trong

ngôn ngữ của ông và tóm tắt thành hình

thức các vận đồ, đó là Thiết vận chỉ

chưởng đồ (1069) Ngôn ngữ mà các

vận đồ này thể hiện đã tiến bộ hơn nhiều,

trong quá trình tiến hóa, so với ngôn ngữ

trong Thiết vận; đầu tiên là có sự giản

hóa đáng kể, ví dụ hai hay vài vận mẫu

(được phân biệt rõ ràng bằng vận hoặc

phản thiết) trong Thiết vận đã được hợp

nhất trong ngôn ngữ của Tư Mã Quang

Nhưng các vận đồ này rất có giá trị, bởi

khi quan sát thấy sự khu biệt của các âm

loại giữa các vận đồ với Thiết vận là

giống nhau, chúng ta có thể suy nghĩ

một cách có lí rằng cơ sở ngữ âm của

những khu biệt trên giữa hai bên là

giống nhau”

Karlgren cho rằng Tư Mã Quang là

tác giả của Thiết vận chỉ chưởng đồ

切 韻 指 掌 圖 , nhưng quan điểm này không còn được các học giả ngày nay chấp nhận nữa; tuy nhiên đây không phải vấn đề trọng tâm trong bài viết này Điều quan trọng nằm ở quan điểm chung của ông về vận đồ Thứ nhất, ông coi vận đồ là “sự khảo sát về âm hệ” trong ngôn ngữ của chính người khảo sát, chứ không phải là sự phân tích về bản thân

hệ thống Thiết vận Thứ hai, ông lại cảm

thấy rằng, ở những chỗ có sự khu biệt

giống nhau giữa vận đồ với Thiết vận,

thì “cơ sở ngữ âm của những khu biệt

trên giữa hai bên là giống nhau” (tác

giả nhấn mạnh) Hệ thống âm vận được phản ánh trong các vận đồ có thể kế thừa

trực tiếp từ hệ thống Thiết vận, đó là một

giả thiết có lí, theo quan điểm của Karlgren, bởi vì các phương ngôn sau này mà ông chủ trương đã bắt nguồn từ ngôn ngữ chung đời Đường, mà ngôn ngữ chung này, đến lượt nó, lại bắt nguồn từ Hán ngữ thượng cổ Nhưng một điểm còn chưa được làm sáng tỏ là, tại sao các cơ sở ngữ âm chung lại cần thiết để thừa nhận những sự khu biệt giống nhau trong những thời kì khác nhau Tuy nhiên, đó là lập trường của Karlgren, và ông căn cứ vào đó để thực hiện công việc tái lập

Các nhà âm vận học lịch sử tiếng Hán thuộc các thế hệ sau đã thay thế

Thiết vận chỉ chưởng đồ bằng Vận kính

韻 鏡 Truyền bản sớm nhất hiện biết của tác phẩm này có niên đại cuối thế kỉ XII, tức là muộn hơn gần 600 năm so

với Thiết vận Hiện chưa có kết luận rõ

ràng về tác giả, niên đại, và nguyên thổ

Trang 6

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

của Vận kính Nhìn chung, văn bản ấy

đã được các học giả sau này sử dụng khi

họ nghiên cứu về Hán ngữ trung cổ

(hiện nay thường gọi là “Hán ngữ trung

đại- Middle Chinese”), và họ sử dụng

theo đúng cái cách mà Karlgren đã quy

kết cho Thiết vận chỉ chưởng đồ Quan

điểm của Karlgren, rằng vận đồ ấy thật

ra là dựa trên ngôn ngữ của chính tác giả

chứ không phải dựa trên “ngôn ngữ

Thiết vận”, đã có xu hướng bị tiễn đưa

một cách không kèn trống trong sự chấp

nhận ngầm rằng Vận kính có thể là một

thứ “chỉ nam” cho hệ thống Thiết vận

Nhưng điều đó không ảnh hưởng gì đến

phương pháp tiếp cận chung của trường

phái Karlgren, bởi chính Karlgren đã nói

rằng những khu biệt chung trong hai

nguồn tư liệu sẽ thể hiện những sự thật

ngữ âm giống nhau Vì vậy, những

người sử dụng Vận kính với tư cách là

một loại “lưới mắt cáo” (latticework) để

thông qua đó nhìn nhận về Thiết vận, đã

có xu hướng đi tiên phong mà không hề

bình luận, hoặc chỉ bình luận chút ít về

mối liên hệ lịch sử thực hữu giữa hai hệ

thống trên Nhưng có một trường hợp

ngoại lệ là E G Pulleyblank, người đã

nỗ lực tái thông giải (reformulation) lập

trường của Karlgren (1984) Cũng giống

như hầu hết các học giả ngày nay,

Pulleyblank không chấp nhận rằng hệ

thống Thiết vận phản ánh một giai đoạn

nào đó của phương ngôn Trường An

Nhưng ông chấp nhận giả thiết của

Karlgren rằng có tồn tại thực sự một

ngôn ngữ chung thời Đường và nó phát

tích từ Trường An Tiến thêm bước nữa,

ông lại chủ trương rằng Vận kính căn cứ

trên ngôn ngữ chung thời Đường ấy, tức

là căn cứ trên phương ngôn Trường An Nói cho chính xác, Pulleyblank đã kế tục hoàn toàn quan điểm vốn có của Karlgren, rằng các vận đồ ấy là một sự

“phân tích ngữ âm học” của phương ngôn này (tr.68) Và rốt cuộc, ông tin

rằng, cho dù hệ thống Thiết vận, (mà

ông gọi là “Hán ngữ trung đại thời kì sớm” - Early Middle Chinese), và hệ

thống Vận kính (mà ông gọi là “Hán ngữ

trung đại thời kì muộn” - Late Middle Chinese) đã có nhiều cơ sở phương ngôn khác nhau, và có nhiều giai đoạn lịch sử phát triển khác nhau, nhưng dù sao cũng nên cho rằng hệ thống sau đã được phát triển trên cơ sở trực tiếp từ hệ thống trước (tr.130) Như thế là mối liên hệ

vốn có giữa Thiết vận và các vận đồ,

theo quan điểm của Karlgren, vẫn được bảo tồn, và các vận đồ đến lượt chúng lại được tận dụng để chứng minh cho mối liên hệ then chốt nhất với ngôn ngữ chung đời Đường Hơn nữa, ngôn ngữ chung đời Đường còn được xác nhận vai trò là ngôn ngữ tổ tiên của tất cả các phương ngôn hiện đại trừ phương ngôn Mân (tr.63) Vậy thì qua công trình của Pulleyblank, cấu trúc căn bản của mô thức Karlgren đã được cứu vãn khỏi những sai lầm về lịch sử và địa lí, lại được củng cố bằng một vài lí thuyết của chính Pulleyblank, và cuối cùng bảo tồn được cái bản chất Công bằng mà nói, với sự tái thông giải mới mẻ này, chúng

ta nên gọi [mô thức mới ấy] là “mô thức Tân Karlgren”, thậm chí là “mô thức Karlgren/Pulleyblank”

4 Các vấn đề trong mô thức Tân Karlgren và phương pháp luận hữu quan

Trang 7

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 5 (90) - 2008 Jerry L Norman - W South Coblin

Về bản chất của hệ thống Thiết vận và

nguồn gốc của các phương ngôn tiếng

Hán, mô thức Tân Karlgren có các chủ

trương có thể phân tách như sau (từ A đến D):

A Trong thời trung đại ở Trung

Quốc có một ngôn ngữ sống (Hán ngữ

trung cổ, hoặc Hán ngữ trung đại thời kì

sớm), nó tương đồng về bản chất với

ngôn ngữ được ghi chép trong Thiết vận

của Lục Pháp Ngôn

Thực tế thì Lục Pháp Ngôn đã ghi

chép cái gì trong Thiết vận? Theo những

điều trình bày rất rõ ràng trong phần lời

tựa, thì Thiết vận chủ yếu dựa vào các

vận thư trước đó Những vận thư này

đến lượt chúng lại dựa vào truyền thống

chú âm từ sau đời Hán trở đi Cho dù

hiện nay không còn cuốn vận thư nào

trong số những vận thư mà Lục Pháp

Ngôn đã nói đến trong phần lời tựa,

nhưng chắc rằng phần lớn trong số

chúng là “các tự âm biểu thực hành”

(practical handlists of character readings)

mà thời ấy thầy phát cho trò Trong khi

làm việc với các tư liệu này, có thể Lục

Pháp Ngôn đã suy nghĩ tới các dạng “độc

thư âm” (reading pronunciations) văn

nhã được sử dụng ở miền Bắc và miền

Nam Kết quả tất yếu đã mang lại một

bộ âm biểu (phonological inventory)

phức hợp bao gồm các yếu tố từ các giai

đoạn sớm hơn cũng như các yếu tố từ các

vùng miền khác nhau của Trung Quốc

Thật thú vị khi ta nhớ rằng quan

điểm trên đã lưu hành ở Trung Quốc

trong một thời gian dài, như có thể thấy

trong các trích dẫn sau đây

La Thường Bồi trong cuốn Đường

Ngũ đại tây bắc phương âm (1933) đã

viết: “Hơn nữa, tính chất của Thiết vận

vốn là một bộ âm vựng ghi chép tổng

hợp về Nam Bắc thị phi, cổ kim thông

tắc [cái đúng cái sai của Nam Bắc, chỗ

thông chỗ tắc của xưa nay], tuy nó ghi chép tất cả phương âm đương thời, nhưng lại không có một phương âm nào hoàn toàn phù hợp với nó” (La Thường Bồi 1933: 1)

Lục Chí Vi trong cuốn Cổ âm thuyết

lược (1947) đã viết: “Karlgren còn có

khuyết điểm thứ ba Ông khăng khăng

cho rằng Thiết vận đại diện cho một thứ

quan thoại vào thời Lục Pháp Ngôn, hơn nữa, đó là phương ngôn Trường An

Phần lời tựa trong Thiết vận đã nói rất rõ

rằng cuốn sách này là một hỗn hợp các yếu tố Bắc Nam cổ kim, chứ không dựa trên quan điểm cá nhân của Lục Pháp

Ngôn Phản thiết dùng trong Thiết vận

cũng được sao chép từ các vận thư trong giai đoạn Lục Triều” (tr.2)

Ở trang sau, ông viết thêm: “Thiết vận

đại diện cho bộ mặt hoàn chỉnh của Hán ngữ thời Nam Bắc Triều, chứ không đại diện cho một phương ngôn đơn thuần nào” (tr.3)

Dưới đây xin dẫn thêm một đoạn

trong bài Tùng sử thực luận Thiết vận

(1949) của Trần Dần Khác: “Chính Lục Pháp Ngôn nói rằng, để hoàn thành cuốn sách của mình, ông đã sử dụng những ghi chép về các cuộc thảo luận của nhóm Lưu Trăn gồm tám người để làm tiêu chí lựa chọn, từ đó lựa chọn điểm đúng sai trong các vận thư của chư gia và trong tự thư xưa nay mà biên soạn Vậy nên âm

hệ của sách này [Thiết vận - tác giả ghi

thêm] chắc chắn không phải là một phương ngôn đang dùng trong một thời

Trang 8

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

gian hoặc không gian xác định nào”

(1949 [in lại 1974]: tr.574)

Sau đó, Trương Côn và Betty Shefts

cũng đứng trên truyền thống tri thức ấy để

lập luận rằng: “Thiết vận không đại diện

cho phương ngôn Trường An, ngay tác

giả cuốn sách này cũng không có ý nói

như vậy Mục đích của Thiết vận không

nằm ở chỗ đại diện cho một hệ thống

mạch lạc và tự nhiên nào, mà ở chỗ

tổng hợp rất nhiều hệ thống thời trước

trong nhiều tự thư như của Lã Tĩnh, Hạ

Hầu Vịnh, Lí Quý Tiết, Đỗ Đài Khanh”

(1972: tr.2)

Cuối cùng, chúng tôi xin trích dẫn

Vương Lực trong công trình cuối cùng

của ông, Hán ngữ ngữ âm sử:

“Thiết vận không hề đại diện cho

một âm hệ [được sử dụng] trong một

thời gian và không gian cụ thể nào

Chính Lục Pháp Ngôn đã nói: “Những

vần được gieo với nhau ở Giang Đông

thì lại khác nhau ở Hà Bắc; vì vậy khi

bàn về Nam Bắc thị phi, cổ kim thông

tắc, chúng tôi muốn lựa chọn những gì

tinh túy và trọng yếu, loại bỏ những gì

thô thiển và sai lầm Phần lớn cuốn sách

đều dựa theo Nhan Chi Thôi và Tiêu Cai

mà quyết định” Thiết vận rõ ràng là cuốn

sách có tính chất tồn cổ” (1985: tr.5)

Cũng trong cuốn sách này, ở phần sau

ông viết: “Trước đây có người cho rằng

âm hệ Thiết vận là âm hệ thời Tùy

Đường Thực ra Thiết vận không đại

diện cho một âm hệ trong một thời gian

và không gian cụ thể nào” (tr.164)

Qua các trích dẫn trên, rõ ràng là

trong hơn 50 năm qua, tại Trung Quốc

có một tư trào mạnh mẽ coi Thiết vận

không phải là một phương ngôn trong một thời gian hoặc không gian cụ thể nào, mà nó là một loại âm vựng hỗn hợp dựa trên các vận thư trước nó và tập quán [ngữ âm] địa phương khác nhau

Vậy thì, Thiết vận là đỉnh cao tiêu

biểu cho một truyền thống, đó chính là

“truyền thống chú âm” (phonological grossing tradition) thời Nam Bắc Triều

Nó là sự điển phạm hóa (canonization) của truyền thống, chứ không phải một sự

khởi điểm mới Thật ra Thiết vận là một

tác phẩm rất “thủ cựu” Như Chu Tổ Mô

gợi ý, rất có thể “độc thư âm” (reading

pronunciation) cuối thời Nam Bắc Triều được dạy ở Kim Lăng là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc biên soạn

Thiết vận, nhưng điều này không thể loại

bỏ một khả năng rất có thể xảy ra là Thiết

vận phần lớn dựa trên các vận đồ trước

nó Trên thực tế, rất có thể người ta sẽ tán thành quan điểm của Trần Dần Khác và sau đó là Thiệu Vinh Phần cho rằng, theo

một ý nghĩa nào đó, Thiết vận đại diện

cho phương ngôn Lạc Dương Sau rốt, người ta thường tán thành quan điểm cho rằng các học giả ở Kim Lăng thế kỉ VI là hậu duệ của những quan viên và học giả

đã chạy loạn đến Lạc Dương cuối thời Tây Tấn Cố đô Lạc Dương, như W.J.F Jenner đã chỉ ra, “gợi nhớ đến một bức tranh của sự tráng lệ và văn minh tầm cao”, sau khi nó không còn là kinh đô nữa mà chỉ còn là một thành phố bình thường “Giống như Jerusalem hay Rome, Lạc Dương vừa là một vùng đất tượng trưng, cũng vừa là một vùng đất thực tế” (1981: tr.45) Vì vậy, Nhan Chi Thôi

trong thiên Âm từ 音辭 của cuốn Nhan

thị gia huấn 顏氏家訓 đã coi [ngữ âm]

Trang 9

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 5 (90) - 2008 Jerry L Norman - W South Coblin

Lạc Dương và Kim Lăng là hai tiêu

chuẩn của tập quán [phát âm] tao nhã, đó

không phải Lạc Dương thực tế ngay

trong thời đại của ông, mà là một Lạc

Dương tượng trưng đã bị hủy diệt vào

năm 311 nhưng vẫn đang tồn tại qua tiêu

chuẩn của một quan điểm văn hóa và tư

tưởng về tập quán [phát âm] tao nhã

Nhan Chi Thôi coi phương ngôn Kim

Lăng không phải là ngôn ngữ hằng ngày

phổ thông của người dân thường, mà là

“độc thư âm” trong các sách giáo khoa

dạy trong nhà trường

Có vẻ như đã rõ ràng là Thiết vận

không đại diện cho một ghi chép về bất

kì một phương ngôn khẩu ngữ (spoken

dialect) trong một thời gian và không

gian cụ thể nào; nói cho đúng hơn thì nó

là âm vựng của một truyền thống chú

âm Từ đó mà xét, hệ thống Thiết vận

không thực sự là một “ngôn ngữ” theo

đúng nghĩa của từ này Thiết vận không

cung cấp cho chúng ta một âm hệ nhất

quán có thể định vị trong một không

gian và thời gian xác định, nó cũng

không phải là từ vựng của bất kì một

phương ngôn cụ thể nào Nó là tập hợp

hỗn tạp các từ lấy trong các văn bản ở mọi

thời đại, mà không hề cho biết từ nào

trong số đó có còn đang được sử dụng

trong một hình thức ngôn ngữ sống nào đó

hay không Hơn nữa, không ở đâu có văn

bản (texts) nào có thể gọi là “Hán ngữ

trung cổ” (Ancient Chinese), nếu chúng ta

muốn nói đến các văn bản mà chúng phản

ánh bất kì một hình thức ngôn ngữ đương

thời nào qua một phương thức dẫu không

hề hoàn thiện Vì thiếu những văn bản

như vậy nên “Hán ngữ trung cổ” không có

cấu trúc ngôn ngữ học

Kết luận chắc chắn phải là: “Hán ngữ trung cổ” (hoặc “Hán ngữ trung đại thời kì sớm”, mà thật ra chỉ là tên gọi khác của cùng một sự vật) không có ngữ

âm riêng biệt của bản thân nó, không có

từ vựng, cũng không có ngữ pháp Đó không phải là một ngôn ngữ

B Một khái niệm về “Hán ngữ trung

cổ” (hoặc “Hán ngữ trung đại thời kì muộn”) ở thời kì muộn hơn đã được tái định nghĩa là phương ngôn của kinh đô thời Đường (Trường An) và được thể

hiện qua các âm biểu trong Vận kính

Quan điểm này dường như không dựa trên một cơ sở lịch sử nào Nguồn

gốc về thời gian và không gian của Vận

kính hiện vẫn còn vô cùng mờ mịt

Không có “Lời tựa Vận kính” nào để cho chúng ta biết ai đã viết Vận kính, và viết

để làm gì Nhìn chung là không có một nguồn tư liệu Trung Quốc nào đương thời

hoặc sau này cho rằng Vận kính có liên

quan tới phương ngôn Trường An hay các phương ngôn Tây Bắc sớm hơn Cơ sở phương ngôn của văn bản này, nếu nó thực sự là một thứ có thể được xác định rõ ràng, sẽ là một chủ đề cho những nghiên cứu trong tương lai, chứ không phải là một sự thật đã được định rõ để căn cứ vào

đó mà dựng lên các giả thiết về phương ngôn kinh đô đời Đường

C Phương ngôn Trường An đời

Đường, trong tiến trình của triều đại này,

đã trở thành một ngôn ngữ chung, thứ ngôn ngữ chung này lan truyền ra tất cả các vùng trên vương quốc, và trên đại thể đã thay thế các phương ngôn trước thời Đường

Như đã trình bày trên, hệ thống Thiết

vận không căn cứ trên phương ngôn

Trang 10

NGÔN NGỮ HỌC LỊCH SỬ TIẾNG HÁN: MỘT HƯỚNG TIẾP CẬN MỚI

Trường An Pulleyblank, người tán thành

quan điểm này, dù sao vẫn khẳng định

rằng tất cả các phương ngôn tiếng Hán

hiện đại, trừ phương ngôn Mân, đều bắt

nguồn từ một ngôn ngữ chung đời Đường

dựa trên phương ngôn Trường An, nhưng

ông cho rằng phương ngôn này không

được phản ánh trong Thiết vận, mà trong

các nguồn tư liệu sau đó, chủ yếu là trong

các vận đồ Theo quan điểm của Pulleyblank,

hiện tượng phương ngôn hóa hiện nay ở

Trung Quốc có thể giúp truy nguyên về

ngôn ngữ chung dựa trên phương ngôn

Trường An giai đoạn thế kỉ VIII-IX

Điều kì lạ là chưa có ai viện dẫn bất

kì một chứng cứ lịch sử nào cho cả hai

quan điểm này Trong ngôn ngữ học lịch

sử tiếng Hán có một khuynh hướng

mạnh mẽ thừa nhận rằng, ngôn ngữ

thông dụng quan phương (từ thời Minh

trở đi gọi là "quan thoại" 官話) tất nhiên

phải dựa trên phương ngôn của kinh đô

đương thời Nhưng cũng có một vài

ngoại lệ lí thú, đó là các công trình gần

đây của Lỗ Quốc Nghiêu (1985) và

Dương Phúc Miên (1989) cho rằng quan

thoại thời Minh - Thanh thật ra không

dựa trên phương ngôn của kinh đô Bắc

Kinh, mà là biến thể của quan thoại

phương Nam (vùng Giang Hoài) Trên

thực tế, ngôn ngữ quan phương chung

trong quá khứ là cái mà chúng ta có thể

gọi là “những quy phạm trôi nổi” (floating

norms), chúng chỉ được hình thành từ nhu

cầu thực tiễn, để cho các quan lại từ nhiều

vùng miền trong cả nước giao tiếp được

với nhau Hơn nữa, cho dù phương ngôn

Trường An đời Đường có uy tín rất cao vì

là phương ngôn của kinh đô, thì điều đó

cũng không hề chứng tỏ rằng phương

ngôn ấy đã thay thế tất cả các phương ngôn khu vực khác thời bấy giờ Trường

An là kinh đô của Trung Quốc trong một giai đoạn kéo dài 326 năm thời Tùy -Đường Bắc Kinh là kinh đô liên tục trong

490 năm thời kì Minh-Thanh; nhưng dù cho hai triều Minh-Thanh thi hành chính sách trung ương tập quyền mạnh mẽ, thì phương ngôn Bắc Kinh có vẻ như chỉ ảnh hưởng rất ít tới các phương ngôn khu vực khác Bây giờ hãy so sánh với thời Minh hoặc Thanh, thì thời Đường, trong một

số giai đoạn trọng yếu trên lịch sử của mình, rất có thể không phải là một triều đại thực sự hùng mạnh Sau loạn An Lộc Sơn, triều Đường thật ra đã có phần suy yếu (Twitchett 1979: Chương 8) Chúng

ta cần phải đánh giá lại một cách nghiêm túc về vấn đề phương ngôn Trường An đã ảnh hưởng tới mức độ nào đến các thổ ngữ địa phương (local vernaculars) trong thời Tùy-Đường

Về vấn đề này, người ta có thể trước hết sẽ hỏi xem phép loại suy (analogy) về ngôn ngữ chung theo Karlgren đã thích

hợp đến đâu Trong Etudes sur la

phonology chinoise (1915-1926: tr.693,

chú thích số 2), Karlgren viết: “Như thế

là tiếng Hán và tiếng Hi Lạp có điểm tương đồng thú vị, trong khi hầu như tất

cả phương ngôn của thời kì cổ điển đã tuyệt diệt, thì tuyệt đại đa số phương ngôn hiện đại của tiếng Hi Lạp đều bắt nguồn từ ngôn ngữ chung thời Hi Lạp

cổ đại [thế kỉ IV-I TCN]”

Rồi sau đó, Karlgren sử dụng phép loại suy này trong một vài công trình của ông Nhưng ngôn ngữ chung của Hi Lạp có thật sự là một mẫu hình phù hợp cho lịch sử ngôn ngữ Trung Quốc hay

Ngày đăng: 15/10/2022, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Baxter, William H. 1992. A Handbook of Old Chinese [Cổ Hán ngữ thủ sách].Berlin and New York: Mouton de Gruyter Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Handbook of Old Chinese
2. Browning, Robert. 1983. Medieval and Mordern Greek [Tiếng Hi Lạp thời trung đại và hiện đại]. Cambridge:Cambridge Univ. Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medieval and Mordern Greek
3. Chu Tổ Mô [ 周祖謨 ]. 1966. “ 切韻的 性質和它的音系基礎” [Tính chất của Thiết vận và cơ sở âm hệ của nó], trong: 《問學 集》, vol.II. Beijing. pp.434-473 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 切韻的性質和它的音系基礎” [Tính chất của "Thiết vận
5. Jenner, W.J.F. 1981. Memories of Loyang [Kí ức về Lạc Dương]. Oxford:Clarendon Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Memories of Loyang
6. Karlgren, Bernhard. 1915-1926. Etudes sur la phonologie chinoise [Hán ngữ âm vận học nghiên cứu]. Leiden: E.J. Brill; Uppsala, K.W. Appelberg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Etudes sur la phonologie chinoise
7. Karlgren, Bernhard. 1954. Compedium of Phonetics in Ancient and Archaic Chinese [Trung thượng cổ Hán ngữ âm vận cương yếu]. Stockholm: Museum of Far Eastern Antiquities Sách, tạp chí
Tiêu đề: Compedium of Phonetics in Ancient and Archaic Chinese

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm