Khủng khoản nợ công và những tác động
Trang 21
Phần mở đầu
Quản lý tài chính công có thể nói là một việc làm thường xuyên mang tính chiến
lược của các Chính phủ, tập trung các giải pháp, chính sách mang tầm vĩ mô đối với tình hình tài chính công để đảm bảo rằng: nguồn tài chính của Chính phủ vẫn thực hiện được việc thu chi và dự trữ để điều tiết nền tài chính, kinh tế trong nước được ổn định và phát triển bền vững Chính vì vậy, mà việc nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả tác động của các cuộc khủng hoảng nợ công ở các quốc gia đã và đang xảy ra là điều mà các học viên Cao học khối ngành kinh tế cần phải phân tích và nghiên cứu để tìm ra các giải pháp tối ưu, nhằm hạn chế các cuộc khủng hoảng nợ công và tác động của nó xảy ra trong tương lai
Việc thực hiện đề tài “Khủng khoản nợ công và những tác động” cũng không nằm
ngoài mục đích đó Việc tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu các cuộc khủng hoảng đã và đang xảy ra cần phải đặt vào các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đối với mỗi nền kinh tế, mỗi quốc gia Nên, việc tìm ra các giải pháp tối ưu để hạn chế sự tác động của khủng khoảng nợ công là điều hết sức khó khăn và phức tạp Đặc biệt là với nền kinh tế toàn cầu hóa, sự đan xen, giao thoa và cả những ảnh hưởng trong quá trình quản lý nền tài chính toàn cầu ngày nay
Với sự hạn chế về kiến thức và thời gian, nên rất mong nhận được sự góp ý của các bậc Thầy/Cô, các nhà nghiên cứu, các học giả và các bạn để việc tiếp cận, nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng một cơ chế quản lý tài chính công được hiệu quả hơn cho Chính phủ Việt Nam trong tương lai
Đề tài này được thực hiện bởi sự hướng dẫn của TS Diệp Gia Luật – Giảng viên
khoa Tài chính nhà nước, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM
Trường ĐH Kinh tế TP.Hồ Chí Minh
Mùa Hè năm 2011
Tập thể học viên Cao học Kinh tế - Lớp Đêm 11.K20 thực hiện:
1 Nguyễn Đặng Tấn Phú
2 Hoàng Hà Anh
3 Phạm Thụy Phượng Uyên
4 Nguyễn Lê Hiền
Trang 3III Phương thức đánh giá mức độ an toàn đối với nợ công ………… 06
Phần hai: KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG & NHỮNG TÁC ĐỘNG
II Những tác động đến các chính sách tài chính – tiền tệ ……… 29
III Những hệ lụy đến tình hình chính trị - xã hội ……… 31
Phần ba: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
I Một số bài học về chính sách quản lý tài chính công ……….32
II Những giải pháp hạn chế tác động của khủng hoảng nợ công ……… 35
KẾT LUẬN
-o0o -
Trang 4là hệ quả của việc chi tiêu nguồn tài chính công bất hợp lý ở một quốc gia
Chi tiêu công bao gồm: các khoản chi để duy trì bộ máy nhà
nước, chi đầu tư phát triển, chi các mục tiêu văn hóa-xã hội,
chi quốc phòng, chi trả nợ nước ngoài và dự phòng Mỗi
quốc gia đều phải cân đối mức thu chi Khi thu không đủ chi,
nhà nước phải đi vay dẫn đến việc hình thành nợ công
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính phủ, khi chi tiêu của Chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được thì Chính phủ phải đi vay trong hoặc ngoài nước với các phương thức khác nhau để trang trải cho các khoản thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Chính phủ sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp hoặc đi vay thêm một khoản khác để trả các khoản nợ đáo hạn này
Hay nói đúng hơn, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ sau Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết Chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách Ngoài ra, Chính phủ còn thực hiện việc đầu tư của mình để có thể bù đắp lại phần nào các khoản thâm hụt ngân sách, thông qua các doanh nghiệp quốc doanh
Phân loại nợ công:
Theo nguồn gốc
Nợ trong nước: được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ là chứng chỉ nhận nợ của Chính phủ để phát hành vay vốn của các tầng lớp dân cư
và các tổ chức kinh tế, xã hội Trái phiếu Chính phủ tồn tại dưới các hình thức:
Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, thời hạn dưới một năm,
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối thu chi tiền mặt tạm thời trong năm tài chính
Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm
được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách đã được Quốc hội phê chuẩn
Phần một
Trang 54
Trái phiếu đầu tư: là loại trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn
trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình cụ thể và cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch đầu tư đã được duyệt của Nhà nước
Nợ nước ngoài: là khoản vay ngắn hạn, trung - dài hạn phải trả lãi hoặc không phải trả lãi do Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác trong nước vay của Chính phủ nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Các hình thức vay nợ nước ngoài:
Vay hỗ trợ phát triển chính thức: là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà
nước hoặc Chính phủ với nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ
Vay thương mại nước ngoài của Chính phủ: tùy theo nhu cầu đầu tư phát
triển, Chính phủ có thể huy động nguồn vốn vay thương mại nước ngoài thông qua các hình thức vay trực tiếp như vay tài chính, vay tín dụng xuất khẩu, phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn Quốc tế hoặc các hình thức phù hợp khác, trong khuôn khổ hạn mức vay thương mại hàng năm
Theo thời hạn khoản nợ:
- Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có kì hạn dưới 1 năm
- Nợ trung hạn: Là các khoản nợ có kì hạn từ 1 năm đến 10 năm
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có kì hạn trên 10 năm
2 Khủng hoảng nợ công
Khủng hoảng nợ công là khi các nguồn thu ngân sách của Chính phủ không đủ cung ứng cho các hoạt động chi tiêu ngân sách trong một kỳ, số nợ lên đến mức khổng lồ không đủ khả năng chi trả và dẫn đến tình trạng vỡ nợ
Y’’ >> X’’ + α ε + β ω
Trang 65
II NGUYÊN NHÂN CỦA KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
1 Nguyên nhân bên trong – chủ quan
Chính phủ của quốc gia nào cũng phải chi tiêu cho những việc phục vụ lợi ích cung của người dân, cho xã hội như các công trình công cộng, các dịch vụ công ích hay lương và chi phí hoạt động của bộ máy nhà nước, các chương
trình kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc
phòng hoặc khi các doanh nghiệp quốc doanh, có quy mô lớn
trong nền kinh tế rơi vào tình trạng phá sản, Chính phủ cũng
phải có những chính sách ưu đãi giảm thuế hay hỗ trợ kinh phí,
Tất cả những chi tiêu đó đều phải lấy tư ngân sách của Chính
phủ Khi ngân sách không đủ buộc Chính phủ phải đi vay và
hình thành nên nợ công Mặc khác, khi việc tăng mạnh chi tiêu
từ ngân sách nhà nước thì sự kiểm soát chi tiêu và quản lý nợ của Chính phủ sẽ khó khăn và phức tạp hơn, dẫn đến không chặt chẽ được thể hiện bởi tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, tệ tham nhũng, … Tất cả những điều ấy cũng trở thành những nguyên nhân không kém phần quan trọng gây nên khung hoảng nợ công Trong khi đó, các nguồn thu (chủ yếu từ thuế) tăng không kịp với nhu cầu chi, thậm chí một số loại thuế chịu áp lực phải cắt giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt như thuế quan và phí hải quan của hầu hết các nước phải cắt giảm hoặc loại bỏ phù hợp với các quy định của WTO và các thoả thuận thương mại khác mà họ tham gia Trong khi đó, vấn đề quản lý các nguồn thu, nhất là từ thuế, gặp không ít khó khăn do tình trạng trốn thuế, tệ tham nhũng, hối lộ, kiểm soát không chặt và xử lý không nghiêm của các cơ quan chức năng Điều này cũng làm cho nguồn thu ngân sách cho Chính phủ bị giảm
Ở một khía cạnh khác, nếu tỷ lệ vay nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng cao trong các khoản vay nợ của Chính phủ cũng sẽ góp phần sự rủi ro trong quá trình quản lý nợ công Hơn nữa, việc vay nợ của Chính phủ sẽ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và tích luỹ vốn Vì số thuế cắt giảm được bù đắp bằng cách vay nợ, nên sẽ khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn Tuy nhiên, vay nợ để lại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai và các thế hệ tương lai phải sống trong một quốc gia nợ nần lớn hơn, nguồn vốn dữ trữ quốc gia lại nhỏ hơn Đây có thể xem là nguyên nhân cho cuộc khủng hoảng nợ công trong tương lai của một quốc gia, khi Chính phủ hiện thời thực hiện các chính sách kích cầu để tăng trưởng kinh
tế, ổn định xã hội, mà không cân bằng được thu chi trong chính sách tài khóa hiện tại của mình
2 Nguyên nhân bên ngoài – khách quan
Cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB) Đổi lại, các Chính phủ sẽ phải thực hiện những điều kiện hà khắc như: khu vực công phải cắt giảm tối thiểu, cắt giảm trợ cấp và chi tiêu cho khu vực công Điều này sẽ gặp phải sự chống đối khá quyết liệt từ người dân và Chính phủ các nước phải cân đối
Trang 76
Bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu, dòng vốn từ bên ngoài (FDI, FPI, ODA và các khoản vay khác), trong đó vốn vay chiếm một tỷ lệ không nhỏ Với việc dòng vốn đầu
tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ quá lớn trong cơ cấu vốn đầu tư, nền kinh tế cũng rất dễ
bị tổn thương một khi kinh tế thế giới ngưng trệ, tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào các dòng vốn đầu tư nước ngoài kéo dài sẽ góp phần không nhỏ vào cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra trong tương lai
III PHƯƠNG THỨC ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN ĐỐI VỚI NỢ CÔNG
1 Cách tính nợ công
Nợ công thường được tính toán tại từng thời kỳ, giai đoạn Tuy nhiên, xung quanh
khái niệm và nội hàm của nợ công ở trên thì vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank - WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) thì nợ công:
Theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm: các nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương
và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay)
Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán
Tùy vào thể chế kinh tế - chính trị của mỗi quốc gia mà phương thức xác định nợ công cũng có sự khác nhau Ở Việt Nam, Luật quản lý nợ công năm 2009 quy định,
nợ công bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương
Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,
được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách
tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau
đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết,
phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,
tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
Như vậy, các khoản vay như: vốn ODA (Official Development Assistance), phát
hành trái phiếu chính phủ (trong và ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh đều được xem là
Trang 82 Đánh giá mức độ an toàn của nợ công
Để đánh giá, đo lường mức an toàn của nợ công, người ta sử dụng tỷ lệ phần trăm
(%) so với tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) Tiêu chí tỷ lệ nợ
công/GDP được coi là chỉ số đánh giá phổ biến nhất cho cái nhìn tổng quát về tình hình
nợ công nhằm xác định mức an toàn nợ công của một quốc gia
Mức độ an toàn được thể hiện qua việc nợ công có vượt ngưỡng an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó hay không Để bảo đảm an toàn của nợ công, các nước thường sử dụng các tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ:
Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt quá
150% kim ngạch xuất khẩu
Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ trả
nợ của chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách
Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra mức quy định ngưỡng an toàn nợ công là 50% GDP Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế và không nên lấy con số phần trăm trên GDP để khẳng định
nợ công an toàn hay rủi ro Xét về bản chất của vấn đề nợ công, tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức độ an toàn hay rủi ro của nợ công Còn lấy tỷ lệ đó
mà khẳng định nợ công an toàn thì chưa có cơ sở
Chẳng hạn, Hoa Kỳ có tỉ lệ nợ bằng 96% GDP, nhưng vẫn được xem là ở ngưỡng an
toàn bởi năng suất lao động cao nhất thế giới là cơ sở đảm bảo bền vững cho việc trả
nợ Nhật Bản có số nợ tương đương với 200 % GDP vẫn được coi là ở ngưỡng an toàn Trong khi đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ trên GDP thấp hơn rất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như: Venezuela năm 1981 tỷ lệ đó là 15% GDP, tương tự với Thái Lan năm 1996; trường hợp Argentina năm 2001 là 45% GDP; Ukraina năm 2007 chỉ với 13 % GDP và Rumani là 20% GDP Mới đây là trường hợp của Hy Lạp với tỷ
lệ nợ lên đến 113,5 % GDP, Ireland ước khoảng 98,5 % GDP
Như vậy, mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ công không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ
nợ/GDP mà còn phụ thuộc vào sức khỏe tài chính cũng như khả năng trả nợ khi đến hạn của từng nước Điều quan trọng là chúng ta phải giám sát được thực trạng kinh tế vĩ
mô Nợ công và nợ tư xuất phát từ tình hình tài chính, dựa trên tình hình kinh tế quốc gia, thế giới
Trang 9lưỡng khi đánh giá tính bền vững của nợ công
Đánh giá tính ổn định nợ nước ngoài theo mức ngưỡng của HIPCs:
Tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu (NPV/X): đo lường hiện giá thuần của nợ nước
ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia từ nguồn thu xuất khẩu
Tỷ lệ NPV của nợ/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): đo lường hiện giá thuần
của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu ngân sách nhà nước Chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử dụng nếu như đáp ứng hai điều
kiện: (i) tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc bằng 30% và (ii) tỷ lệ thu
ngân sách nhà nước/GDP ( DBR/GDP) phải lớn hơn 15%
Dịch vụ nợ/xuất khẩu (TDS/X) và dịch vụ nợ/nguồn thu ngân sách (TDS/DBR): là những chỉ tiêu đo lường tính lỏng được Ngân hàng Thế giới và
IMF đưa vào để đánh giá mức độ bền vững nợ công TDS/X đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ nguồn thu xuất khẩu Còn TDS/DBR đo lường khả năng thanh toán dịch vụ nợ từ thu ngân sách nhà nước Một quốc gia đảm bảo tính lỏng, TDS/X phải thấp hơn 15% và TDS/DBR thấp hơn 10%
Một quốc gia được xem là an toàn nếu như NPV/GDP nhỏ hơn 150%; NPV/DBR nhỏ hơn 250%
Bảng 1: Ngưỡng nợ nước ngoài theo tiêu chuẩn HIPCs
Nguồn: UNDP
Đánh giá sức mạnh thể chế và chất lượng chính sách quản lý nợ nước ngoài
Sự ổn định nợ được đánh giá dựa trên các ngưỡng chỉ tiêu nợ được tính toán dựa vào kinh nghiệm lịch sử của các nước HIPCs (Heavily Indebted Poor Countries), nhằm
hướng đến ngăn ngừa các cú sốc liên quan đến nợ Tuy vậy, trong vài năm gần đây, một cách tiếp cận mới mà Ngân hàng Thế giới đưa vào để đánh giá chất lượng quản lý nợ công đó là dựa vào chất lượng chính sách và thể chế Các quốc gia có chính sách và thể chế tốt thì có thể chống đỡ được mức nợ cao hơn so với mức ổn định nợ cơ bản
Trang 10Mạnh CPIA ≥ 3.9
NPV của nợ/thu ngân
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Cách tiếp cận này đưa ra giá trị mức ngưỡng dựa vào tỷ lệ nợ truyền thống để làm cơ sở đánh giá thể chế và chính sách của quốc gia Dựa vào giá trị ngưỡng, Ngân hàng Thế giới phân loại 3 mức thực hiện chính sách: kém, vừa và mạnh Trong quá trình đánh giá chính sách, quản lý được xem là có trọng số lớn nhất Bảng trên cho thấy, quốc gia thực hiện chính sách mạnh có chỉ số CPIA≥3,9 được xem là có gánh nặng nợ ổn định nếu như tỷ lệ NPV của nợ/GDP ở dưới mức thấp hơn 60%, tỷ lệ NPV của nợ/xuất khẩu thấp hơn 300%, tỷ lệ NPV/thu ngân sách (trừ đi các khoản hỗ trợ) thấp hơn 350%; tỷ lệ dịch
vụ nợ/xuất khẩu thấp hơn 35% tỷ lệ dịch vụ nợ/thu ngân sách (trừ đi các khoản hỗ trợ) thấp hơn 40% Cách tiếp cận này hiện vẫn còn nhiều tranh luận về tính chính xác của
nó
Đánh giá nợ trong nước
Bảng 3: Ngưỡng nợ trong nước
Nguồn: UNDP, Dự án VIE/01/010
Trang 1110
Nợ công trong nước có ý nghĩa kinh tế rất khác nhau Điều này liên hệ đến cả những lợi ích tiềm năng trong quá trình phát triển thị trường tài chính lẫn ảnh hưởng ngược đến lãi suất và đầu tư hoặc hậu quả vỡ nợ
3 Một số lưu ý khi đo lường mức an toàn nợ công của một quốc gia
Khi tính toán nợ công ta thường hay vấp phải một số vấn đề sau:
Lạm phát: Thâm hụt ngân sách thường không điều chỉnh ảnh hưởng của lạm
phát trong tính toán, vì trong chi tiêu Chính phủ các khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ nên tính theo lãi suất thực tế ( Lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng tỷ lệ lạm phát) Trong những thời kỳ lạm phát
cao và nợ Chính phủ lớn thì ảnh hưởng của lạm phát là rất lớn tới nợ công
Tài sản đầu tư: Các nhà kinh tế cho rằng nên trừ tổng tài sản của tài sản Chính
phủ trong tính toán nợ Chính phủ Tuy
nhiên, tính toán theo cách này sẽ gặp
phải vấn đề những gì nên coi là tài sản
của Chính phủ và tính toán giá trị của
chúng như thế nào
Các khoản nợ tiềm tàng (Nợ ngầm): Các
khoản chi trả trợ cấp cho hưu trí, bảo
hiểm xã hội, … hay các khoản Chính
phủ đứng ra bảo đảm cho các khoản vay mà trong tương lai không có khả năng thanh toán cũng cần được tính vào nợ Chính phủ, bởi lẽ rốt cuộc đó cũng là tiền
do Chính phủ phải chi ra
-
Trang 1211
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG VÀ SỰ TÁC ĐỘNG
I CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG ĐÃ VÀ ĐANG XẢY RA
1 Khủng hoảng nợ công tại Argentina (cuối năm 2001)
Mọi vấn đề bắt đầu từ khi tổng thống Carlos Menem bắt đầu từ nhiệm kỳ năm 1989, nước này rơi vào tình trạng nợ nước ngoài nhiều Để vượt qua khủng hoảng kinh tế,
chính phủ đã thực hiện các biện pháp kinh tế và đã đạt được hiệu quả cao
Nguồn thu từ chương trình tư hữu hóa cùng với việc vay nợ nước ngoài đã giúp Chính phủ Argentina ổn định giá trị của đồng nội tệ Tất cả điều này đã làm nền tảng cho các tăng trưởng ngoạn mục sau đó Thêm vào đó,
những thành tựu kinh tế và sự ổn định trong giá
trị đồng nội tệ đã dẫn tới một hệ quả đương
nhiên, đó là dòng vốn quốc tế chảy ồ ạt vào
Argentina
Đồng thời Chính phủ Argentina đã tận dụng uy
tín đang lên của quốc gia để liên tục vay nợ
nước ngoài Cứ như thế các khoản nợ nước
ngoài âm thầm tăng lên dần, bắt đầu là ngưỡng
an toàn từ tỉ lệ nợ dưới 50% GDP (35% trong năm 1995 cho đến gần 65% năm 2001) Khoản nợ nước ngoài này dẫn đến hậu quả tai hại là làm Chính phủ mất đi sức đề kháng trước những rủi ro trong thâm hụt ngân sách, với suy nghĩ dù gì đi chăng nữa, Chính phủ cũng dư sức bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào
và cả vay nợ nữa
Những biện pháp này có tác dụng tức thời, ba năm sau đó nền kinh tế phát triển tốt trong khi lạm phát giảm Tuy nhiên sự tự do hóa quá nhanh và quá lớn đã để lại những mầm mống bất ổn Cuối thập niên 90, đồng Dollar Mỹ tăng giá dẫn đến việc đồng Peso cũng tăng giá theo so với đồng tiền các nước đối tác thương mại nước này, làm giảm khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của Argentina
Năm 1994 khủng hoảng đồng peso Mexico làm ảnh hưởng đến nguồn vốn, mất nguồn tiền gửi ngân hàng, và khủng hoảng nghiêm trọng trong thời gian ngắn; một loạt chính sách cải cách để nâng đỡ hệ thống ngân hàng trong nước được đưa ra Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế được phục hồi nhanh chóng, đạt 8% vào năm 1997
Năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á nổ ra và lan ra khắp các nước đang phát triển trên thế giới Năm 1998, tình hình tài chính thế giới rối loạn do các vấn đề của
Phần hai
Trang 1312
Nga và nỗi lo lắng của các nhà đầu tư vào Brazil đã làm cho lãi suất trong nước tăng lên mức cao nhất trong hơn ba năm, làm giảm một nửa tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế Năm 1999 Brazil buộc phải phá giá đồng real 29% và đây là một đòn đau cho Argentina, vì Brazil là nước xuất khẩu chủ yếu của Argentina
Từ những năm 1999, Argentina đã bắt đầu gặp phải những mất cân đối trong chi tiêu ngân sách Do đã tư hữu hóa ào ạt các xí nghiệp quốc doanh trong thời gian trước đó, chính phủ giờ đây đã không còn nguồn thu nào khác ngoài thuế để bù đắp thâm hụt, đó
là chưa kể vấn đề còn bị trầm trọng thêm bởi chính phủ liên tục phải trả nợ cho các hóa đơn vay nợ nước ngoài trước đây Các điều kiện tồi tệ hơn vào năm 1999 khi GDP giảm 3% Tổng thống Fernando Delarua, người bắt đầu nhiệm kỳ vào tháng 12 năm 1999, đã tăng thuế và cắt giảm chi tiêu để giảm thâm hụt, làm GDP ở mức 2,5% năm 1999 Tăng trưởng năm 2000 càng trở nên tồi tệ ở mức 0,8% Cả các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đều hoài nghi về khả năng trả nợ của Chính phủ và giữ tỷ giá cố định theo đồng USD Nền kinh tế Argentina bắt đầu suy thoái, các điểm yếu trong nền kinh tế lộ
ra dẫn đến cuộc tháo chạy ồ ạt của nhà đầu tư nước ngoài
Năm 2000, IMF đồng ý cho Argentina vay tiền với điều kiện nước này phải thắt chặt các chính sách tài chính, như không để thâm hụt ngân sách và nâng lãi suất
Những chính sách này dẫn đến những cuộc biểu tình và đình công khắp quốc gia Cuối năm 2001 dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương chỉ còn đúng 2 tỷ USD Tổng thống Delarua quyết định người dân chỉ được rút tối đa 1.000USD/tháng (chính sách này được duy trì cho đến đầu năm 2002) Cuối năm 2001 IMF ngừng cấp các khoản cho vay mới với lý do Argentina không đáp ứng được các đòi hỏi tài chính Argentina tuyên bố phá sản ngay sau đó Cướp bóc và bạo loạn nổ ra khắp nơi khiến vài chục người chết
Argentina nhanh chóng mất đi niềm tin của nhà đầu tư và các chuyến bay của tiền từ nước này tăng lên Năm 2001, người dân lo sợ điều tồi tệ nhất đã bắt đầu rút một khoản tiền lớn từ tài khoản ngân hàng của họ, biến Peso thành Dollar và gửi ra nước ngoài Chính phủ sau đó ban hành một biện pháp đó là đóng băng tất cả tài khoản ngân hàng trong 12 tháng, cho phép chỉ có khoản nhỏ tiền mặt được rút
Nguyên nhân của khủng hoảng
a Chính sách hối đoái gắn đồng peso của Argentina với đồng USD, theo tỷ lệ 1-1 đã khiến nhà nước Argentina không có được chính sách tiền tệ riêng Khi nước Brazil láng giềng phá giá đồng real, các nhà đầu tư và thương nhân nước ngoài nhận ra mình có thể dùng đồng USD mua được nhiều hàng hóa hơn ở Brazil và một số nước khác trong vùng so với ở Argentina Vì thế đầu tư nước ngoài vào Argentina và ngành xuất khẩu của nước này (chủ yếu là hàng nông phẩm) đã sụt giảm thê thảm
b Argentina trong thời Tổng thống Carlos Menem trong nhiệm kỳ thứ hai của mình đã vay nợ "thẳng tay" khiến tổng số nợ hiện nay lên đến 132 tỷ USD, tương đương 1/7 toàn số nợ của các nước đang phát triển Mỗi khi bị lâm vào khủng hoảng, Argentina lại cần được vay nợ nên phải chấp nhận lãi suất cao (hiện Argentina phải
Trang 1413
trả lãi 15% cho khoản nợ của mình) Việc chính phủ mắc nợ nhiều đã làm lãi suất trong nước gia tăng Nhiều công ty trong nước đã phải đóng cửa vì tín dụng cho sản xuất, kinh doanh trở nên quá khả năng thanh toán
c Làn sóng tư hữu hóa trong những năm 1990, dưới thời tổng thống Menem, đã làm nhiều người mất việc
Hiệu ứng của cuộc khủng hoảng
Nhiều công ty tư nhân đã bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Các hãng hàng không đến gần phá sản, nhưng đã sống sót
Một số người vô gia cư mới và Argentina thất nghiệp hàng loạt và làm việc như cartoneros, hoặc thu gom các tông Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt ở gần 25%
Nông nghiệp cũng bị ảnh hưởng: Các sản phẩm Argentina bị từ chối tại một số thị trường quốc tế
Hầu như tất cả các chương trình giáo dục-truyền hình liên quan đã được hủy bỏ
Đúng vào ngày 31/12 năm 2001, ngày cuối cùng trong năm, Eduardo Duhalde được quốc hội chỉ định làm tổng thống và ông này ngay tức khắc lên án chính sách tự do hóa nền kinh tế E Đuhale tuyên bố chấm dứt sự hoạt động của hệ thống tiền tệ currency board và lên kế hoạch phá giá đồng tiền 29% (1 đổi 1.4 dollar) trong những giao dịch thương mại quốc tế chủ yếu Những yếu tố khác trong chính sách kinh tế của tân tổng thống bao gồm: chuyển đổi tất cả các khoản nợ có trị giá trên 100,000 USD thành đồng peso, kiểm soát tài khoản ngân hàng và dòng chảy tư bản, áp dụng chính sách thuế mới lên dầu thô để bồi thường cho chủ nợ bị mất mát do không được Argentina trả nợ, cân bằng thu chi ngân sách và tái đàm phán nợ công
Những chính sách này phát huy tác dụng Argentina dần thoát khỏi khủng hoảng, nhưng rất chậm
Biện pháp khôi phục nền kinh tế
Sau cuộc khủng hỏang trầm trọng 2000-2002, năm 2003 Argentina đã vực dậy nền kinh
tế 1 cách ngoạn mục với tăng trưởng >6% ( mặc dù tăng trưởng năm 2002 là -10%) và tiếp tục phục hồi đáng kể cho đến ngày nay
Kể từ khi lên cầm quyền 5/2003 chính phủ Kirchner đã bắt đầu thực hiện các kế họach hành động trong hàng lọat các lĩnh vực nhà nước, ban hành và áp dụng các chiến lược, chính sách, cơ cấu kinh tế nhằm đưa Argentina thoát khỏi khủng hoảng Cụ thể:
Chính sách thương mại:
Tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu và phát triển các ngành sản xuất trong nước Chính sách đồng peso yếu và thúc đẩy xuất khẩu là một trong những biện pháp trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế của Argentina sau khi nước này phải đối mặt với một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng nhất trong lịch sử
Nỗ lực của Chính phủ trong việc đạt được thặng dư ngân sách liên tục trong 2 năm qua
đã từng bước góp phần làm lành mạnh lĩnh vực tài chính công, tăng dự trữ ngoại hối và
Trang 1514
chi trả một phần lãi vay và các khoản nợ đến hạn, cải thiệt được một phần hình ảnh của Argentina với các tổ chức tài chính quốc tế Vai trò và uy tín của Chính phủ và tổng thống ngày càng được củng cố Chính Phủ ưu tiên, khuyến khích, củng cố và phát triển
tư bản dân tộc với chính sách đẩy mạnh sản xuất và tăng cường hỗ trợ các doanh nhiệp nhỏ và vừa Sản xuất hàng trong nước thay thế hàng nhập khẩu, từng bứớc nới lỏng các hạn chế vê tài chính, liên tục giảm lãi suất tiền vay Duy trì tới mức tối đa giá các dịch
vụ cơ bản như điện, nước, nhiên liệu Áp dụng các biện pháp mạnh mẽ trong việc chống trốn thuế.Ngoài ra Argentina còn tăng cường xuất khẩu lúa mì, các hàng nông sản và các mặt hàng có thế mạnh của mình sang Brazil và các nước khác để giảm bớt hiện tượng nhập siêu
Các vấn đề tiếp theo là giải quyết vấn đề năng lượng và giá cả Giữ vững được thặng dư tài chính và cân bằng ngoại thương Giải quyết tốt được vấn đề nợ đối với nước ngoài, cân bằng được cán cân thanh toán và điều chỉnh tăng số dư tài chính Chính phủ Argentina Đề ra các biện pháp kinh tế và kế hoạch “Đột biến- Shock” phải thực hiện:
Tăng cường thu thuế Nhà nước và giảm chi phí công cộng;
Giữ vững và tăng thặng dư thương mại;
Tăng số tiền thu thuế từ việc xuất khẩu; Với số tiền tăng do thu thuế, sẽ trợ cấp
để giảm giá lương thực, thực phẩm;
Tăng mức thuế về điện và gas;
Giữ vững tỉ giá tiền tệ;
Giảm lãi suất ngân hàng;
Tiếp tục bảo đảm bảo hiểm xã hội;
Tăng cường thương lượng với các tổ chức nước ngoài để họ tiếp tục cho nợ các khoản vay mà chưa phải trả
Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào mọi lĩnh vực kinh tế của đất nước, đặc biệt
là vào lĩnh vực năng lượng và các lĩnh vực sản xuất, thay thế việc nhập khẩu ở nước ngoài mà có thể gây nên hiện tượng nhập siêu
Chính sách tài chính:
Trang 16độ tăng trưởng cao thuộc vào loại nhất ở Nam Mỹ
Tốc độ tăng trưởng kinh tế Argentina 2003 -2008 (%)
2 Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp (2009 đến nay)
Hy lạp là đất nước mạnh về du lịch, đây là nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của Hy Lạp
và đóng góp tới 15% GDP Các ngành kinh tế khác như ngân hàng, tài chính, viễn thông, sản xuất các thiết bị công nghệ cao cũng phát triển mạnh tại Hy Lạp Nước này cũng có lợi thế về kinh tế biển với rất nhiều cảng nước sâu và một ngành công nghiệp đóng tàu hùng mạnh
Gia nhập khu vực đồng tiền chung euro năm
2001 là cơ hội lớn để Hy Lạp có thể tiếp cận
với thị trường vốn quốc tế Đáng buồn thay,
đây lại là nguyên nhân khiến quốc gia này lâm
vào cảnh “chúa chổm”
Trong gần một thập kỷ qua, Chính phủ Hy Lạp
liên tục bán trái phiếu để thu về hàng trăm tỷ
đôla Số tiền này lẽ ra có thể giúp kinh tế Hy
Lạp tiến rất xa nếu Chính phủ có kế hoạch chi
tiêu hợp lý Nhưng điều này không xảy ra, nhà chức trách dường như “ngủ quên” trên núi tiền có được nhờ vay nợ Nói đúng hơn, Chính phủ Hy Lạp chỉ biết chi tiêu (phần lớn cho cơ sở hạ tầng) chứ hầu như không quan tâm đến các kế hoạch trả nợ
Năm 2008, khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra đã ảnh hưởng khá mạnh đến các ngành công nghiệp chủ chốt của nước này Ngành du lịch và vận tải biển, doanh thu đều sụt giảm trên 15% trong năm 2009 Kinh tế Hy Lạp cũng lâm vào tình trạng khó
Trang 1716
khăn, nguồn thu để tài trợ cho ngân sách nhà nước bị co hẹp mạnh Trong khi đó, Hy Lạp lại phải tăng cường chi tiêu công để kích thích kinh tế Tính đến tháng 01/2010, nợ công của Hy Lạp ước tính lên tới 216 tỷ Euro và mức nợ lũy kế được dự báo có thể vượt mức 120% GDP Bên cạnh đó, trong suốt thời gian dài Chính phủ Hy Lạp đã phải ngụy tạo các báo cáo về tình hình kinh tế trong nước, sắp xếp lại các giao dịch để che dấu mức vay thực tế nhằm phù hợp với các quy định gia nhập, giám sát của EU và có thể chi tiêu cao hơn
Tình hình nợ công của Hy Lạp nói riêng và khu vực đồng euro nói chung từ năm
1999-2009 liên tục gia tăng Hiện nay, tổng số nợ công trong khu vực euro vào khoảng 7.062
tỉ euro, trong đó khoản nợ của Hy Lạp là 273 tỉ euro, chiếm khoảng 4% tổng nợ của khu vực đồng tiền chung Tỷ lệ nợ công trên GDP của Hy Lạp là 108,1%
Bảng 1: Số liệu về thực trạng nợ và thâm hụt ngân sách năm 2009 của EU
Đơn vị tính: tỷ lệ % GDP
Tuy nhiên, nhiều dự báo được được đưa ra cho thấy nợ công của Hy Lạp có thể tăng từ năm 2009 lên 121-125% GDP trong năm 2010 Hàng loạt tổ chức quốc tế tuyên bố hạ định mức tín nhiệm của Hy Lạp trên thị trương tài chính Ngày 7/12/2009, S&P cho Hy Lạp điểm tín nhiệm A- với triển vọng kém lạc quan Một ngày sau đó, Fitch đánh tụt điểm số của nền kinh tế này từ A- xuống còn BBB+
Rủi ro lớn nhất của Hy Lạp là nợ vay nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn, có thể lên đến 80% Ước tính tỷ lệ trái phiếu do nước ngoài nắm giữ có thể lên tới 80% lượng trái phiếu Chính phủ phát hành Chủ nợ phần lớn là các ngân hàng châu Âu Các nước Ý, Ireland cũng trong tình cảnh thâm hụt ngân sách và nợ công cao, nhưng không bị đánh giá nghiêm trọng bằng Hy Lạp Sở dĩ như vậy vì các nước này có nền kinh tế tương đối lớn, ngân sách lớn và khả năng kiểm soát nợ trong nước cao hơn
Trang 18Con số này nhanh chóng bị bác bỏ khi đảng Xã hội Hy Lạp lên nắm quyền Ngày 20/10/2009, tân Thủ tướng George Papandreou khẳng định thâm hụt ngân sách trong tài khóa 2009 phải ở mức 12,5%, gấp hơn 4 lần giới hạn cho phép của một quốc gia sử dụng đồng euro Mức thâm hụt này cùng với khoản nợ trị giá 300 tỷ euro đã thực sự cho thấy tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tại Hy Lạp Tuy nhiên ngày 3/11/2009, Ủy ban Châu Âu (EC) dự báo mức thâm hụt ngân sách của Hy Lạp là 12,7% trong năm 2009 và 12,2% trong 2010
So sánh thâm hụt ngân sách (thanh màu đỏ) và nợ (thanh màu vàng) của
Hy Lạp với một số quốc gia châu Âu trong năm 2009 Nguồn: EC
Trang 1918
Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp:
Nguyên nhân đầu tiên và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là tác động của khủng hoảng tài chính năm 2008 Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy thoái, các Chính phủ đã tung ra những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích kinh tế phát triển Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một cách đáng kể Tuy nhiên, thực trạng này diễn ra tại hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ có Hy Lạp và EU
Do vậy, bên cạnh các tác nhân bên ngoài, Hy Lạp còn có những nguy cơ tiềm ẩn - đó là các yếu tố nội sinh của khu vực đồng tiền chung
Không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ
Thật vậy, theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung, các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ Chính phủ nhỏ hơn hoặc bằng
60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh
Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chung châu
Âu vào tháng 5-1998 Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn chưa đủ chuẩn,
Hy Lạp cũng được chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung với điều kiện phải
nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ Chính phủ Tuy nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp Bội chi ngân sách và nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng
Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúp các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng - hàng hóa, vốn
và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt trái của nó
Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách thức
Với một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lực cạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuất trong nước Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu ngân sách giảm, chi an sinh xã hội cao
Ngoài ra, theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuất nhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được chuyển vào ngân sách chung của EU Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận lợi về giao thông quốc tế: sân bay, bến cảng sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ thuế nhập khẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp không nhận được; thậm chí đó là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu thụ tại nước mình Nguồn thu ngân sách của họ bị suy giảm
Ngoài ra, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc lợi, chi
an sinh xã hội cho công dân của mình Điều này góp phần làm gia tăng thâm hụt ngân sách
Trang 2019
Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và 16 ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát Quy định này tạo nền tảng cho việc hình thành và ổn định đồng euro Nhưng nó cũng mang lại nhiều thách thức cho các chính phủ do họ không thể sử dụng chính sách tiền tệ làm công cụ hữu hiệu để hỗ trợ kinh tế phát triển
Các quốc gia thành viên khu vực đồng euro chấp thuận một ngân hàng trung ương chung, một chính sách tiền tệ chung nhưng không chấp thuận một chính sách thuế chung Nguyên nhân sâu xa là mỗi quốc gia có một nhà nước riêng và nhà nước riêng thì cần có ngân sách riêng với hàng loạt nguyên tắc chi tiêu đính kèm Điều này hợp lý nhưng lại là rào cản đối với khu vực đồng tiền chung bởi vì chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau
Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốc gia Đối với một số nước có năng lực cạnh tranh kém hơn, thâm hụt ngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế, phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn là giải pháp được ưa chuộng Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả năng chi trả chỉ còn là vấn đề thời gian
Chi tiêu công cao
Hy Lạp, trong năm 2009, đã tuyển dụng tổng cộng khoảng 27.000 công chức mới, nhưng số công chức chỉ đến công sở “ngồi chơi xơi nước” chiếm tới 1/3 Tính đến năm
2009, lượng công chức ở Hy Lạp chiếm tới 1/4 số người làm công ăn lương ở nước này Chỉ tính tiền lương thu nhập chính (chưa tính tiền thưởng, tiền hỗ trợ), sau khi trừ đi các khoản, bình quân 1 công chức lĩnh được 1.350 euro/tháng Trong khi đó, bình quân mỗi tháng, người làm công ăn lương ở các khu vực kinh doanh ngoài Nhà nước chỉ được lĩnh khoảng 750 euro Lương đã cao, thưởng vào cuối năm cũng cao, công chức còn được lĩnh tới 16 tháng lương Nhiều công chức Hy Lạp được nghỉ hưu trước năm 60 tuổi với mức lương hưu bằng 3/4 mức lương khi còn đi làm
Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội và thu thuế của
EU rất cao so với nhiều quốc gia khác trên thế giới Thật vậy, Mỹ có thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành 19,4% GDP chi phúc lợi và an sinh xã hội Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và 18,6% Trong khi đó, tại EU,
tỷ lệ này dao động từ trên 20-38,2%
Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các khoản thuế Thực tế cho thấy, tỷ lệ thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối EU cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu Tỷ lệ này biến động từ trên 30-50% GDP Trong khi đó, tỷ lệ này tại Mỹ, Nhật , Canada lần lượt là 28,2%; 27,4%; 33,4%
Để có nguồn thu lớn, EU đã xây dựng một biểu thuế suất cao hơn Thuế giá trị gia tăng trung bình trên 20%, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ và Hàn Quốc khoảng 10%; tại Nhật và Canada là 5% Chính điều này đã làm cho EU trở thành thiên đường của hưởng thụ hơn
là nơi hấp dẫn nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh Lợi thế trong thu hút nguồn vốn nước
ngoài của EU cũng bị tác động
Trang 2120
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc gia ngoài
EU, Hy Lạp cũng gặp những khó khăn tương tự Không chỉ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao dịch nội khối Là một quốc gia nhỏ, nghèo tài nguyên, năng lực cạnh tranh của Hy Lạp giảm Mặc dù Hy Lạp thiết lập một
tỷ lệ thu thuế và chi phúc lợi và an sinh xã hội ở mức trung bình của khu vực đồng tiền chung, nhưng nó cũng làm tăng mức thâm hụt ngân sách, tạo áp lực gia tăng nợ công
Hiệu ứng của cuộc khủng hoảng
Uy tín tính dụng trên thị trường thế giới: Ngày 15/6/2010, Tổ chức xếp hạng tín dụng
Moody’s đã hạ 4 bậc xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức không đầu tư và cảnh báo, việc Hy Lạp giảm thâm hụt ngân sách sẽ tạo ra nhiều hậu quả xấu về kinh tế Theo hãng tin Bloomberg, xếp hạng tín dụng của Hy Lạp bị hạ xuống mức Ba1 từ mức A3 Trong tuyên bố xếp hạng tín dụng, Moody’s đã nhiều lần nhắc đến những rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế bởi những biện pháp thắt chặt ngân sách liên quan đến gói giải cứu 134,5 tỷ USD do Liên minh châu Âu và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dành cho Hy Lạp Trong khi đó, theo hệ thống xếp hạng của Standard & Poor’s, Hy Lạp đã ở mức không
an toàn Standard & Poor’s hôm 27/4 đã hạ xếp hạng tín dụng của Hy Lạp xuống mức
không đầu tư
Từ năm 1998 đến năm 2011 Trái phiếu Chính phủ Hy Lạp có lãi trung bình 5,21 %, đạt mức cao lịch sử 11,39 % trong tháng 12 năm 2010 và một mức thấp kỷ lục 3,23% trong tháng 9 năm 2005
Vào tháng 04/2010, các tổ chức định mức tín nhiệm như S&P, Moody’s và Fitch Rating
đã hạ bậc trái phiếu chính phủ Hy Lạp xuống mức rủi ro cao, trước nguy cơ mất khả năng thanh khoản S&P ước tính trong trường hợp Hy Lạp mất khả năng thanh toán, nhà đầu tư có thể mất 30-50% giá trị khoản đầu tư Ngay lập tức sau đó lợi tức trái phiếu chính phủ Hy Lạp đã tăng mạnh Điều này đã khiến cho chính phủ Hy Lạp gặp nhiều khó khăn hơn trong việc huy động vốn trên thị trường tài chính quốc tế để tái cấu
trúc các khoản vay