Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa và vận dụng những lý thuyết cơ bản về cạnhtranh, cạnh tranh ngành, khóa luận tốt nghiệp tiến hành phân tích, đánh giáthực trạng năng lực cạnh
Trang 1Lời mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mangđến cho nền kinh tế nước ta rất nhiều cơ hội để phát triển, hòa nhập với nềnkinh tế toàn cầu, đồng thời cũng không Ýt những khó khăn phải đối mặt, cácdoanh nghiệp ở tất cả các ngành nghề ra sức vận động để tồn tại và phát triển
Làm thế nào để hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, một trong những vấn đềquan trọng là phải xác định được vị trí của mình ở đâu, đâu là lợi thê, đâu lànhững bất lợi để sớm bắt được cơ hội và đẩy lùi nguy cơ, chỉ có như vậy cácngành sản xuất nói riêng và quốc gia nói chung mới có thể chủ động hội nhậpgiành thắng lợi, đồng thời có điều kiện sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn cócủa mình, phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh
Ngành giấy nói riêng và các ngành sản xuất khác của Việt Nam nóichung hiện đang bước vào giai đoạn phát triển rất nhanh, cạnh tranh ngàycàng khốc liệt hơn sau khi nước ta gia nhập WTO Vấn đề cạnh tranh và tìmcách nâng cao lợi thế cạnh tranh đang là vấn đề các ngành sản xuất thật sự rấtquan tâm
Xuất phát từ yêu cầu trên, em đã mạnh dạn chọn và hoàn thành khóa
luận tốt nghiệp của mình với đề tài : “Năng lực cạnh tranh và các giải pháp
tài chính nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa và vận dụng những lý thuyết cơ bản về cạnhtranh, cạnh tranh ngành, khóa luận tốt nghiệp tiến hành phân tích, đánh giáthực trạng năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam, tìm ra những thuậnlợi và bất lợi ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh để đề xuất, xây dựng một hệthống các giải pháp có tính đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh củangành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận lấy hoạt dộng nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm giấytrên thị trường của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tếquốc tế làm đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu, khóa luận nghiên cứu hoạt động sản xuất kinhdoanh, thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và xuất nhập khẩu của ngànhgiấy Việt Nam, từ đó nghiên cứu triển vọng và những giải pháp đặt ra trongviệc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam Sè liệu sử dụng
để nghiên cứu ngành giấy Việt Nam từ năm 2007-2009
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin làm phương pháp nghiên cứu chủđạo, động thời sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợpcác vấn đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề được sử dụngmột cách linh hoạt-kết hợp hoặc riêng rẽ để giải quyết vấn đề một cách tốtnhất Ngoài ra khóa luận còn sử dụng các sơ đồ, bảng biểu để minh họa, qua
đó rót ra kết luận tổng quát
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận có kết cấu thành 3 chương
Trang 3CH¦¥NG 1
Lý luận cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 1.1 TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.1 Khái niệm và phân loại cạnh tranh
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh
Cùng với quá trình hội nhập kinh tÕ, thuật ngữ “Cạnh tranh” được sửdụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị,quân sự, sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báochuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng
và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến
có nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau:
- Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hànhđộng ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhuận hay các nhóm, các loài vìmục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sựkiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác
- Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tếgiữa các chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điềukiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thuđược nhiều lợi Ých nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa nhữngngười sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêudùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ
Trang 4hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất
và tiêu thụ
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá, ) hoặccạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, ) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp,một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, các điều kiện về thị trường tự do
và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứngđược đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thunhập thức tế
Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất củacạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuậntrung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bìnhquân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sau dẫn đến hệquả giá cả có thê giảm đi (1980)
Cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với pháttriển kinh tế ở các quốc gia Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từrất sớm với các trường phái nổi tiếng nh: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lýthuyết cạnh tranh tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại
Có thể tóm lược một số nội dung cơ bản về lý thyết cạnh tranh trong điều kiệnkinh tế thị trường hiện nay nh sau:
- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại
sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên một thị trường
- Mục đích cuối cùng là tìm kiếm được lợi nhuận mong muốn để tồn tại
và phát triển doanh nghiệp hoặc ngành sản phẩm Để đạt được mục đích cơbản cuối cùng đó, cuộc ganh đua trong kinh doanh phải tạo cho được nhữngđiều kiện, cơ hội tốt nhất nhằm giành được thị trường và mở rộng thị trường
để tăng thị phần, trên cơ sở hạ thấp chi phí sản xuất-tiêu thụ và các hoạt độngliên quan, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc cung ứng các sản
Trang 5phẩm khác biệt Đó là các tiêu chí quan trọng nhất phản ánh năng lực cạnhtranh.
- Cạnh tranh là phạm trù kinh tế phản ánh hiện thực khách quan về cuộc
ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường và chịu tác động của quan
hệ cung cầu sản phẩm
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất
đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trườngvới nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tựthay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận
Tập hợp những quan điểm trên xin đưa ra quan điểm về cạnh tranh của
ngành giấy Việt Nam như sau: “Cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam được
hiểu là một phạm trù kinh tế trong sản xuất hàng hóa, phản ánh quan hệ ganh đua giữa các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh sản phẩm giấy trong ngành giấy Việt Nam với các doanh nghiệp sản xuất-kinh doanh sản phẩm giấy trong ngành giấy các nước trong khu vực hoặc thế giới và cùng bán trên thị trường Việt Nam hoặc thị trường quốc tế Cuộc ganh đua đó được thực hiện bằng nhiÒu biện pháp, thủ thuật và chiến lược khác nhau nhằm giành được những cơ hội, những điều kiện thuận lợi hơn so với các đối thủ cạnh tranh để chiếm thị phần lớn hơn bằng nhiều công cụ quan trọng nhất để đạt được mục tiêu cuối cùng chủ yếu là tối đa hóa lợi nhuận”.
Việc đưa ra một khái niệm phản ánh đầy đủ bản chất của phạm trù cạnhtranh sẽ tạo lập cơ sơ lý luận cho việc phân tích năng lực cạnh tranh củangành giấy Việt Nam
1.1.1.2.Phân loại cạnh tranh
Tùy theo mục đích nghiên cứu và dùa vào các căn cứ khác nhau, cạnhtranh có thể được phân loại theo nhiều phương pháp khác nhau Trong khóaluận sẽ đề cập đến một số phương pháp có liên quan đến nội dung đề tài,những phương pháp đó là:
Trang 6 Căn cứ theo phạm vi kinh tế hay mục tiêu kinh tế của chủ thể: có
cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Cách phân loạicạnh tranh như trên cho thấy để đạt mục tiêu bán cùng một loại hàng hóa cácdoanh nghiệp sản xuất ra loại hàng hóa đó phải cạnh tranh với nhau do vậtxuấ hiện sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, dẫn đến hình thành giá trị thịtrường Và để đạt mục tiêu cạnh tranh giữa các ngành, dẫn đến hình thành lợinhuận bình quân ngành và giá cả sản xuất
Cạnh tranh giữa các ngành : là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cung ứng dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đầu tư ban đầu và đầu tư vào ngành cólợi nhuận cao hơn Cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệpluôn tìm kiếm nhưng ngành có đầu tư có lợi nhất nên vốn đầu tư sẽ chuyển từngành Ýt lợi nhuận sang ngành có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn Sau mộtthời gian nhất định, việc di chuyển dòng đầu tư theo khả năng sinh lời caohơn sẽ hình thành sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đếnkết quả cuối cùng là các doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với sốlượng vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau
Cạnh tranh trong nội bộ ngành : là cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa hay cung ứng dịch vụ nào
đó Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến việc hình giá cả thị trường đồngnhất đối với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hóa
và dịch vụ đó Trong hình thức cạnh tranh này, các doanh nghiệp có thể thôntính lẫn nhau Những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh sẽ mở rộng đượcthị trương, còn những doanh nghiệp không có năng lực cạnh tranh sẽ bị thuhẹp sản xuất hoặc có thể bị phá sản
Căn cứ theo phạm vi địa lý: có cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay trên thị trường nội địa, đó là cạnh
Trang 7tranh này, các yếu tố như chất lượng sản phẩm tốt, giá bán thấp, thời gian đưahàng hóa ra thị trường đúng thời điểm và điều kiện dịch vụ bảo hành, sửachữa tốt là mối quan tâm hàng đầu.
Căn cứ theo cấp dé cạnh tranh quốc gia, ngành và sản phẩm.
Cạnh tranh ở cấp độ quốc gia : thường được phân tích theo quan điểm
tổng thể chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của Chínhphủ Các chủ thể ở đây là các quốc gia do vậy đều quan tâm đến các vấn đềkinh tế-xã hội trên cơ sở tận dụng những điều kiện trong nước và quốc tế Tuynhiên chủ thể liên quan trực tiếp đến cạnh tranh quốc tế là các doanh nghiệp
Cạnh tranh ở cấp độ ngành : một ngành được coi là có tính cạnh tranh
khi ngành này có khả năng tạo nên lợi nhuận và tiếp tục duy trì được thị phầntrên thị trường trong nước và quốc tế
Theo quan niệm cạnh tranh dùa trên yếu tố năng xuất toàn bộ, mộtngành công nghiệp được coi là cạnh tranh khi mức độ yếu tố năng suất toàn
bộ bằng hoặc cao hơn mức nào đó của đối thủ cạnh tranh Yếu tố này quantâm tới hiệu quẩ sản xuất trong việc sử dụng yếu tố đầu vào của vốn và laođộng để tạo ra năng suất lao động cao hơn, góp phần tăng cạnh tranh củangành
Cũng như cạnh tranh ở cấp độ quốc gia, các quan niệm và cách tính toán
về cạnh tranh có thể khác nhau nhưng kết quả cuối cùng là ngành đứng vữngtrên thị trường dùa trên các yếu tố như hiệu quả trong sản xuất-kinh doanh, sửdụng công nghệ tiên tiến
Trang 8khác: “sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại giá trị tăng cao hơn hoặcmới lạ hơn để khách hàng lùa chọn sản phẩm của mình chứ không phải lùachọn sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Cạnh tranh không phải mang tínhchất nhất thời mà là một quá trình liên tục”.
1.1.2 Năng lực cạnh tranh của ngành
1.1.2.1.Năng lực cạnh tranh
Từ trước tới nay, khái niệm năng lực cạnh tranh được nhắc đến rất nhiềunhưng đến nay khái niệm này vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất Bởi lẽnăng lực cạnh tranh cần phải đặt vào điều kiện, bối cảnh phát triển của đấtnước trong từng thời kỳ Đồng thời năng lực cạnh tranh cũng cần thể hiện khảnăng đua tranh, tranh giành giữa các doanh nghiệp và cần được thể hiện rabằng phương thức cạnh tranh phù hợp
Năng lực cạnh tranh về cơ bản là một khái niệm ở mức công ty Mộtcông ty có năng lực cạnh tranh nếu có thể sản xuất các sản phẩm dịch vụ chấtlượng cao và chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh ở trong nước và quốc tế
Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận dài hạn và khả năngcủa nó để bồi hoàn cho người lao động, tạo thu nhập cao cho các chủ sở hữu
Năng lực cạnh tranh là thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với cácđối thủ cạnh tranh khác trong việc thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng đểthu được lợi nhuận ngày càng cao Nh vậy năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp Đây là yếu tố nội hàcủa doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các yếu tố như công nghệ, tàichính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp một cách riêng biệt mà cầnđánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cung mộtsản phẩm, lĩnh vực và thị trường Nếu những điểm mạnh, điểm yếu bên trongcủa doanh nghiệp không được đánh giá thông qua việc so sánh một cáchtương ứng với các đối thủ cạnh tranh thì sẽ không có giá trị Trên cơ sở so
Trang 9lập được lợi thế so sánh so với đối thủ Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thểđáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng mục tiêu còng nh lôi kéo đượckhách hàng của đối thủ cạnh tranh Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệpnào có thể thỏa mẵn đầy đủ những yêu cầu của khách hàng Doanh nghiệp cólợi thế về mặt này thì hạn chế về mặt khác Tuy nhiên doanh nghiệp phải nhậnbiết được điều này và cố gắng phát huy những điểm mạnh để đáp ứng tốt hơnnhu cầu của khách hàng.
1.1.2.2.Năng lực cạnh tranh của ngành
Đặc điểm ngành sản xuất
Được hiểu là tập hợp nhiều doanh nghiệp sản xuất mà hoạt động sảnxuất chủ yếu có những đặc trưng kinh tế-kỹ thuật giống nhau hoặc tương tựnhau thể hiện qua:
- Cùng áp dụng một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tựcơ-lý, hóa, sinh học để sản xuất ra sản phẩm
- Sản phẩm được sản xuất từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệuđồng loại
- Sản phẩm có đầu ra có cùng công dụng cụ thể giống nhau hoặc côngdụng cùng loại
Cách phân loại này lấy doanh nghiệp làm đối tượng phân loại căn cứvào một, hai hoặc ba đặc trưng trên của quá trình sản xuất
Ngành là đơn vị căn bản để phân tích năng lực cạnh tranh TheoM.Porter, một ngành (sản phẩm hay dịch vụ) là một nhóm doanh nghiệp sảnxuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những sản phẩm hay dịch vụ này cạnhtranh trực tiếp với nhau Phân biệt rõ về mặt chiến lược, một ngành bao gồmcác sản phẩm hay dịch vụ có các lợi thế cạnh tranh nh nhau
Nh vậy, ngành giấy có thể được hiểu là một ngành sản xuất thuộc lĩnhvực hoạt động công nghiệp, tập hợp một số doanh nghiệp mà các doanh
Trang 10nghiệp đó có quá trình sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau, sản xuất sảnphẩm đầu ra là giấy Sản phẩm giấy được thực hiện qua hai công đoạn chủyếu: công đoạn sản xuất bột giấy và công đoạn sản xuất giấy thành phẩm Vềhình thức tổ chức sản xuất trong ngành giấy có hai loại hình doanh nghiệp đólà: doanh nghiệp liên hợp giấy và các doanh nghiệp bột giấy hoặc giấy độclập Đối với các doanh nghiệp liên hợp thì giấy là sản phẩm cuối cùng đượcthực hiện thông qua hai công đoạn là sản xuất bằng phương pháp cơ, hóa hoặckết hợp cả hai phương pháp Còn đối với các doanh nghiệp sản xuất bột giấyhoặc giấy độc lập thì bột giấy là sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp sảnxuất bột giấy và giấy là sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp sản xuất giấy.
Có rất nhiều cách để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành, trongkhóa luận sẽ trình bày ba quan điểm được coi là phù hợp khi phân tích nănglực cạnh tranh ở cấp độ ngành Đó là quan điểm quản trị chiến lược của M
Porter, quan điểm tân cổ điển và quan điểm tổng hợp
Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành theo quan điểm quản trị chiến lược của M Porter
- Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dùa theo phân tích cấu trúc
M Porter đã xây dựng mô hình “ khối kim cương” trong phân tích cạnh tranhquốc gia dùa trên nền tảng của việc phân tích cấu trúc Theo cách tiếp cậnnày, nghành có thể nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong vàngoài nước dùa vào năm nhân tè:
(1) Sự thâm nhập ngành của các công ty mới (2) Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế
(3) Vị thế của các nhà cung ứng (4) Vị thế của người mua
(5) Sù tranh đua của các công ty hiện đang cạnh tranh
Phân tích năng lực cạnh tranh theo cấu trúc được đánh giá là có ưu thế
Trang 11Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành chính là việc phân tích và đánhgiá các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của ngành đó Môi trường kinhdoanh của ngành bao gồm tổng thể các yếu tố thuộc điều kiện khách quan vàchủ quan có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh củangành.
Các nhân tố của môi trường kinh doanh bao gồm các nhân tố về môitrường vĩ mô, các nhân tố về môi trường ngành và các nhân tố bên trong Môitrường ngành là môi trường phức tạp nhất và có nhiều ảnh hưởng đến cạnhtranh Khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành không được tổng hợp từnhững quy định, quy luật mà nó mang tính thời điểm
Tuy nhiên, trên thực tế, rất khó để có được hết thông tin cần thiết vàviệc phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược thường bị đánh giá là thiếunhững giả thiết có thể kiểm định được về mặt thống kê và khó dự báo vềlượng những tác động của các chính sách của Chính phủ đến năng lực cạnhtranh của ngành
- Lợi thế cạnh tranh dùa trên các nguồn lực riêng biệt
Từ những năm 1990, quan điểm quản trị chiến lược có bước phát triển mớivới lý thuyết cạnh tranh dùa trên các nguồn lực (hữu hình và vô hình) Cơ sở
lý thuyết này là việc thừa nhận ngành trong một chiến lược thích hợp có thể
sử dụng các nguồn lực của mình để thu được lợi nhuận cao hơn mức bìnhthường trên thị trường trong một thời gian dài Nguồn lực của ngành gồm cácnguồn vốn tài sản, vốn tài chính, vốn con người, tri thức, thông tin, các tài sản
vô hình (như thương hiệu và địa vị thị trường), các quá trình ra quyết định và
hệ thống phối hợp Tuy nhiên, không phải mọi nguồn lực đều tạo ra lợi nhuậncao hơn, nhất là các nguồn lực mà các đối thủ cạnh tranh cũng đang sử dụng
Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh dùa trên nguồn lực “riêng biệt” đượcduy trì nhờ bốn đặc trưng:
Trang 12(1) Nguồn lực phải thực giá trị, tức là đóng góp tích cực cho việc khaithác vị thế của ngành trên thị trường
(2) Nguồn lực phải hiếm hoi, các đối thủ cạnh tranh không thể có đượcmột cách rộng rãi
(3) Nguồn lực phải có tính khó bắt chước hay mô phỏng
(4) Nguồn lực không dễ bị thay thế bởi nguồn lực khác
Tóm lại, lợi thế cạnh tranh, mục tiêu của quản trị chiến lược, đòi hỏi cácnguồn lực của ngành phải khác biệt, rất khó lưu chuyển và bắt chước
Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dùa trên quan điểm tân cổ
điển
Quan điểm tân cổ điển dùa trên lý thuyết thương mại truyền thống xemxét lợi thế cạnh tranh hay năng lực cạnh tranh đối với một sản phảm qua lợithế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất so với đối thủ nước ngoài các chỉ
số được sử dụng như giá thành sản phẩm so với đối thủ, năng suất hoặc chiphí nguồn lực trong nước Các chỉ số này thường được xem xét cùng với tỷgiá hối đoái và các biện pháp bảo hộ
Đánh giá năng lực cạnh tranh theo quan điểm tân cổ điển có phần phiếndiện do Ýt sử dụng phân tích động thái và việc đo lương chi phí và nhất lànăng suất phải dùa trên những giả thiết không thật phù hợp với thực tế
Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành theo quan điểm tổng hợp
Theo quan điểm tổng hợp, năng lực cạnh tranh của một ngành là nănglực duy trì được lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước
Có bảy nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành như năng suất,
công nghệ, sản phẩm, yếu tố đầu vào và chi phí, mức độ tập trung, các điềukiện về cầu và độ liên kết Việc phân tích về mặt định lượng, định tính có thểcho biết những lợi thế và yếu tố nào do ngành kiểm soát nhằm tăng năng lựccạnh tranh và yếu tố nào từ phía Chính phủ nhằm tạo điều kiện cho các chiến
Trang 13Quan điểm tổng hợp kết hợp các quan điểm quản trị chiến lược, tân cổđiển và kinh tế học về tổ chức công nghiệp, có thể giúp đo lường năng lựccạnh tranh, đồng thời chỉ ra những nhân tố thúc đẩy hay cản trở năng lực cạnhtranh.
Xét tổng thể, cách phân tích theo quan điểm tổng hợp cho phép trả lời
ba câu hỏi khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một ngành:
(1) Ngành có năng lực cạnh tranh nh thế nào?
(2) Những nhân tố nào tác động tích cực hay tác động tiêu cực tới nănglực sản xuất của ngành?
(3) Những tiêu chí nào cần có để nâng cao năng lực cạnh tranh củangành, những chính sách và công cụ nào đáp ứng được các tiêu chíđó?
Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành theo quan điểm tổng hợp thểhiện đầy đủ cả những phân tích định tính và định lượng còng nh quan sát tĩnh
và động Tuy nhiên, rất khó có thể áp dụng tất cả các yêu cầu trên trong mộtkhóa luận hay chuyên đề do cần phải có nguồn số liệu đầy đủ còng nh cácthông tin chính xác tại từng thời điểm
Tổng hợp và trình bày nội dung khái niệm năng lực cạnh tranh, phântích năng lực cạnh tranh dùa trên những quan điểm, phương pháp khác nhau ởtrên, có thể rót ra mét quan điểm chung nhất về năng lực cạnh tranh của
ngành giấy Việt Nam như sau: “ Năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt
Nam được hiểu là tổng hợp khả năng hoạt động sản xuất-kinh doanh của toàn
bộ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong ngành giấy Việt Nam nhằm duy trì, mở rộng thị phần các sản phẩm giấy của ngành, được tiêu thụ trên thị trường trong nước và quốc tế so với các doanh nghiệp trong ngành giấy các nước trong khu vực hoặc thế giới Năng lực cạnh tranh của ngành được phản ánh bằng nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau”.
1.2 các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành
Trang 141.2.1 Thị phần sản phẩm của ngành trên thị trường nội địa
Đây là tiêu chí quan trọng đánh giá triển vọng tăng trưởng, phát triểncủa ngành Những số liệu về tổng thị phần trong và ngoài nước nói lên kếtquả của hoạt động thâm nhập, chiếm lĩnh thị trường, xúc tiến thương mại,mức độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và tính năng động của ngành
Ngoài ra thị phần cũng phản ánh mức độ tạp trung trong sản xuất kinhdoanh đối với loại sản phẩm hàng hóa của ngành trên thị trường Bên cạnh đó,thị phần còn phản ánh độ liên kết giữa vị thế của ngành với vị thế của ngườimua đối với một sản phẩm hay hàng hóa nhất định, biểu hiện uy tín củangành, sự tin cậy của người mua trong việc cung ứng, thanh toán, giá cả,, chấtlượng và dịch vụ sau bán hàng của hàng hóa đó trên thị trường
(1.1) Trong đó:
- MS: Thị phần của ngành trên thị trường trong nước
- P: Sản lượng của ngành, được tính bằng hiện vật hoặc doanh thu
- M: Số lượng nhập khẩu mặt hàng đang xét hoặc giá trị hàng nhập khẩu
1.2.2 Chỉ tiêu về chất lượng và chủng loại sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng của sản phẩm là yếu tố quantrọng để nâng cao năng lực cạnh tranh Nếu cùng một loại sản phẩm có côngdụng sử dông và giá cả nh nhau thì sản phẩm chất lượng tốt hơn sẽ được thịtrường chấp nhận Yếu tố chất lượng sản phẩm phụ thuộc điều kiện kỹ thuật,trình độ lao động của từng ngành, từng vùng, từng quốc gia nhưng nâng caochất lượng sản phẩm của ngành là mục tiêu của mọi ngành ở bất kỳ quốc gianào Bên cạnh đó, kinh tế thế giới và kinh tế của các quốc gia đều tăng trưởng
Trang 15tăng lên, người tiêu dùng sẵn sàng tiêu thụ những hàng hóa có chất lượng tốtvới giá cao hơn nhưng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của họ.
Đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng các nhu cầu sử dụng khác nhau làcông cụ hữu Ých trong cạnh tranh Để sản phẩm được duy trì và chiếm thịphần lớn trong quá trình tiêu thụ, các doanh nghiệp phải thường xuyên cảitiến đưa ra thị trường các loại sản phẩm khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầungày càng đa dạng của người tiêu dùng Và đây chính là cơ hội để nâng caonăng lực cạnh tranh của ngành
1.2.3 Chỉ tiêu về giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một trong các yếu tố quan trọng để doanhnghiệp có thể xác định giá bán sản phẩm trên thị trường Giá bán sản phẩm sẽtác động đến quyết định của người mua và là yếu tố quan trọng trong cạnhtranh giữa các doanh nghiệp hay giữa các ngành với nhau Với sản phẩm cùngloại, có chất lượng tương đương nhau và dịch vụ khách hàng được cung cấpnhư nhau, người mua sẽ chọn sản phẩm có giá bán rẻ hơn Cùng mức chi phísản xuất nh nhau, doanh nghiệp nào tiêu thụ được nhiều hàng hơn, chiếm thịphần lớn hơn sẽ thu được lợi nhuận cao hơn Như vậy, doanh nghiệp hayngành có năng lực cạnh tranh cao hơn đối thủ
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÀNH
Năng lực cạnh tranh ngành nói chung và năng lực cạnh tranh nghànhgiấy Việt Nam nói riêng, chịu sự tác động tổng hợp của nhiều loại nhân tốkhác nhau Nghiên cứu sự tác động của các nhân tố đó có nhiều biện pháptiếp cận Nội dung khóa luận này sẽ tiếp cận theo mô hình ‘kim cương’ để tạolập được cơ sở khoa học cho việc phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnhtranh của ngành giấy Việt Nam
Mô hình “Kim cương”, một lý thuyết cạnh tranh nổi tiếng của MichaelPorter, được ông nêu trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (1990), đã
Trang 16nêu lên các yếu tố quyết định sự cạnh tranh của một quốc gia trong thươngmại quốc tế Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lạiphụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành, của quốc gia đó.
Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh tranh sẽchuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban chosang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì bị thế cạnh tranhlâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế
M Porter đã đưa ra phương pháp phân tích năng lực cạnh tranh theocấu trúc đối với mỗi ngành, dù hoạt động trong hay ngoài nước, bản chất cạnhtranh nằm trong 4 nhân tố và các nhân tố này tác dộng qua lại lẫn nhau, tạo rađộng lực khác nhau cho cạnh tranh
1.3.1 Điều kiện về yếu tố sản xuất
Yếu tố sản xuất là những đầu vào cần thiết để cạnh tranh của bất kỳngành nào Mỗi quốc gia đều có những yếu tố về lịch sử và điều kiện tựnhiên, thiên nhiên khác nhau như tài nguyên con người, tài nguyên vật chất,tri thức, tư bản và cơ sở hạ tầng Những yếu tố này bao gồm nhiều loại và vaitrò của chúng trong việc hỗ trợ cạnh tranh khác nhau Yếu tố sản xuất có thểgồm các yếu tố cơ sở và yếu tố cao cấp
- Yếu tố cơ sở bao gồm tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, vị trí địa lý, laođộng giản đơn và bán giản đơn, nguồn vốn vay Đây là những yếu tố đơngiản, thuần túy do điều kiện thông thường mà có
- Yếu tè cao cấp là những yếu tố có được do tích lũy và đầu tư có địnhhướng nh cơ sở hạ tầng về truyền thông dữ liệu, trình độ công nghệ, lao động
ở trình độ cao nh kỹ sư, các nhà khoa học
Yếu tố cơ sở có vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu khi một quốc giatham gia vào cạnh tranh nhưng không phải là yếu tố lâu bền và Ýt có ảnhhưởng ở gia đoạn phát triển cao hơn Những yếu tố cao cấp có ý nghĩa quan
Trang 17trọng trong việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, yếu tốcao cấp của một quốc gia được xây dựng trên những yếu tố cơ sở.
1.3.2 Điều kiện về cầu
Nhu cầu trong nước ảnh hưởng khác nhau tới cạnh tranh quốc tế Nhucầu trong nước rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh củamột ngành vì thực tế các sản phẩm của ngành có nhu cầu trong nước cao và
đa dạng thì thường thành công trong cạnh tranh
1.3.3 Những ngành hỗ trợ và liên quan
Năng lực cạnh tranh của một ngành cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào
sự phát triển của ngành hỗ trợ và liên quan Mặc dù xu hướng toàn cầu hóanền kinh tế đã làm giảm đi tầm quan trọng của các ngành hỗ trợ và liên quantrong nước, nhưng các ngành này vẫn có vai trò trong việc cung ứng đầu vào,đổi mới, cải tiến công nghệ Điều này càng phù hợp hơn khi các nền kinh tếmới trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.4 Năng lực và cơ cấu ngành
Cạnh tranh của một ngành trên thị trường nội địa có ảnh hưởng lớn tớithành công của ngành đó trên thị trường thế giới Cạnh tranh trên thị trườngnội địa tạo cho các doanh nghiệp môi trường lành mạnh cần thiết cho các hoạtđộng đổi mới Các doanh nghiệp trong nước khi không thể mở rộng tại thịtrường trong nước để đạt lợi thế theo quy mô sẽ phải cố gắng hướng ra thịtrường quốc tế Cạnh tranh trong nước bắt các doanh nghiệp không chỉ dùavào lợi thế sẵn có nh giá nhân công rẻ, nguyên liệu
Dunning J (1988) đã dùa trên mô hình “Kim cương” của Porter để xâydựng mô hình “Kim cương” cải tiến khi sử dụng thêm 2 yếu tố là Nhà nước
và đầu tư nước ngoài Ngoài 4 yếu tố trên của mô hình “Kim cương”, yếu tốbên ngoài là Nhà nước cũng tác động đến mô hình này Nhà nước không phải
là người trực tiếp tạo ra năng lực cạnh tranh của ngành mà chỉ có vai trò giántiếp, thông qua tác động của mình đến những yếu tố của mô hình “Kim
Trang 18cương” Trong điều kiện hiện nay, khi các nền kinh tế hội nhập sâu vào nềnkinh tế thế giới thì đầu tư nước ngoài là một yếu tố quan trọng không thêthiếu Mô hình này rất cần khi xem xét, phân tích và đánh giá năng lực cạnhtranh của ngành giấy Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, các quan niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh nóichung và năng lực cạnh tranh của ngành nói riêng đã được tổng hợp và trìnhbày có hệ thống trên cơ sở quan điểm của nhiều tác giả Từ việc nhận thức và
kế thừa các quan niệm đó nhằm đưa ra quan niệm về năng lực cạnh tranh củangành giấy như sau: tổng hợp sức mạnh các nguồn lực của ngành để sản xuấtnhững sản phẩm trong các doanh nghiệp có chi phí thấp hơn, có chất lượngsản phẩm cao, dịch vụ bán hàng và sau bán hàng tốt hơn trong mối quan hệ sosánh với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh giáy của các nước cùng tiêuthụ trên một thị trường Mục đích cơ bản của cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợinhuận trên cơ sở tối đa hóa lợi Ých của khách hàng trên thị trường tiêu thụsản phẩm giấy Năng lực cạnh tranh của ngành với năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp trong ngành giấy có mối quan hệ tương tác với nhau Nănglực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành tạo nên động lực vàsức mạnh cạnh tranh của ngành, ngược lại năng lực cạnh tranh của toàn ngành
là tổng hợp sức mạnh cạnh tranh của tất cả các doanh nghiệp Nâng cao nănglực cạnh tranh của ngành sẽ tạo điều kiện thúc đẩy năng lực cạnh tranh củatừng doanh nghiêp trong ngành
Để phản ánh, phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh một cách toàndiện thì cần phải đánh giá cả về mặt định lượng và mặt định tính Đánh giá vềmặt định lượng thông qua các chỉ tiêu chủ yếu như: Thị phần, chất lượng và
Trang 19về mô hình “kim cương” của M Porter làm cơ sở phân tích các nhân tố ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành như: (1) Các điều kiện về yếu tốsản xuất của ngành, (2) các điều kiện về cầu, (3) các ngành liên quan và hỗtrợ, (4) năng lực và cơ cấu ngành Đối với ngành giấy hoạt động trong điềukiện khi nền kinh thế mới tham gia vào WTO, thì ngoài 4 nhân tố nêu trên cần
bổ sung thêm 2 nhân tố: (5) Nhà nước, (6) vốn đầu tư nước ngoài trong môhình “kim cương” cải tiến của Dunning Những nhân tố này có tác động tổnghợp đến năng lực cạnh tranh của ngành Mỗi nhân tố đều được trình bày vềmặt nội dung và hướng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành, cũng nhưmối tác động tương tác giữa các nhân tố đó với nhau
Những nội dung trình bày về thực chất cạnh tranh, năng lực cạnh tranh
và việc phản ánh phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành cả về mặtđịnh tính, định lượng là những nội dung lý luận cơ bản có liên quan đến chủ
đề nghiên cứu của khóa luận Những nội dung lý luận ở chương 1 đã tạo lậpđược cơ sở lý thuyết để vận dụng vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và
đề xuất các giải pháp tài chính nhằm nâng cao năng lực cạnh của ngành giấyViệt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sẽ được trình bày ở chương
2 và chương 3
CH¦¥NG 2 Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh ngành giấy việt nam trong giai
đoạn hiện nay 2.1 tổng quan ngành giấy việt nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tạiViệt Nam, khoảng năm 284 Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được
Trang 20làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dâgian, vàng mã
Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp côngnghệ đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì Trongthập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều
có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) nh Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máybột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai Năm
1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/nămnhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy
và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28.000 tấn/năm
Năm 1982, nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã
đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử dụng công nghệ cơ-lý và tựđộng hóa Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sơ hạ tầng, cơ
sở phụ trợ nh điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt độngsản xuất
Ngành giấy cũng có những bước phát triển vượt bậc, sản lượng giấytăng trung bình 11%/năm trong giai đoạn 2000-2006; tuy nhiên, nguồn cungnhư vậy vẫn chỉ đáp ứng được gần 64% nhu cầu tiêu dùng (năm 2008) phầncòn lại phải nhập khẩu Mặc dù đã có sự tăng trưởng đáng kể tuy nhiên, tớinay đóng góp của ngành trong tổng giá trị sản xuất quốc gia vẫn rất nhỏ
2.1.2 Các sản phẩm giấy Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau sản phẩm giấy được chia thành 4
nhóm:
Nhóm 1: Giấy dùng cho in, viết (giấy in báo, giấy in và viết
Nhóm 2: Giấy dùng trong công nghiệp (giấy bao bì, giấy chứa chất lỏng )
Nhóm 3: Giấy dùng trong gia đình (giấy ăn, giấy vệ sinh )
Trang 21 Nhóm 4: Giấy dùng cho văn phòng (giấy fax, giấy in hóa đơn )
Hiện nay ở Việt Nam chỉ sản xuất được các sản phẩm nh giấy in, giấy
in báo, giấy bao bì công nghiệp thông thường, giấy vàng mã, giấy vệ sinh chấtlượng thấp, giấy tissue chất lượng trung bình còn các loại giấy và các tông
kỹ thuật như giấy kỹ thuật điện-điện tử, giấy sản xuất thuốc lá, giấy in tiền,giấy in tài liệu bảo mật vẫn chưa sản xuất được
2.1.3 Cơ cấu theo sở hữu
Cuối năm 2007, toàn ngành có trên 239 nhà máy với tổng công suấtđạt 1,38 triệu tấn/năm; 66 nhà máy sản xuất bột giấy, tổng công suất 600.000tấn/năm
Hiện nay Việt Nam có khoảng gần 500 doanh nghiệp giấy tuy nhiên
đa phần là các doanh nghiệp nhỏ, hộ sản xuất cá thể Toàn ngành chỉ có hơn
90 doanh nghiệp có công suất trên 1000 tấn/năm
Bảng 1: Cơ cấu sở hữu các loại hình doanh nghiệp (DN)
Hình thức sở hữu
SốlượngDN*
Bột giấy GiấyCông suất
(tấn/năm) Tỷ lệ %
Công suất(tấn/năm) Tỷ lệ %
1 DN Nhà nước 13 111.000 26,47 133.070 8,75
2 CTCP và Tập thể 76 237.550 56,65 694.420 45,68
3 DN tư nhân 167 70.770 16,88 632.460 41,61
4 DN nước ngoài 03 - 0,00 60.000 3,96Tổng công suất 259 419.320 100,00 1.519.950 100,00
*: Sè liệu 259 DN này chưa bao gồm các hộ sản xuất giấy cá thể, có công suất nhỏ hơn 300 tấn/năm Các hộ này không ảnh hưởng đến thị trường.
(Nguồn: Viện công nghệ giấy và xenluylo.)
2.2 Phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành giấy việt nam
Trang 222.2.1 Phân tích năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam thông
qua một số chỉ tiêu chủ yếu
2.2.1.1.Chỉ tiêu thị phần sản phẩm của ngành trên thị trường nội địa
Vận dụng chỉ tiêu phản ánh thị phần (phần 1.2.1) và theo số liệutrong qui hoạch điều chỉnh ngành giấy Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn
Cụ thể là : năm 2007, ngành giấy đảm bảo được 56,7% nhu cầu tiêudùng giấy trong nước, còn lại 43,3% giấy nhập khẩu; năm 2008, đảm bảo57,9% nhu cầu trong nước, nhập khẩu 42,1%; đến năm 2009 thị phần trongnước tăng cao hơn so với năm 2007 và 2008 đạt 73,8% nhưng tỷ lệ này chothấy năng lực sản xuất của ngành giấy Việt Nam còn thấp không đáp ứng
Trang 23được nhu cầu trong nước, hoặc năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Namkém so với ngành giấy các nước do giá thành sản xuất cao, chất lượng trungbình và chủng loại giấy chưa được phong phó.
Đối với thị phần bột giấy trong nước của ngành giấy Việt Nam, cóthể thấy tỷ lệ này cao hơn của giấy, nhưng không chứng tỏ là ngành giấy đãđáp ứng được nhu cầu bột giấy trong nước mà do các doanh nghiệp sản xuấtsản phẩm giấy chất lượng thấp nên chỉ sử dụng giấy loại làm nguyên liệu vàbên cạnh đó thì giá bột giấy trên thị trường thế giới liên tục tăng trong nhữngnăm gần đây nên các doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu
Để tìm hiểu nguyên nhân làm cho thị phần sản phẩm của ngànhgiấy Việt Nam trên thị trường nội địa thấp, ta sẽ đi phân tích các chỉ tiêu:
chất lượng sản phẩm, chủng loại và giá thành sản phẩm
2.2.1.2.Chỉ tiêu về chất lượng và chủng loại sản phẩm
Sản phẩm bột giấy
Ngành giấy Việt Nam không có các doanh nghiệp sản xuất bột giấythương mại và chỉ sản xuất được các loại bét nh bét hóa không tẩy trắng, bộthóa tẩy trắng, bột hóa nhiệt cơ và bột kiềm lạnh Bột giấy sản xuất phần lớn làbột xơ sợi ngắn và trung bình, từ nguyên liệu gỗ cứng và tre nứa Công ty BãiBằng, Tân Mai đều sử dụng hết lượng bột giấy cho sản xuất giấy
Chỉ có hai công ty giấy Bãi Bằng và giấy Việt Trì sản xuất được bộtgiấy tẩy trắng để sản xuất giấy in, giấy viết Chất lượng bột giấy đáp ứng chosản xuất giấy in có chất lượng xấp xỉ với giấy in cùng loại của khu vực Bộthóa nhiệt cơ (CTMP) là một trong những sản phẩm phổ biến trong sản xuấtgiấy nhưng mới chỉ có Công ty giấy Tân Mai đầu tư, sản xuất Nguyên liệu sửdụng trước đây là gỗ lá kim nhưng hiện nay công ty đã thay thế bằng gỗ cứng
do nguồn cung gỗ lá kim không đủ
Bột giấy không tẩy trắng được sản xuất từ giấy loại, bã mía, tre nứa tạicác công ty cổ phần và tư nhân như Lam Sơn, Lửa Việt, Mục Sơn, Hòa Bình
Trang 24Loại bột giấy này dùng để sản xuất bao bì công nghiệp, giấy vệ sinh chấtlượng thấp Hiện nay các sản phẩm giấy bao bì chất lượng cao sử dụng béttẩy trắng sợi dài thì Việt Nam nhập khẩu hoàn toàn
Với công suất và sản lượng bột giấy thấp, không đáp ứng được nănglực sản xuất giấy nên hàng năm, ngành giấy phải nhập khẩu bột giấy và giấyloại với số lượng lớn Các loại bột nhập khẩu chủ yếu là bột tẩy trắng xơ sợngắn và dài
Bảng 3: Công suất và sản lượng bột giấy
(Đơn vị: tấn)
Công suất sản xuất bột giấy 1.115.000 1.265.000 1.995.000Sản lượng bột giấy 996.000 1.115.000 1.700.000
Năng lực sản xuất giấy 1.341.000 1.498.000 2.350.000
(Nguồn: Dự báo về công nghiệp bột giấy Việt Nam 2006-2010)
Sản phẩm giấy các loại
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm chủng loại giấy khác nhau nhưngngành giấy Việt Nam chỉ sản xuất được các loại sản phẩm như giấy in, giấy inbáo, giấy bao bì công nghiệp thông thường, giấy vàng mã, giấy vệ sinh chấtlượng thấp, giấy tissue chất lượng trung bình Còn các loại giấy và các tông
kỹ thuật nh giấy kỹ thuật điện-điện tử, giấy sản xuất thuốc lá, các loại giấylọc, giấy in tiền, giấy in tài liệu bảo mật vẫn chưa sản xuất được
Mặc dù đầu tư vào ngành giấy tăng mạnh trong các năm qua nhưng sảnxuất trong nước vânc chưa đủ đáp ứng nhu cầu, nhất là ở những nhóm sảnphẩm tiêu thụ nhiều và doanh nghiệp Việt Nam chưa sản xuất được Tốc độtăng nhu cầu tiêu dùng cao hơn tốc độ tăng của sản xuất vì vậy tỷ trọng nhậpkhẩu vẫn cao và tăng qua các năm
Trang 25Do máy móc cũ, công nghệ lạc hậu, nên nhiều nhà máy giấy Việt Namkhông sản xuất được hết công suất, vì vậy, khả năng đáp ứng tiêu dùng nội địacàng thấp và tỷ trọng nhập khẩu càng cao.
Trang 26Bảng 4: Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất nhập khẩu các sản phẩm giấy năm 2008
Khả năng sản xuất đáp ứng nhu cầu nội địa
Trang 28Trong cơ cấu ngành giấy của Việt Nam thì giấy bao bì chiếm tỷ trọnglớn nhất; thứ hai là các nhóm giấy in và giấy viết, xếp sau đó lần lượt là giấyvàng mã, giấy Tissue và giấy báo.
Với nhóm giấy làm bao bì, nhóm giấy in và viết, giấy in báo các doanhnghiệp trong nước mới chỉ cung cấp được các sản phẩm chất lượng thấp, cácsản phẩm chất lượng cao đều phải nhập khẩu, khối lượng nhập khẩu lớn
Mảng giấy tissue, các doanh nghiệp cơ bản chiếm lĩnh được thị trường nội địa
và xuất khẩu một phần Giấy vàng mã chủ yếu là xuất khẩu Nh vậy trongnhững năm tới, triển vọng phát triển tiềm năng sẽ năm ở mảng phân khúc giấy
in báo, giấy in viết và giấy làm bao bì tại mảng sản phẩm giấy tissue cạnhtranh sẽ ngày càng gay gắt hơn do trong thời gian qua nhiều cơ sở sản xuất đãtập trung phát triển sản phẩm này
Chất lượng sản phẩm của các sản phẩm giấy khác nhau giữa các doanhnghiệp Tuy nhiên hầu hết chỉ đạt tiêu chuẩn thông thường hoặc thấp hơn thếgiới và khu vực Các doanh nghiệp sản xuất qui mô nhỏ có chất lượng thấp do
sử dụng thiết bị lạc hậu, không đồng bộ và công nghệ đơn giản Các công tysản xuất gui mô vừa và lớn, chất lượng giấy đã đạt được tiêu chuẩn chấtlượng Việt Nam và quốc tế như Bãi Bằng, Tân Mai thực hiện quản lý chấtlượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và hệ thống quản lý môi trường ISO
14000 Một số sản phẩm nh giấy in báo, giấy viết, giấy vệ sinh được ngườitiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao trong nhiều năm Cáccông ty giấy như Bãi Bằng, Tân Mai, New Yota đã lắp đặt hệ thống kiểm trachất lượng sản phẩm (QCS) giúp ổn định chất lượng sản phẩm
Hiện nay một số công ty sản xuất lớn nh Tổng công ty giấy ViệtNam, CTCP Giấy Sài Gòn, CTCP Giấy Tân Mai có hệ thống phân phốiriêng Thông thường sản phẩm của các công ty này được phân phối qua nhàphân phối, các đại lý, cửa hàng giới thiệu sản phẩm, hệ thống siêu thị Tuy
Trang 29nhân có qui mô nhỏ chưa có kênh phân phối cho riêg mình Theo Hiệp HộiGiấy Việt Nam, hệ thống phân phối giấy trong nước manh món, chủ yếu donhững đại lý, cơ sở sản xuất nhỏ làm gia công từ giấy cuộn lớn ra giấy gram,
vở tập, giấy văn phòng là những sản phẩm cuối cùng Các tổ chức, cá nhânmua giấy cuộn về tự xén và tự tìm hiểu thị trường Các văn phòng lớn thườngdùng giấy nhập ngoại
2.2.1.3.Chỉ tiêu về giá thành
Giá thành sản phẩm bột giấy
Một số chủng loại bột giấy sản xuất tại Việt Nam có giá thấp hơn bộtnhập khẩu Ví dụ tại nhà máy Tân Mai, bột hóa nhiệt cơ (CTMP) có giá thànhthấp hơn 1/3 so với bột nhập khẩu cùng loại
Hiện nay trên thế giới, các công ty giấy lớn sản xuất cả bột giấy và giấy
do vậy thường nâng giá bán bột giấy và làm giảm sức cạnh tranh của nhữngcông ty giấy bị lệ thuộc vào nguồn bột giấy nhập khẩu như trường hợp củaViệt Nam Do vậy mức chênh lệch giữa giá bột giấy và gia giấy trên thịtrường thế giới rất thấp
Năng lực sản xuất bột giấy trong nước không đáp ứng được nhu cầusản xuất giấy, phụ thuộc khoảng 50% vào nước ngoài Điều này dẫn đếnngành giấy luôn phải phụ thuộc vào giá cả lên , xuống của thị trường bột giấythế giới Đây là một yếu tố làm tăng giá thành sản phẩm và giảm sức cạnhtranh của các sản phẩm giấy
Trang 30chỉnh tăng giá từ tháng 01/2008 đến 08/2008 (khi đó giá giấy in báo từ 10,3triệu/tấn cho loại giấy IB58 – 48 g/m2 tăng lên 16,5 triệu đồng/tấn) và 03 lầnđiều chỉnh giảm từ 09/2008 đến tháng 11/2008 Mức tăng giá tại thời điểmcuối năm 2008 so với đầu năm 2008 là 147,57% (mức cao nhất vào15/08/2008 so với đầu năm là 160,2%).
Phân tích cơ cấu tăng giá thành trong quá trình sản xuất bột giấy vàgiấy cho thấy, trong ba yếu tố đầu vào tác động trực tiếp đến giá thành gồmnguyên liệu thô, vật liệu phụ và nhiên liệu thì mức tăng giá của các loại nhiênliệu phục vụ cho sản xuất là cao nhất
Từ cuối năm 2009 đến hết tháng 3/2010, nhiên liệu than, điện, xăngdầu lần lượt được điều chỉnh tăng đồng loạt Trong đó than cám 4 A từ 841nghìn đồng/tấn năm 2009, đến 01/03/2010 tăng lên 1,170 triệu đồng, tăng39%, trong khi tỷ trọng cơ cấu giá than trong giá thành sản phẩm xấp xỉ 2,8%
Mặt hàng dầu DO từ 13.269 đồng/kg năm 2009 đến đầu năm 2010 tăng lên14.900 đồng/kg, tăng 12%
Việc điều chỉnh tăng giá các loại nhiên liệu quan trọng nhất trong sảnxuất giấy đã tác động trực tiếp tới giá thành Thực tế này đòi hỏi Tổng công tygiấy Việt Nam và các doanh nghiệp sản xuất giấy trong ngành cần phảinghiên cứu cho ra các phương án sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng để ổnđịnh giá thành sản phẩm, giữ được vị thế cạnh tranh trên thị trường
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam
2.2.2.1.Nguyên liệu và nguồn nguyên liệu
Việt Nam được coi là một nước giàu tài nguyên thiên nhiên và có điềukiện tự nhiên thuận lợi cho sựa phát triển của các loài cây nguyên liệu giấy
Nh vậy, ngành giấy có tiềm năng để phát triển
a Các loại nguyên liệu giấy
Trang 31Nguyên liệu chính để sản xuất bột giấy là sợi xenluylo có hai nguồnchính là từ gỗ và phi gỗ Bên cạnh đó giấy loại đang ngày càng trở thànhnguồn nguyên liệu chủ yếu trong sản xuất giấy.
Bột giấy từ nguyên liệu nguyên thủy (gỗ hay phi gỗ)
- Nguyên liệu từ gỗ là các loại cây lá rộng hoặc lá kim
- Nguyên liệu phi gỗ nh các loại tre nứa, phế phẩm sản xuất công-nôngnghiệp nh rơm rạ, bã mía và giấy loại Nguyên liệu để sản xuất bột giấy từcác loại phi gỗ có chi phí sản xuất thấp nhưng không phù hợp với nhà máy cócông suất lớn do nguyên liệu loại này được cung cấp theo mùa vụ và khókhăn trong việc cất trữ
Tại Việt Nam năng lực sản xuất bột giấy mới chỉ đáp ứng được 50%
nhu cầu sản xuất giấy Do đó ngành công nghiệp giấy luôn phải phụ thuộc vàonguồn bột giấy nhập khẩu Hiện nay chỉ có Công ty Giấy Bãi Bằng và Công
ty cổ phần Giấy Tân Mai chủ động đáp ứng được khoảng 80% tổng số bột chosản xuất giấy của mình
Ngành giấy Việt Nam còng không có các doanh nghiệp sản xuất bộtthương mại, chỉ có các doanh nghiệp sản xuất bột phục vụ cho việc sản xuấtgiấy của chính doanh nghiệp đó
Bảng 4: Tình hình sản xuất và nhập khẩu bột giấy qua các năm
Trang 32b Bột tái sinh 545.000 669.000 710.000 850.000 900.000
Công suất 600.000 750.000 800.000 990.000 1.100.000Sản xuất/công suất 91% 89% 89% 86% 82%
2 Nhập khẩu 131.884 144.000 197.000 110.000 110.000
(Nguồn: thu thập từ qui hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp giấy)
Bột giấy từ giấy loại
Giấy loại ngày càng được sử dụng nhiều làm nguyên liệu cho ngànhgiấy do ưu điểm tiết kiệm được chi phí sản xuất Giá thành bột giấy từ giấyloại luôn thấp hơn các loại bột giấy từ các loại nguyên liệu nguyên thủy vì chiphí vận chuyển, thu mua và xử lý thấp hơn Tính trung bình sản xuất 1 tấngiấy từ giấy loại tiết kiệm được 17 cây gỗ và 1.500 lít dầu so với sản xuấtgiấy từ nguyên liệu nguyên thủy Hơn nữa, chi phí đầu tư dây chuyền xử lýgiấy loại thấp hơn dây chuyền sản xuất bột gỗ từ các nguyên liệu nguyênthủy Bên cạnh đó sản xuất giấy từ giấy loại có tác động bảo vệ môi trường
Tính trung bình sản xuất giấy từ bột tái sinh giảm được 74% khí thải và 35%
nước thải so với sản xuất giấy từ bột nguyên (Tạp chí công nghệ tháng12/2008)
So với bột giấy làm từ nguyên liệu nguyên thủy, bột giấy tái chế có chấtlượng kém hơn do đó không thể sử dụng để sản xuất các loại sản phẩm chấtlượng cao nh các loại bao bì yêu cầu độ bền và độ dai lớn
Bảng5: Tình hình sử dụng giấy tái chế để sản xuất giấy tại một số nước năm 2007
Trang 33(Nguồn: Tạp chí công nghiệp giấy tháng 12/2008)
Nguồn giấy loại được cung cấp từ 2 nguồn là thu gom và nhập khẩu
Giấy loại nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu được nhập từ Mỹ, Nhật Bản vàNew Zealand Nguồn thu gom trong nước chủ yếu qua đồng nát là nhữngngười thu gom riêng lẻ lùng sục từng ngõ ngách, các công ty vệ sinh, nhữngngười bới rác, các trạm thu mua trung gian Hiện nay chưa có công ty chuyêndoanh giấy thu hồi do đó việc thu gom và tái chế diễn ra khá tự phát Hơn nữaNhà nước chưa có chính sách khuyến khích thu gom cũng như chưa có hànhlang pháp lý điều hành hoạt động này, do đó tỷ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng
ở Việt Nam rất thấp chỉ khoảng 25% so với 38% ở Trung Quốc hay 65% ởThái Lan
Bảng6: Tình hình sử dụng giấy tái chế ở Việt Nam
(2005-2007)
Giấy tái chế (tấn) 533.000 708.500 903.045Thu gom (tấn) 331.751 388.645 450.058Nhập khẩu (tấn) 201.249 319.856 452.988
Tỉ lệ thu hồi trong tổng năng lực sản xuất giấy (%)
Tỉ lệ thu hồi giấy đã 25% 25% 25%
Trang 34qua sử dông (%)
(Nguồn: Tạp chí công nghiệp giấy tháng 1/2009)
b Vùng nguyên liệu cho các nhà máy giấy
Khả năng đáp ứng nhu cầu thấp và không đồng đều Vùng nguyên liệutập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung trong khi năng lực sản xuất lạitập trung phần lớn ở miền Nam
Tổng diện tích vùng nguyên liệu (bao gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng,đất trống đồi núi trọc) của Việt Nam là 1.548 ngàn ha và tập trung chủ yếu ởĐông Bắc Bộ và Tây Nguyên Tuy nhiên hiện nay khả năng cung cấp củarừng hiện tại trên thực tế còn khá thấp do phần lớn các địa phương chưa tậndụng được hết diện tích đất trống đồi núi trọc Diện tích đất phù hợp chiếmdưới 70% tổng diện tích vùng nguyên liệu của các khu vực Trong đó, khảnăng cung ứng so với tổng nhu cầu hiện tại là không đồng đều và ở mức thấp
Tỉnh Hòa Bình hiện đang là nơi có khả năng cung ứng tốt nhất (72% nhu cầukhảo sát), xếp thứ 2 là Thanh Hóa (70,1%), các tỉnh thành phố còn lại khảnăng cung ứng thấp hơn chỉ từ 2-63,5% và không đồng đều
Theo qui hoạch, vùng nguyên liệu cho ngành giấy tập trung phát triển ở
6 vùng bao gồm: Trung tâm Bắc Bộ, Thanh Hóa, Duyên Hải Trung Bộ, ĐôngBắc, Tây Bắc, Bắc Tây Nguyên với tổng diện tích rừng 763 ngàn ha Phấnđấu đến năm 2020 sẽ đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho tổng công suấttoàn ngành là 1.536 ngàn tấn/năm với 2 vùng nguyên liệu chính là Trung tâmBắc Bộ và Duyên Hải Trung Bộ Một điểm đáng lưu ý là: trong khi vùngnguyên liệu đều tập trung ở miền Bắc và miền Trung thì năng lực sản xuấtgiấy tập trung lớn nhất ở miền Nam Do vậy, các nhà máy sản xuất bột từnguyên liệu nguyên thủy tại miền Nam hiện nay đang gặp vấn đề về nguồnnguyên liệu Các doanh nghiệp chỉ tập trung sản xuất bột từ giấy phế liệu Các
Trang 35nhà máy giấy tại miền Nam còng phải nhập khẩu bột giấy với số lượng lớn
do ở Việt Nam chưa có doanh nghiệp sản xuất bột giấy thương mại
2.2.2.2.Trình độ công nghệ, công suất và thiết bị sản xuất của ngành giấy
Việt Nam
Nhìn chung ngành giấy Việt Nam có trình độ công nghệ rất lạc hậu sovới các nước khu vực ASEAN và thế giới Điều này dẫn đến chất lượng sảnphẩm thấp, giá thành sản phẩm cao, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng vàcũng làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành giấy
Hiện nay ở Việt Nam có 3 phương pháp sản xuât bột giấy chính làphương pháp sử dụng hóa chất, phương pháp cơ-lý, phương pháp tái chế giấyloại, đều là các phương pháp sử dụng nhiều hóa chất, năng lượng tạo ra sảnphẩm sản xuất giấy in báo, sản phẩm không đòi hỏi chất lượng cao Côngnghệ sản xuất bột giấy bao gồm công nghệ sulfat tẩy trắng, công nghệ sảnxuất bột theo phương pháp hóa nhiệt cơ và phương pháp xút không thu hồihóa chất, hoặc công nghệ sản xuất theo phương pháp kiềm lạnh - đều là côngnghệ lạc hậu và dẫn tới các vấn đề về môi trường
Theo số liệu thống kê cả nước có gần 500 doanh nghiệp sản xuất giấynhưng chỉ có khoảng gần 10% doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường chophép, còn hầu hết các nhà máy đều không có hệ thống xử lý nước thải hoặc cónhưng chưa đạt yêu cầu nên gây ra các vấn đề về môi trường trầm trọng Theothống kê nước thải ở các cơ sở công nghiệp giấy và bột giấy ở Việt Nam có
độ pH trung bình 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), nhu cầu ôxy hóahọc (COD) cao, có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l Hàm lượng chất rắn lơlửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Đặc biệt nước thải có chứa cả kimloại nặng, phẩm màu, xút Lượng nước thải này gây ô nhiễm trầm trọng môitrường xung quanh
Về công nghệ sản xuất giấy, từ năm 1998, hầu hết các doanh nghiệp sảnxuất giấy in viết ở Việt Nam đã chuyển sang công nghệ xeo giấy trong môi
Trang 36trường kiềm tính, nhờ vậy chất lượng sản phẩm được nâng lên, tiết kiệm đượcnguyên vật liệu nhưng trong sản xuất giấy bao bì vẫn sử dụng công nghệ xeogiấy trong môi trường axít là phương pháp đơn giản và lạc hậu.
Bên cạnh đó đa số các nhà máy giấy có quy mô sản xuất nhỏ (46%
doanh nghiệp công suất dưới 1.000 tấn/năm, 42% công suất từ 1.000-10.000tấn/năm), chỉ có 4 doanh nghiệp công suất trên 50.000 tấn/năm Công suấttrung bình của Việt Nam là 5.800 tấn giấy và 13.000 tấn bột/năm thấp hơn rấtnhiều so với các nước có nền công nghiệp giấy phát triển như Đức, Phần Lan
và thấp hơn so với các nước có trình độ phát triển tương đương như Thái Lan
và Indonesia Điều này dẫn đến tính cạnh tranh sản phẩm vì chất lượng thấp,chi phí sản xuất và xử lý môi trường cao Để sản xuất ra một tấn giấy thànhphẩm, các nhà máy phải sử dụng khoảng 2 tấn gỗ và 100-350 m3 nước, trongkhi câc nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3/tấn giấy Sựlạc hậu này không chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nướcthải mà còn đưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ Đặc biệt, tẩy trắng làcông đoạn gây ô nhiễm lớn nhất (chiếm 50-70% tổng lượng nước thải và từ80-95% dòng thải ô nhiễm) Nước thải, lignin là những vấn đề môi trườngchính của ngành giấy Bên cạnh đó trung bình một tấn giấy sản xuất còn phátsinh từ 45-48 kg chất thải rắn, chưa tính lượng phế liệu đã được tái chế
Theo các chuyên gia, ngành sản xuất giấy có nhiều thuận lợi áp dụngcác giải pháp sản xuất sạch hơn để vừa mang lại hiệu quả kinh tế vừa bảo vệđược môi trường nếu đáp ứng được yêu cầu về sản xuất xanh trên thị trườngquốc tế Đồng thời có cơ hội tiếp cận dễ dàng hơn tới các nguồn tài chính, cảithiện môi trường làm việc; tham gia vào công cuộc bảo tồn tài nguyên, bảotồn nguồn nước và bảo tồn năng lượng Nếu làm tốt thì một cơ sở sản xuấtquy mô vừa và nhỏ cũng có thể tiết kiệm từ 6-15% nguyên liệu thô (xơ và hóachất tẩy), mang lại lợi Ých khoảng 4 tỷ đồng mỗi năm Theo số liệu từ Trung
Trang 37giấy tham gia chương trình đã giảm khối lượng tiêu thụ nguyên liệu thô 700tấn tre, nứa mỗi năm; giảm tiêu thụ nhiên liệu than 217 tấn/năm; dầu FO giảmtrên 788 nghìn lít; giảm 1.850 m3 nước/năm đồng thời giảm khối lượng nướcthải 1.850.000 m3; lượng khí CO2 giảm 5.890 tấn/năm Số tiền các công tytiết kiệm hàng năm là trên10 tỷ đồng tương đương 720.000 USD trong khitổng đầu tư cho sản xuất sạch hơn chỉ là 3,3 tỷ đồng với thời gian hoàn vốnngắn dưới 1 năm.
Nh vậy, nếu tính cả ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy, tiềmnăng tiết kiệm nước khoảng từ 15-20%, tương đương với khoản tiền chi phímỗi năm là 275 triệu đồng Hiện nay, chi phí năng lượng trong ngành đang ởmức từ 12-15% tổng chi phí Chỉ cần áp dụng các biện pháp đơn giản và chiphí thấp, sẽ giảm được từ 2-3%; còn nếu thực hiện các giải pháp thay đổicông nghệ, có thể đạt tới mức bảo tồn năng lượng từ 20-25% Điều này đượcminh chứng rõ ràng, nếu so sánh mức độ tiêu thụ tài nguyên trong sản xuấtgiấy và bột giấy ở nước ta với các nước trên thế giới
Riêng lĩnh vực sản xuất bột giấy là nơi gây ô nhiễm nhiều nhất (chiếmkhoảng 80% tải lượng ô nhiễm) lại càng có cơ hội áp dụng sản xuất sạch hơnnhất Bao gồm từ việc thay thế nguyên liệu thô, cải tiến công nghệ và tuầnhoàn nước Theo tính toán nếu thực hiện các giải pháp quản lý nội vi, thayđổi công nghệ, chỉ cần giảm 1% một số hóa chất, thu hồi từ 20-45 kg xơ, tiếtkiệm từ 20-60 m3 nước, giảm năng lượng hơi từ 0,2-0,6 tấn, giảm sử dụnghóa chất tẩy trắng từ 2-10 kg và tăng năng suất bột giấy từ 5-7%, thì mỗi tấngiấy đã có thể giảm chi phí từ 9 tới 18,5 USD Nếu tính tổng sản lượng củangành giấy là 1,38 triệu tấn vào năm 2010 thì con số này sẽ rất lớn, chưa kểđến những lợi Ých to lớn về môi trường do sự tiết giảm tiêu hao tài nguyênmang lại
Đáng mừng là gần đây, xuất hiện một số nhà máy giấy có công nghệhiện đại, có hệ thống xử lý chất thải tiên tiến bậc nhất trong khu vực Đó là
Trang 38nhà máy của Công ty TNHH Giấy Kraft Vina, đóng tại Khu công nghiệp(KCN) Mỹ Phước III, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, chuyên sản xuất mặthàng giấy làm bao bì các-tông, với sản lượng 220.000 tấn/năm Nhà máy thứhai của Công ty TNHH Pulppy Corelex (Việt Nam) tại KCN Phố Nối A,huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, chuyên sản xuất giấy Tissue cuốn (khăngiấy, giấy vệ sinh) cao cấp có sản lượng 30.000 tấn/năm, đứng đầu cả nước vềmặt hàng này Mặc dù mới đưa vào vận hành hơn 6 tháng, nhưng cả hai nhàmáy đã khai thác đến 80% công suất thiết kế và tiêu thụ hết sản phẩm, bướcđầu mang lại hiệu quả kinh tế.
Đáng chó ý hơn cả là Công ty CP Tập đoàn giấy Tân Mai, nhà sản xuấtgiấy in báo duy nhất ở Việt Nam đã mạnh dạn mua lại toàn bộ nhà máy sảnxuất bột giấy và giấy, gồm bốn dây chuyền từ Canada để xây mới 4 nhà máytại địa phương: Đồng Nai, Kon Tum, Quảng Ngãi và Lâm Đồng nhằm đưasản lượng bột giấy tù 60.000 tấn/năm lên 450.000 tấn/năm và giấy các loại từ140.000 tấn/năm lên 550.000 tấn/năm, cơ bản đáp ứng nhu cầu giấy trongnước Tuy nhiên, ở mặt hàng giấy viết, chưa có nhiều dự án đầu tư lớn NgoàiTổng công ty giấy Việt Nam có công suất 110.000 tấn/năm (chiếm 30% nănglực trong cả nước), các đơn vị khác nh: Việt Thắng, Bãi Bằng, Trường Xuân,Vạn Điểm, Tân Mai đều có quy mô từ 70.000 tấn/năm trở xuống Đây là điềuđáng lo ngại cho ngành giấy Việt Nam Đặc biệt, ở mặt hàng giấy phấn trắng,trong khi nhu cầu sử dụng loại giấy này ngày càng tăng, thì trên thực tế sảnphẩm nội địa hầu nh vắng bóng Nguyên nhân chính là do các doanh nghiệpchưa hội tụ đủ các điều kiện về kỹ thuật, trình độ tay nghề , mặc dù có một
số cơ sở như: Bình An (của Tân Mai), Việt Trì, Tập đoàn HAPACO (HảiPhòng) có thiết bị sản xuất mặt hàng này Ngoài ra, nước ta chưa có nhà máynào sản xuất các mặt hàng giấy dùng trong công nghiệp như: giấy cuốn thuốc
lá, giấy hai líp làm hóa đơn, giấy làm bao bì đựng các chất lỏng