với LDN 2014 đối với một số quy định về công ty cổ phần, doanh nghiệp tưnhân và nhóm công ty”Bài thu hoạch được chia làm ba phần, bao gồm những nội dung chính nhưsau: Chương I: Khái quát
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2 STT Họ và tên Mã sinh
Thêm phần nhận xétcủa cá nhân về ýkiến của các chuyêngia, nhà làm luật,doanh nghiệp, ởchương III;
Tổng hợp nhận xétcủa các bạn, nêuđiểm chung và làmphần ý kiến củanhóm trong chươngIII
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn
Nhiệt tình traođổi thảo luận vớicác bạn (10/10)
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn
Nhiệt tình traođổi và tương tácvới các thành
Trang 2cuối cùng viên trong nhóm.
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn.Nhiệt tình traođổi thảo luận vớicác bạn (10/10)
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn.Nhiệt tình traođổi thảo luận vớicác bạn Phần ýkiến cá nhân bịlạc đề (9,5/10)
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn.Phần ý kiến cánhân bị lạc đề.(9,5/10)
Trang 3- Thêm phần nhậnxét của cá nhân về ýkiến của các chuyêngia, nhà làm luật,doanh nghiệp, ởchương III
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn,chưa hoàn thànhviệc đặt câu hỏi,trả lời câu hỏinhóm khác.Nhưng chủ độngtrao đổi với cácthành viên (9/10)
Hoàn thành tốt,nộp đúng hạn,nhiệt tình trao đổi
và hỏi để hoànthiện bài.(10/10)
Trang 4- Trả lời câu hỏi củathầy và các nhómkhác;
Làm lại ví dụ thực tế,chỉnh sửa lại nộidung so sánh (ngoài
so sánh thì cần đưathêm phân tích cácđiểm mới)
Chưa sửa lại ví
dụ thực tế theoyêu cầu; Chưa đặtcâu hỏi hay trả lờicâu hỏi của nhómkhác Phần ý kiến
cá nhân làm saiđề(7/10)
Ngân
1712210227 Làm Slide; Viết
Chương I; Đặt câuhỏi cho nhóm khác;
- Thêm phần nhậnxét của cá nhân về ýkiến của các chuyêngia, nhà làm luật,
Phần slide chuẩn
bị bị lỗi, nhưngchủ động trao đổivới các thànhviên Hoàn thànhđúng thời hạn
Phần ý kiến cá
Nhóm phó
Trang 5doanh nghiệp, ởchương III;
nhân làm lạc đề
(9/10)
10 Dương Thái
Ngân
1516610080 Phân công công việc,
xem xét nội dung cácnhóm gửi về, yêu cầuchỉnh sửa và hoànthiện đúng hạn; Phụtrách làm Bìa, mởđầu, kết luận, tổnghợp chỉnh sửa bảnword; Hỗ trợ các bạntrong nhóm giải đápcác yêu cầu và thắcmắc; Đốc thúc vànhắc nhở các bạn gửibài; Đặt câu hỏi chonhóm khác; ChươngIII Đánh giá của cácnhà làm luật
Nhóm trưởng
Trang 6PPP Hình thức đối tác công tư (Public - Private
partnership)OECD Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ SỰ
RA ĐỜI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
I.1 Sơ lược về Luật Doanh nghiệp 2014
I.2 Những hạn chế của Luật Doanh Nghiệp 2014
I.3 Sự cần thiết phải ban hành luật 2020
CHƯƠNG II: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 ĐỐI VỚI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN, DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ NHÓM CÔNG TY
II.1 Điểm mới đối với một số quy định về công ty cổ phần:
II.2 Điểm mới đối với một số quy định về doanh nghiệp tư nhân:
II.3 Điểm mới đối với một số quy định về nhóm công ty:
CHƯƠNG III NHẬN XÉT VỀ CÁC ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
III.1 Nhận xét của nhà làm luật:
III.2 Nhận xét của các chuyên gia:
III.3 Nhận xét của các doanh nghiệp
III.4 Đánh giá của nhóm và cá nhân:
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội con người luôn thay đổi và biến chuyển từng ngày, nền kinh tế càng cónhững thay đổi và biến chuyển nhanh hơn, tốc độ phát triển của đất nước tacũng ngày càng tăng cao Với nền kinh tế thị trường đầy biến động, mỗi nhànước luôn có một khung pháp lý nhất định để điều chỉnh và đặt ra luật chơiriêng, nước Việt Nam ta cũng vậy Kể từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp
2005, nước ta đã nhìn thấy được nhiều sự đóng góp đáng kể vào quá trìnhhoàn thiện hệ thống pháp luật kinh doanh, từ đó phát triển môi trường kinhdoanh lành mạnh, thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp Thực tế nền kinh
tế đầy biến động và không ngừng phát triển mỗi ngày, nước ta đã có nhiều sựđiều chỉnh trong Luật Doanh nghiệp Qua từng thời kỳ, những điều luật cũ đãkhông còn hợp thời và bộc lộ những hạn chế nhất định Vì vậy, việc sửa đổiLuật Doanh nghiệp cho phù hợp với xu hướng hiện thời là thực sự cấp thiết
để có thể giúp doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi, góp phần thúc đẩy nềnkinh tế nước nhà ngày một đi lên
Gần đây nhất là những thay đổi quan trọng trong Luật Doanh nghiệp 2020,được Bộ Kế hoạch và Đầu tư giới thiệu thông qua tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hộikhóa XIV Theo đó, Luật Doanh nghiệp 2020 vừa được Quốc hội thông qua
có 10 chương, 218 điều với nhiều điểm đột phá, tạo thuận lợi cho doanhnghiệp và có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 Luật Doanh nghiệp 2020 đã cónhững thay đổi rất thiết thực, trong đó đã có nhiều sự điều chỉnh liên quan đếnvấn đề cơ cấu nội bộ của công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và nhómcông ty
Chính vì vậy, nhóm 2 chúng em đã tìm tòi và nghiên cứu các điểm mới nàycủa LDN 2020, từ đó so sánh các điểm nổi trội với LDN 2014, và thực hiệnthu hoạch bài báo cáo với đề tài “Phân tích những điểm mới của LDN 2020 so
Trang 10với LDN 2014 đối với một số quy định về công ty cổ phần, doanh nghiệp tưnhân và nhóm công ty”
Bài thu hoạch được chia làm ba phần, bao gồm những nội dung chính nhưsau:
Chương I: Khái quát về Luật Doanh nghiệp 2014 và sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2020;
Chương II: Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 đối với một số quy định về công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và nhóm công ty;
Chương III: Nhận xét về các điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020;
Trong quá trình làm việc, dù đã cố gắng hết sức để tìm tòi và nghiên cứu,nhóm chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, rất mong có thể nhậnđược ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn để có thể bổ sung và hoàn thiện bàithu hoạch này một cách xuất sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 11CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020
I.1 Sơ lược về Luật Doanh nghiệp 2014
Ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Luậtsố: 68/2014/QH13), có hiệu lực kể từ 01/7/2015; Luật này quy định về việcthành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan củadoanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công
ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có 10 chương, 213 điều, tăng 41 điều so vớiLuật Doanh nghiệp năm 2005; Chương IV quy định về Doanh nghiệp nhànước với 22 điều là chương mới hoàn toàn; Điều 10 quy định về tiêu chí,quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp xã hội cũng mới hoàn toàn
Mục lục Luật doanh nghiệp 2014 gồm 10 chương như sau:
Chương 1 Những quy định chung
Chương 2 Thành lập doanh nghiệp
Chương 3 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 4 Doanh nghiệp nhà nước
Chương 5 Công ty cổ phần
Chương 6 Công ty hợp danh
Chương 7 Doanh nghiệp tư nhân
Chương 8 Nhóm công ty
Chương 9 Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp
Trang 12Chương 10 Tổ chức thực hiện
1 Hoàn cảnh ra đời
Luật doanh nghiệp 2014 ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả
đã đạt được của Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 đồngthời khắc phục những hạn chế, bất cập và thể chế hóa các vấn đề mới phátsinh từ thực tiễn
Luật Doanh Nghiệp 2014 ra đời với mục tiêu cao nhất là tạo ra môi trườngkinh doanh thông thoáng hơn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, nhất là nhữngdoanh nghiệp vừa và nhỏ, đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinhdoanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư để qua đó tăngcường thu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sảnxuất, kinh doanh
Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp 2005, kể từ khi Luật này
có hiệu lực thi hành vào năm 2006, số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lậphàng năm luôn tăng so với năm trước
Về mặt xây dựng pháp luật, có thể nói Luật Doanh nghiệp năm 2005 là mộtbước đột phá về thể chế khi lần đầu tiên, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế có được sân chơi chung Luật doanh nghiệp 2005 cũng tạođiều kiện, cơ hội để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút ngoại tệ để pháttriển kinh tế
Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai Luật Doanh nghiệp năm 2005 cũnggặp phải không ít vướng mắc, hạn chế đối với hoàn thiện và nâng cao chấtlượng môi trường kinh doanh nói chung và phát triển doanh nghiệp nói riêng,làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và không phát huy được hết tiềm lựccủa các doanh nghiệp Nói chung, vẫn tồn đọng một số vấn đề dưới đây
Trang 13Một là, thủ tục thành lập doanh nghiệp vẫn còn phức tạp, tốn kém thời gian,
chi phí
Hai là, các quy định về vốn của công ty còn nhiều điểm chưa hợp lý, quy định
về vốn điều lệ của Công ty cổ phần chưa rõ ràng
Thứ ba, các quy định về quản trị công ty chưa phù hợp, còn nhiều điểm bất
cập, gây lãng phí và phiền hà cho chính doanh nghiệp
Thứ tư, về bảo vệ các cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, Luật Doanh
nghiệp năm 2005 chưa thể hiện rõ nét đặc tính này
Thứ năm, các quy định về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp trong Luật Doanh
nghiệp 2005 còn rất sơ sài, khó áp dụng và thiếu tính đồng bộ
Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời nhằm sửa chữa, khắc phục những hạn chế củaLuật Doanh nghiệp 1005, đồng thời để thích nghi và phù hợp hơn với tìnhhình kinh tế hiện hành Cụ thể, nền kinh tế nước ta đã có sự phát triển lên tầmcao mới, mức độ hội nhập khu vực và quốc tế sâu rộng hơn Điều này đòi hỏicần đặt ra những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp, đồng thời Nhà nước cầntạo môi trường kinh doanh phù hợp hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp thành lập, hoạt động hiệu quả, buộc doanh nghiệp tăng cường năng lựccạnh tranh để tồn tại và phát triển
2 Thực tiễn áp dụng
2.1 Trong quá trình gia nhập thị trường
Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp 2014 đã bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinhdoanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, chuyển hoàn toàn từ
“tiền kiểm” sang “hậu kiểm”
Trang 14Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, đối với doanh nghiệp khi kinhdoanh các ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định đòi hỏi phải có vốnpháp định hoặc chứng chỉ hành nghề, thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng kýkinh doanh để thành lập doanh nghiệp khi có đủ vốn pháp định hoặc chứngchỉ hành nghề theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, việc đăng ký thành lậpdoanh nghiệp về bản chất là việc ghi nhận sự ra đời, công nhận về mặt pháp
lý sự xuất hiện của doanh nghiệp trên thị trường Các yêu cầu về vốn phápđịnh và chứng chỉ hành nghề chỉ nên được coi là điều kiện kinh doanh đểdoanh nghiệp được hoạt động Quy định như Luật hiện hành đã tỏ ra khônghợp lý, không có hiệu lực quản lý nhà nước, gây ra khó khăn, tốn kém khôngcần thiết cho nhà đầu tư khi thành lập mới doanh nghiệp
Do vậy, việc bỏ yêu cầu về các điều kiện kinh doanh nêu trên tại thời điểmđăng ký thành lập doanh nghiệp là hoàn toàn phù hợp Theo đó, tại thời điểmđăng ký thành lập doanh nghiệp, doanh nghiệp không phải đáp ứng các yêucầu về điều kiện kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện Sau khiđược cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp được phépkinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi đáp ứng được cácyêu cầu về điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật chuyên ngành.Với quy định này, Luật Doanh nghiệp 2014 đã chuyển cơ chế đăng ký thànhlập doanh nghiệp từ “tiền kiểm” hoàn toàn sang “hậu kiểm”
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2014 đã tách bạch thủ tục đăng ký thành lậpdoanh nghiệp với các thủ tục về đăng ký đầu tư
Theo Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Namphải có dự án đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế; Giấy chứng nhận đầu
tư cấp cho nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh
Trang 15doanh Quy định về Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh nhằm mục tiêu đơn giản hóa thủ tục cho nhà đầu tư nướcngoài nhưng trên thực tế đã dẫn đến rất nhiều khó khăn cho nhà đầu tư bởiđây là hai loại giấy tờ hoàn toàn khác nhau về bản chất pháp lý.
Nhằm khắc phục hạn chế nêu trên, Luật Đầu tư 2014 đã tách bạch thủ tụcđăng ký đầu tư và thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp đối với nhà đầu tưnước ngoài tại Việt Nam Theo đó, sau khi thực hiện thủ tục cấp Giấy chứngnhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanhnghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh như nhà đầu tư trong nước
Quy định này đã phân biệt rõ địa vị pháp lý của pháp nhân và của hoạt độngđầu tư cụ thể, đồng thời, giảm phiền hà cho nhà đầu tư khi thực hiện điềuchỉnh các thông tin liên quan đến pháp nhân trong quá trình hoạt động
Thứ ba, Luật Doanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng kýdoanh nghiệp, rút ngắn thời gian gia nhập thị trường cho doanh nghiệp
Theo quy định hiện hành, thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là 5ngày làm việc, trong đó, 2 ngày để cơ quan thuế cấp mã số doanh nghiệp, 3ngày để cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp Với cơ chế này, việc cấp Giấy chứng nhậnđăng ký doanh nghiệp phải phụ thuộc vào việc chờ cấp Mã số doanh nghiệp
từ Cơ quan thuế, làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính
Để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp tham gia thị trường, LuậtDoanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệpxuống còn 3 ngày làm việc Để hiện thực hóa quy định nêu trên, hiện tại, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Thông tư liêntịch hướng dẫn về việc trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp, thông tin về
Trang 16tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thông tin về báo cáo tài chính củadoanh nghiệp Theo đó, Hệ thống đăng ký thuế sẽ tự động tạo mã số thuế màkhông cần sự kiểm tra, xem xét của cán bộ đăng ký thuế.
Thứ tư, Luật Doanh nghiệp 2014 đã trao việc quyết định về hình thức, sốlượng và nội dung con dấu cho doanh nghiệp
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định số 58/2001/NĐ-CPthì cơ quan quản lý nhà nước sẽ quyết định hình thức, số lượng và nội dungcon dấu của doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn hoạt động phải xin phép khắcdấu và phải được cơ quan quản lý nhà nước đồng ý cho khắc dấu và cấp giấyđăng ký mẫu dấu
Để tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp khi khởi sự kinh doanh, giảm thiểuchi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp mới đã chuyển quyềnquyết định nêu trên về cho doanh nghiệp Cụ thể, Điều 44 Luật Doanh nghiệp
2014 quy định doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng vànội dung con dấu của doanh nghiệp Trước khi sử dụng, doanh nghiệp cónghĩa vụ thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải côngkhai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Với quy địnhnày, con dấu của doanh nghiệp chỉ mang tính chất là dấu hiệu nhận biết doanhnghiệp, do doanh nghiệp tự thiết kế Quy định này sẽ công nhận quyền tự dokinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có việc công nhận quyền tự sáng tạomẫu dấu của doanh nghiệp; Nhà nước cũng không hướng tới việc quản lý chặtchẽ đối với con dấu như quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005
Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quy định về lưu giữ và quản lý condấu Theo đó, thay vì quy định cứng như trong Luật Doanh nghiệp 2005 làphải lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của doanh nghiệp, Luật Doanh
Trang 17nghiệp 2014 cho phép Điều lệ công ty quy định việc quản lý, sử dụng và lưugiữ con dấu.
Cải cách này sẽ giảm bớt rất nhiều sự vướng mắc trong sử dụng con dấu ởngoài trụ sở chính của doanh nghiệp trong thời gian vừa qua Người đại diệntheo pháp luật có thể mang con dấu đi bất kỳ địa điểm nào để tiện cho việcquản lý và sử dụng, mà không lo đã làm trái quy định như hiện nay
2.2 Trong quá trình hoạt động kinh doanh
Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp 2014 đã bãi bỏ nội dung về ngành, nghề kinhdoanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng
ký ngành, nghề kinh doanh và sau đó, được quyền kinh doanh theo đúngngành nghề đã đăng ký và được ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanhnghiệp Như vậy, doanh nghiệp chỉ được quyền tự do kinh doanh nhữngngành, nghề ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; trường hợpmuốn bổ sung, thay đổi ngành, nghề kinh doanh thì ngoài việc phải thực hiệnđăng ký kinh doanh với cơ quan quản lý có thẩm quyền trong lĩnh vực kinhdoanh cụ thể, doanh nghiệp còn phải tiến hành thủ tục bổ sung, điều chỉnhGiấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, quy định như Luật Doanhnghiệp hiện hành đã không còn phù hợp khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực từngày 01/01/2014 đã mở rộng hơn nữa quyền tự do kinh doanh Theo đó Điều
33 Hiến pháp quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm” Để thể chế hóa đầy đủ quyền tự dokinh doanh quy định tại Điều 33 Hiến pháp, Luật đã chuyển từ nguyên tắc tự
do kinh doanh những gì ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sangnguyên tắc tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm thông quaviệc bỏ nội dung về ngành, nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký
Trang 18doanh nghiệp Quy định như vậy không những giảm đáng kể chi phí tuân thủthực hiện thủ tục hành chính mà còn nâng cao tính chủ động, linh hoạt chodoanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2014 đã thống nhất cách hiểu về vốn điều lệcông ty và thời hạn thực hiện góp vốn điều lệ
Phải thừa nhận rằng, cùng một khái niệm về vốn nhưng Luật Doanh nghiệpnăm 2005 và các văn bản hướng dẫn lại sử dụng các thuật ngữ khác nhau Cụthể, Luật Doanh nghiệp hiện hành sử dụng thuật ngữ “cổ phần được quyềnchào bán”; trong khi đó, Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn thi hànhLuật Doanh nghiệp lại sử dụng thuật ngữ “cổ phần đã phát hành”, “cổ phầnđược quyền phát hành” Đồng thời, bản chất vốn điều lệ theo quy định tạiLuật Doanh nghiệp là vốn đăng ký hay vốn cam kết góp đã gây ra những tácđộng không mong muốn như: nhầm lẫn về cơ cấu sở hữu thực tế trong doanhnghiệp, tranh chấp không đáng có trong nội bộ công ty Ngoài ra, thời hạn đểthực hiện việc góp vốn đối với các loại hình doanh nghiệp là không thốngnhất Đối với loại hình công ty cổ phần, người tham gia góp vốn có thời hạn
90 ngày để hoàn thành việc góp vốn; trong khi đó, thời hạn này đối với loạihình trách nhiệm hữu hạn là 36 tháng
Để giải quyết bài toán nêu trên, khái niệm vốn điều lệ trong Luật lần này đãđược thay đổi căn bản là vốn thực góp Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho doanhnghiệp lúc mới thành lập, Luật đã quy định tại thời điểm đăng ký thành lậpdoanh nghiệp, vốn điều lệ là vốn mà các thành viên, cổ đông cam kếtgóp/đăng ký mua vào công ty; thành viên, cổ đông phải thanh toán phần vốngóp, số cổ phần cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết/đăng kýmua khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngàyđược cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Nếu sau thời hạn nêu trên
Trang 19mà thành viên, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần
đã cam kết góp/đăng ký mua, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệbằng giá trị thực góp Cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổphần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnhgiá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phátsinh trong thời hạn 90 ngày nêu trên
Thứ ba, Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn vàcông ty cổ phần có thể có hơn một người đại diện theo pháp luật
Quy định này nhằm hướng tới việc tạo điều kiện tối đa cho doanh nghiệp, chophép doanh nghiệp toàn quyền quyết định số lượng người đại diện theo phápluật cho mình trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giaodịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bịđơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và cácquyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Có thể nói, đây là một trong những nội dung thay đổi cơ bản so với LuậtDoanh nghiệp năm 2005 (công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần chỉ
có duy nhất một người đại diện theo pháp luật) Đứng dưới khía cạnh đảmbảo quyền tự do kinh doanh, đây là một quy định mang tính đột phá trongviệc cho doanh nghiệp toàn quyền quyết định số lượng người đại diện theopháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể hội nhập nhanh hơn, tậndụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật.Đồng thời, quy định này sẽ góp phần tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệptrong trường hợp người đại diện duy nhất của doanh nghiệp bất hợp tác,không thực hiện các yêu cầu của thành viên/cổ đông trong quá trình quản lýđiều hành doanh nghiệp trong nội bộ cũng như giao dịch với bên ngoài công
Trang 20ty Bằng cách có nhiều hơn 1 người đại diện, sự lạm quyền, bất hợp tác như
đã nói trên sẽ bị vô hiệu hóa
Ngoài ra, doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theopháp luật cư trú tại Việt Nam Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đạidiện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyềnbằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diệntheo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam Nếu hết thời hạn ủy quyền màngười đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam vàkhông có ủy quyền khác, người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện cácquyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trongphạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật củadoanh nghiệp trở lại làm việc, hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồngthành viên, Hội đồng quản trị quyết định cử người khác làm người đại diệntheo pháp luật của doanh nghiệp Đây là điểm mới, tiến bộ của Luật Doanhnghiệp 2014 khi đưa ra cơ chế giải quyết trong trường hợp người đại diệntheo pháp luật thường xuyên vắng mặt tại Việt Nam
2.3 Trong quá trình tổ chức lại, rút lui khỏi thị trường
Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp 2014 đã mở rộng các đối tượng được quyền hợpnhất, chia, tách, sáp nhập công ty
Theo quy định hiện hành, việc hợp nhất, chia, tách, sáp nhập chỉ áp dụng đốivới các công ty cùng loại Quy định nêu trên đã không còn phù hợp với thực
tế, đang hạn chế và cản trở việc tổ chức lại hay mở rộng kinh doanh theo cáchthức hợp nhất, chia, tách, sáp nhập công ty, làm giảm cơ hội đầu tư của doanhnghiệp Do vậy, Luật đã cho phép các công ty khác loại hình có thể hợp nhất,chia, tách, sáp nhập Ngoài ra, Luật cũng đã bổ sung thêm quy định hướng
Trang 21dẫn cụ thể trình tự, thủ tục về phương thức hợp nhất, chia, tách, sáp nhập vàđăng ký lại sau khi hợp nhất, chia, tách, sáp nhập công ty.
Thứ hai, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định rõ hơn và hợp lý hơn về trình tự,thủ tục giải thể doanh nghiệp
Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp rấtnhiều khó khăn Điều này tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, tổng số doanhnghiệp giải thể, ngừng hoạt động trong năm 2011, 2012, 2013 và 2014 lầnlượt là 53,9 ngàn, 54,2 ngàn, 60,7 ngàn và 67,8 ngàn doanh nghiệp Do vậy,song song với việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký gia nhập thị trường củadoanh nghiệp, việc đơn giản hóa thủ tục đăng ký rút khỏi thị trường củadoanh nghiệp cũng cần phải quan tâm đúng mức Điều này sẽ góp phần hạnchế tình trạng bức xúc của xã hội và cộng đồng doanh nghiệp trong thời gianvừa qua về các vấn đề như: doanh nghiệp “chết” mà không được chôn, tìnhtrạng doanh nghiệp chật vật xin được chết [1]; đồng thời, sẽ góp phần làm
“sạch” dữ liệu về doanh nghiệp
Nhằm khắc phục những vướng mắc nêu trên, quy trình giải thể doanh nghiệpquy định đã được thiết kế theo hướng “tự động” Theo đó, thời hạn tối đa để
cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện thủ tục xóa tên doanh nghiệp là 5 ngàylàm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể Đồng thời, doanh nghiệp sẽ được tựđộng giải thể sau 180 ngày kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh nhận đượcquyết định giải thể của doanh nghiệp Điều này đòi hỏi các cơ quan, đặc biệt
là cơ quan thuế sẽ phải khẩn trương thực hiện thủ tục quyết toán thuế chodoanh nghiệp
Trang 22Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng bổ sung quy định về giải thể doanhnghiệp trong trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặctheo quyết định của Tòa án.
Trong bối cảnh Chính phủ đang quyết tâm cải thiện hơn nữa môi trường đầu
tư kinh doanh, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2014 được kỳ vọng sẽ gópphần tạo ra những bước chuyển biến mạnh mẽ để nền kinh tế nước ta có thểbứt phá trong giai đoạn tới đây
2.4 Thành tựu
Bên cạnh việc phát huy nội lực của cộng đồng doanh nghiệp, nỗ lực của hệthống cơ quan đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh đã đóng góp một phần lớntạo nên những chuyển biến mạnh mẽ này Trong đó, sự thay đổi đáng kể nhất
là chất lượng dịch vụ công thể hiện ở thời gian tiếp nhận, xử lý hồ sơ, thủ tụcđăng ký kinh doanh và thái độ, tính chuyên nghiệp của cán bộ nghiệp vụ tạicác địa phương Hà Tĩnh là địa phương xử lý hồ sơ doanh nghiệp nhanh nhấtchỉ trong 1 ngày; Tiền Giang là 1,3 ngày; Hậu Giang là 1,32 ngày và Đà Nẵng
là 2,52 ngày Thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký thành lập doanhnghiệp mới của cả nước là 2,9 ngày Tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận ngay lầnđầu tiên và tỷ lệ hồ sơ được trả kết quả đúng hẹn cũng tăng lên đáng kể
I.2 Những hạn chế của Luật Doanh Nghiệp 2014
Hai là, việc báo cáo nội dung thay đổi, Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2014
quy định về Báo cáo thay đổi thông tin của người quản lý doanh nghiệp, nhưsau: “Doanh nghiệp phải báo cáo Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanhnghiệp có trụ sở chính trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có thay đổi thôngtin về họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấychứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác củanhững người sau đây:
Trang 231) Thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần;
2) Thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;
3) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
Ba là, về trách nhiệm của Người đại diện theo pháp luật Khoản 2 Điều 13
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định về người đại diện theo pháp luậtcủa doanh nghiệp, như sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quyđịnh cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đạidiện theo pháp luật của doanh nghiệp.”
Như vậy, công ty có thể tìm cách trốn tránh trách nhiệm trong các trường hợpbất lợi Đồng thời gây khó khăn và rủi ro rất lớn cho đối tác giao dịch vớicông ty, vì không phải lúc nào cũng tiếp cận được Điều lệ và không bảo đảmviệc xác định được chính xác nội dung phân quyền cũng như bản Điều lệ nào
có hiệu lực thật sự
I.3 Sự cần thiết phải ban hành luật 2020
Trang 24CHƯƠNG II: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP 2020 ĐỐI VỚI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TY
CỔ PHẦN, DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ NHÓM CÔNG
TY
II.1 Điểm mới đối với một số quy định về công ty cổ phần:
1 Những điểm mới của Luật DN 2020 so với Luật DN 2014 từ điều 111 Luật DN 2020 đến điều 121 Luật DN 2020
1.1 Công ty cổ phần ( Điều 110 Luật DN 2014 - Điều 111 Luật DN 2020)
Khoản 3 điều 111 Luật DN 2020 bổ sung “ … trái phiếu và các loại chứngkhoán khác của công ty”
Như vậy công ty cổ phần ngoại trừ được phép phát hành cổ phần công ty cònđược phát hành trái phiếu và các loại chứng khoán khác Điều này phù hợpvới thực tiễn kinh doanh, bởi công ty cổ phần thường là doanh nghiệp có quy
mô lớn và rất lớn, số lượng chủ sở hữu công ty rất nhiều
1.2 Thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký thành lập DN ( Điều 112 Luật DN 2014 - Điều 113 Luật DN 2020)
● Bổ sung thêm điều kiện về thời hạn khi cổ đông góp vốn bằng tài sảntrong khoản 1 Điều 113 “ Trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thờigian vận chuyển nhập khẩu, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sởhữu tài sản đó không tính vào thời hạn góp vốn này … ”
Nghĩa là sau 90 ngày các đủ đông chưa thanh toán hoặc thanh toán một phầncủa công ty thì không được xem là cổ đông của công ty (xem khoản 3 củađiều luật này) Vì góp vốn bằng tài sản rất phức tạp nên Luật 2020 đã bổ sungthêm là trường hợp cổ đông góp vốn bằng tài sản thì thời gian vận chuyểnnhập khẩu, thực hiện thủ tục hành chính để chuyển quyền sở hữu tài sản đó
Trang 25không tính vào thời gian này nghĩa là cổ đông chỉ cần trao quyền tài sản chocông ty đó còn quá trình vận chuyển sẽ không được tính vì một số rủi ro thìquá trình chuyển tài sản này có thể kéo dài thêm
● Bổ sung thêm quy định ở điểm d khoản 3 Điều 113: “ trừ trường hợp
số cổ phần chưa thanh toán đã được bán hết trong thời hạn này; đăng ký thayđổi cổ đông sáng lập”
Nghĩa là nếu trong quá trình người góp vốn phải thanh toán cổ phần (tức 30ngày) nếu xảy ra các trường hợp như số cổ phần chưa thanh toán đã bị bán hếthay đã thay đổi cổ đông sáng lập thì người góp vốn không cần thực hiện nghĩa
vụ này nữa
● Bổ sung khoản 5 Điều 113 “Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điềunày, người góp vốn trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm đã thanhtoán việc mua cổ phần và những thông tin về cổ đông quy định tại các điểm b,
c, d và đ khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi vào sổ đăng ký cổ đông”Nghĩa là các điều kiện để người góp vốn trở thành cổ đông tức thời điểmngười đó đã thanh toán cổ phần mình đã mua và những thông tin về cổ đôngquy định trừ các trường hợp khoản 2 đã được quy định ở trên
1.3 Các loại cổ phần ( Điều 113 Luật DN 2014 - Điều 114 Luật DN 2015)
● Điểm d khoản 3 Điều 114 bổ sung về các loại cổ phần ưu đãi khác “
và pháp luật chứng khoán”
Như vậy, Luật DN đã sửa đổi để phù hợp với Luật Chứng khoán
● Khoản 3 Điều 113 Luật DN 2014 “Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủyquyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết
Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN Sau thời hạn đó, cổphần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần cổđông” và được bổ sung vào khoản 1 Điều 116 Luật DN 2020
Trang 26Điều đó giúp luật được khoa học, cụ thể và giúp người đọc luật dễ dàng hiểuhơn
● Khoản 6 Điều 114 quy định về cổ phần phổ thông được bổ sung “Cổphần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu kýkhông có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở Chứng chỉlưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứngvới cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết”
● Thêm khoản 7 Điều 114 “Chính phủ quy định về chứng chỉ lưu kýkhông có quyền biểu quyết”
1.4 Quyền của cổ đông phổ thông: ( Điều 114 Luật DN 2014 - Điều 115 Luật
DN 2015)
● Luật DN 2020 đã trao thêm quyền cho các cổ đông nhỏ hơn đó là các
cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần công ty vì vậy luật thay đổi kết cấu các quyđịnh Đầu tiên, quy định về quyền chung về tất cả các cổ đông, sau đó chialàm hai đối tượng cổ đông là các cổ đông sở hữu từ 5% cổ phần công ty trởlên (khoản 2) và các cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần công ty (khoản 5) Trongkhi Luật DN 2014 chỉ quy định quyền cho các cổ đông sở hữu từ 10% trở lên,
do đó các một số quy định đã được di chuyển
● Điểm a khoản 2 Điều 114 Luật DN 2014 “Đề cử người vào Hội đồngquản trị và Ban kiểm soát” được quy định lại ở khoản 5 Điều 115 Luật DN
2020 nghĩa là chỉ có các cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần công ty trở lên mới
có quyền lợi này Ngoài ra ở khoản 5 quy định rõ hơn về các quyền lợi về các
cổ đông sở hữu từ 10% cổ phần công ty trở lên
● Ví dụ: Theo Bản án 19/2019/KDTM-ST ngày 11/06/2019 của TANDthành phố Hà Nội về tranh chấp giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Đại L là sởhữu 140.000 cổ phần, chiếm 5% vốn điều lệ Công ty; Bị đơn là Công ty cổphần cung ứng dịch vụ Hàng không Ông L có nhiều lần yêu cầu lãnh đạo
Trang 27Công ty cung cấp các tài liệu theo quy định của pháp luật, nhưng không đượccông ty chấp thuận Do đó, ông đã khởi kiện công ty lên Tòa và kết quả làCông ty đã phải cung cấp cho Ông L những thông tin, văn bản mà ông L yêucầu.
● Theo quy định tại khoản 2 Điều 115 LDN 2020, cổ đông chỉ cần
sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơnquy định tại Điều lệ công ty sẽ có các quyền: Xem xét, tra cứu, trích lục sốbiên bản và nghị quyết, quyết định của HĐQT, báo cáo tài chính giữa năm vàhằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông quaHĐQT và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mậtkinh doanh của công ty; Yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ; Yêu cầu Ban kiểmsoát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt độngcủa công ty khi xét thấy cần thiết Trong khi đó, theo LDN 2014 trước đây,chỉ Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trởlên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quyđịnh tại Điều lệ mới được thực hiện các quyền nói trên Thông qua việc giảm
tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông trong việc thực hiện quyền của mình, LDN
2020 đã mở rộng quyền của CĐTS Một mặt, trao thêm quyền cho các cổđông trong việc chủ động tiếp cận các thông tin hoạt động của công ty để giúp
họ giám sát công ty, cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ tốt hơn.Đồng thời tương thích với quyền cổ đông sở hữu 5% tại Luật Chứng khoán
2019 cũng như phù hợp với thông lệ quản trị trên thế giới khi đề cao quyềnCĐTS để các cổ đông yên tâm bỏ vốn đầu tư
● So sánh điểm c khoản 3 Điều 114 Luật DN 2014 và khoản 4 Điều 115Luật DN 2020, các cụm từ “số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minhnhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác … mã số DNhoặc số quyết định thành lập” được thay thế bằng cụm từ “số giấy tờ pháp lý”
Trang 28● Các điều luật ở năm 2020 đã thay thế và sửa đổi các giấy tờ pháp lýgiúp nó không bị trong khuôn khổ, được mở rộng hơn nhưng vẫn đúng vớinhà nước quy định
● Điểm b khoản 3 Điều 114 Luật DN 2014 “Nhiệm kỳ của HĐQT đãvượt quá 06 tháng mà HĐQT mới chưa được thay thế ”đã được bỏ ở Luật DN
2020 vì nó không cần thiết, nhiều trường hợp có thể do một số vấn đề thì quátrình bầu Hội đồng quản trị mới có thể vượt quá 6 tháng để đảm bảo đảm việcthực hiện các quyền của cổ đông không làm ảnh hưởng đến việc điều hànhhoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
● Ví dụ: Vụ việc tại Tổng Công ty cổ phần bia rượu nước giải khát SàiGòn (Sabeco), Công ty Thai Beverage Public (Thaibev) đã mua thành công53,59% vốn điều lệ của Sabeco thông qua Công ty TNHH Vietnam Beverage.Tuy nhiên do không sở hữu cổ phần liên tục 06 tháng, nên Thaibev khôngđược đề cử người vào HĐQT và BKS theo LDN 2014 Để giải quyết vướngmắc trên, Thaibev phải nhiều lần kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương để
đề xuất Bộ Công Thương (Sở hữu 36% cổ phần) triệu tập ĐHĐCĐ bất thường
để bầu các nhân sự do ThaiBev đề cử vào vị trí thành viên HĐQT Mặc dùThaiBev là cổ đông sở hữu tỷ lệ lớn cổ phần, nhưng vấn đề mà Thaibev gặpphải, là rào cản chung mà CĐTS gặp phải thời gian qua
● Tại thời điểm xây dựng LDN 2014, các nhà làm luật có quan điểmcho rằng cần phải giới hạn thời gian sở hữu cổ phần của cổ đông trước khi cổđông mới được thực hiện một số quyền năng nhất định, để đảm bảo duy trìhoạt động ổn định của công ty, tránh nguy cơ cổ đông vừa góp vốn khi chưa
có thời gian tìm hiểu đã dễ dàng có ngay quyền “quấy phá” doanh nghiệp.Tuy vậy, ở khía cạnh khác, quy định trên lại chứa đựng mâu thuẫn khi cổđông đã bỏ ra một số tiền lớn để sở hữu cổ phần nhưng không được tiếp quản
và thực hiện các quyền năng của mình do không sở hữu cổ phần liên tục trong
Trang 29thời hạn 06 tháng Điều này cũng không phù hợp khi LDN 2014 thừa nhận tưcách cổ đông được xác lập kể từ thời điểm cổ đông góp đủ vốn và được ghinhận đầy đủ thông tin trong danh sách cổ đông Rõ ràng, khi nhóm cổ đông cũlợi dụng hạn chế nói trên thực hiện các giao dịch tư lợi nhằm tẩu tán tài sảncông ty, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cổ đông mới Chính vìvậy, LDN 2020 đã bãi bỏ việc yêu cầu cổ đông sở hữu cổ phần trong thời hạnliên tục ít nhất 06 tháng là điều kiện tiên quyết để có thể thực thi một sốquyền như: Đề cử người vào HĐQT và BKS; Quyền tự mình hoặc nhân danhcông ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên HĐQT, Giám đốchoặc Tổng giám đốc, Đây là cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quản trị tốttrên thế giới, thay vì giới hạn quyền lợi của CĐTS để đảm bảo sự an toàn, ổnđịnh của doanh nghiệp thì chính bản thân doanh nghiệp phải tự xây dựng hệthống quy chế nội bộ để thích ứng với những rào cản, biến động của thịtrường Quy định này sẽ áp dụng với tất cả cổ đông công ty, không phân biệt
tỷ lệ sở hữu cổ phần Tuy vậy, dưới góc độ thực tiễn, CĐTS sẽ là đối tượnghưởng lợi nhiều nhất từ thay đổi nói trên Bởi trên thực tế, nếu là một CĐLmới tiếp nhận chuyển nhượng cổ phần, họ sẽ thường “dàn xếp”, “hiệpthương” với các cổ đông hiện hữu và/hoặc bên chuyển nhượng để tiếp quảnngay công ty, bố trí nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy; trong khi đó,CĐTS ít khi đạt được sự thỏa thuận nói trên, mà phải chờ sở hữu liên tục 06tháng mới thực hiện được quyền của mình
● Như vậy, với quy định này Luật Doanh nghiệp 2020 đã phần nàohướng tới bảo vệ quyền lợi của nhóm các cổ đông nhỏ trong Công ty cổ phần,hạn chế người quản lý hoặc cổ đông lớn lạm dụng địa vị, quyền hạn gây thiệthại cho công ty và cổ đông nhỏ
Trang 301.5 Cổ phần ưu đãi biểu quyết và quyền của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết ( Điều 116 Luật DN 2014 - Điều 116 Luật DN 2020)
● Khoản 1 Điều 116 Luật DN 2020 Thêm điều kiện về quy định pháthành cổ phần ưu đãi biểu quyết (đã phân tích ở mục 1.3 Các loại cổ phần)
● Khoản 3 Điều 116 Luật DN 2020 Bổ sung thêm luật “ trừ trường hợpchuyển nhượng theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luậthoặc thừa kế” nghĩa là những cổ đông được sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết
sẽ không được phép chuyển nhượng cho người khác trừ một số trường hợpnhư luật đã quy định
● Bổ sung khoản 4 Điều 116 “Chính phủ quy định chi tiết Điều này”
1.6 Cổ phần ưu đãi cổ tức và quyền của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức: ( Điều 117 Luật DN 2014 - Điều 117 Luật DN 2021)
Về cơ bản luật về cổ phần ưu đãi cổ tức và quyền của cổ đông sở hữu cổ phần
ưu đãi cổ tức không có gì thay đổi so với Luật DN năm 2014, chỉ bổ sungthêm là ở khoản 3 Điều 117 “ trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 148của Luật này”
Nghĩa là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, đề
cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, trừ trường hợp nghị quyếtĐại hội cổ đông về nội dung làm thay đổi bất lợi quyền và nghĩa vụ của cổđông sở hữu cổ phần ưu đãi chỉ được thông qua nếu được số cổ đông ưu đãicùng loại dự họp sở hữu từ 75% tổng số cổ phần ưu đãi loại đó trở lên tánthành hoặc được các cổ đông ưu đãi cùng loại sở hữu từ 75% tổng số cổ phần
ưu đãi loại đó trở lên tán thành trong trường hợp thông qua nghị quyết dướihình thức lấy ý kiến bằng văn bản
Trang 311.7 Nghĩa vụ của cổ đông ( Điều 115 Luật DN 2014 - Điều 119 Luật DN 2020)
Khoản 5 Điều 119 Luật DN 2020 đã quy định thêm về nghĩa vụ của cổ đông
là “Bảo mật các thông tin được công ty cung cấp theo quy định tại Điều lệcông ty và pháp luật; chỉ sử dụng thông tin được cung cấp để thực hiện và bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nghiêm cấm phát tán hoặc sao, gửithông tin được công ty cung cấp cho tổ chức, cá nhân khác ”
Nghĩa vụ của cổ đông trong Luật DN 2020 đã được bổ sung thêm một phầnrất quan trọng chính là về việc bảo mật thông tin của công ty, đây là một thayđổi khá quan trọng, tránh trường hợp các cổ đông bán thông tin của công tycho công ty đối thủ và từ đó có thể công ty làm ăn thua lỗ và thâu tóm công
ty
Với thông tin mang tính nội bộ, cổ đông cần biết để góp ý và đưa ra nhữngkiến nghị nhằm phát triển công ty tốt hơn Tuy nhiên, những thông tin nàynếu đối thủ biết được sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty Do
đó, việc cho biết thông tin là nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của cổ đôngnhưng cấm phát tán thông tin này cho người khác sẽ giúp bảo vệ lợi ích chungcủa công ty
Quy định về bí mật kinh doanh đã được quy định tại Điều 127 Luật Sở hữu trítuệ 2005, Điều 12 Luật Chứng khoán 2019 và đến năm 2020 quy định nàymới được nhắc đến trong Luật DN nhằm bổ sung cho Luật DN đầy đủ hơn vàphù hợp với các bộ Luật khác
Với quy định mới này, cổ đông cần được hiểu rằng những thông tin nghiêmcấm phát tán cho tổ chức, cá nhân sẽ là với thông tin mang tính chất khôngcông khai (thông tin nội bộ) Thông tin mang tính chất công khai (như thôngbáo về tình hình cổ tức, phát hành thêm cổ phiếu đã được công ty công bốtrên Sở giao dịch chứng khoán ) không bị cấm bởi quy định này
Trang 321.8 Cổ phiếu: (Điều 120 Luật DN 2014 - Điều 121 Luật DN 2020)
Khoản 3 Điều 120 Luật DN 2014 quy định về điều kiện cấp các cổ phiếu khi
cổ phiếu bị hư hỏng đó là “Đối với cổ phiếu có tổng mệnh giá trên 10 triệuđồng Việt Nam, trước khi tiếp nhận đề nghị cấp cổ phiếu mới, người đại diệntheo pháp luật của công ty có thể yêu cầu chủ sở hữu cổ phiếu đăng thông báo
về việc cổ phiếu bị mất, bị hủy hoại hoặc hư hỏng dưới hình thức khác và sau
15 ngày, kể từ ngày đăng thông báo sẽ đề nghị công ty cấp cổ phiếu mới” đãđược bãi bỏ trong Luật DN 2020
So với luật 2014, Luật 2020 bao quát được nhiều trường hợp về các loại cổphiếu bị mất, hư hỏng nhưng Luật 2020 đã bỏ đi phần cam đoan của cổ đôngkhi bị mất cổ phiếu đó là phải cam đoan đã tiến hành tìm kiếm hết mức -> đây
là một cam đoan không cần thiết trong thực tế, rườm rà, khuôn mẫu
2 Điểm mới từ điều 122 đến điều 129
2.1 Chào bán cổ phần (Điều 122 LDN 2014 - Điều 123 LDN 2020)
Quy định về chào bán cổ phần giữa LDN 2020 so với LDN 2014 có điềuchỉnh về mặt câu chữ và mở rộng phạm vi của một số đối tượng:
Nội dung căn bản giống nhau: Khoản 1 và 4
Khác: Khoản 2 và 3
● Khoản 2 LDN 2014 quy định hình thức chào bán cổ phần: ”một trong”
ba hình thức được luật quy định, sang đến LDN 2020 quy định đã được sửađổi thành “các” hình thức Sửa đổi khiến quy định chính xác, rõ ràng minhbạch, tránh hiểu sai về điều luật cho người đọc luật, “một trong” có thể dẫnđến hiểu sai rằng doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện một trong ba hình thực đãđược quy định
● Khoản 3 thay đổi đối tượng chào bán cổ phần ra công chúng, chào bán
cổ phần “công ty cổ phần niêm yết và đại chúng” thành “công ty đại chúng và
Trang 33tổ chức khác” tạo điều kiện cho các công ty, tổ chức chưa đủ điều kiện thànhcông ty cổ phần niêm yết có thể chào bán cổ phần để huy động thêm vốn điềulệ.
2.2 Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu (Điều 124 LDN 2014 - Điều 124 LDN 2020)
Cơ bản quy định về chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu giữa hai bộ luật
không có nhiều sự khác biệt, chủ yếu là thay đổi về mặt câu chữ, sử dụngnhững khái niệm rộng hơn, bao trùm hơn
Giống nhau: khoản 1,4,5
Khác khoản 2,3
● Khoản 2:
(1) “Địa chỉ thường trú hoặc địa chỉ liên lạc” => “địa chỉ liên lạc” trong địachỉ liên lạc bao hàm địa chỉ thường trú, địa chỉ thường trú là nơi thườngxuyên cư trú nhưng cũng có trường hợp nơi cư trú thực sự khác với địa chỉthường trú nên việc gửi thông tin đến địa chỉ thường trú có thể không đến tayngười nhận
(2) “Số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặcchứng thực cá nhân hợp pháp khác” đến “số giấy tờ pháp lý”
(3)“số quyết định thành lập” đến “số giấy tờ pháp lý”, giấy tờ pháp lý của tổchức bao gồm: Quyết định thành lập; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;Tài liệu tương đương khác
● Khoản 3: “hoặc cổ phần được bán qua Sở giao dịch chứng khoán” đến
“hoặc pháp luật về chứng khoán có quy định khác” quy định ngoại lệ khipháp luật về chứng khoán có quy định khác
Trang 342.3 Chào bán cổ phần riêng lẻ (Điều 123 LDN 2014 - Điều 125 LDN 2020
So với LDN 2014 thì quy định về chào bán cổ phần riêng lẻ của LDN 2020 cónhững thay đổi đáng kể Luật Doanh nghiệp năm 2014 không giải thích thếnào là phát hành cổ phần riêng lẻ, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2020 đãlàm rõ vấn đề này
Điểm khác biệt lớn nhất khi phát hành cổ phần riêng lẻ so với các hình thứckhác là vốn điều lệ của công ty tăng lên, có cổ đông mới tham gia và số lượng
cổ đông mua cổ phần được hạn chế theo các điều kiện nhất định
Việc phát hành cổ phần riêng lẻ sẽ có hai lợi ích cơ bản là dòng tiền đầu tưcủa nhà đầu tư sẽ được chảy vào công ty mà không phải là các cổ đông củacông ty như hình thức chuyển nhượng vốn và nhà đầu tư/cổ đông cũng khôngphải chịu thuế khi thực hiện giao dịch
LDN 2020 bổ sung quy định về điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ: Khoản 1quy định rõ số lượng và loại hình của nhà đầu tư (Tên gọi là điều kiện nhưngbản chất đây không phải là điều kiện, chỉ là cách thức thực hiện), khoản 1 quyđịnh:
“1 Chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đạichúng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;
b) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán
chuyên nghiệp hoặc chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyênnghiệp”
Việc quy định không được chào bán qua phương tiện thông tin đại chúng táchbạch chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng
Trang 35Việc giới hạn chào bán cho 100 nhà đầu tư có thể làm chậm lại sự phát triểncủa thị trường cổ phiếu, tước đi một kênh đầu tư của nhà đầu tư cá nhân, mộtkênh huy động vốn của doanh nghiệp Đồng thời cũng tạo cơ hội cho hìnhthức chào bán ra công chúng, chỉ là việc mở rộng thị trường sẽ chậm lạinhưng sẽ an toàn hơn cho cả nhà đầu tư cá nhân và cả nền kinh tế.
Về quyền ưu tiên mua cổ phần của cổ đông hiện hữu, theo quy định tại LDNnăm 2014, thì việc thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần của các cổ đông hiệnhữu không được thể hiện rõ, mà được hiểu rằng, cổ đông hiện hữu có thểđược xem là đã từ bỏ quyền ưu tiên mua cổ phần mới khi nghị quyết của Đạihội đồng cổ đông chấp thuận việc phát hành thêm cổ phần được thông qua.LDN 2020 khoản 2b bổ sung quy định cổ đông được quyền tiên mua, nếukhông mua hết thì mới chào bán cho người khác với điều kiện không thuậnlợi hơn đã chào bán cho cổ đông (cổ đông cũng có thể chuyển quyền mua chongười khác) Quy định này không áp dụng trong trường hợp phát hành cổphần để sáp nhập hoặc hợp nhất Điều này bảo vệ quyền lợi của cổ đông trongdoanh nghiệp, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho người bán cổ phần, tránhtrường hợp do xích mích cá nhân nên quyết định bán cổ phần không đượcthông qua và khi sáp nhập hoặc hợp nhất thì quyền và nghĩa vụ của của cácbên thay đổi
LDN 2020 khoản 2a yêu cầu phương án chào bán phải theo quy định của bộluật này Điều này giúp cơ quan nhà nước dễ dàng kiểm soát hơn
Về việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, LDN năm 2014 không quyđịnh rõ, trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thực hiện M&A theo hìnhthức chào bán cổ phần riêng lẻ, thì có cần phải áp dụng thủ tục xin chấp thuậncủa Sở Kế hoạch và Đầu tư theo quy định tại Luật Đầu tư hay không Điềunày đã gây ra một số lúng túng trong thời gian đầu khi thi hành luật LDN
Trang 362020 khoản 3 bổ sung quy định về nhà đầu tư nước ngoài Điều này giúp mởrộng đối tượng mua cổ phần, xác định cụ thể các bước mà nhà đầu tư nướcngoài phải thực hiện, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho nhà đầu tư và doanhnghiệp khi áp dụng pháp luật, tạo khuôn khổ pháp lý cho nhà đầu tư nướcngoài góp vốn, đầu tư tài chính vào Việt Nam.
LDN 2020 bỏ quy định phải thực hiện thủ tục thông báo phát hành cổ phầnriêng lẻ cho Sở Kế hoạch và Đầu tư Giúp giảm thiểu thủ tục hành chính, “xin
- cho”, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp rút ngắn thời gian để hoàntất giao dịch mua bán – sáp nhập (A&M) khi thực hiện thủ tục chào bán cổphần riêng lẻ Doanh nghiệp chỉ phải thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn điều
lệ sau khi hoàn tất việc phát hành cổ phần riêng lẻ
Đồng thời LDN 2020 bỏ quy định đăng ký thay đổi vốn điều lệ với cơ quanđăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổphần
2.4 Bán cổ phần (Điều 125 LDN 2014 - Điều 126 LDN 2020)
Nội dung điều khoản quy định về Bán cổ phần của luật 2020 so với năm 2014không có nhiều khác biệt điểm đáng chú ý:
● thời điểm xác định giá cổ phiếu chuyển từ “chào bán” đến thời điểm
“bán”: Mang tính cập nhật, có thể từ thời gian chào bán đến bán có mộtkhoảng trễ nhất định
● ở các điều khoản: “cổ phần chào bán” đến “cổ phần bán”, chào bán chomột người thì người đó chưa chắc đã mua, điều khoản sửa thành cổ phần bán
là hợp lý, bán là việc đã phát sinh, có chứng nhận
● khoản 4 ngoài trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp
đó do Điều lệ công ty bổ sung thêm trường hợp do “nghị quyết Đại hội đồng
Trang 37cổ đông quy định”: mở rộng quyền lợi cho Đại hội đồng cổ đông, khuyếnkhích hoạt động đầu tư góp vốn
2.5 Chuyển nhượng cổ phần (Điều 126 LDN 2014 - Điều 127 LDN 2020)
Giống nhau: Khoản 1, 2, 3, 4; Khoản 7 LDN 2014 tương ứng khoản 6 LDN2020
LDN 2020 có những thay đổi tích cực:
Khoản 5 bổ sung thêm đối tượng nhận cổ phần chuyển nhượng ngoài cá nhân
có thể là tổ chức Điều này giúp mở rộng đối tượng hơn
Khoản 7 quy định “Công ty phải đăng ký thay đổi cổ đông trong số đăng ký
cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khinhận được yêu cầu theo quy định tại Điều lệ công ty” Điều này đảm bảo tínhcập nhật, bảo vệ quyền lợi của cổ đông
Đồng thời bãi bỏ khoản 6 LDN 2014: Khi công ty đăng ký thay đổi cổ đôngthì việc thông tin được cập nhật trong sổ đăng ký cổ đông được quy định tạiĐiều 122 Luật Doanh nghiệp 2020
- Nguyễn Mậu Khôi A1 sở hữu cổ phần phổ thông chiếm tỷ lệ 21%;
- Nguyễn Trọng H1 sở hữu cổ phần phổ thông chiếm tỷ lệ 72% - Người đạidiện theo pháp luật của công ty cổ phần A
Trang 38Ngày 22/3/2016 Công ty A họp có mặt 03 thành viên là bà T, ông A1, ôngH1, nội dung xác nhận cổ phần của bà T đến ngày 15/8/2012 có giá trị tươngđương 89.687.500đ; Công ty A thanh toán dứt điểm số tiền trên cho bà Ttrong năm 2016; Bà T có trách nhiệm phối hợp với công ty để hoàn tất thủ tụcliên quan; Bà T phải chuyển nhượng toàn bộ số cổ phần đang sở hữu tại Công
ty A cho một người khác theo sự chỉ định của công ty sau khi đã nhận đủ sốtiền 89.687.500đ Đã quá thời hạn theo sự thỏa thuận, bà T nhiều lần đề nghịCông ty A thực hiện thỏa thuận nhưng công ty né tránh Bà T khởi kiện yêucầu công ty trả cho bà số tiền 89.687.500đ
- Điều 19 khoản 5 của Điều lệ công ty A quy định các cổ phần được tự dochuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 13 và khoản 5 Điều
15 Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng văn bản theo cách thông thườnghoặc bằng cách trao tay cổ phiếu Quy định về phương thức, cách thức chuyểnnhượng cổ phần tại Điều 19 khoản 5 Điều lệ công ty A phù hợp quy định tạiĐiều 110 khoản 1 điểm d và Điều 126 khoản 1, 2 của Luật Doanh nghiệp2014
Như vậy, “Biên bản thỏa thuận về việc xác nhận cổ phần” ngày 22/3/2016 cónội dung và hình thức phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2014 thể hiện ý chí của
Trang 39các bên đồng ý cho bà T chuyển nhượng cổ phần; Người nhận chuyển nhượng
cổ phần của bà T do Công ty A chỉ định; Quá thời hạn cam kết theo thỏathuận nhưng công ty cổ phần A không thực hiện nên bà T khởi kiện là có căncứ
Áp dụng điều: Điều 110 khoản 1 điểm d; Điều 114 khoản 1 điểm d; Điều 126khoản 1, 2, 7 Luật Doanh nghiệp 2014;
● Buộc Công ty Cổ phần A chỉ định người nhận chuyển nhượng cổ phầncủa bà Huỳnh Thị Thu T, tỷ lệ cổ phần của bà T trong Công ty Cổ phần A là7% tương đương số tiền 210.000.000đ Công ty Cổ phần A có nghĩa vụ trảcho bà Huỳnh Thị Thu T 89.687.500đ (Tám mươi chín triệu sáu trăm támmươi bảy nghìn năm trăm đồng)
● Chấm dứt tư cách cổ đông của bà Huỳnh Thị Thu T đối với công ty cổphần A kể từ thời điểm các thông tin của người nhận cổ phần của bà HuỳnhThị Thu T theo quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp 2014 đượcghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông
2.6 Phát hành trái phiếu (Điều 127 LDN 2014) - Chào bán trái phiếu riêng
lẻ (Điều 128 LDN 2020) - Quyết định chào bán trái phiếu riêng lẻ (Điều 130 LDN 2020)
Một số điểm tương đồng giữa LDN 2014 và LDN 2020:
Khoản 2, 3 Điều 127 LDN 2014 - Khoản 3a Điều 128 LDN 2020
Khoản 4 Điều 127 LDN 2014 - Khoản 1 Điều 130 LDN 2020
Khoản 5 Điều 127 LDN 2014 - Khoản 2 Điều 130 LDN 2020
LDN 2020 thay thế quy định “Phát hành trái phiếu” Điều 127 LDN 2014 bằngquy định “Chào bán trái phiếu riêng lẻ” Điều 128 LDN 2020
Trang 40● Trước đây LDN 2014 quy định chung về phát hành trái phiếu, tráiphiếu chuyển đổi và trái phiếu khác theo quy định
● LDN 2014 cũng không chia thành các quy định chào bán trái phiếuriêng lẻ hay chào bán trái phiếu ra công chúng và cũng không phân biệt công
ty đại chúng và công ty thường
● LDN 2020 quy định việc chào bán trái phiếu riêng lẻ của công ty khôngphải công ty đại chúng sẽ tuân theo LDN, riêng đối với chào bán trái phiếu racông chúng và chào bán trái phiếu của công ty đại chúng sẽ thực hiện theoLuật Chứng khoán mà không theo Luật Doanh nghiệp Bởi trái phiếu là mộtloại chứng khoán thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán: Cách thứcchào bán, quy trình cụ thể
● Khoản 3 Điều 128 LDN 2020 quy định các điều kiện phải đáp ứng khicông ty cổ phần không phải là công ty đại chúng chào bán trái phiếu riêng lẻ.Điều này giúp giảm thiểu rủi ro tài chính cho nhà đầu tư, tạo môi trường kinhdoanh lành mạnh
● Đặc biệt, LDN 2020 quy định đối tượng tham gia mua trái phiếuchuyển đổi riêng lẻ trái phiếu kèm theo chứng quyền riêng lẻ chỉ bao gồm nhàđầu tư chiến lược và nhà đầu tư chuyên nghiệp Các loại trái phiếu khác thìchỉ nhà đầu tư chuyên nghiệp mới được mua Giúp đảm bảo sự phù hợp, đồng
bộ với Luật Chứng khoán đồng thời thị trường trái phiếu doanh nghiệp còntiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi các nhà đầu tư cá nhân nhỏ, lẻ có ít thông tin
và khả năng phân tích, đánh giá rủi ro hoặc khi các doanh nghiệp lạm dụng,triển khai các hình thức huy động vốn trái phiếu thiếu minh bạch
● Điều 130 khoản 1 LDN 2020 bổ sung điều khoản:
“1 Công ty quyết định chào bán trái phiếu riêng lẻ theo quy định sau đây: