1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các công ty quản lý quỹ việt nam

13 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 235,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINHKHOA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN LỚP ĐH25TTCK02 TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG T

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

LỚP ĐH25TTCK02

TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC

CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VIỆT NAM

GVHD: ThS Vũ Thị Anh Thư

NHÓM 6

1

Tp Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 3 năm 2012

Trang 2

Mục lục

1 TỔNG QUAN………3

1.1 Quỹ đầu tư……….….3

1.1.1 Khái niệm……….3

1.1.2 Phân loại……… ………3

1.1.3 Các bên tham gia……….…3

1.1.4 Hoạt động của quỹ đầu tư………4

1.2 Công ty quản lý quỹ……… …5

1.2.1 Khái niệm……….5

1.2.2 Hoạt động của công ty quản lý quỹ……….5

2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ VIỆT NAM……….…….…………6

2.1 Thực trạng……… 6

2.2 Nguyên nhân……….… 7

2.3 Giới thiệu về Công ty VFM……….… 8

3 TRIỂN VỌNG – GIẢI PHÁP……… 12

Trang 3

1 CƠ SỞ LÝ TUYẾT:

Các khái niệm cơ bản về quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ đã được định nghĩa rất

cụ thể tại điều 6, Luật Chứng Khoán năm 2006 sửa đổi bổ sung năm 2010

1.1 Quỹ đầu tư:

1.1.1 Khái niệm:

Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác, kể

cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ

1.1.2 Phân loại:

Căn cứ vào cơ cấu tổ chức – điều hành:

- Quỹ đầu tư dạng công ty là quỹ đầu tư xem như là một pháp nhân đầy đủ, những người góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra Hội đồng quản trị quỹ

- Quỹ đầu tư dạng tín thác, quỹ đầu tư không được xem là một pháp nhân đầy đủ, mà chỉ là quỹ chung vốn giữa những người đầu tư để thuê các chuyên gia quản lý quỹ chuyên nghiệp đầu tư sinh lợi

Căn cứ vào nguồn vốn lưu động:

- Quỹ đầu tư tập thể (Quỹ đại chúng) là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng

- Quỹ đầu tư tư nhân (Quỹ thành viên) là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên tham gia góp vốn không vượt quá ba mươi thành viên và chỉ bao gồm thành viên là pháp nhân

Căn cứ vào quy mô, cách thức và tính chất góp vốn:

- Quỹ đầu tư dạng đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư

- Quỹ đầu tư dạng mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư

1.1.3 Các bên tham gia hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán:

Công ty quản lý quỹ

Công ty quản lý quỹ thực hiện việc quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Được thành lập theo giấy phép hoạt động của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước với vốn pháp định 5 tỷ

Trang 4

đồng Trong quá trình hoạt động, công ty quản lý quỹ có thể thành lập và quản lý đồng thời nhiều quỹ đầu tư

Ngân hàng giám sát

Ngân hàng giám sát là ngân hàng thương mại đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam và được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký Thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lý quỹ trong việc bảo vệ lợi ích nhà đầu tư

Người đầu tư:

Người đầu tư có nghĩa vụ góp vốn vào quỹ đầu tư chứng khoán qua việc mua chứng chỉ quỹ đầu tư và được hưởng lợi từ việc đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán

1.1.4 Hoạt động của quỹ đầu tư:

Để đạt được các mục tiêu ban đầu, mỗi quỹ đều hình thành các chính sách đầu tư riêng của mình, trên cơ sở đó có thể xây dựng danh mục đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận

Hoạt động huy động vốn:

- Đối với các quỹ đầu tư dạng công ty, tương tự như công ty cổ phần, quỹ phát hành cổ phiếu để huy động vốn hình thành nên quỹ

- Đối với các quỹ đầu tư uỷ thác, quỹ sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư tương tự như cổ phiếu phổ thông Công ty quản lý quỹ sẽ xác định giá chào bán ban đầu các chứng chỉ đầu tư của quỹ

Giá trị tài sản ròng của quỹ (Net asset value – NAV)

Là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá hoạt động của các quỹ và là cơ sở

để định giá chào bán cũng như xác định giá mua lại đối với các quỹ đầu tư dạng mở

NAV = Tổng tài sản có của quỹ - Tổng nợ phải trả của quỹ NAV per Share = NAV/N (N là tổng số chứng chỉ hoặc cổ phần của quỹ)

Giao dịch chứng chỉ quỹ đầu tư:

- Đối với các quỹ đầu tư dạng đóng, sau khi phát hành, chứng chỉ quỹ đầu tư được niêm yết trên thị trường chứng khoán và giao dịch như cổ phiếu niêm yết Giá của chứng chỉ quỹ đầu tư do cung cầu thị trường quyết định và dao động xung quanh giá trị tài sản ròng

- Đối với quỹ dạng mở, sau khi phát hành, chứng chỉ quỹ được phát hành thêm và mua lại tại chính công ty quản lý quỹ

Trang 5

Ngày 16/12/2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 183/2011 về hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ mở, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/03/2012

1.2 Công ty quản lý quỹ:

1.2.1 Khái niệm:

Công ty quản lý quỹ là tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán Thường là công

ty con của các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính lớn Ngoại trừ công

ty quản lý quỹ được cấp phép, các tổ chức kinh tế khác không được cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư

Các nhà đầu tư uỷ thác cá nhân hoặc tổ chức uỷ thắc được uỷ thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư tài sản của mình, với tư cách là người thụ thác Hành nghề quản lý quỹ phải là người có chứng chỉ hành nghề do Uỷ ban Chứng khoán nhà nước cấp

1.2.2 Hoạt động của công ty quản lý quỹ:

Quản lý quỹ đầu tư:

- Huy động và quản lý vốn và tài sản

- Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư

- Quản lý đầu tư chuyên nghiệp

Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính:

- Thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng

- Hỗ trợ khách hàng tối ưu hoá các khoản đầu tư thông qua các công cụ tài chính

- Tối ưu hoá các nguồn vốn cho các nhà đầu tư

Nghiên cứu:

Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính và giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lý đầu tư và các tư vấn như đã nêu trên

Thông thường, công ty quản lý quỹ sẽ cùng một số cổ đông sang lập đứng ra vận động xin phép thành lập quỹ, tiếp đó phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng để tạo vốn cho quỹ Công ty có trách nhiệm thay mặt quỹ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với các tài sản trong danh mục đầu tư của quỹ Lựa chọn và thực hiện đầu tư bằng quỹ huy động

từ nhiều nhà đầu tư riêng lẻ và thu phí cho việc đầu tư đó

Một số khoản phí của công ty quản lý quỹ:

- Phí phát hành: Là khoản phí mà các nhà đầu tư phải trả cho công ty quản lý

quỹ khi mua chứng chỉ quỹ để trang trải cho những chi phí phát hành chứng chỉ ra công

Trang 6

chúng Phí này thường chỉ thu một lần ngay khi phát hành Ví dụ: VF1 phí phát hành tối

đa là 3%/MG phát hành

- Phí quản lý: Là loại phí được trả cho công ty quản lý quỹ để thực hiện dịch

vụ quản lý đầu tư Ví dụ: VF1 phí quản lý là 2%/năm trên NAV và được trả hằng tháng

- Thưởng hoạt động: Là số tiền mà quỹ đầu tư trả cho công ty quản lý quỹ

khi tỷ lệ tăng trưởng tài sản ròng của quỹ đạt một tỉ lệ nhất định

2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ VÀ CÔNG TY QUẢN

LÝ QUỸ VIỆT NAM 2.1 Thực trạng:

Thời kỳ sôi động của hoạt động huy động quỹ đầu tư thành lập theo Luật Chứng khoán Việt Nam là từ tháng 7/2006 tới tháng 3/2008, có lúc tới 20 quỹ đầu tư trong nước được thành lập với tổng vốn huy động hơn 13.500 tỷ đồng (trong đó có 4 quỹ đại chúng)

Đây cũng là thời kỳ bùng nổ của TTCK Việt Nam với sự tăng trưởng thần kỳ cả về quy

mô cũng như số lượng doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa và niêm yết

Từ tháng 3/2008, cùng với suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình huy động quỹ trong nước của các công ty quản lý quỹ (QLQ) gặp rất nhiều khó khăn do sự thiếu hụt vốn của các tổ chức nội địa, áp lực lãi suất cao và diễn biến TTCK kém hấp dẫn Sự sụt giảm của Vn-Index đã tác động mạnh đến giá trị tài sản ròng (Net Asset Value - NAV) của các quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam Có thời điểm NAV của các quỹ lớn tại Việt Nam giảm sâu tới 50-70% Không chỉ mất giá NAV, những quỹ này đã giải ngân phần lớn số tiền mà họ huy động được trong năm 2006-2007, dẫn đến tình trạng cạn tiền của các quỹ

Cú lội ngược dòng của TTCKVN năm 2009 mở ra cơ hội bù đắp phần nào “mất mát” cho các công ty QLQ trong năm 2008 Trong khi đó, những “gạo cội” như VinaCapital và Dragon Capital lại theo chiến lược đa dạng hóa danh mục đầu tư chứ không chỉ tập trung vào chứng khoán Đơn cử, VinaCapital chỉ dành 22% danh mục đầu

tư cho chứng khoán Đồng thời, cú ngã đau 2008 khiến họ thận trọng hơn trong việc giải ngân, thậm chí “án binh bất động” ngay cả lúc VN-Index giảm mạnh và chạm đáy vào tháng 2/2009, để rồi sau đó tiếc nuối khi VN-Index tăng mạnh trong nửa cuối năm 2009

Chỉ có 3 quỹ đầu tư được thành lập trong năm 2010 với tổng số vốn huy động 800

tỷ đồng, đưa tổng số quỹ trong nước lên con số 23 Như vậy, trong số 47 công ty QLQ thành lập theo Luật Chứng khoán, chỉ có 13 công ty lập được quỹ trong nước và thực hiện nghiệp vụ QLQ, còn các công ty QLQ khác chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ quản lý danh mục đầu tư cho các NĐT trong và ngoài nước Về tính chất nguồn vốn, 23 quỹ đầu

tư trong nước chủ yếu huy động nguồn vốn nội địa, duy nhất quỹ đầu tư thành viên của CTCP QLQ đầu tư FPT có hơn 51% vốn góp từ NĐT nước ngoài

Trang 7

Tại Việt Nam hiện nay có tất cả 47 công ty quản lý quỹ với 23 quỹ đầu tư chứng khoán Tất cả đều là quỹ đóng 5 quỹ công chúng đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán là: VF1, VF4, VFA, BF1, PF1

Quỹ Vốn điều lệ (tỷ đồng) Ngày thành lập Thời gian hoạt động

Thời điểm này, hầu hết các chứng chỉ quỹ đều có thị giá xấp xỉ 50% của NAV được báo cáo Các quỹ niêm yết ở nước ngoài được đánh giá cao hơn, tầm 75% của NAV

Các NĐT nước ngoài sau khủng hoảng tài chính lại đang chuyển hướng tìm kiếm

cơ hội đầu tư sang các thị trường mới nổi như Việt Nam Trong bốn năm vừa qua, có hơn 8.100 NĐT tổ chức và cá nhân nước ngoài đã mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại Việt Nam Riêng trong năm 2010, đã có 289 tổ chức và 950 cá nhân nước ngoài được cấp

mã số giao dịch, tăng 25,5% và 6,7% so với năm 2009 Thống kê không chính thức cho thấy, số lượng quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam khá đông đảo, khoảng hơn 400 quỹ, trong khi quỹ thành lập trong nước còn quá nhỏ bé, cả về số lượng và quy mô vốn quản

lý Nhận thấy cơ hội từ dòng vốn ngoại dồi dào và sự quan tâm của NĐT nước ngoài đối với tiềm năng phát triển của TTCK Việt Nam, nhiều công ty QLQ đã chuyển hướng lấy huy động nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài làm mục tiêu để thành lập quỹ trong nước Tuy nhiên, các nỗ lực huy động vốn nước ngoài cho mục tiêu trên đều chưa đạt được kết quả

2.2 Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân giải thích cho sự phát triển ảm đạm của các quỹ, ngoại trừ các yếu tố kinh tế vĩ mô, khó khăn nhất hiện tại đó là trở ngại của môi trường đầu tư mà

cụ thể hơn là những rào cản về các quy định pháp lý

Quỹ thành viên được hiểu là quỹ thành lập dựa trên ý chí của các thành viên về mục tiêu, chính sách đầu tư cũng như các điều kiện và điều khoản khác Theo thông lệ quốc tế, công ty QLQ đăng ký thành lập quỹ thành viên và trên cơ sở các điều khoản quỹ

đã được xác nhận đăng ký để kêu gọi các NĐT góp vốn Tại Việt Nam, quy trình gần như ngược lại, hồ sơ thành lập quỹ yêu cầu có danh sách các thành viên góp vốn, biên bản thỏa thuận góp vốn và giấy xác nhận của ngân hàng lưu ký về quy mô vốn đã huy động

Với Ủy ban Chứng khoán Việt Nam, quỹ chỉ được xác nhận thành lập khi có đủ cam kết góp vốn của NĐT Sự khác nhau này tạo ra mâu thuẫn và đặt ra câu hỏi “con gà - quả trứng” đối với các NĐT

Trang 8

Nên chăng, không yêu cầu phải có cam kết góp vốn cứng tại thời điểm đăng ký lập quỹ mà cho phép các công ty QLQ đăng ký lập quỹ trước, kèm theo đó là quy định về thời gian gọi vốn (ví dụ từ 1 - 3 tháng) Sau khi kết thúc thời gian gọi vốn (khi đóng quỹ), công ty QLQ sẽ báo cáo và đăng ký mức vốn huy động được

Ngoài ra, quy định chỉ cho phép thành lập quỹ đóng, theo đó, NĐT không được rút vốn trước khi hết thời hạn của quỹ đã làm cho thanh khoản của các quỹ ngày một khó khăn Các quy định về quỹ mở vừa được ban hành và có hiệu lực từ tháng 3/2012 nhưng khả năng thích ứng của các NĐT rất chậm và còn nhiều điểm vướng mắc, hiện vẫn chưa

có hướng dẫn quỹ mở về cơ chế thuế và chế độ kế toán Nếu được áp dụng, quỹ mở sẽ luôn đảm bảo tính thanh khoản cao, NĐT có thể rút vốn bất kỳ lúc nào, với số tiền rút ra gần sát với giá trị tài sản ròng của quỹ

2.3 Giới thiệu đôi nét về Công ty Cổ phần Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VietFund Management – VFM)

Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) là công ty quản lý quỹ trong nước đầu tiên hoạt động tại Việt Nam cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính

đa dạng cho nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua các quỹ đầu tư và dịch vụ quản lý danh mục đầu tư

Được thành lập từ tháng 7 năm 2003, có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam, khởi đầu

là công ty liên doanh của hai định chế tài chính lớn tại Việt Nam là Dragon Capital – công ty quản lý quỹ nước ngoài hàng đầu và lâu đời tại Việt Nam và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) – một trong những ngân hàng cổ phần uy tín hàng đầu Việt Nam Từ tháng 1 năm 2009, công ty đã chuyển đổi từ công ty liên doanh sang công

ty cổ phần với tên gọi là Công ty Cổ phần quản lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) Công

ty VFM hiện đang dẫn đầu thị trường ngành quản lý quỹ nội địa với tổng giá trị tài sản quản lý lớn nhất thông qua số lượng quỹ đầu tư nhiều nhất trên thị trường Công ty có mạng lưới kết nối rộng lớn với nhà đầu tư cá nhân và pháp nhân trong và ngoài nước Trụ

sở chính được đặt ở Tp HCM và văn phòng chi nhánh tại Hà Nội

Hiện nay, VFM đang quản lý các quỹ đầu tư và dịch vụ sau:

Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1): là quỹ đầu tư cân bằng, phần lớn

đầu tư tập trung vào các loại chứng khoán đang và sẽ niêm yết trên TTCK Việt Nam

Chứng khoán này bao gồm chứng khoán của các công ty đang niêm yết trên thị trường, các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu của các công ty cổ phần

Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VF4): là quỹ “Blue-chips”, đầu

tư vào các doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong các ngành cơ bản, chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam và nằm trong top 20 doanh nghiệp hàng đầu của ngành như năng lượng, vật liệu - khai khoáng, tài chính, ngân hàng, viễn thông, cơ sở hạ tầng, bất động sản, hàng tiêu dùng

Trang 9

Quỹ đầu tư Năng động Việt Nam (VFA): là quỹ đầu tư đầu tiên sử dụng mô

hình Quant, tổng hợp phân tích và xử lý số liệu trên các hệ thống máy tính hiện đại để tìm kiếm các cơ hội đầu tư trên TTCK, xác định dấu hiệu mua bán và đưa ra chiến lược phân

bổ đầu tư hợp lý nhằm mang lại lợi nhuận ròng cho quỹ

Quỹ đầu tư Tăng trưởng Việt Nam (VF2): là quỹ thành viên với mục tiêu đầu tư

là tối ưu hóa các cơ hội đầu tư tăng trưởng cao từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân, các ngành có tiềm năng tăng trưởng, các công cụ tài chính mới

Dịch vụ quản lý danh mục đầu tư: là dịch vụ chuyên biệt dành riêng cho các nhà

đầu tư là tổ chức hoặc cá nhân có số vốn lớn nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi

ro cho tài sản đầu tư ủy thác thông qua trao đổi, tư vấn và phân tích

Tổng tài sản quản lý

Với số vốn huy động ban đầu là 300 tỷ đồng cho Quỹ đầu tư VF1 năm 2004, sau các đợt tăng vốn và thành lập các quỹ mới, tổng quy mô tài sản mà công ty VFM đang quản lý đến nay là hơn 4,000 tỷ đồng (năm 2010) Ngoài việc gia tăng tài sản hiện tại, chúng tôi còn có kế hoạch huy động thêm nguồn vốn mới thông qua việc tập trung thiết lập các sản phẩm quỹ mới áp dụng kỹ thuật, các quy định, cơ chế mới của cơ quan nhà nước trong tương lai

Trang 10

Theo hướng dẫn của thông tư 183/2011 của Bộ Tài Chính, Ngày 1/3, CTCP quản

lý Quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) đã nộp hồ sơ xin cấp phép thành lập quỹ mở, đây là hồ

sơ xin thành lập quỹ mở đầu tiên nộp lên UBCK Quỹ mở đầu tiên mà Công ty xin phép thành lập là quỹ đầu tư chỉ số VFMVN30 Nếu được cấp phép, VFM sẽ triển khai đồng

bộ các giải pháp để huy động vốn cho quỹ, nhằm sớm gia tăng các hoạt động vào TTCK Việt Nam trong bối cảnh đang có những triển vọng khả quan hơn

 Tìm hiểu về quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1)

Quỹ đầu tư Chứng khoán Việt Nam (VF1) là quỹ công chúng dạng đóng đầu

tiên của Việt Nam, được huy động nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn ban đầu 300 tỷ đồng trong vòng 10 ngày vào tháng 4/2004 Quỹ đầu tư VF1 được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Tp HCM từ tháng 11/2004

Mục tiêu mà Quỹ đầu tư VF1 nhắm đến là xây dựng được một danh mục đầu tư cân đối và đa dạng nhằm tối ưu hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa các rủi ro cho nguồn vốn đầu

tư của quỹ Phần lớn các thương vụ đầu tư sẽ được tập trung vào các loại chứng khoán đang và sẽ niêm yết trên TTCK Việt Nam Chứng khoán này bao gồm chứng khoán của các công ty đang niêm yết trên thị trường, các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công

ty, cổ phiếu của các công ty cổ phần Ngoài ra, mục tiêu của quỹ còn nhắm đến trong quá trình đầu tư là giúp các đơn vị tái cơ cấu về mặt tài chính, phát triển hệ thống quản trị, nâng cao năng lực cạnh tranh… nhằm làm gia tăng giá trị của chính các công ty này và vì thế gia tăng về mặt giá trị các khoản đầu tư của Quỹ đầu tư VF1

Các cột mốc chính:

 Năm 2004: khởi đầu với số vốn điều lệ 300 tỷ đồng

 Năm 2006: Tăng vốn điều lệ lên 500 tỷ đồng

 Năm 2006: Trở thành quỹ hoạt động hiệu quả nhất trong nhóm các thị trường mới nổi

 Năm 2007: Tăng vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng

 31/12/2008: Tổng giá trị tài sản ròng là 1.697 tỷ đồng

 31/12/2009: Tổng giá trị tài sản ròng là 2.479,9 tỷ đồng

 31/12/2010: Tổng giá trị tài sản ròng là 2.276,3 tỷ đồng

Thông tin chi tiết

Ngày đăng: 15/10/2022, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình Quant, tổng hợp phân tích và xử lý số liệu trên các hệ thống máy tính hiện đại để tìm kiếm các cơ hội đầu tư trên TTCK, xác định dấu hiệu mua bán và đưa ra chiến lược phân bổ đầu tư hợp lý nhằm mang lại lợi nhuận ròng cho quỹ. - Hoạt động kinh doanh chứng khoán của các công ty quản lý quỹ việt nam
h ình Quant, tổng hợp phân tích và xử lý số liệu trên các hệ thống máy tính hiện đại để tìm kiếm các cơ hội đầu tư trên TTCK, xác định dấu hiệu mua bán và đưa ra chiến lược phân bổ đầu tư hợp lý nhằm mang lại lợi nhuận ròng cho quỹ (Trang 9)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w