1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ nôm qua các nhóm ngôn từ đồng nhất the development of the structure of vietnamese nom script through groups of similar words

33 20 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Diễn Cách Cấu Trúc Chữ Nôm Qua Các Nhóm Ngôn Từ Đồng Nhất
Tác giả Nguyễn Tuấn Cường
Người hướng dẫn TS. Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngữ nhất định, tức là nghiên cứu diễn biến của chữ Nôm ở cấp độ đơn vị văn tự; 2 tạo qua thời biến của chữ Nôm trên cấp độ hệ thống văn tự: Sự tăng giảm về phân lượng các loại chữ

Trang 1

NGHIÊN CỨU DIÊN CÁCH CÁU TRÚC CHỮ NÔM

QUA CAC NHOM NGON TU DONG NHAT

(Trong bén ban dich Nom Kinh Thi)

Nguyễn Tuấn Cường"

1, Đặt vấn đề

Theo cấp độ của đối tượng văn tự được nghiên cứu, có hai cấp độ để nghiên cứu vấn đề diện cách cầu trúc chữ Nôm là cấp độ hệ thống văn tự và cấp độ đơn vị văn tự Công trình nghiên cứu đâu tiên chỉ rõ hai khái niệm này là cuỗn Kñái lua văn tự học chữ Nôm của Nguyễn Quang Hồng [2008, tr 337-384] Tác giả

sách đã giới thuyết về hai cấp độ trong nghiên cứu diễn biến cấu trúc của chữ Nôm

như sau: (1) Biến đổi về hình thể của một số chữ Nôm ứng với một số đơn vị ngôn

ngữ nhất định, tức là nghiên cứu diễn biến của chữ Nôm ở cấp độ đơn vị văn tự; (2)

tạo qua thời

biến của chữ Nôm trên cấp độ hệ thống văn tự:

Sự tăng giảm về phân lượng các loại chữ xét theo các phương thức

gian, tức là nghiên cứu sự đi

Một số nghiên cứu về diễn bị: trúc chữ Nôm theo cấp độ hệ thống văn tự

đã chỉ ra một xu hướng chung trong diễn biến cấu trúc chữ Nôm là giảm dần loại

mượn Hán và tăng dẫn loại tự tạo Nhưng ở đây có một số trường hợp đáng lưu ý,

bởi nó phá vỡ quy luật trên: hai văn bản Đại Nam quốc sử điển ca 2k Bi tt:ÿftift và

Hộ pháp luận giải âm Ÿš5EÑ&ÉŸí dù xuất hiện tương đổi muộn, khoảng nửa cuối thé ky XIX, nhưng lại có tỷ lệ số lượt chữ Nôm mượn Hán cao vọt, còn tỷ lệ số lượt

chữ Nôm tự tạo lại giảm xuống Lý giải về trường hợp Dai Nam quốc sử diễn ca,

"Do tính chất đặc thù của sách này là bài diễn ca về lịch sử, tác lều chữ Hán mượn ở sách sử, nên tỷ lệ của các chữ viết theo cách

i 1975, tr 125]; con Nguyễn Văn Thanh cũng viết về Hộ pháp lận

giải âm: "Điều này cho thấy tác phẩm của Phật giáo mà là luận, nên sử dụng những

danh từ tên người, tên đất, các câu trích trong kinh Phật cho nền hiện tượng này dẫn

tới loại tự tạo tháp" [2005, tr 86] Nhìn nhận trên phạm vi tư liệu khái quát, Nguyễn

Quang Hồng nhận xét "[ ] các văn bản này cũng khác xa nhau về noi dung (tôn giáo,

lịch sử, văn chương), về phong cách ngôn từ (kể chuyện, thơ ca, văn xuôi) và

điều này cũng chỉ phối tần số xuất hiện của các chữ đùng có liên quan đến ngữ nghĩa"

[2006, tr 16)

* TS., Trường Dai học Khoa học xã hội vả nhân văn, Dai học Quốc gia Hà Nội

35

Trang 2

VIỆT NAM HỌC - KỸ YẾU HỘI THÁO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ =

Nhữ vậy lã cho đến nay, hướng nghiên cứu theo cấp độ hệ thông văn tự eee

đã mang lại nhiều thành tựu nhất cho việc nghiên cứu diễn cách cầu trúc d Nona,

các nhà nghiên cứu cũng đúc rút được những kết quả tương đối thống nhất; nhưng

hướng di nay không loại biệt được những trường hợp ngoại lệ, đặc biệt là ker qua

của hướng đi này bị chỉ phối cá bởi các yếu tô ngoài tính chất văn fự học như

những yếu tổ đã nêu ra trong các trích dẫn trên Đây chính là khoảng trống đáng tiếc

mà hướng đi này để lại

Để khác phục hạn chế trên, bài viết này đặt vấn đề nghiên cứu diên cách cầu trúc

chữ Nôm theo một biện pháp xử lý tư liệu đặc thù, tạm gọi là "nhóm ngôn từ đồng

nhất" qua bổn văn bản dịch Nom Kinh Thi Xét vé ban chat, đây là một biện pháp lựa

chọn tư liệu để nghiên cứu diên cách cu tric chit Nom trong trang thái loại bỏ

được nhiững yếu tô ngoài ngôn ngiừ văn tự học có thể chỉ pl u trúc chữ Nôm ở

những văn bản Nôm khác nhau Biện pháp nảy có thể giúp chúng ta nghiên cứu cầu

trúc chữ Nôm từ cả cắp độ hệ thống văn tự lẫn cấp độ đơn vị văn tự

Vẻ lịch sử vấn đề, năm 2004, Trương Đức Quả đã nghiên cứu đối chiều "diễn

biến" cấu trúc chữ Nôm qua ba bài phú Nom trong sách Thiền tông bản hạnh

WA, sich này được ín trong hai văn bán đời Cảnh Hưng (1745) và Bảo Đại

(1932), Tác giả bài viết tập trung chỉ ra những chữ Nôm "trên cơ sở từ vựng không

đối nhưng mã chữ lại có sự khác biệt" [2004, tr 35], nghĩa là nghiên cứu các biệt

thể tự hình của cùng một ngữ tố, Từ đó, tác giả chỉ ra những nhóm chữ Nôm khác

nhau toàn phân, khác nhau ở thành tố biểu âm, hoặc thành tố biểu ý Đây là một sự

gợi mở trong nghiên cứu sự thay đôi (diễn biến) trong cấu trúc chữ Nôm Nhưng ở

đây vẫn còn ba khoảng trống cần bổ sung: 1) Chưa khải quát thành một biện pháp

lựa chọn tư liệu nghiên cứu; 2) Độ dài văn bản của ba bài phú Nôm này cũng còn

khá khiêm tốn để đại điện cho kho chữ Nôm đương thời; 3) Mới chỉ tập trung vào:

nghiên cứu sự thay dot (cách) của cầu trúc chữ Nôm, chứ không nói tới những chữ

Nom duge bao lieu (dién) cầu trúc,

Tiếp theo, Nguyễn Quang Hồng [2008] cũng thực hiện công việc tương tự với

bai văn bản Cự trân lạc đạo phú FE: MRAM lần lượt có niên đại 1745 và 1932 Đây

là một trong năm hướng mà tác giả đã nêu ra để "m kiếm cứ liệu chữ Nôm và thực

hiện nghiên cứu chữ Nôm như là đối tượng của văn ae ñọc" Đó là: "Ưu tiên so sánh

đối chiếu chữ Nôm trên các văn bản của cùng một tác phẩm, được khắc ván in vào

những thời kỳ khác nhau, trong việc nghiên cứu diễn biển của chữ Nôm" [2008, tr 222]

2 Thống kê phân loại tư liệu

Vẻ hệ thống tư liệu phù hợp với hướng nghiên cứu đề xuất bên trên, tôi chon

những văn bản gidi am Kinh Thi sau day:

Trang 3

NGHIÊN GỬU DIÊN CÁCH CẤU TRÚO CHỮ NÔM

* Thị kinh giải âm Wie#864R4%, in theo ván khắc năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714),

ký hiệu sách tại Thư viện Viện Văn học HN.527-530, Gọi tắt là "bin VT"

* Thị kinh giải âm šŠ‡8ƒ Ÿt, in theo ván khắc năm Quang Trung thứ 5 5 (1792),

ký hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm AB.144/1-5, Gọi tit 1a "bin QT",

* Thị kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa šÄW2S45fUSWI4%, in theo vấn khắc

năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), Nguyễn đường tàng bản, ký hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nom VNY.107, Gọi tắt là "bản MỊ",

* Thị kinh đại toàn tiết yếu diễn nghĩa ì#€2=f#ETRäX, in theo ván khắc

năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), Đa Văn đường tảng bản, ký hiệu sách tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm AB.168/1-2 Gọi tắt là "bản M2”

Mô hình phân loại cấu trúc chữ Nôm

(theo Nguyễn Tài Cẩn & N.V, Xtankevich, 1976) (in lại trong [Nguyễn Tài Cẩn 1985, tr 53])

mượn cá chỉ mượn văn tự gia them ghép bai thành tố

về dal thé, có nấm bước thống kê phân loại như sau:

Ý Bước L Vai đối tượng nghiên cứu i chữ Nôm của bốn văn bản giải âm

Kinh Thị (VT, QT.M i vi lay "eau" lam don yi phan loại, lấy sự dị đồng

gitta vain Nom va te Nom gitta cae van ban làm tiêu chí phân loại, trên cơ

sở đó chia các câu dịch Nôm thành ba loại như sau:

37

Trang 4

: Tư

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÊU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TỶ =

Loại 1: những câu có văn Nôm và tự hình chữ Nôm hoàn toàn giống nhau, Loại 2: những câu có văn Nôm khác nhau (tất nhiên tự hình chữ Nôm cũng khác),

Loại 3: những câu có văn Nôm giống nhau, nhưng tự hình của một hoặc nhiều chit Nom eee ứng giữa bến văn bản trong câu văn đó không giống nhau, Vị

dụ, cùng có văn Nom li "Chica thấp người quân rử", nhưng bản VT và QT viết lạ

"#IE8IEE7", còn bin MI va M2 viet "SAB", trong 6 cfc nett 168 chia,

giếng nhau (, {, 2, 7ˆ), nhưng ngữ tố mgười lại có tự hình

Qua đây có thể thấy: số câu trùng nhau tuyệt đối là rất cao (37,38%), chứng tỏ

ba ban sau (QT, M1, M2) đã chịu ảnh hưởng rất mạnh của bản khắc năm 1714 dời

Vĩnh Thịnh - bản dich Nom Kinh Thi có niên dại sớm nhất hiện biết

Bài viết đặc biệt quan tâm đến số liệu thống kê về Loại 3, bởi đây là dữ liệu quan trọng để nghiên cứu về diên cách cấu trúc chữ Nôm lịch đại Cần đặt vấn đề

như vậy, bởi lĩnh vực nghiên cứu quan trọng này vẫn còn một điều đáng băn khoản

là nó luôn chỉ được tiền hành trên cứ liệu là những tác phẩm khác nhau Ví dụ như

chúng ta hay đem so sánh cấu trúc chữ Nôm giữa các tác phẩm Phật (huyết Đại báo

_Phụ mẫu ân trợng kinh, Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyên thành đạo ca, Vịh

THoa Yên tự phú, Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Khóa Ine lục giải âm, Quốc am thi

tập, Thiên Nam ngữ lực, Thiên Nam minh giảm, Truyện Kiều, Đại Nam quốc sử

diễn ca, Tự Đức thánh chế Tự học giải nghĩa ca nhưng cần nhận thấy một điều

là các tác phẩm này ghi những chuỗi ngôn từ khác nhau, tức là văn Nôm không

iống nhau, cho nên buộc phải sử dụng những nhóm chữ Nôm khác nhau để ghi lại

điều này có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ cấu trúc chữ Nôm ở từng văn bản Chính vì vậy

việc lựa chọn tư liệu chữ Nôm thuộc Loại 3 sẽ cung cấp một khối lượng tư liệu có

Trang 5

NGHIÊN CỬU DIÊN CÁCH CẤU TRÚC CHỮ NỘM

- Các văn bản khác nhau về niên đại:

„ Nội dung ngôn từ hoàn toàn giống nhau

Chữ Nôm ghỉ chép lại các ngôn từ đó có thể giống nhau hoặc khác nhau

Đây chính là "các nhóm ngôn từ đồng nhất" mà tôi lọc ra để tiếp cận nghiên

cửu điên cách cấu trúc chữ Nôm trong bài viết này

Trong 735 câu Loại 2, bản M1 và M2 bỏ không dịch 258 câu, nên tổng số câu

mà mỗi bản đời Minh Mệnh đã dịch chỉ là (2.608 - 258 =) 2.350

Tông độ dài của bốn (phần) văn bản mà tôi đã phiên âm là 6.214 lượt chữ

(gần gấp ba lần độ dài văn bản 7>ugyện Kiểu), trong đó hai bản VT và QT đều có độ

dài 15.640 lượt chữ, bai bản M đều cỏ 46 dai 14.467 lượt chữ,

Vậy kết quả của bước thống kê và phân loại thứ nhất là xác định được 878 câu

(Loại 3) có văn Nồm giống nhau, nhưng tự hình của một hoặe nhiều chữ Nôm

tương ứng giữa bổn văn bản trong câu văn đó không giống nhau

* Bước 2: Trong 878 câu Loại 3, kết quả thống kê lại cho thấy quá trình diên

cách cấu trúc chữ Nôm thường diễn ra "đồng bộ" theo hai cặp ở bốn đối tượng văn bản

Xét thấy chỉ có 48 câu không theo quy luật, chiếm chưa đến 5,5% trong số

878 câu Loại 3, vả lại khi nghiên cứu kỹ thì những trường hợp không theo quy

luật này đơn thuần là sản phẩm lẻ tẻ mang tính "tai nạn" ở mỗi văn bản, cho nên bài viết đã loại bỏ 48 câu "không đồng bộ" này, còn lại độ dài văn bản (N') của

mỗi văn bản là 830 câu Đến đây, việc so sánh bốn văn bản VT, QT, MI, M2 thực

chất là so sánh hai bản VT và M1 Bởi về chữ Nôm và văn Nôm thì trong N° (độ đài văn bản khi đã hạn chế còn 830 câu), bản QT chép lại toàn bộ bản VT, bản M2 chép lại toàn bộ bản MI :

Kết quả của bước thông kê phân loại này là xác định độ đài văn bản để so

sánh (Ñ') là 830 câu (x 4 bản)

39

Trang 6

VIET NAM HỌC - KỲ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN 'THỨ TƯ:

* Bước 3: Thống kê sổ jượt chữ trong N" của mỗi văn bản và sổ chữ trong N' của hai bản VT va QT Két quả cho thấy:

- Trong 830 câu trên, mỗi bản có

tông số lượt chữ trong 830 câu của bốn bản)

~ Hai bản VT và QT mỗi bản có 96 cw#, những chữ này hoàn toàn giống nhau ở hai bản VT và QT Vì từ số chữ này, bài viết sẽ trình bày về các trường, hợp

có hay không thay đổi cầu trúc khi so sánh với hai bản MĨ và M2, nên việc thống

kế số chữ trong hai bản MI và M2 là chưa cần thiết

* Bước 4: Thống kê số lượt chữ &wông thay đổi cấu trúc và số lượt "cặp" chữ cớ thay đổi cấu trúc Kết quả thống kê cho thây, trong 946 chữ trên, có: 784

chữ trong VT và QT không thay đổi cấu trúc; có 162 chữ trong VT và QT có thay đổi

cấu trúc; 162 chữ (trong VT và QT, xuất hiện nhiều lần) này thay đổi thành 176 chữ (trong M1 và M2), nghĩa là có 776 /ượ? cặp chữ có thay đổi cầu trúc,

* Bước 5: Thống kê số "cặp" cấu trúc thay đổi trong 176 lượt cặp chữ đã thống kê trên Kết quả: có 37 cặp cấu triic thay déi (sẽ trình bày cụ thể ở phần sau) Ngoài những cặp thay đổi hẳn từ một loại cấu trúc này sang một loại cấu trúc khác trong số 10 loại cầu trúc mà Nguyễn Tài Cẩn và Xtankêvich đã đề xuất (ví dụ tir C2 + Gl, tir D — C2 ), còn có những thay đổi trong nội bộ một loại cấu trúc,

Trang 7

Nếu wo sánh theo xố lượt chứ ta eó các số liệu thống ké sau: trong #30 chu có

5,120 lượt ch, rong đó có 1.439 lượt chữ (tương ứng với J62 chữ) đã có nhu câu

thay đổi cẤu trúc, côn lại (5.120 « 1.539 =) 3,581 lượt chữ (tương ứng với 784 chữ)

không eó nhu eẦu thay đổi, tức là đã eó (1.539 ¿ 5,120 =) hơn 30% số lượt chữ Nom

đñ thuy đổi, còn lại gắn 70% sổ lượt chữ không thay đối, HÄy so sánh con 6 13% 6

trên và con wố 70% này để thấy được sy khong tuong (mg trong 60 sánh giữa một

bên thy xd chit lam udu chí và một bên lẤy sđ /ượt eh làm tiêu chí, sự không tương

ứng này càng thế hiện rõ trong biểu đồ dưới đây |

Trong nội bộ của 784 chữ (tương ứng với 3.581 lượt chữ) không cớ nhu cầu

ty đổi cấu trúc, phân chíu theo mô hình "thập phân" cúa Nguyễn Tài Cấn sẽ có

Trang 8

VIỆT NAM HỌC - KÝ YÊU HỢI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ

#ø sánh tý lệ %4 eắu trúc chí Nôm theo số chữ và số lượt chữ

I8 Tý lệ % theo số chữ Tý lý %4theo số lượt chữ

Nhìn vào biếu đỗ trên, éó thễ thấy việc so sánh cấu trúc chữ Nom thé hién qua

số chiữ và số lượt chữ đã đưa lại những kết quá khác nhau rất xa, có những trường

hợp gần gắp đôi nhau (A1, C2), so sánh số ejiZ nhiều hơn số lượt chữ ở 3 loại cấu

trúc (A1, D G1), so sánh số jượt chữ lại nhiều hơn số chứ ở 7 trường hợp (A2, B,

Cl, €2, Ð, E, G2), So sánh về sổ ñượi chí: thực chát không phải là so sinh edu trie

©liữ Nóm mà là so sánh tần sỐ xuất hiện của mỗi loại cấu trú trong văn bản, mà giá

trị in số xuất hiện này lại thể hiện nhiều về mặt ngôn ngữ (văn Nôm, tiếng Việt) chứ

ít thế hiện mặt văn tự (chữ Nôm),

Trong biếu đồ trên, phân so sánh về số ehf cho thấy một tỷ lệ cấu trúc đã

ôn định trong ít nhất là 123 năm (1714-1837) dùng để biểu đạt một "nhóm ngôn

tử đồng nhất", lượng cấu trúc ổn định nảy không có nhu cầu thay đổi, một mặt

chứng tó tính bền vững về cáu trúc của nó, mặt khác cũng chứng tỏ những ngữ tố

mã nó biểu đạt cũng không thay đối về mặt âm hay nghĩa đến mức cần có một sự

thay đối trong cấu trúc của văn tự ghí chép nó

Dưới đây là chuỗi quan hệ giảm dẫn về số lượng của mỗi loại cấu trúc tính

theo số chữ và số lượt chữ:

* Theo số chữ; AI>C2>G1>A2>G2>C1>D>Ð>B=E,

* Theo số lượt chữ: C2>A1>G2>A2>G1>C1>B>D>D>E

42

Trang 9

NGHIÊN CỨU DIÊN CÁCH CẤU TRÚC CHỮ NOM Néu so sénh tng quan gitta nhém chữ Nôm mượn Hán với nhóm chữ Nôm tự

tạo, ta có kết quả sau:

cũng cho thay chiz Nôm nhôm tự tao trong 123 năm đã giữ ồn định ở tý lệ xáp xí 1⁄3

so với chữ Nôm loại mượn Hán, bắt kế là tỉnh theo số chữ hay số lượt chit

3.2 Trường hợp thay đỗi cẫu trúc (cách)

Kết quả của bước thống kê phân loại thứ năm đem lại bảng thống kê sau đây:

srr | Thay đổi cấu trúc | số ly cặp | Số lượt cặp Pham vi thay đổi

ip r,t] MyM cấu trúc _| chữ thay đôi |(MH: mượn Hán, TT: tự tạo)

Trang 11

NGHIEN CUU DIEN CACH CẤU TRÚC CHU NOM

In xuất hiện của các cặp có thể chia lâm

dắt hiện 1 lần, với tổng số chỉ có 39 lượt cặp

\g số lượt cặp chữ thay đổi) thì cần phải tính đến

iệt là khi cặp cấu trúc đó có số lượt

ang cao

chữ, chiếm 39 : 1043 ~ 3,74% tổ

khả năng đã xảy ra sự ngẫu nhiên nào đó, đặc

cặp chữ thay đổi quá ít thì khả năng xảy ra một cách ngẫu nhiên

Trong độ dài văn bản N' (830 câu, 946 chữ, 5.120 lượt chữ) của VT và QT có

162 chữ (1.539 lượt chữ) có nhu cầu thay đổi cầu trúc, nhưng có ba điểm đáng chú

* Không phải cứ chữ nào thay đối là toàn bộ số lượt chữ đó đều thay đổi triệt

để, mà chỉ có 80/162 chữ thay đổi triệt để, còn lại 82/162 chữ thay đổi không triệt đề

* Không phải toàn bộ 1.539 lượt chữ kể trên đều nhất luật thay dỗi, mà chỉ có

1.043 lượt chữ thay đổi, còn lại (1.539 ~ 1.043 =) 496 lượt chữ ( 32%) không

thay đổi, có nghĩa là việc thay đôi cầu trúc này không xảy ra một cách triệt để, chứng tỏ các cầu trúc cũ vẫn có thể tồn tại trong thời kỳ sau, nhưng đã có những nhu cầu nhất định khiến xuất hiện những thay đổi một cách "bán triệt dé" trong

cầu trúc của chúng,

Nếu chia 10 loại cầu trúc chữ Nôm thành hai nhóm là nhóm mượn Hán (A1,

A2, B, C1, C2) và nhóm tự tạo (D, Ð, E, G1, G2) thi 31 cặp thay đổi cấu trúc sẽ

được quy vào ba phạm vi thay đổi: thay đôi trong nội bộ nhóm mượn Hán; thay đổi

trong nội bộ nhóm tự tạo và thay đổi giữa nhóm mượn Hán và nhóm tự tạo

45

Trang 12

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÊU HỘI THẢO QUỐC Th LAN THỨ TƯ

Phạm vithy di Ee Tee | aaa

Bảng thống kê này cho thấy:

* Có 13 cặp thay đổi trong nội bộ nhóm tự tạo, 8 cặp thay đối từ nhóm mượn Hán

để trở thành nhóm tự tạo (tổng số là 21 cặp)

* Có 7 cặp thay đối trong nội bộ nhóm mượn Hán, 3 cặp thay đổi từ nhóm tự

tạo để trở thành nhóm mượn Hán (tổng số là 10 cặp)

Vậy có nghĩa là những hiện tượng thay đổi cấu trúc đễ xảy ra với nhóm chữ

Nom ty tạo, còn nhóm chữ Nôm mượn Hán có cấu trúc tương đối ỗn định Hiện

tượng thay đổi cấu trúc là biểu hiện của việc thiếu quy phạm hóa Các nhà nghiên

cứu thường nói đến hiện tượng thiếu tính quy phạm hóa vẻ tự hình chữ Nôm trong

lịch sử sử dụng chữ Nôm tại Việt Nam, ở đây tôi xin bổ sung một đặc điểm nữa về

hiện tượng này: tính thiếu quy phạm trong chữ Nôm xây ra thường xuyên hơn

(nhiều gấp đôi: 21/10) trong địa hạt những chữ Nôm tự tạo so với trong địa hạt những

chữ Nôm mượn Hán

'Nếu phân loại theo phương thức thay đổi giữa các cặp chữ Nôm có thay đôi

cấu trúc, thỉ có thể quy về 17 phương thức thay đối sau (xếp theo thứ: tự giảm dân):

(Phương 'giữa các cặp chữ thức thay đỗi| — Vídụ frdug tig! Cặp chữ |Sốlượi| Phạm vinhóm

4) cặp chữ |_ thay đổi _ (cap chit thay đội

1 Viết giản hóa là Rf> d 42 AI | AI 14 | Trong nhóm MH

Trang 13

thành tổ | 2 mm | 34 ÍFAz| 6 | 1 |MH—¬TT

ci | G2 ir MH > TT

Œ | G1 | 12 | MH Tr C2 | G2 16 |MH TT

Trang 14

'VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỊ TU

9 Thêm ký hiệu phu | ghe #8 > tke 4 2 i) Ð 4 |MH-1T

10 Bo ky higu phy | spi Ä ®> f# 4 Œœ | 4 |TT>MH

11 Âm ấm — poles ý trời Tấị > 3H 4 Gils | | trong rong nhóm TT: nts:

nhau, ite đó chỉ 6 phương,

; đổi thành tố biểu ý, đồ

Anh các nhóm phương thức

Trang 15

NGHIÊN CỨU DIÊN CÁCH CẤU TRÚC CHỮ NOM

mà mỗi nhóm liên quan đến một bình điện nhất định của văn tự, ta thấy có 7 nhóm phương thức sau (xếp theo thứ tự giám dân):

int 5 chit): thém thanh 16 biéu ¥ (34 chit), doi

thành to bi ý (2 chữ), ¥ am — ¥ ¥ (2 chữ)

2 Viết

(6 chữ)

quan đến thành tố biểu ý (18 chữ), bỏ thành tổ bi

in hóa hoặc phén hóa (48 chữ): viết giản hóa (42 chữ), viết phon héa

3 Thay đổi tương quan vị trí hình thể (18 chữ)

mn quan đến thành tổ biểu âm (19 chữ): đổi thành tố biểu âm (14 chữ), âm

Nhìn vào con số thống kê này có thể thấy, thay đổi liên quan đến thành tố biểu

ý (S5 chữ) và viết giản hóa (42 chữ) là những xu hướng thay đổi mạnh nhất trong

cấu trúc chữ Nôm Những số liệu thống kê trên sẽ là cơ sở đề bài viết nhận xét về các xu hướng trong diên cách cầu trúc chữ Nôm dưới đây

4 Xu hướng diên cách cấu trúc chữ Nôm qua các nhóm ngôn từ đồng nhất

Khái niệm "cầu trúc chữ Nôm" nếu chia nhỏ ra thì bao gồm hai bình điện là

cấu trúc hình thể và cấu trúc chức năng; Hai bình diện này liên quan trực tiếp đến ba

mặt "hình-âm-nghĩa" của văn tự Nói đến cấu trúc hình thê là nói đến mặt "hình",

tức là hình thể văn tự có thể tác động đến nhận thức bằng thị giác của người đọc Nói đến cấu trúc chức năng là nói đến các mặt "âm-nghĩa" của văn tự, tức là các giá

trị biểu âm vâ biểu ý của các thành tố cầu tạo văn tự Về bản chất, cấu trúc hình thé

là sự thể hiện của khía cạnh hình thức của đơn vị văn tự, còn cầu trúc chức năng là

sự thể hiện của khía cạnh nội dung của đơn vị văn tự,

Việc nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ Nôm qua các nhóm ngôn từ đồng nhất trong bốn bản địch Nôm ii 7hĩ cho thầy một góc nhìn khác trong sự thay đổi cấu trúc chữ Nôm ở hai thời kỳ lich sử cách nhau 123 năm (1714-1837), trong

đó có thể nhận thấy chữ Nôm đã thay đổi cấu trúc bằng những con đường khác

nhau, những phân tích dựa trên số liệu thông kê trong bài viết này có thể chỉ ra

đâu những con đường chủ yếu trong xu hướng phát triển của chữ Nôm về cả cấu

Trang 16

VIỆT NAM HỌC - KY YẾU HỘI THẢO QUOC TE LAN THU TU

4.1 Xu hướng không thay đối cẤu trúc (dién)

ï nhìn so sánh giữa bộ phận eó /⁄4y đổi cẩu trúc với bộ phận không thay

đổi cấu trúe trong chữ Nôm giữa bốn bản dịch Nom Kinh Thi cho ta thay: trong độ

đài văn bản N? (830 câu, 5.120 lượt chữ, 946 chữ) của VT và QT có:

~ Trong 162 chữ có thay u trúc, chỉ có 80 chữ thay

những lần chúng xuất hiện trong văn bản, còn 82 chữ thay đổi không triệt đẻ

Việc nghiên cứu diên cách cấu trúc chữ Nôm theo các nhóm ngôn từ đồng nhất

ho phép chúng ta đưa ra những kết luận sau:

* Nếu một chuỗi ngôn từ nào đó được định hình bằng chữ Nôm vào khoảng đầu thé ky XVII, rồi nó được tái định hình cũng bằng thứ văn tự này vào khoảng giữa thể

ky XIX thi sé 6 hon 17% s6 chit ghi chuỗi ngôn từ đó đã có như cầu thay đổi về cấu

trúc, còn lại gân 83% số chữ không thay đổi Nghĩa là cứ khoảng 6 chữ thì có 1 chữ có nhu cầu thay đổi cầu trúc

* Trong số những chữ có nhu cầu thay đổi về cấu trúc, chỉ có hơn 49% số chữ

thay đổi cấu trúc một cách triệt để ở tất cả những lần xuất hiện của chúng, còn 5/%

số chữ không thay đổi triệt để

* Trong số những chữ có như cầu thay đổi về cấu trúc, sự thay đổi chỉ diễn ra

trong = 68% số iượ chữ xuất hiện, còn lại ~ 32 % 86 heot chit khong thay dải

‘Vay thi trong quãng thời gian từ đầu thế kỉ XVIII đến giữa thế ky XIX, aw

hướng tổng quát nhất trong sự phát triển ctia chie Nom la xu hncéing khong thay đổi

cấu trie Số liệu thống kê cho thấy có ít nhất 83% số chữ Nôm đã được bảo lưu

nguyên vẹn mà không có sự thay đổi nào trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVII đến

siữa thể kỹ XIX Chính xu hướng không thay đổi nay giúp cho chữ Nôm giữ được

tính ôn định về cơ bản i

42 Xu hwéng thay doi clu trite (cách)

hay đôi cấu trúc, thì xu hướng thay đổi cầu trúc diễn lưng nó lại được quan tâm nhiều hơn, bởi muốn tìm hiểu thì cần chú ý hơn tới những thay đổi của thứ văn tự đó

Ngày đăng: 15/10/2022, 11:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w