Là vùng “hạt nhân”, “cực tăng trưởng” của cả vùng ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long KTTĐ ĐBSCL được xác định có vai trò là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nu
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Tạ Văn Trung
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2022
Trang 2BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Ngành: Biến đổi khí hậu
PGS TS Lê Thu Hoa
Giáo viên hướng dẫn 2
(Ký, ghi rõ họ tên)
TS Tạ Đình Thi
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực Những kết quả
khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả Luận án
Tạ Văn Trung
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Biến đổi khí hậu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới các giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Lê Thu Hoa và TS Tạ Đình Thi đã tận tình giúp
đỡ tác giả từ những bước đầu tiên xây dựng hướng nghiên cứu, cũng như trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện Luận án Các thầy cô luôn động viên và hỗ trợ những điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành Luận án
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp thuộc Trung tâm Tư vấn và Công nghệ môi trường đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn Đề tài “Nghiên cứu xác định các chỉ
số an ninh môi trường, đề xuất khung chính sách và giải pháp quản lý, ứng phó” đã
hỗ trợ nguồn số liệu cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận án
Tác giả chân thành cảm ơn các chuyên gia, các nhà khoa học của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Tổng cục Thống kê và các cơ quan hữu quan đã có những góp ý về khoa học cũng như hỗ trợ nguồn tài liệu, số liệu cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, anh, chị, những người thân trong gia đình, đặc biệt là vợ và con đã luôn ở bên cạnh, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành tốt Luận án của mình
Tác giả Luận án
Tạ Văn Trung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 5
5 Luận điểm nghiên cứu của luận án 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5
7 Đóng góp mới của luận án 6
8 Bố cục của luận án 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 7 1.1 Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững 7
1.1.1 Phát triển kinh tế 7
1.1.2 Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững 8
1.2 Phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu 14
1.2.1 Lý thuyết phát triển kinh tế vùng 14
1.2.2 Khái niệm và vai trò của vùng kinh tế trọng điểm 19
1.2.3 Phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm 20
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm 22
1.2.5 Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế 25
1.3 Đánh giá phát triển kinh tế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu 30
Trang 61.3.1 Trên thế giới 30
1.3.2 Ở Việt Nam 33
1.4 Các nghiên cứu về phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long 35
1.5 Những nhận định rút ra và khoảng trống trong các nghiên cứu 38
Tiểu kết chương 1 40
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Giới thiệu vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long 42
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 42
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội và tiềm năng phát triển kinh tế 44
2.1.3 Kịch bản biến đổi khí hậu và NBD vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 45
2.2 Quan điểm và khung tiếp cận nghiên cứu 49
2.2.1 Quan điểm tiếp cận nghiên cứu 49
2.2.2 Khung tiếp cận nghiên cứu 51
2.3 Phương pháp nghiên cứu 53
2.3.1 Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu 53
2.3.2 Phương pháp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm 54
2.3.3 Phương pháp chuẩn hoá số liệu 59
2.3.4 Phương pháp tính toán chỉ số tổng hợp 62
2.3.5 Phương pháp so sánh 63
2.3.6 Phương pháp kiểm định mức độ liên kết kinh tế vùng 63
2.3.7 Phương pháp phân tích SWOT 64
Tiểu kết Chương 2: 65
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 66
3.1 Đề xuất tiêu chí/ chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu 66
Trang 73.1.1 Rà soát và chọn lọc sơ bộ danh sách các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm 663.1.2 Kết quả tham vấn chuyên gia 723.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu 763.2 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long 823.3 Đánh giá tính bền vững về phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu 963.3.1 Đánh giá theo các Chỉ số phát triển kinh tế bền vững thành phần 973.3.2 Đánh giá theo các chủ đề phát triển 1073.3.3 Đánh giá tổng hợp về tính bền vững phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 1133.4 Một số hạn chế trong phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long và nguyên nhân 1163.4.1 Hạn chế trong phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long 1163.4.2 Nguyên nhân những hạn chế trong phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long 1193.5 Các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu 120Tiểu kết chương 3: 123
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 125
4.1 Những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 1254.1.1 Từ bối cảnh trong nước và quốc tế 125
Trang 84.1.2 Từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng
sông Cửu Long 128
4.1.3 Từ dự báo xu hướng biến đổi khí hậu vùng đồng bằng sông Cửu Long 130
4.1.4 Tóm lược điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 131
4.1.4.1 Điểm mạnh 131
4.1.4.2 Điểm yếu 132
4.1.4.3 Cơ hội 132
4.1.4.4 Thách thức 133
4.2 Các xu hướng phát triển kinh tế bền vững hiện nay 134
4.3 Định hướng phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long bối cảnh biến đổi khí hậu 136
4.4 Một số giải pháp phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 138
4.4.1 Giải pháp phát triển kinh tế bền vững nội tại ứng phó với biến đổi khí hậu 138 4.4.2 Giải pháp tăng cường tác động lan tỏa 141
4.4.3 Nhóm giải pháp gia tăng mức độ liên kết kinh tế 142
Tiểu kết chương 4: 146
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Climate Change Biến đổi khí hậu BTNMT Ministry of Natural Resource
and Environment Bộ Tài nguyên và Môi trường CIEM Central Institute of Economic
Management
Viện Nghiên cứu quản ký kinh tế Trung ương
CNH Industrialization Công nghiệp hóa
COP Conference of Parties
Hội nghị các bên tham gia công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc
ĐBSCL Mekong River Delta Đồng bằng sông Cửu Long
Chương trình nghiên cứu kinh tế về biến đổi khí hậu
GRDP Gross Regional Domestic
HDI Human Development Index Chỉ số phát triển con người ILO International Labour
Organization Tổ chức lao động quốc tế IMHEN
Institute of Meteorology, Hydrology and Climate change
Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn
và Biến đổi khí hậu
KAMET
Knowledge Acquisition for Multiple Experts with Time scales
Thu thập kiến thức nhiều chuyên gia theo thời gian
KTTH Circular Economy Kinh tế tuần hoàn
Trang 10Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ
LKKT Economic integration Liên kết kinh tế LSI Local Sustainability Index Chỉ số bền vững địa phương MDGs Millennium Development
NN&PTNT Agriculture and Rural
Development Nông nghiệp và Phát triển nông thôn PTBV Sustainable Development Phát triển bền vững
PTKT Economic Development Phát triển kinh tế SDGs Sustainable Development
TNTN Natural Resource Tài nguyên thiên nhiên
TTgCP Prime Minister Thủ tướng Chính Phủ TTKT Economic Growth Tăng trưởng kinh tế
UNCSD United Nations Conference
Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích tự nhiên vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
so với cả nước và đồng bằng sông Cửu Long 43 Bảng 2.2 Dân số vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 44 Bảng 2.3 Biến đổi của nhiệt độ trung bình năm (oC) các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long so với thời kỳ cơ sở 45 Bảng 2.4 Biến đổi của lượng mưa (%) các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long so với thời kỳ cơ sở 47 Bảng 2.5 Nguy cơ ngập vì nước biển dâng do biến đổi khí hậu đối với vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 48 Bảng 2.6 Tóm tắt một số nguồn tài liệu, số liệu kế thừa trong nghiên cứu 54 Bảng 2.7 Quy tắc KAMET phân tích đánh giá từ các chuyên gia sử dụng phương pháp Delphi 57 Bảng 2.8 Mức độ đồng thuận và mức độ tin tưởng liên quan tới hệ số Kendall (W) 58 Bảng 3.1 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm lựa chọn để tham vấn chuyên gia 67 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá Delphi vòng 1, 2 72 Bảng 3.3 Kết quả đánh giá Delphi vòng 3 75 Bảng 3.4 Bộ tiêu chí đánh giá phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu 82 Bảng 3.5 GRDP các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 so với cả nước 83 Bảng 3.6 Tốc độ tăng GRDP các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 so với cả nước (%) 83 Bảng 3.7 GRDP bình quân đầu người các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 so với cả nước 84 Bảng 3.8 Tỷ lệ lao động qua đào tạo của các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long so với cả nước 85
Trang 12Bảng 3.9 Năng suất lao động trên địa bàn các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long so với cả nước 85 Bảng 3.10 Tỷ trọng đóng góp thu ngân sách địa phương trong tổng thu ngân sách nhà nước của vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 86 Bảng 3.11 Thu chi ngân sách nhà nước vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 88 Bảng 3.12 Tiêu hao năng lượng để tạo ra một đơn vị GRDP của các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 89 Bảng 3.13 Phát thải khí nhà kính trong phát triển kinh tế của các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 89 Bảng 3.14 Tổn thất về kinh tế do thiên tai vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 90 Bảng 3.15 Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản trong GRDP các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 90 Bảng 3.16 Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong GRDP các địa phương vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long 91 Bảng 3.17 Tỷ lệ thất nghiệp vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 92 Bảng 3.18 Tỷ lệ hộ nghèo vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 92 Bảng 3.19 Tỷ suất nhập cư và xuất cư vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 93 Bảng 3.20 Tỷ lệ lao động qua đào tạo của các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long so với cả nước 94 Bảng 3.21 Mật độ kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 94 Bảng 3.22 Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển và Số lượt hành khách vận chuyện và luân chuyển vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trang 1395 Bảng 3.23 Chỉ số chuẩn hóa Tỷ trọng đóng góp thu ngân sách vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long so với cả nước giai đoạn 2013-2019 100 Bảng 3.24 Chỉ số chuẩn hóa Bội chi ngân sách nhà nước so với GRDP vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 100 Bảng 3.25 Chỉ số chuẩn hóa Tỷ lệ thất nghiệp vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 104 Bảng 3.26 Chỉ số chuẩn hóa Tỷ lệ hộ nghèo vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 104 Bảng 3.27 Chỉ số chuẩn hóa Mật độ kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 105 Bảng 3.28 Chỉ số chuẩn hóa Tỷ suất di cư thuần vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 105 Bảng 3.29 Chỉ số chuẩn hóa Khối lượng hàng hóa vận chuyển và luân chuyển vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 106 Bảng 3.30 Chỉ số chuẩn hóa Lượt hành khách vận chuyển và luân chuyển vùng kinh
tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 107 Bảng 3.31 Chỉ số Cơ cấu kinh tế hợp lý thích thích ứng với biến đổi khí hậu vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 108 Bảng 3.32 Chỉ số Sức hút kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 110 Bảng 3.33 Chỉ số lan tỏa thành quả phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 111 Bảng 3.34 Chỉ số liên kết giao thương kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 112 Bảng 3.35 Tọa độ địa lý các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 112 Bảng 3.36 Chỉ số Moran (I) vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long tính theo GRDP/người giai đoạn 2013-2019 112
Trang 14Bảng 3.37 Chỉ số tổng hợp Phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 114 Bảng 4.1 Tóm lược Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 134
Trang 15DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Mô hình phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm 22 Hình 1.2 Hướng dẫn thực hiện đánh giá phát triển bền vững của Liên hợp quốc 32 Hình 2.1 Bản đồ vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 42 Hình 2.2 Bản đồ nguy cơ ngập ứng với mực nước biển dâng 100 cm các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long 49 Hình 2.3 Sơ đồ khung tiếp cận nghiên cứu của Luận án 51 Hình 2.4 Giao diện phần mềm ROOKCASE được luận án sử dụng 64 Hình 3.1 Sơ đồ đánh giá mức độ phát triển kinh tế bền vững vùng vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long 96 Hình 3.2 Chỉ số Tốc độ tăng trưởng GRDP và GRDP bình quân đầu người vùng kinh
tế trọng điểm vùng đồng bằng ông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 98 Hình 3.3 Chỉ số Lao động qua Đào tạo và Năng suất lao động vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 99 Hình 3.4 Chỉ số Giảm tiêu hao năng lượng, Phát thải khí nhà kính và Tổn thất về kinh tế do thiên tai vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 102 Hình 3.5 Chỉ số Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp và thuỷ sản và Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong GRDP vùng Kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 103 Hình 3.6 Các chỉ số phản ánh mức độ PTBV nội tại thích ứng với BĐKH vùng kinh
tế trọng điểm vùng đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 109 Hình 3.7 Diễn biến các chủ đề phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013-2019 114 Hình 3.8 Diễn biến các chỉ số phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long qua các năm 115
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ra đời từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, với ý tưởng trọng tâm của phát triển bền vững (PTBV) là “con người” và “sự công bằng”, công bằng trong thế hệ và giữa các thế hệ, thuật ngữ PTBV đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm của các tổ chức, giới khoa học trên thế giới và dần trở nên phổ biến Khái niệm PTBV hiện nay được hiểu rộng rãi là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai
Trong đó 03 nội dung cơ bản của PTBV là: phát triển kinh tế (PTKT) bền vững, xã hội bền vững và môi trường bền vững
Tại Việt Nam đường lối phát triển đất nước theo quan điểm PTBV đã được Đảng ta khẳng định từ rất sớm Ngay từ năm 1991, tại Đại hội VII, Đảng đã khẳng định “tăng trưởng kinh tế (TTKT) phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường (BVMT)” Quan điểm này được Đảng ta tiếp tục khẳng định trong những kỳ Đại hội tiếp theo và gần đây nhất là Đại hội XIII (2021)
Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ (TTgCP) cũng đã ban hành định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam hay còn gọi là Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam
Đáp ứng nhu cầu thực tiễn của phát triển, ngay từ năm 1997, Việt Nam đã lựa chọn một số tỉnh, thành phố (TP) có điều kiện thuận lợi trong phát triển, có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh, trở thành đầu tàu tăng trưởng để thành lập nên các vùng kinh
tế trọng điểm (KTTĐ) nhằm đẩy mạnh quá trình phát triển các vùng đó và tiến tới chi phối, dẫn dắt TTKT của cả nước Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
số 128/NQ-CP ngày 11/9/2020 về các nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh phát triển vùng KTTĐ nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh, đổi mới, sáng tạo để tạo động lực phát triển chung của các vùng KTTĐ và sự phát triển chung của đất nước Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) khẳng định phương hướng, nhiệm vụ và giải
pháp phát triển KTXH 5 năm 2021 – 2025 của Việt Nam là “Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực đầu tư, ưu tiên thu hút các nguồn lực của xã hội phát triển các vùng KTTĐ, các cực tăng trưởng, các đô thị lớn, các ngành mũi nhọn và công trình trọng điểm
Trang 17quốc gia, các dự án lớn mang tính liên kết vùng” [9], điều này cho thấy vai trò và tầm
quan trọng của các vùng KTTĐ trong phát triển kinh tế xã hội (KTXH) của nước ta
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là đồng bằng quan trọng ở vị trí cực nam của Việt Nam, chiếm khoảng 12% diện tích, 19% dân số, đóng góp khoảng 18%
GDP của Việt Nam [5, 32, 35] Là vùng “hạt nhân”, “cực tăng trưởng” của cả vùng ĐBSCL, vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long (KTTĐ ĐBSCL) được xác định có vai trò là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, có đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch
vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp (NN) cho cả vùng ĐBSCL, là trung tâm năng lượng, trung tâm dịch vụ du lịch lớn của cả nước và là cầu nối trong hội nhập kinh tế khu vực và giữ vị quan trọng về quốc phòng an ninh của đất nước [29, 30]
Tuy nhiên thực tế thời gian qua cho thấy PTKT của vùng KTTĐ ĐBSCL vẫn còn nhiều vấn đề bất cập Là vùng KTTĐ nhưng các chỉ tiêu kinh tế quan trọng của vùng trong giai đoạn vừa qua đều thấp hơn trung bình của cả nước Giai đoạn 2013-
2019, tăng trưởng GRDP bình quân hàng năm của vùng đều thấp hơn mức tăng trưởng trung bình của cả nước (6,1% so với 6,46%) và thấp hơn nhiều so với các vùng KTTĐ khác đặc biệt là vùng KTTĐ Bắc Bộ và vùng KTTĐ phía Nam GRDP bình quân đầu người của toàn vùng KTTĐ ĐBSCL năm 2019 chỉ đạt mức 54,60 triệu đồng/người thấp hơn 13% so với trung bình của cả nước [32] Ngoài ra NSLĐ, một trong những chỉ tiêu phản ánh trình độ PTKT của vùng cũng có xu hướng sụt giảm Nếu như năm
2013, NSLĐ của vùng cao hơn mức trung bình của cả nước thì đến năm 2019, NSLĐ của vùng lại thấp hơn 8% so với cả nước Có thể thấy PTKT của vùng đang có dấu hiệu sụt giảm và giảm dần vai trò trọng điểm so với các vùng khác trong cả nước, chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế và vai trò sứ mệnh là vùng KTTĐ, vùng động lực, đầu tàu PTKT của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung
Theo kịch bản BĐKH do Bộ Tài nguyên và Môi trường (BTNMT) công bố, vùng KTTĐ ĐBSCL được dự báo sẽ bị ảnh hưởng nặng nề do BĐKH [3, 4, 6] Theo
Trang 18kịch bản BĐKH cập nhật 2021, nếu mực NBD 100 cm các địa phương trong vùng đều có nguy cơ bị ngập lụt nghiêm trọng, trong đó Cà Mau có nguy cơ ngập tới 79,62% diện tích, Kiên Giang ngập 75,68% diện tích, Cần Thơ 55,82% và An Giang
là 1,82% Ngoài ra, vùng KTTĐ ĐBSCL còn phải đối mặt với các vấn đề về thay đổi nhiệt độ, lượng mưa do BĐKH Đây cũng là những yếu tố gây ảnh hưởng đến PTKT của vùng do tỷ trọng các ngành NN, thuỷ sản, những ngành dễ bị tổn thương do BĐKH chiếm tỷ lệ cao trong CCKT của vùng
Là hạt nhân PTKT của vùng ĐBSCL và cả nước, PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân vùng mà còn có ý nghĩa đối với cả vùng ĐBSCL và các vùng khác trên cả nước, đồng thời tạo ra sự lan tỏa về xã hội, BVMT và ứng phó với BĐKH PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL sẽ là tiền
đề, cơ sở để đưa cả vùng tiếp đó là vùng ĐBSCL và cả nước PTBV
PTKT và PTBV là các khái niệm lâu đời đã được nhiều các tổ chức, nhà khoa học đưa ra bàn thảo và nghiên cứu trong nhiều thập kỷ và đạt được sự đồng thuận cao trên thế giới Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề và khoảng trống được các học giả, các nhà kinh tế, các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách quan tâm, nghiên cứu, bàn luận, như: Làm rõ thế nào là PTKT bền vững; Đối với vùng KTTĐ - vùng có vai trò cực tăng trưởng, hạt nhân PTKT - như thế nào mới là PTKT bền vững; Trong bối cảnh BĐKH như hiện nay, giải pháp nào để PTKT bền vững vùng KTTĐ
Chính vì những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn vấn đề “Phát triển kinh
tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh biến đổi khí hậu” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ của mình Kết quả nghiên
cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về PTKT bền vững đối với vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH đồng thời cung cấp những tư liệu, định hướng và giải pháp chính sách tham khảo cho vùng KTTĐ ĐBSCL đạt được sự PTKT bền vững, phát huy được vai trò cực tăng trưởng và tác động lan tỏa, đặc biệt là trong bối cảnh BĐKH đang gia tăng
2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 19Luận án nhằm làm rõ cơ sở lý luận, nội hàm về PTKT bền vững vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH Đánh giá thực trạng và đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm giúp PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL, phát huy tiềm năng và vai trò lan tỏa của vùng trong bối cảnh BĐKH
2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Luận án nhằm mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu, đề xuất hệ thống các tiêu chí/ chỉ tiêu đánh giá PTKT bền vững vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH
2 Luận án nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng mức độ PTKT bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn vừa qua, làm rõ các kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân của các hạn chế đó
3 Luận án nhằm mục tiêu đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm PTKT bền vững đối với vùng KTTĐ ĐBSCL đến năm 2030 trong bối cảnh BĐKH
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vấn đề PTKT bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi khoa học: Phạm vi nội dung nghiên cứu học thuật của Luận án gồm
các vấn đề sau: (1) PTKT và PTKT bền vững của vùng KTTĐ ĐBSCL và các địa phương trong vùng; (2) Tác động của BĐKH đến PTKT bền vững của vùng và các địa phương trong vùng KTTĐ ĐBSCL; (3) Tính bền vững trong PTKT của vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH
- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu trên phạm vi không gian vùng
KTTĐ ĐBSCL, bao gồm 04 tỉnh/ TP: Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau
- Phạm vi thời gian: Do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID 19 trong 2
năm 2020 - 2021, các số liệu kinh tế - xã hội của vùng đã không diễn biến theo xu
hướng dài hạn, đồng thời không được thu thập và công bố đầy đủ Vì vậy, Luận án
giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng PTKT vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn
Trang 202013-2019 và đề xuất định hướng và các giải pháp cho PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL tới năm 2030
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào trả lời các câu hỏi sau:
1) Thế nào là PTKT bền vững của vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH? Những tiêu chí/ chỉ tiêu nào đánh giá mức độ PTKT bền vững của vùng KTTĐ?
2) Thực trạng PTKT vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn vừa qua đã thực sự bền vững hay chưa? PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH cần đáp ứng những yêu cầu gì?
3) Định hướng và những giải pháp chủ yếu nào để PTKT vùng KTTĐ vùng ĐBSCL bền vững trong bối cảnh BĐKH?
5 Luận điểm nghiên cứu của luận án
Các luận điểm bảo vệ của Luận án gồm:
Luận điểm 1: PTKT bền vững vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH là sự PTKT
vừa bảo đảm các yêu cầu TTKT bền vững, chuyển dịch CCKT hợp lý, phát huy được tác động lan tỏa và liên kết kinh tế (LKKT) của vùng KTTĐ với các lãnh thổ liên quan đồng thời đáp ứng các yêu cầu giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH
Luận điểm 2: PTKT bền vững vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH có thể đánh
giá thông qua bộ tiêu chí theo Khung cấu trúc theo chủ đề với các tiêu chí đánh giá
PTKT bền vững phổ biến, đồng thời cần bổ sung thêm các chỉ tiêu cần thiết
Luận điểm 3: Kinh tế vùng KTTĐ ĐBSCL giai đoạn 2013-2019 phát triển cơ
bản đúng hướng, đặc biệt từ năm 2017 trở lại đây, tuy nhiên chưa thực sự bền vững
Luận điểm 4: PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH
cần áp dụng các giải pháp thúc đẩy PTKT bền vững nội tại của vùng trong bối cảnh BĐKH, tăng cường mức độ lan toả và gia tăng mức độ liên kết vùng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về mặt lý luận:
Luận án đã hệ thống hóa, góp phần bổ sung, hoàn thiện làm rõ cơ sở lý luận
và nội hàm về PTKT bền vững đối với vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH đồng thời
Trang 21xây dựng được bộ tiêu chí với khung cấu trúc theo các chủ đề và các chỉ tiêu cụ thể
để đánh giá PTKT theo hướng bền vững đối với vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH
- Về mặt thực tiễn:
+ Áp dụng khung nghiên cứu và bộ tiêu chí/ chỉ tiêu được xây dựng, luận án
đã đánh giá được thực trạng và mức độ bền vững trong PTKT của vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH giai đoạn vừa qua, từ đó làm rõ thêm những hạn chế
và nguyên nhân của thực trạng chưa bền vững về PTKT của vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH
+ Luận án đã đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu theo các nhóm giải pháp: PTBV nội tại thích ứng với BĐKH, nhóm giải pháp tăng cường tác động lan toả và nhóm giải pháp gia tăng mức độ LKKT vùng nhằm PTKT bền vững đối với vùng KTTĐ ĐBSCL đến năm 2030 trong bối cảnh BĐKH
7 Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện làm rõ cơ sở lý luận về nội hàm của PTKT bền vững và PTKT bền vững vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH;
- Luận án đã phân tích, lựa chọn và xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá PTKT bền vững vùng KTTĐ với khung cấu trúc theo các chủ đề và các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá PTKT theo hướng bền vững đối với vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH;
- Luận án đã chỉ ra được thực trạng và đánh giá mức độ bền vững trong PTKT của vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh bị tác động bởi BĐKH thông qua bộ chỉ tiêu/
tiêu chí được xây dựng, từ đó đề xuất được một số định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL đến năm 2030 trong bối cảnh BĐKH
8 Bố cục của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án có kết cấu gồm 4 chương Cụ thể:
Chương 1 Tổng quan về PTKT bền vững của vùng KTTĐ trong bối cảnh BĐKH
Chương 2 Địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Đánh giá PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL Chương 4 Định hướng và giải pháp PTKT bền vững vùng KTTĐ ĐBSCL trong bối cảnh BĐKH
Trang 22CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ BỀN VỮNG CỦA VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Phát triển kinh tế và phát triển kinh tế bền vững
1.1.1 Phát triển kinh tế
PTKT là một thuật ngữ lâu đời và đang được sử dụng phổ biến hiện nay Theo nghiên cứu của Mansell và When (1998), PTKT là khái niệm đã được biết đến kể từ Chiến tranh Thế giới II liên quan đến TTKT, tăng mức thu nhập bình quân đầu người
và đạt được một tiêu chuẩn tương đương với mức sống với các nước công nghiệp (CN) phát triển [62] Arthur O’ Sullivan và Steven M Sheffrin (2007) cho rằng phạm
vi của PTKT bao gồm các quy trình và chính sách mà theo đó một quốc gia cải thiện kinh tế, chính trị, xã hội và phúc lợi của người dân [45]
Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Sơn và Bùi Đức Tuân (2012) trong “Giáo trình kinh tế phát triển” cho rằng “PTKT là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về kinh
tế của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng” PTKT bao gồm
sự lớn lên của nền kinh tế (TTKT) và quá trình thay đổi cấu trúc của nền kinh tế (chuyển dịch CCKT) [27]
Tác giả Bùi Tất Thắng (2017), nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho rằng, sự PTKT không chỉ là sự gia tăng quy mô
kinh tế (TTKT), mà còn bao hàm sự thay đổi CCKT theo hướng tiến bộ Bên cạnh đó,
PTKT cũng cần đảm bảo rằng mọi người đều được bình đẳng về cơ hội để tham gia vào quá trình phát triển, do đó đều được hưởng thụ thành quả của sự phát triển [43]
Tác giả Ngô Doãn Vịnh (2013) trong tác phẩm “Giải thích thuật ngữ trong nghiên cứu phát triển - bối cảnh và điều kiện của Việt Nam” thì cho rằng PTKT là
gia tăng các hoạt động kinh tế, cả về quy mô và chất lượng của một quốc gia (hoặc của vùng, tỉnh huyện, doanh nghiệp, gia đình) vì nhu cầu của người dân Tác giả cũng cho rằng khái niệm PTKT đã bao hàm nội dung về phát triển xã hội và BVMT [40]
Nhìn chung, nghiên cứu về PTKT dù hiện có nhiều khái niệm và các cách định nghĩa, lý giải khác nhau nhưng hầu hết các học giả trong và ngoài nước đều thống nhất cao rằng PTKT không có nghĩa chỉ là sự gia tăng thu nhập, lớn lên của nền kinh
Trang 23tế mà còn là sự thay đổi bên trong của nội bộ nền kinh tế PTKT không chỉ là vấn đề TTKT, chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại, hiệu quả mà còn phải còn đi kèm với vấn đề bình đẳng trong tham gia và hưởng thụ thành quả của PTKT Theo đó về
cơ bản các nội dung của PTKT gồm:
(1) Tăng trưởng về kinh tế: Đây được coi là là điều kiện cơ bản và cần thiết
nhất để một nền kinh tế phát triển TTKT thể hiện ở sự gia tăng về quy mô, số lượng của nền kinh tế, gồm hai hình thức: (i) Tăng trưởng theo chiều rộng, thông qua việc gia tăng thêm các yếu tố đầu vào của nền kinh tế như: vốn, lao động và TNTN và (ii) Tăng trưởng theo chiều sâu, thông việc qua tăng NSLĐ, tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, nâng cao hiệu quả KHCN, môi trường kinh doanh và thể chế Thực
tế cho thấy hiện nay TTKT theo chiều sâu phổ biến ở các nước phát triển, còn đối với các nước đang và kém phát triển TTKT theo chiều rộng hiện nay vẫn đang là chủ yếu
(2) Chuyển dịch CCKT theo hướng hiện đại, hiệu quả: Chuyển dịch CCKT là
sự thay đổi tỷ trọng của các ngành, các thành phần kinh tế theo hướng gia tăng những khu vực có NSLĐ cao, giá trị gia tăng lớn và giảm dần tỷ trọng những khu vực có NSLĐ và giá trị gia tăng thấp được coi là chuyển dịch theo hướng hiện đại, hiệu quả
Nếu xét theo các ngành, lĩnh vực thì chuyển dịch CCKT được coi là hiện đại, hiệu quả khi gia tăng tỷ trọng của các ngành DV, CN, giảm dần tỷ trọng các ngành NN
(3) Bình đẳng trong hưởng thụ thành quả của PTKT: Nền kinh tế phát triển
cần đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội bình đẳng để tham gia vào quá trình PTKT
và bình đẳng trong việc hưởng thụ những thành quả do PTKT mang lại Nội hàm của nội dung này có nghĩa là PTKT đồng nghĩa với việc phải đảm bảo cuộc sống của phần lớn dân cư trong xã hội trở nên tiến bộ và gia tăng chất lượng cuộc sống
1.1.2 Phát triển bền vững và phát triển kinh tế bền vững
Ra đời từ thập niên 80 của thế kỷ XX và dần trở thành xu thế chung trong phát triển của các quốc gia trên thế giới, vấn đề PTBV đã được nhiều các tổ chức, nhà khoa học đưa ra bàn thảo và nghiên cứu
Đầu tiên có thể kể đến là báo cáo “Tương lai chung của chúng ta - Our Common Future” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của LHQ (World
Trang 24Commission on Environment and Development - WCED) đưa ra năm 1987 Báo cáo
đã phân tích các nguy cơ và thách thức đe dọa sự PTBV của các quốc gia trên thế
giới Trong đó đưa ra khái niệm về PTBV là: “sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Khái niệm này bao hàm trong nó hai khái niệm: (1) khái niệm “nhu cầu”,
đặc biệt là những nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới và (2) khái niệm về
“sự giới hạn” do tình trạng của khoa học kỹ thuật và tổ chức xã hội Hạn chế này áp
đặt lên khả năng đáp ứng của môi trường tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại và tương lai [48] Đây có thể coi là khái niệm đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu bản chất về PTBV và các nguyên tắc, các tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá PTBV, ngày nay khái niệm này vẫn đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới [48]
Tiếp theo tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janiero (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về PTBV
tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 có 196 nước và tổ chức quốc
tế tham dự (có Việt Nam), đã bàn thảo, bổ sung, hoàn thiện Chương trình Nghị sự 21
và từ đó đưa ra khái niệm đầy đủ, toàn diện về PTBV, theo đó "PTBV là quá trình phát triển có sư kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa PTKT với phát triển xã hội và BVMT nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người trong hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Khái niệm trên đã
khẳng định PTBV chỉ đảm bảo khi có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa ba nội dung của PTBV là: (1) PTKT bền vững, (2) xã hội bền vững và (3) môi trường bền vững
PTKT bền vững (hay tính bền vững của PTKT), Holger Rogal (2011) trong tác
phẩm “Kinh tế học bền vững - lý thuyết kinh tế và thực tế của PTBV” đã tổng hợp,
rà soát các quan điểm về PTBV trong các nghiên cứu kinh tế truyền thống với trường phái định hướng kinh tế làm trọng tâm, cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chính sách PTBV ở các quốc gia như: chính sách kinh tế bền vững, chính sách năng lượng bền vững, chính sách giao thông bền vững Ngoài ra trong tác phẩm này, Holger
Rogal cũng đã đưa ra quan điểm về PTKT bền vững, ông cho rằng “xét về phương diện các vấn đề toàn cầu vào đầu thế kỷ XXI (như BĐKH, đói nghèo, sử dụng quá
Trang 25mức TNTN, công bằng trong phân phối) thì kinh tế truyền thống cần phải được chuyển sang kinh tế mới với tầm nhìn dài mà trong đó phải học cách tôn trọng những khả năng chịu đựng của thiên nhiên và các nguyên tắc công bằng Loại kinh tế như vậy được gọi là Kinh tế bền vững” [26]
Jeffrey D Sachs (2014) trong tác phẩm“Kinh tế học về sự PTBV”, đã tổng
quan, hệ thống hóa và đánh giá lại các vấn đề của kinh tế học hiện đại và cho rằng cần phải có một cách nhìn mới, cách tiếp cận mới của kỷ nguyên mới về PTBV Jeffrey
D Sachs nhận định “các Chính phủ phải cùng đàm phán các thỏa thuận toàn cầu mới
về vấn đề tài trợ cho PTBV, về các mục tiêu PTBV và BĐKH Có như vậy mới có thể thành công trong kỷ nguyên mới của sự PTBV, theo nó sẽ sản sinh ra một kinh tế học mới về PTBV” [72]
Tại Việt Nam, một số học giả cũng đã nghiên cứu và đưa ra các quan niệm riêng hay phân tích về bản chất của PTKT bền vững (hay còn gọi là tính bền vững
của PTKT) Nguyễn Thị Nga (2007) trong tác phẩm “Quan hệ giữa TTKT và công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới” cho rằng “Chất lượng PTKT là sự PTKT nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động (NSLĐ) xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao, CCKT được chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT, quản lý kinh tế nhà nước có hiệu quả”[21]
Tác giả Nguyễn Hữu Sở (2009) trong đề tài “PTKT bền vững ở Việt Nam” cho
rằng khái niệm PTKT bền vững chính là điều kiện để đảm bảo PTBV về kinh tế, có tốc độ TTKT cao, hợp lý nhờ có một CCKT phù hợp và chuyển dịch CCKT theo hướng tiến bộ, đủ năng lực để ảnh hưởng đến các vấn đề môi trường và các vấn đề
xã hội, thực hiện mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trong đó để đảm bảo PTKT bền vững cần phải chú ý đến 04 vấn đề: (1) TTKT phải đảm bảo hợp lý, có chất lượng cao và được duy trì trong khoảng thời gian dài; (2) TTKT phải gắn với việc hình thành CCKT
và chuyển dịch CCKT theo xu hướng phát triển hợp lý; (3) PTKT phải gắn với việc duy trì sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế đất nước và (4) có ảnh hưởng lan toả của
Trang 26TTKT đến các vấn đề xã hội, đến xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội [22]
Tác giả Ngô Doãn Vịnh (2013) trong tác phẩm “Những vấn đề chủ yếu về kinh
tế phát triển” cho rằng sự PTKT nếu chỉ dựa vào động viên ngày càng nhiều yếu tố sản suất (đầu vào) thì không phải là PTKT bền vững Nền kinh tế được xem là phát
triển có hiệu suất khi độ gia tăng của nó nhiều hơn là tổng phần tăng đầu vào, tức là các phần tăng của các yếu tố sản xuất Phần nhiều hơn đó có được do áp dụng ngày càng nhiều tiến bộ KHCN, tri thức quản lý, tư bản và tài nguyên dùng có hiệu suất hơn, trình độ lao động ngày càng cao hơn nhờ đẩy mạnh giáo dục đào tạo [39]
Tác giả Hoàng Thị Thu Hà (2015) trong đề tài “Đầu tư PTBV về kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” cho rằng “PTKT bền vững là một trong các nội dung của PTBV, trong đó đảm bảo sự lâu bền của tốc độ tăng trưởng, chuyển dịch CCKT theo hướng ngày càng hợp lý, nâng cao hiệu quả tăng trưởng” [10] PTKT bền vững là
một trong ba nội dung của PTBV và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu PTBV của các quốc gia và các địa phương PTKT bền vững là điều kiện cần để đảm bảo cho sự PTBV về xã hội và môi trường
Tác giả Ngô Văn Khương (2016) trong đề tài “Chính sách thuế với mục tiêu PTKT bền vững ở Việt Nam” cho rằng PTKT bền vững cũng đồng nghĩa với phát
triển nền kinh tế bền vững Trong đó nội hàm của PTKT bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn những nhu cầu về kinh tế của thế hệ hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến khả năng đáp ứng những nhu cầu về kinh tế của thế hệ tương lai, có nghĩa là phải tránh cho nền kinh tế bị suy thoái, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán trong tương lai Đồng thời tác giả cũng cho rằng không thể PTKT bền vững khi cấu trúc của nền kinh tế què quặt không phù hợp với tiềm năng, nội lực của các thành phần kinh tế, khu vực kinh tế [15]
Tác giả Bùi Tất Thắng (2017) thì cho rằng PTKT bền vững là PTKT liên tục trong một thời gian dài, là nhân tố quyết định việc chuyển đổi trạng thái nền kinh tế
từ thấp lên cao Tính bền vững của PTKT biểu hiện ở tính bền vững của bản thân các thành tố cấu thành nên sự PTKT, gồm: bền vững của TTKT; bền vững của chuyển dịch CCKT; bền vững của mức độ bình đẳng trong việc thụ hưởng thành quả PTKT
Trang 27Tính bền vững của PTKT còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào những điều kiện bên ngoài, những nhân tố thường xuyên ảnh hưởng chi phối lẫn nhau giữa PTKT với BVMT sinh thái, phát triển xã hội và xây dựng thể chế [43]
Tác giả Phạm Văn Linh (2020), Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
trong bài viết “Mối quan hệ giữa PTKT với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay” và tác giả Lê Văn Lợi (2022), Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong bài viết “TTKT gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, BVMT nhằm phát triển nhanh và bền vững đất nước” cũng cho rằng
PTKT, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội góp phần to lớn vào việc quản lý, phát triển xã hội Nhờ TTKT nhanh, bền vững, Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều nguồn lực, điều kiện tốt hơn trong quản lý, giúp giữ ổn định xã hội Một quốc gia đạt được tốc độ TTKT cao, trong một thời gian dài sẽ giúp cho quốc gia đó gia tăng nhanh quy mô của nền kinh tế từ đó tạo điều kiện để gia tăng năng lực nội sinh, gia tăng dự trữ quốc gia, hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng… Nhờ đó mà rút ngắn khoảng cách so với các nước phát triển, cũng như tạo điều kiện vật chất cho phát triển xã hội, thực hiện an sinh xã hội, BVMT sinh thái Tuy nhiên nếu PTKT nhanh không gắn với PTBV, sẽ mang lại những hệ lụy khôn lường như: TNTN bị suy giảm, thậm chí
là cạn kiệt, chất lượng tài nguyên ngày càng kém đi, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, hủy diệt từ đó sẽ tác động tiêu cực đến TTKT dài hạn, đến thu nhập của dân cư, mức sống, chất lượng cuộc sống sẽ giảm sút, đất nước không có tiềm lực kinh tế để giải quyết các vấn đề xã hội như y tế, giáo dục và đào tạo, phát triển KHCN, giảm nghèo,
an sinh xã hội…Do đó phải gắn phát triển nhanh với PTBV nền kinh tế [18] [42]
Tác giả Đỗ Thị Kim Tiên (2020) ở Học viện Chính trị hành chính Quốc gia
trong bài viết “PTBV về kinh tế ở Việt Nam – vấn đề và giải pháp” thì cho rằng “PTKT bền vững được hiểu là sự tăng tiến nhanh, an toàn và có chất lượng về mọi mặt của nền kinh tế (như quy mô sản lượng, sự tiến bộ về CCKT,…)” Quá trình này đòi hỏi
các chủ thể trong hệ thống kinh tế có cơ hội tiếp cận các nguồn lực và chia sẻ nguồn TNTN một cách bình đẳng Các chính sách không chỉ tập trung mang lại lợi ích cho một số ít mà phải tạo ra sự thịnh vượng cho tất cả mọi người đồng thời phải đảm bảo
Trang 28trong giới hạn cho phép của HST [31]
Tác giả Nguyễn Thị Xuân (2020) trong đề tài “PTKT bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đến năm 2030” đã đưa ra quan niệm về PTKT bền vững xét trên góc độ của địa phương Theo tác giả PTKT bền vững của một tỉnh là duy trì trạng thái PTKT liên tục của của một tỉnh trong một thời gian dài” Các nội hàm PTKT bền
vững trên địa bàn tỉnh gồm: (1) TTKT được duy trì; (2) chất lượng tăng trưởng cao
và được cải thiện; (3) các chủ thể bình đẳng trong tham gia và hưởng thụ các thành quả của PTKT; (4) các yếu tố đảm bảo PTKT được tái tạo và gia tăng
Đồng tình với quan điểm của các học giả trong và ngoài nước khi nghiên cứu
về PTKT bền vững như đã trình bày ở trên, kết hợp với nhận thức của cá nhân, NCS cho rằng PTKT bền vững có nội hàm là bền vững của bản thân các yếu tố cấu thành nên sự PTKT, gồm: sự bền vững của TTKT; sự bền vững của chuyển dịch CCKT; sự bền vững của mức độ bình đẳng trong việc thụ hưởng thành quả PTKT PTKT bền vững thực chất là sự PTKT vừa bảo đảm các yêu cầu TTKT liên tục trong thời gian dài, chuyển dịch CCKT hợp lý và bình đẳng, công bằng trong việc hưởng lợi từ thành quả PTKT Trong đó “tính bền vững” của quá trình PTKT thể hiện ở các yếu tố:
Thứ nhất, duy trì phát triển trong “thời gian dài” (hay tính liên tục) Thực tế
cho thấy có những quốc gia hay địa phương có nền kinh tế có tốc độ TTKT khá cao, sản xuất CN, DV gia tăng ở mức cao, đời sống nhân dân được cải thiện khá rõ rệt nhưng chỉ duy trì trạng thái đó một thời gian ngắn và sau đó tốc độ TTKT chậm dần thì không thể gọi là PTKT bền vững
Thứ hai, phát triển phải dựa trên yếu tố “năng lực nội sinh” của nền kinh tế
như nguồn nhân lực chất lượng cao, KHCN và đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu quả
sử dụng tài nguyên… và ít bị phụ thuộc bởi những điều kiện bên ngoài Nếu PTKT đạt được chủ yếu dựa vào nguồn lực bên ngoài thì đó chưa phải PTKT bền vững, mà chỉ là PTKT phụ thuộc
Thứ ba, tính bền vững trong PTKT còn thể hiện ở việc ít bị tác động ảnh hưởng
bởi các yếu tố khách quan bên ngoài Trong bối cảnh BĐKH ảnh hưởng sâu, rộng đến tăng trưởng và PTKT của các quốc gia như hiện nay, PTKT chỉ bền vững khi có
Trang 29khả năng thích ứng chủ động, hiệu quả với BĐKH
1.2 Phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm trong bối cảnh biến đổi khí hậu
1.2.1 Lý thuyết phát triển kinh tế vùng
1.2.1.1 Khái niệm về vùng kinh tế
Thuật ngữ vùng (region) được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều ngành khoa
học Ngành địa lý học coi “vùng” là một đơn nguyên địa lý của bề mặt trái đất; ngành kinh tế học hiểu “vùng” là một đơn nguyên kinh tế tương đối hoàn chỉnh trên phương diện kinh tế; ngành chính trị học thì thường cho “vùng” là đơn nguyên hành chính thực hiện quản lý hành chính; ngành xã hội học coi “vùng” là khu tụ cư có đặc trưng
xã hội tương đồng của một loại người nào đó (ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc, văn hoá),…
[16] Trong khuôn khổ luận án này, NCS sẽ tập trung nghiên cứu vùng dưới góc độ kinh tế học Vùng dưới góc độ kinh tế học được một số học giả đề cập như sau:
Christaller (1933) và Losch (1954) cho rằng vùng là hệ thống thứ nguyên của các khu vực hoặc các TP trung tâm [51] Mỗi vùng được hình thành bởi một số ít các
TP ở bậc cao hơn và một số lượng lớn hơn các TP ở bậc thấp hơn Trong đó các TP xuất hàng hoá là TP bậc cao, TP nhập hàng hoá là TP bậc thấp, các TP cùng bậc sẽ không tương tác với nhau Đến nay khái niệm này hầu như không được sử dụng do chỉ có ý nghĩa khi xác định cấu trúc không gian theo thị trường
Markusen (1987) định nghĩa vùng là: “một xã hội phát triển theo lịch sử, có lãnh thổ tiếp giáp, sở hữu một môi trường tự nhiên, một môi trường KT-XH, chính trị
và văn hóa và có cấu trúc không gian khác biệt với các khu vực khác và các đơn vị lãnh thổ lớn khác là TP và quốc gia” [64] Mặc dù hiện nay vấn đề giao thông vận
tải được cải thiện, những vấn đề hạn chế do địa lý phần nhiều đã được gỡ bỏ nhưng lịch sử hình thành vùng vẫn có những ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của vùng hiện tại Khái niệm này của Markusen cũng đã chỉ ra được tính đồng nhất tương đối của vùng về các khía cạnh không gian, tự nhiên, văn hoá, chính trị, xã hội Tuy nhiên, khái niệm này chưa thể hiện được chức năng của vùng, mối quan hệ của các bộ phận trong vùng cũng như mối quan hệ của vùng với bên ngoài
Trang 30Dawkins (2003) định nghĩa vùng là “một khu vực dân cư có sự tiếp giáp liền
kề về mặt không gian được giới hạn bởi tất yếu lịch sử hoặc bởi sự lựa chọn một vị trí địa lý cụ thể Sự phụ thuộc vào vị trí có thể phát sinh từ sự chia sẻ điểm thu hút về văn hoá địa phương, các trung tâm làm việc địa phương, TNTN địa phương hoặc các tiện nghi cụ thể khác của vị trí” [51]
Tại Việt Nam, tác giả Lê Thu Hoa (2007) trong cuốn sách “Kinh tế vùng ở Việt Nam, từ lý luận đến thực tiễn” cho rằng vùng nói chung có 06 dấu hiệu đặc trưng: (i)
là một thực thể khách quan, chứ không phải do con người “thiết kế”, “sáng tạo” ra để phục vụ mục đích riêng của mình (ii) là một không gian địa lý – một lãnh thổ xác định thuộc quyền sở hữu của quốc gia Các lãnh thổ này có vị trí, hình dáng, kích thước và chiều dài chiều rộng xác định Vùng có nhiều cấp theo quy mô (quy mô về diện tích, dân số, quy mô của các hoạt động KT-XH…) Quy mô và số lượng vùng có
sự thay đổi theo các giai đoạn phát triển khác nhau (iii) trong vùng tồn tại những yếu
tố tự nhiên, xã hội, kinh tế và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các hoạt động kinh
tế đó Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đó là các yếu tố cấu thành nên vùng (iv) Các yếu tố cấu thành nên vùng có sự tương đối đồng nhất bên trong nhưng lại tương
đối khác biệt bên ngoài (tính đồng nhất và khác biệt chính là căn cứ để phân chia vùng); (v) Trong vùng, ở các mức độ khác nhau, liên tục diễn ra các quá trình tự nhiên,
nhân khẩu học, KT-XH Các quá trình này có bản chất khác nhau, cùng tồn tại và hoạt động theo các quy luật riêng của mình nhưng đều là những khâu tất yếu của chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin vận hành liên tục trong không gian và thời gian; (vi) trên góc độ quản lý nhà nước, vùng được quan niệm là cấp trung gian giữa quốc gia và địa phương Vùng có thể bao gồm một số địa phương/ tỉnh và một quốc gia có một số vùng tùy theo cách phân chia trong từng giai đoạn cụ thể [11]
Theo các tác giả Lê Thu Hoa (2007), Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi (2010), thông thường vùng kinh tế được phân theo 03 loại chính: (1) Vùng kinh tế ngành, (2) Vùng kinh tế tổng hợp và (3) Vùng kinh tế theo trình độ phát triển Trong
đó phân vùng theo trình độ phát triển, là kiểu phân vùng đang phổ biến ở nhiều quốc gia nhằm phục vụ cho việc quản lý quá trình phát triển theo lãnh thổ Theo trình độ
Trang 31phát triển vùng kinh tế thông thường có thể chia thành 03 loại:
(i) Vùng phát triển: Thường là những lãnh thổ hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi
cho sự phát triển, đã trải qua một thời kỳ lịch sử phát triển, tập trung dân cư và các năng lực sản xuất, chúng có vai trò quyết định đối với nền KT-XH của đất nước
(ii) Vùng chậm phát triển: Thường là những lãnh thổ xa các đô thị, thiếu nhiều
điều kiện phát triển (nhất là về mạng lưới giao thông, mạng lưới cung cấp điện); kinh
tế chưa phát triển; dân trí thấp, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn và cần hỗ trợ
(iii) Vùng trì trệ, suy thoái: là hậu quả của quá trình khai thác tài nguyên lâu
dài mà không có biện pháp BVMT khiến cho TNTN bị cạn kiệt, những ngành kinh
tế và vùng lãnh thổ gắn với tài nguyên đó lâm vào tình trạng trì trệ, suy thoái [11, 20]
1.2.1.2 Lý thuyết phát triển kinh tế vùng
a Lý thuyết lợi thế cạnh tranh
Xuất phát từ quan điểm của Adam Smith (1776) trong cuốn “Của cải các dân tộc”, lợi thế cạnh tranh của vùng trong một quốc gia xuất phát từ các điều kiện lợi
thế về khả năng tiếp cận thị trường quốc tế và những vùng có lợi thế này sẽ trở thành những vùng động lực tăng trưởng mạnh mẽ, không chỉ có khả năng tạo sức bật cho chính nó mà còn lan tỏa sự phát triển sang các địa phương khác trong quốc gia Ông cho rằng trong giai đoạn đầu của PTKT để tạo ra sự khởi sắc nhanh chóng, các nước cần khai thác triệt để lợi thế cạnh tranh của các vùng này để phát triển [23] David
Ricardo (1817), trong tác phẩm “Những nguyên lý kinh tế chính trị và thuế khoá”,
một mặt kế thừa lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, mặt khác đã giải thích được vấn đề kể cả khi một quốc gia/ vùng không có được lợi thế tuyệt đối hơn hẳn quốc gia/ vùng khác thì vẫn có thể thu được lợi ích trong quá trình hợp tác và phân công lao động do có lợi thế so sánh hơn về sản xuất những sản phẩm nhất định [70]
M Porter (1985, 1990) trong các tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh” và “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” lại cho rằng khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay phụ
thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành, quốc gia đó Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền tảng cạnh tranh sẽ chuyển dịch sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì nhờ vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệp trên
Trang 32thương trường quốc tế [68, 69] Thực tế cho thấy, lý thuyết này cũng có thể áp dụng đối với cấp độ các vùng kinh tế trong một quốc gia
b Lý thuyết định vị công nghiệp
Được đề xuất bởi Weber, A (1909) sau đó được các tác giả khác tiếp tục phát triển như Greenhut (1956) Lý thuyết định vị CN cho rằng mục đích của định vị CN tập trung là để “cực tiểu hoá chi phí và cực đại hoá lợi nhuận” [57, 81] Lý thuyết định vị CN lập luận: các cơ sở sản xuất CN có xu hướng tập trung vào các khu vực lãnh thổ nhất định hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi cho sự phát triển Lý thuyết định
vị CN được các quốc gia vận dụng để lựa chọn các vùng/ lãnh thổ trọng điểm, đó là những vùng/ lãnh thổ hội tụ được nhiều yếu tố thuận lợi do sẽ hấp dẫn nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư từ đó gia tăng được tiềm lực kinh tế cho vùng, lãnh thổ đó [81]
Lý thuyết định vị CN cũng đề cập đến vấn đề liên kết trong sản xuất: khi các doanh nghiệp CN tập trung tại một địa bàn để sản xuất các loại hàng hoá mà chi phí thấp nhất, dẫn tới mỗi địa bàn chỉ tập trung sản xuất một số loại hàng hoá nhất định từ đó dẫn tới tăng cường phân công chuyên môn hoá và liên kết sản xuất
c Lý thuyết vị trí trung tâm
Lý thuyết vị trí trung tâm là kết quả phát triển của nhà địa lí Walter Christaller (1933) và nhà kinh tế học August Lösch (1939) Lý thuyết là sự khám phá quy luật phân bố không gian, nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm Theo đó, các đô thị trung tâm có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của vùng Đó là những đô thị với các chức năng CN, DV là cơ bản, được coi là những hạt nhân của vùng, mang ý nghĩa quyết định trật tự phân bố tất cả các đối tượng trong phạm vi lãnh thổ và quyết định tính chất, trình độ phát triển của lãnh thổ
Trong đó, các trung tâm lớn nhất (các TP) là đối tượng để đầu tư có trọng điểm
d Lý thuyết cực tăng trưởng
Lý thuyết cực tăng trưởng do Perroux đưa ra đầu những năm 1950 đã lý giải
sự cần thiết PTKT lãnh thổ theo hướng trọng điểm Thông qua quan sát thực tiễn,
Perroux (1955) đã cho rằng “Tăng trưởng không thể xuất hiện đồng đều ở mọi nơi tại cùng một thời điểm, tăng trưởng chỉ tập trung ở một số điểm có lợi thế hơn và sau đó
Trang 33sẽ lan toả qua các kênh khác nhau với những hiệu ứng khác nhau đối với nền kinh tế” [53] Lý thuyết cực tăng trưởng của Perroux đã được khá nhiều nhà kinh tế nghiên
cứu tiếp thu và phát triển như Boudeville (1966), Friedmann (1966)…
Boudeville (1966) cho rằng các đô thị trong vùng hình thành hệ thống các trung tâm tăng trưởng với cấp độ khác nhau, trong đó đô thị trung tâm là cực tăng trưởng, rồi thông qua hiệu ứng lan tỏa mà tác động đến sự phát triển của các nơi khác trong vùng Cực tăng trưởng nhờ xác lập được lợi thế tập trung nên ngày càng phát triển, lan toả dẫn dắt các khu vực khác trong vùng cùng phát triển theo
Theo quan điểm của các tác giả này, những nơi có lợi thế tăng trưởng nhanh
sẽ trở thành “cực tăng trưởng”, đó thường là các trung tâm hành chính, thương mại, sản xuất, DV, thông tin có tính quyết định đối với sự phát triển của vùng/ lãnh thổ
Các cực tăng trưởng này sẽ tạo ra những ảnh hưởng đến sự phát triển của các lãnh thổ xung quanh và trở thành “đầu tàu” lôi kéo sự phát triển của các vùng xung quanh
nhờ vào tác động lan toả Lý thuyết cực tăng trưởng nhấn mạnh “lợi thế của phát triển không cân đối theo lãnh thổ”, được coi là lý thuyết phục vụ trực tiếp cho việc
lựa chọn các lãnh thổ trọng điểm và đã được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á, nhất là các quốc gia Đông Nam Á
e Lý thuyết địa kinh tế mới
Lý thuyết địa kinh tế mới được Paul Krugman khởi xướng vào năm 1991 qua
nghiên cứu “Lợi nhuận tăng dần và Địa kinh tế” nhằm lý giải về sự tập trung kinh tế
ở những khu vực “trung tâm” [61] Sau đó được nhóm tác giả M.Fujita, Krugman và
A.Venables (FKV) (1999) đề cập trong cuốn sách “Kinh tế không gian – Các TP, các vùng và thương mại quốc tế” Theo lý thuyết Địa kinh tế mới thì “PTKT cần phải tập trung (mất cân đối), còn xã hội tiến đến hội tụ (phát triển đồng đều)” Như vậy các
hoạt động kinh tế sẽ tập trung vào một số quốc gia, một số vùng lãnh thổ và TP Do các hoạt động kinh tế được thúc đẩy chủ yếu nhờ vào khai thác được “tính kinh tế theo quy mô” [55], sản xuất sẽ tập trung tại những khu vực có thị trường lớn, nhiều nhà sản xuất Nếu lực hướng tâm này đủ mạnh sẽ thu hút thêm các nhà sản xuất khác
và trở thành các “trung tâm kinh tế”, những vùng khác sẽ trở thành vùng “ngoại vi”
Trang 341.2.2 Khái niệm và vai trò của vùng kinh tế trọng điểm
Theo các tác giả Lê Thu Hoa, Nguyễn Văn Nam và Ngô Thắng Lợi, vùng KTTĐ là vùng hội tụ tốt nhất các điều kiện để phát triển, có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh, làm đầu tàu tăng trưởng để đẩy mạnh quá trình phát triển cho vùng đó và tiến tới đảm nhận vai trò chi phối tăng trưởng đối với nền kinh tế cả nước [11, 23] Hiện nay, theo quan điểm địa kinh tế mới, một quốc gia muốn trở nên phồn thịnh thì phải
có một số vùng phát triển hơn những vùng khác, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh,
tích tụ các yếu tố vật chất cho quá trình thực hiện PTKT chung của cả nước [33]
Từ những năm 1960, một số quốc gia trên Thế giới đã chủ động lựa chọn những lãnh thổ có lợi thế so sánh để lập các trọng điểm phát triển CN và thương mại nhằm tạo địa bàn động lực, tạo mũi đột phá trong phát triển lãnh thổ Mục tiêu chính trong phát triển các vùng KTTĐ của các quốc gia bao gồm: (1) Thu hút đầu tư; (2) Thúc đẩy TTKT; (3) Tạo việc làm; (4) Chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý
Các quốc gia châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc đã áp dụng chiến lược phát triển có trọng điểm theo lãnh thổ và đã đạt được những kết quả đáng kể Có thể nói, sự phát triển các vùng KTTĐ gắn liền với quá trình CNH của các quốc gia Đến nay, với những kết quả đã đạt được trong thực tế,
sự phát triển các lãnh thổ trọng điểm được đánh giá là phương thức phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực của các nước nghèo, đang phát triển Trong thời kỳ đầu mới hình thành, tại các vùng KTTĐ thường phát triển các hoạt động tạo nhiều việc làm cho người lao động và hàng hóa xuất khẩu nhưng giá trị gia tăng không cao Khi trình độ phát triển dần được nâng lên, các nguồn lực trở nên dồi dào hơn, chức năng
và CCKT của các vùng KTTĐ có xu hướng dịch chuyển sang các ngành kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại, cần nhiều vốn và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, xây dựng các loại hình vùng hiện đại hóa, đa chức năng; phát triển và mở rộng các khu thương mại
tự do, khu kinh tế mở ven biển; phát triển nhanh chóng các ngành DV, đặc biệt là các ngành như DV tài chính, DV thương mại và cung ứng hậu cần vận tải (Logistics)
Ở Việt Nam, chủ trương phát triển các lãnh thổ KTTĐ đã được đề cập trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991) và tiếp tục được khẳng định trong
Trang 35các kỳ Đại hội sau Theo đó, các vùng KTTĐ của Việt Nam được bắt đầu triển khai thành lập từ năm 1997 gồm: vùng KTTĐ Bắc Bộ, vùng KTTĐ Miền Trung và vùng KTTĐ phía Nam Đến năm 2009, TTgCP tiếp tục phê duyệt đề án thành lập vùng KTTĐ ĐBSCL [29] Khái niệm và vai trò của vùng KTTĐ cũng được tiếp tục khẳng định trong Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của TTgCP về lập, phê duyệt
và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển KTXH: “Vùng KTTĐ là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh
tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu thúc đẩy sự phát triển chung của cả nước” [7]
Như vậy, NCS cho rằng vùng KTTĐ là các các vùng có nhiều tiềm năng, lợi thế trong phát triển – đặc biệt là PTKT, được lựa chọn để phát triển nhanh chóng thành những lãnh thổ có kết cấu hiện đại, chức năng đa dạng, đáp ứng cho sự phát triển của một số ngành CN mũi nhọn cùng với các ngành NN sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị kinh tế cao; trên cơ sở đó tạo ra các tác động lan toả, kích thích tăng trưởng và phát triển của các lãnh thổ xung quanh nó và toàn bộ nền kinh tế Là vùng lãnh thổ nằm trong hệ thống các vùng của một quốc gia, vùng KTTĐ
có tính chất và đặc điểm đặc biệt khác với các vùng địa lý khác, có đặc thù riêng về kinh tế và mang tính trọng điểm, dẫn dắt trong hệ thống các vùng.Các vùng KTTĐ cần đượctạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để phát triển nhanh, có tiềm lực kinh tế vững mạnh, và trở thành những lãnh thổ động lực quan trọng, những “đầu tàu” tạo gia tốc phát triển chung cho toàn bộ nền kinh tế
1.2.3 Phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm
Như đã trình bày tổng quan về PTKT bền vững ở trên, đồng tình với ý kiến của các học giả, NCS cho rằng PTKT bền vững có nội hàm là bền vững của bản thân các yếu tố cấu thành nên sự PTKT, gồm: (1) sự bền vững của TTKT; (2) sự bền vững của chuyển dịch CCKT; (3) sự bền vững của mức độ bình đẳng trong việc thụ hưởng thành quả PTKT Trong đó “tính bền vững” của quá trình PTKT thể hiện ở yếu tố phải duy trì phát triển trong thời gian dài, phát triển phải dựa trên yếu tố năng lực nội sinh và ít bị phụ thuộc bởi những điều kiện/ tác động bên ngoài Tuy nhiên đối với vấn đề PTKT bền vững vùng KTTĐ, NCS nhận thấy cần làm rõ thêm một số nội
Trang 36dung cụ thể như dưới đây:
Với tư cách là đầu tàu tăng trưởng, có vai trò chi phối đối với nền kinh tế cả nước “PTKT bền vững vùng KTTĐ” ngoài nội hàm PTKT bền vững của bản thân vùng còn phải có vai trò là cực tăng trưởng, lan tỏa đến các vùng khác trên cả nước, các địa phương trong vùng có mối liên kết chặt chẽ với nhau Cụ thể các vùng KTTĐ được coi là PTKT bền vững chỉ khi đáp ứng được các yếu tố sau:
Thứ nhất, bền vững về kinh tế của chính bản thân các vùng KTTĐ: Là một bộ
phận lãnh thổ quốc gia, nội hàm của PTKT bền vững bản thân vùng KTTĐ cũng bao hàm những yếu tố bảo đảm PTKT bền vững xét trên khía cạnh quốc gia nhưng xét trong khuôn khổ một vùng kinh tế, bao gồm các tiêu chí liên quan đến quy mô và tốc
độ tăng trưởng GRDP, mật độ kinh tế (GRDP/ km2), cấu trúc tăng trưởng GRDP và
cơ cấu ngành kinh tế Tuy nhiên với tư cách là lãnh thổ đầu tàu, dẫn dắt TTKT của
cả nước, yêu cầu PTKT bền vững của vùng phải được đặt ra với yêu cầu cao hơn, phải thực sự trở thành vùng kinh tế phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng nhanh
và cao hơn các vùng trong cả nước, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, đặc biệt
là những lĩnh vực được xác định là thế mạnh của mỗi vùng
Thứ hai, có tác động lan tỏa: PTKT của vùng KTTĐ phải có khả năng lan tỏa
đến các lĩnh vực môi trường và xã hội, đồng thời lan tỏa tới các vùng khác, nhất là các vùng khó khăn, vùng kém phát triển, và cuối cùng có vai trò chi phối TTKT của
cả nước thông qua quá trình phân bố lại các cơ sở kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, đóng góp cho ngân sách để bổ sung nguồn vốn cho phát triển sản xuất và kết cấu hạ tầng, lan truyền tiến bộ công nghệ Tính chất lan tỏa cũng được phản ánh ở chính kết quả hoạt động của bản thân vùng KTTĐ
Thứ ba, liên kết kinh tế: Các địa phương trong nội bộ vùng KTTĐ phải thực
hiện được ngày càng nhiều hơn sự chung sức, trợ giúp lẫn nhau nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của mỗi địa phương và toàn vùng, phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa không gian kinh tế với không gian tự nhiên, sinh thái, xã hội và không gian chính sách, thể chế để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho vùng, là cơ sở để PTBV Xét đến cùng thì LKKT phản ánh một khía cạnh của khả năng nâng cao chất lượng TTKT, cụ
Trang 37thể là bảo đảm tính hiệu quả trong PTKT vùng
Thứ tư, ứng phó với BĐKH: trong bối cảnh BĐKH ảnh hưởng đến TTKT và
PTKT của các quốc gia, các vùng như hiện nay, PTKT bền vững vùng KTTĐ cần phải thể hiện được khả năng ứng phó với BĐKH Theo đó, PTKT của vùng KTTĐ cần duy trì được tốc độ tăng trưởng trên cơ sở chuyển dịch CCKT từ những ngành/
hoạt động có khả năng bị ảnh hưởng tiêu cực bởi BĐKH sang các ngành/ hoạt động
ít bị ảnh hưởng, thậm chí tận dụng được các cơ hội của BĐKH để phát triển mạnh hơn, tạo ra giá trị sản xuất cao hơn, tạo nhiều việc làm và đóng góp nhiều hơn vào GRDP, đồng thời góp phần vào giảm phát thải KNK, sử dụng hiệu quả hơn các TNTN
và BVMT của vùng Mô hình PTKT bền vững đối với các vùng KTTĐ được NCS đề xuất như ở Hình 1.1
Hình 1.1 Mô hình phát triển kinh tế bền vững vùng kinh tế trọng điểm
Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế bền vững của vùng kinh tế trọng điểm
Có nhiều yếu tố có ảnh hưởng tác động tích cực và tiêu cực đến sự PTKT bền vững của bản thân các vùng KTTĐ, đến vai trò lan toả PTKT cũng như LKKT của vùng Trong đó gồm cả các yếu tố khách quan và các yếu tố mang tính chủ quan
1.2.4.1 Yếu tố khách quan
+ Điều kiện tự nhiên và TNTN: Các yếu tố điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý,
khí hậu, các tài nguyên đất, rừng, biển, nước, khoáng sản, động thực vật… là những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong PTKT bền vững của mỗi vùng kinh tế nói chung cũng như vùng KTTĐ nói riêng Lý thuyết cho thấy những vùng có lợi thế về điều
Trang 38kiện tự nhiên như có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương kinh tế, có tài nguyên đất đai mầu mỡ, khí hậu thuận lợi cho phát triển NN, đa dạng nguồn tài nguyên khoáng sản phục vụ CN chế biến chế tạo, tài nguyên rừng, biển dồi dào… sẽ tác động đến việc hình thành và phát triển các loại hình kinh tế khác nhau của các vùng KTTĐ
Tuy nhiên tác động này bao gồm cả những tác động tiêu cực lẫn tích cực trong việc hình thành các loại hình kinh tế ở các địa phương Đặc biệt là về vấn đề khí hậu đối với lĩnh vực NN, những địa phương nhiệt đới có lợi thế để phát triển tốt các cây, con
nhiệt đới song lại hay gặp bão, gió, tác động tiêu cực tới mùa màng
+ Văn hóa - xã hội: Yếu tố văn hóa - xã hội cũng như phong tục, tập quán, văn
hóa là yếu tố hình thành từ lâu đời và mang tính đặc trưng của mỗi vùng miền Đây
là yếu tố có ảnh hưởng cả tích cực hoặc tiêu cực tới PTKT bền vững của các vùng KTTĐ Những vùng có phong tục, tập quán canh tác lạc hậu, trình độ lao động không cao thường sẽ khó khăn hơn các vùng khác trong việc áp dụng KHCN vào các biện pháp nâng cao hiệu quả PTKT
+ Yếu tố bối cảnh quốc gia, khu vực và thế giới: Các yếu tố bối cảnh quốc gia,
khu vực và thế giới đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc sâu rộng
và phát sinh những vấn đề toàn cầu như hiện nay gây ảnh hưởng rất lớn đến PTKT bền vững của các vùng kinh tế nói chung cũng như vùng KTTĐ nói riêng Các hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa các quốc gia giúp đẩy nhanh quá trình sản xuất giá trị và giá trị sử dụng; thúc đẩy quá trình phân phối, cung cấp nguồn lực và theo đó kinh tế được phát triển trên phạm vi toàn cầu Trong thời đại cách mạng CN 4.0 như hiện nay, sử dụng tri thức hiện đại vào sản xuất kinh doanh giúp thúc đẩy PTKT xã hội tăng lên vượt bậc Ngoài ra những vấn đề toàn cầu như: ô nhiễm môi trường, rác thải nhựa đại dương, BĐKH là nhiệm vụ chung của toàn nhân loại giúp thế giới gần nhau hơn từ đó có tác động tích cực, sâu sắc đến PTKT và PTKT bền vững trên toàn thế giới và các quốc gia, vùng kinh tế nói chung cũng như vùng KTTĐ nói riêng Bối cảnh chung như trên không chỉ có tác động tích cực, thúc đẩy PTKT
mà chúng cũng có tác động tiêu cực, gây khó khăn cho sự PTKT với nhiều quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới, điển hình như các vấn đề toàn cầu hiện nay như: Chiến
Trang 39tranh kinh tế, BĐKH, đại dịch COVID 19…
+ Cơ chế chính sách của nhà nước: Cơ chế chính sách của nhà nước là yếu tố
mang tính chủ quan nhưng vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến PTBV nói chung, PTKT bền vững nói riêng của các vùng KTTĐ Với tư cách một mặt là bộ phận lãnh thổ cấu thành kinh tế quốc gia, mặt khác, là vùng lãnh thổ đặc biệt với chức năng động lực, đầu tầu phát triển nhanh, tạo sức bật cho cả nước, (i) vùng KTTĐ được quyền có những ưu đãi đặc biệt để đảm lãnh trách nhiệm nặng nề hơn so với các vùng khác về sự tập trung kinh tế; nhưng (ii) vùng KTTĐ cũng phải có “nghĩa vụ và trách nhiệm” không chỉ với bản thân vùng mà còn với các lãnh thổ khác và toàn nền kinh
tế quốc gia, nhất là khi vùng đã thực sự trở thành khu vực tập trung kinh tế cao Như vậy, các vùng KTTĐ sẽ chịu sự chi phối hoặc hưởng lợi từ 3 nhóm: (i) cơ chế chính sách trực tiếp cho các vùng KTTĐ; (ii) cơ chế chính sách cho phát triển các lãnh thổ đặc biệt – như khu CN, khu chế xuất, khu công nghệ cao… ; và (iii) các cơ chế chính sách áp dụng chung cho toàn quốc Cơ chế chính sách hợp lý sẽ giúp các vùng KTTĐ PTKT thuận lợi và ngược lại sẽ gây khó khăn, kìm hãm sự phát triển
1.2.4.2 Các yếu tố chủ quan
+ Các nguồn lực PTKT của vùng KTTĐ: Nguồn lực, bao gồm các nguồn lực
về vốn, con người và KHCN, là yếu tố không thể thiếu trong PTKT, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến TTKT Trong đó vốn là yếu tố sản xuất cơ bản trong quá trình PTKT giúp tạo ra các yếu tố vật chất, công cụ sản xuất để PTKT Do đó, việc tăng cường huy động nguồn vốn, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư là nội dung vô cùng quan trọng trong PTKT bền vững của vùng KTTĐ Ngoài ra các nguồn lực về con người và trình độ KHCN cũng là những nguồn lực không thể thiếu cho PTKT bền vững của vùng KTTĐ Trình độ nhân lực cao, KHCN hiện đại sẽ giúp gia tăng NSLĐ, giá trị sản
xuất của nền kinh tế và ngược lại
+ Cơ sở hạ tầng của vùng KTTĐ: Cơ sở hạ tầng đóng vai trò là huyết mạch
trong PTKT của các vùng kinh tế nói chung và vùng KTTĐ nói riêng Cơ sở hạ tầng tốt sẽ giúp đảm bảo cho sự PTKT bền vững, BVMT Cơ sở hạ tầng là yếu tố tạo điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh,
Trang 40LKKT, giao thương kinh tế và xã hội hiện đại
+ Các thể chế, chính sách trong phát triển của vùng KTTĐ: Các thể chế, chính
sách phát triển của vùng KTTĐ và các địa phương trong vùng là những nhân tố quan trọng gây tác động tích cực hay tiêu cực đến PTTK bền vững của vùng KTTĐ Nếu các thể chế, chính sách phát triển phù hợp với đường lối, chính sách phát triển của quốc gia, phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT-XH của vùng cũng như xu hướng chung của thế giới sẽ giúp nền kinh tế phát triển tích cực và bền vững, phát huy được các lợi thế của vùng Ngược lại chính sách, đường lối lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với điều kiện thực tiễn, xu hướng phát triển chung sẽ kìm hãm sự PTKT nói chung cũng như PTKT bền vững của vùng KTTĐ nói riêng
1.2.5 Tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế
Nghiên cứu về tác động của BĐKH đến phát triển KT-XH nói chung và PTKT nói riêng là vấn đề được rất nhiều tổ chức, học giả trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu hiện nay
Năm 1994, Mendelsohn và các cộng sự trong tác phẩm “Tác động của ấm lên toàn cầu đến NN: phân tích Ricardian” đã nghiên cứu, đánh giá đo lường tác động
của BĐKH đến kinh tế NN Sử dụng dữ liệu cắt ngang về khí hậu, giá đất NN và các
dữ liệu kinh tế và địa vật lý khác cho gần 3.000 hạt ở Hoa Kỳ, nghiên cứu cho thấy nhiệt độ tại các hạt nghiên cứu hầu như cao hơn trong tất cả các mùa trừ mùa thu khiến cho giảm giá trị sản xuất trung bình của các trang trại, trong khi lượng mưa nhiều hơn ngoài mùa thu lại làm tăng giá trị này Trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng, việc ấm lên toàn cầu do BĐKH sẽ làm cho các nước ôn đới được lợi trong khi các nước có nhiệt độ trung bình hàng năm cao hơn bị thiệt hại về kinh tế [66]
Văn phòng Quốc hội Hoa Kỳ (2003) trong ấn phẩm “The Economics of Climate Change: A Primer” đã nghiên cứu tổng quan về các vấn đề của BĐKH, trong
đó tập trung chủ yếu vào các khía cạnh kinh tế của BĐKH Qua nghiên cứu nhiều nguồn số liệu được công bố, ấn phẩm đã cung cấp một khuôn khổ khái niệm để xem xét BĐKH là một vấn đề kinh tế, xem xét các chính sách công và mức độ cân bằng giữa chúng, và thảo luận về những biến chứng tiềm năng và lợi ích của việc phối hợp