Phân tích từng điều kiện...2 Câu 5: Quy định về “thực hiện công việc không có ủy quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài...4 Câu 6: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ THỨ NHẤT
VẤN ĐỀ: NGHĨA VỤ
Mục lục VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN 1
Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 1 Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 1
Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” 1
Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 2 Câu 5: Quy định về “thực hiện công việc không có ủy quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài 4 Câu 6: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý 4
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN) 7
Trang 2Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì? 7 Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 8 Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh trong việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không?
Vì sao? 8 Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì theo Tòa
án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao ? 9 Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa?
Nêu một tiền lệ (nếu có) 9
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN 9
Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận? 9 TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ 148/2017/DSST NGÀY 26/9/2007 CỦA TAND THỊ
XÃ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG 11 Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho
bà Tú? 11 Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 12 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án? 12 Câu 5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 12 Câu 6: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 13 Câu 7: Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu không còn trách nhiệm đối với người có quyền? 13 Câu 8: Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ ban đầu và người có quyền 14 Câu 9: Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 14 Câu 10: Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh của người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh
có chấm dứt không? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 15
Trang 4Danh mục từ viết tắt
Trang 5VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Cơ sở pháp lý: Điều 574 BLDS 2015
“Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa
vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối”.
Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong sáu căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự được quy định theo Điều 275 BLDS 2015
Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là những sự kiện xảy ra trong thực tế, được pháp luật dân sự dự liệu, thừa nhận là có giá trị pháp lý, làm phát sinh nghĩa vụ dân sự
Như vậy, thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa
vụ vì trong thực tế với tinh thần tương thân, tương ái vì cộng đồng đã xảy ra nhiều trường hợp thực hiện công việc không có ủy quyền, cá nhân tự ý, tự nguyện thực hiện công việc của người khác vì lợi ích của người khác không dựa trên hợp đồng hoặc do pháp luật quy định Chế định này tạo sự ràng buộc pháp lý giữa người thực hiện công việc và người có công việc được thực hiện nhằm nâng cao trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi của người thực hiện công việc
Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực
hiện công việc không có ủy quyền”.
Điều 574 BLDS 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là
việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Điều 594 BLDS 2005 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là
Trang 6việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
BLDS 2015 đã bỏ đi hai từ “hoàn toàn” so với BLDS 2005 Đối với BLDS
2005, “hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” có nghĩa là việc
thực hiện công việc không có ủy quyền là chỉ vì lợi ích của người có công việc được thực hiện mà không có mục đích nào khác So với BLDS 2015 khi đã bỏ đi hai từ
“hoàn toàn” có nghĩa là ngoài mục đích vì lợi ích của người có công việc được thực hiện thì cũng có thể vì những mục đích khác
Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.
Căn cứ vào Điều 574 BLDS 2015 về khái niệm “Thực hiện công việc không
có ủy quyền” thì các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có
ủy quyền” bao gồm:
Đầu tiên, việc thực hiện công việc này hoàn toàn không phải là nghĩa vụ của
bên thực hiện, điều này được pháp luật quy định tại Điều 574 BLDS 2015: “…việc
một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc…” Qua đó, cho thấy việc thực
hiện công việc không theo nghĩa vụ không nằm trong bất kỳ thỏa thuận pháp lý hay hợp đồng nào và chính xác hơn là người thực hiện công việc không nhận được bất
kỳ sự ủy quyền nào và điều này hoàn toàn xuất phát từ sự tự nguyện Về hậu quả pháp lý thì họ không phải gánh chịu hậu quả pháp lý nào dù thực hiện hay không thực hiện công việc
Thứ hai, việc thực hiện công việc này phải trên cơ sở tự nguyện thực hiện công việc và vì lợi ích của người có công việc được thực hiện Tại thời điểm bắt đầu
thực hiện công việc, người thực hiện công việc phải thể hiện ý chí rằng mục đích của thực hiện công việc là mang lại lợi ích hoặc ngăn chặn thiệt hại cho người có công việc được thực hiện (sau đây gọi tắt là người có công việc) Tuy nhiên, đây là một việc rất khó để chứng minh vì sau khi hoàn thành công việc, người thực hiện công việc vẫn có thể nhận được những lợi ích riêng (như tiền thù lao) đến từ người
có công việc (hoặc những chủ thể khác tùy trường hợp) Người thực hiện công việc phải xem đó là nghĩa vụ của mình và phải thực hiện công việc nhằm đem lại lợi ích
Trang 7cho người có công việc được thực hiện.
Thứ ba, người có công việc không biết người khác đang thực hiện công việc cho mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện công việc đó Theo điều
kiện này, tại thời điểm công việc được thực hiện, người có công việc không biết có người khác thực hiện công việc cho mình hoặc họ biết nhưng lại không phản đối hay có ý kiến từ chối việc thực hiện công việc đó Thông thường, khi công việc được thực hiện, người có công việc sẽ không biết có người đang thực hiện công việc thay mình bởi nếu biết thì họ đã tự mình thực hiện công việc ấy Và người thực hiện công việc cũng sẽ không thực hiện công việc nếu biết người có công việc cũng có khả năng thực hiện công việc đó Bản chất của việc thực hiện công việc không có ủy quyền là sự giúp đỡ mang lại lợi ích của người thực hiện công việc và giúp người có công việc không bị thiệt hại trong trường hợp công việc không được thực hiện Vì vậy, người có công việc nếu như biết có ai đó đang thực hiện công việc vì lợi ích của mình thì phần lớn họ cũng sẽ không từ chối việc này Tuy nhiên, khi người có công việc biết và phản đối thì người thực hiện công việc cũng không được thực hiện, nếu cố tình thực hiện thì sẽ cho là vi phạm và người đó phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
Thứ tư, việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết Ngoài các điều kiện
nêu trên thì việc thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực sự cần thiết Sự cần thiết này được thể hiện ở chỗ nếu công việc không được thực hiện kịp thời sẽ gây thiệt hại cho người có công việc Đây là một điều kiện rất quan trọng và là yếu
tố để xác định các trường hợp có phải là thực hiện không có ủy quyền hay không Trong thực tế, nhiều trường hợp xảy ra khi một người thực hiện công việc của người khác mà họ không biết và yêu cầu thanh toán thù lao nhưng bản thân người
có công việc lại không đồng ý vì họ không có nhu cầu để người khác thực hiện công việc đó thay mình Điều kiện này giúp ngăn chặn các hành vi lợi dụng quy định của pháp luật để trục lợi cho bản thân và gây thiệt hại cho người khác
Câu 5: Quy định về “thực hiện công việc không có ủy quyền” của một hệ thống pháp luật nước ngoài.
Trong thực tiễn xét xử của Pháp thì chế định “thực hiện công việc không có
ủy quyền” được áp dụng trong hoàn cảnh người thực hiện công việc cho mình đồng
Trang 8thời cho người khác như trong trường hợp một đồng sở hữu quản lý tài sản vì lợi ích của tất cả các đồng sở hữu Ở đây, chế định này cũng được áp dụng khi người thực hiện công việc tiến hành công việc cho người có công việc cần thực hiện nhưng theo yêu cầu của người thứ ba
Câu 6: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C
có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý.
Trong tình huống trên, nếu xét đầy đủ các điều kiện để áp dụng chế định
“thực hiện công việc không có ủy quyền” thì sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C do không phải là người thực hiện công việc nên không thể yêu cầu chủ đầu
tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở chế định “thực hiện công việc không có
ủy quyền” trong BLDS 2015
Nhưng trong thực tiễn xét xử thì có thể thừa nhận nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
Căn cứ theo Điều 574 BLDS 2015 quy định về “thực hiện công việc không
có uỷ quyền” thì có thể hiểu rằng quy định này có hai chủ thể: người có công việc được thực hiện và người thực hiện công việc đó Các điều kiện để áp dụng chế định
“thực hiện công việc không có ủy quyền” theo BLDS 2015 là:
Thứ nhất, việc thực hiện công việc hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do bên
thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định đối với người thực hiện công việc không có
uỷ quyền Theo đó, ta thấy rằng:
Nhà thầu C không thực hiện công việc triển khai thi công một cách tự nguyện mà lại dựa trên cam kết giữa nhà thầu C và Ban quản lý dự án B
Điều này có nghĩa là nhà thầu C đã thực hiện công việc thuộc trách nhiệm của A trên cơ sở xuất phát từ cam kết với B nên C ở đây là đang thực hiện công việc theo nghĩa vụ được cam kết trong hợp đồng ký với B
Ban quản lý dự án B “không có nghĩa vụ” thực hiện công việc ký kết hợp đồng triển khai dự án (“B không được ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A”), do đó việc B nhân danh chủ đầu tư A ký hợp đồng với
Trang 9nhà thầu C là thể hiện rõ sự đơn phương tự nguyện của B.
Vì vậy, ở điều kiện thứ nhất, có thể thấy Ban quản lý dự án B có cả hai yếu tố
là “không có nghĩa vụ” và “tự nguyện”, còn nhà thầu C thì thiếu yếu tố “tự nguyện”
Thứ hai, việc thực hiện công việc vì lợi ích của người có công việc Điều
kiện này đòi hỏi người thực hiện công việc không có ủy quyền phải thực hiện công
việc vì lợi ích của người có công việc, vì lợi ích của người thứ ba hoặc bao gồm
khả năng người tiến hành công việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện đó Nhưng
trong tình huống trên: “B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõ trong hợp đồng là B đại diện cho A và B cũng không nhận được sự ủy quyền của A”:
Nhà thầu C khi ký hợp đồng với B đã xác định rằng “người có công việc” là
B chứ không biết rằng “người có công việc” thực chất là chủ đầu tư A Vì
vậy, dưới góc độ của nhà thầu C thì chủ đầu tư A đóng vai trò là người thứ
ba Nhà thầu C thực hiện công việc là có lợi cho chủ đầu tư A nhưng nhà
thầu C không xuất phát từ chủ ý “vì lợi ích của người thứ ba” (chủ đầu tư A)
mà vì C đang thực hiện nghĩa vụ với B như đã cam kết Việc thực hiện nghĩa
vụ của nhà thầu C đã mang lại lợi ích cho chủ đầu tư A nên chủ đầu tư A chỉ
là người vô tình được hưởng lợi Giữa nhà thầu C và chủ đầu tư A không có mối liên hệ pháp lý ràng buộc nên chủ đầu tư A chỉ có quyền từ chối hoặc chấp nhận hưởng lợi từ nhà thầu C mà không có bất cứ nghĩa vụ nào phải thực hiện đối với nhà thầu C
Việc B tự mình xác lập hợp đồng với nhà thầu C để triển khai thi công không thể phủ nhận rằng nó mang lại lợi ích cho chủ đầu tư A Bởi khác với nhà
thầu C, B biết rõ “người có công việc” ở đây là ai nên mục đích xuất phát để
B thực hiện công việc có thể không phải “vì lợi ích” của chủ đầu tư A mà vì
lợi ích của chính bản thân B Có thể nói B sẽ không tự nguyện thực hiện một việc làm có nguy cơ dẫn đến hậu quả pháp lý mà không mang lại lợi ích gì cho mình
Vì vậy, ở điều kiện thứ hai, nhà thầu C không đáp ứng điều kiện B đáp ứng
điều kiện
Thứ ba, người có công việc được thực hiện không biết việc có người khác
đang thực hiện công việc cho mình hoặc biết nhưng không phản đối việc thực hiện
Trang 10công việc đó Ở đây, có ba trường hợp có thể xảy ra, trong suốt quá trình thi công
dự án:
Chủ đầu tư A không biết Trường hợp này đáp ứng được điều kiện thứ ba
Chủ đầu tư A biết và phản đối Trong trường hợp này, việc tiếp tục thi công
dự án là hành vi trái pháp luật và sẽ có chế tài xử lý
Chủ đầu tư A biết nhưng không phản đối “Không phản đối” không đồng nghĩa với “đồng ý” nhưng ở đây, có một chi tiết trong tình huống nói rằng “B không được ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A” Điều này có thể hiểu rằng việc B ký hợp đồng với nhà thầu C là giao dịch dân sự
do người không có quyền đại diện (B) xác lập Căn cứ Điều 142 BLDS 2015 quy định:
“Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:
Như vậy, đối với trường hợp này, chủ đầu tư A đã “không phản đối trong một thời hạn hợp lý” nên được xem là “đồng ý” Điều này dẫn đến giao dịch dân sự
do người không có quyền đại diện xác lập là B và nhà thầu C trở thành giao dịch có hiệu lực với người được đại diện (chủ đầu tư A)
Thứ tư, việc thực hiện công việc phải thực sự cần thiết Sự cần thiết của việc
thực hiện công việc thể hiện ở chỗ nếu công việc không được thực hiện kịp thời sẽ gây thiệt hại cho người có công việc Nhưng bởi vì thông tin cho điều kiện này không có trong tình huống nên ở đây chúng em không thể kết luận
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN)
Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp,