Quan hệ giữa A và B không thuộc đối tượng điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 201 5 vì: Điều 1 BLDS 2005 quy định “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mự c pháp lý cho cách ứng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THẢO LUẬN DÂN SỰ THÁNG THỨ NHẤT
TPHCM (T4/2022)
Trang 2MỤC LỤC
VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ 3
Câu 1: Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự? 3 Câu 2: Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 không? Vì sao? 4
VẤN ĐỀ 2: TUYÊN BỐ CÁ NHÂN ĐÃ CHẾT 4
Câu 1: Những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố một người mất tích và tuyên bố một ng ười là đã chết 4 Câu 2: Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạn bao lâu thì
có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết? 8 Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định trên (quy
ết định năm 2018 và 2019) 11 Câu 4: Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nêu cơ sở pháp
lý và ví dụ minh họa 12 Câu 5:Tòa án xác định ngày chết của các cá nhân bị tuyên bố chết là ngày nào? Đoạn nào của các Quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019) cho câu trả lời? 13 Câu 6: Đối với hoàn cảnh như trong các quyết định trên (quyết định năm 2018 và 2019), pháp luật nước ngoài xác định ngày chết là ngày nào ? 13 Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết định trên (quy
ết định năm 2018 và 2019) 14 Câu 8: Cho biết căn cứ để hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết và Tòa án tuyên h
ủy quyết định tuyên bố ông H đã chết trong quyết định năm 2020 có phù hợp với quy định kh ông? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 14 Câu 9: Cho biết kinh nghiệm nước ngoài (ít nhất một hệ thống) điều chỉnh hệ quả về tài sản và nhân thân khi có quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một cá nhân đã chết 14 Câu 10: Đối với vụ việc được giải quyết trong quyết định năm 2020, bà T và ông H có còn đượ
c coi là vợ chồng nữa không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 15 Câu 11: Nếu ông H có tài sản, quan hệ về tài sản trước đây của ông H được xử lý như thế nào sau khi có quyết định năm 2020? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 15
VẤN ĐỀ 3: TỔ HỢP TÁC 16
Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về tổ hợp tác và suy nghĩ của anh/chị về những điểm mới này 16 Câu 2: Trong Quyết định năm 2021, đoạn nào cho thấy giao dịch (hợp đồng thuê quyền sử dụng đất) được xác lập giữa ông Th và bà H với Tổ hợp tác? 19
Trang 3Câu 3: Theo Toà án, ai phía Tổ hợp tác là bên trong giao dịch (với ông Th và bà H)? Hướng xác định như vậy của Toà án có phù hợp với quy định không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 19 Câu 4: Theo Toà án, ai là Bị đơn và hướng xác định như vậy của Toà án có thuyết phục không? Vì sao 19
Trang 4VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẤT DÂN SƯ
Câu 1: Những quan hệ nào thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự?
Những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự là: quan hệ tài s
ản và quan hệ nhân thân
- Quan hệ tài sản là quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản Quan hệ t
ài sản không chỉ thể hiện tài sản thuộc về ai, do ai chiếm hữu, sử dụng mà còn b
ao gồm cả việc dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác
+ Quan hệ tài sản mà Bộ luật Dân sự điều chỉnh là quan hệ kinh tế, xã hội cụ thểthông qua việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một tài sản nhất định theo nguyêntắc tự nguyện, bình đẳng, tuân thủ theo luật giá trị
+ Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh mang tính ý chí, tính chất hàng hoá,tiền tệ và tính chất đền bù tương đương
- Quan hệ nhân thân là quan hệ giữa người với người về một giá trị thân nhân của
cá nhân, tổ chức được pháp luật thừa nhận Quan hệ nhân thân luôn gắn liền vớimột chủ thể nhất định và về nguyên tắc thì không thể dịch chuyển cho chủ thể khác
+ Các quan hệ nhân thân do Luật dân sự điều chỉnh chia làm hai nhóm:
Quan hệ nhân thân gắn với tài sản là nhóm các quan hệ xuất phát từ các g
iá trị tinh thần ban đầu, các chủ thế sẽ được hưởng các lợi ích vật chất từviệc chuyển quyền đối với kết quả của hoạt động sáng tạo Đây là nhữngquan hệ nhân thân do cá nhân tạo ra từ việc tạo ra một giá trị tinh thần bằ
ng nhân thân và gắn với tài sản và nó có thể chuyển giao cho người khác
Quan hệ nhân thân không gắn với tài sản là các quan hệ nhân thân xuất phát từ giá trị tinh thần và các giá trị tinh thần này không có nội dung kinh
tế và hoàn toàn không thể chuyển giao được
Trang 5Câu 2: Quan hệ giữa A và B trên có thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 2015 không? Vì sao?
Tình huống: A đe dọa để ép B xác lập một giao dịch dân sự
Quan hệ giữa A và B không thuộc đối tượng điều chỉnh của BLDS 2005 và BLDS 201
5 vì:
Điều 1 BLDS 2005 quy định “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mự
c pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa v
ụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân vàgia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)
Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi íchcủa Nhà nước, lợi ích công cộng; bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan
hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.”
Điều 1 BLDS 2015 quy định “Bộ luật này quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân; quyền, nghĩa vụ về nhân thân vàtài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bìn
h đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung
là quan hệ dân sự).”
→ Theo tình huống thì giao dịch dân sự giữa A và B là giao dịch được thành lập trên s
ự đe dọa, ép buộc chứ không phải là giao dịch được hình thành trên cơ sở tự nguyện bì
nh đẳng như những quy định mà cả hai Bộ luật trên quy định
Trang 6ột người là đã chết khi có đủ các điều kiện luật định.
- Điều kiện: có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
- Điều kiện về mặt thủ tục: phải được thông báo tìm kiếm công khai trên các phương ti
ện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
- Trong trường hợp nếu trở về hoặc có tin tức xác thực là người này còn sống thì theo y
êu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyếtđịnh hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó mất tích hoặc đã chết
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai
1 Điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015
2 Điểm b khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 7mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạnhoặc thảm họa, thiên tai đó chấm d
ứt vẫn không có tin tức xác thực làcòn sống, trừ trường hợp pháp luật
Không thay đổi trừ trường hợp vợ ho
ặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết c
ho ly hôn theo…5
Quan hệ về hôn nhân, gia đình và c
ác quan hệ nhân thân khác của ngư
ời bị tuyên bố là đã chết được giảiquyết như đối với người đã chết.6
Hậu quả
pháp lý về
mặt tài sả
n
- Người đang quản lý tài sản của ngư
ời vắng mặt thì tiếp tục quản lý tài sả
n của người đó
- Trong trường hợp Tòa án giải quyế
t cho vợ hoặc chồng ly hôn thì tài sả
n của người mất tích được giao cho c
ác đối tượng được quy định tại Điều
69 BLDS năm 2015
- Quan hệ tài được giải quyết như đ
ối với người chết, tài sản của người
đó được chia cho những người thừa
kế của người này theo quy định củapháp luật về thừa kế
- Nếu trước khi bị tuyên bố chết người này có lập di chúc hợp pháp thìchia theo di chúc, nếu không có di
3 Điểm c khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015
4 Điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015
5 Khoản 2 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015
6 Khoản 1 Điều 72 Bộ luật Dân sự năm 2015
Trang 8chúc thì chia theo quy định của phá
p luật về người thừa kế và hàng thừ
a kế.7
Hủy bỏ q
uyết định
tuyên bố
- Về mặt tài sản: người bị tuyên bố
mất tích trở về được nhận lại tài sản
do người quản lý chuyển giao
- Về quan hệ nhân thân: trường hợp
vợ hoặc chồng của người bị tuyên bốmất tích đã được ly hôn thì dù cho người đó có trở về hay có tin tức xác thực là còn sống thì quyết định cho lyhôn vẫn còn hiệu lực
- Về mặt tài sản: người bị tuyên bố
là đã chết có quyền yêu cầu nhữngngười đã nhận tài sản thừa kế trả lạitài sản, giá trị tài sản hiện còn
- Về quan hệ nhân thân: được khôi
phục khi Tòa án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố người đó là
đã chết, trừ trường hợp được quy đị
nh tại khoản 2 Điều 73 BLDS năm2015
Câu 2: Một người biệt tích và không có tin tức xác thực là còn sống trong thời hạ
n bao lâu thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết?
Theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 71 BLDS năm 2015 thì một người biệt
tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống thì có thể bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Tóm tắt giải quyết vụ việc dân sự “tuyên bố một người là đã chết” số 272/20 18/QĐST - DS
Người yêu cầu giải quyết: Bà Bùi Thị T
Người mất tích: Ông Trần Văn C
7 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình Những quy định chung về Luật Dân sự, Nxb Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, tr 12
Trang 9Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh T
Bà T và ông C là vợ chồng, có con chung là ông T Cuối năm 1985, ông C bỏ nh
à đi biệt tích, không có tin tức, gia đình bà T đã tổ chức tìm kiếm, nhưng vẫn không cótin tức gì Công an phường Phước Bình, Quận 9 xác nhận ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú từ năm 1985 và đã xóa khẩu không còn quản lý tại địa phương Tòa án nhân d
ân Quận 9 đã ban hành Thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đ
ã chết trên Báo Công Lý và trên Đài tiếng nói Việt Nam nhiều đợt phát hành liên tiếp v
ào năm 2017 nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì Ngày 7/8/2018, Bà T yêu cầu Tòa
án tuyên bố ông C là đã chết
Quyết định của Tòa án
Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị T, Tuyên bố ông C là đã chết Ngày chết củaông C là ngày 1/1/1986, xác định là ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuố
i cùng vì đây thuộc trường hợp không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng (cuối năm 1985) Quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông
C được giải quyết như đối với người đã chết Quan hệ tài sản của ông C được giải quyế
t theo quy định của pháp luật về thừa kế
Tóm tắt giải quyết vụ việc dân sự “tuyên bố một người là đã chết” số 04/201 8/QĐST - DS
Người yêu cầu giải quyết : Anh Quản Bá Đ
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Quản Thị K
Chị K là chị gái anh Đ đã bỏ nhà đi khỏi địa phương từ năm 1992 đến nay khôn
g có tin tức gì Gia đình anh Đ đã tìm kiếm và thông báo trên phương tiện thông tin đạichúng nhiều lần nhưng không có kết quả Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn đã ra quyế
t định thông báo tìm kiếm chị K trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân Tối Cao;Báo nhân dân và Đài tiếng nói Việt Nam 3 kỳ liên tiếp bắt đầu từ ngày 6/7/2018 Đến n
ay đã hết thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật nhưng chị K vẫn không về vàkhông có tin tức
Quyết định của Tòa án:
Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của anh Đ Chị K đã biệt tích 5 năm liền trở lên và khôn
Trang 10g có tin tức xác thực, do đó có đủ cơ sở tuyên bố chị K đã chết ngày 19/11/2018 Ngày19/11/2018 là ngày làm căn cứ phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ về thân nhân,tài sản, hôn nhân gia đình, về thừa kế của chị K
Tóm tắt giải quyết vụ việc dân sự “tuyên bố một người là đã chết” số 94/201 9/QĐST-VDS
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị K
Người mất tích: Ông Phạm Văn C
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc C; Bà Phạm Thị P; BàPhạm Thị M; Ông Phạm Ngọc L; Ông Phạm Ngọc L1; Ông Phạm Đức S; Bà Phạm ThịMai H
Cụ Phạm Văn C là bố đẻ của bà K đã bỏ nhà đi từ tháng 1 năm 1997, từ đó đến đây không trở về nhà Gia đình bà K đã tìm kiếm nhiều lần nhưng không có kết quả Năm 200
8 gia đình bà đã đăng tin tìm kiếm trên Báo Hà Nội mới, Đài truyền hình Trung Ươngnhưng không có tin tức gì Cụ C đã nghỉ hưu từ năm 1975, lương hưu của cụ do Bảo hi
ểm xã hội quận Hai Bà Trưng chi trả đến tháng 3 năm 1997 Nay bà K yêu cầu Tòa ántuyên bố cụ Phạm Văn C là đã chết Vụ việc đã được Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trư
ng chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết theo thẩm quyền vìtrong số các con của cụ C, là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có ông Phạ
m Ngọc C hiện đang cư trú tại nước ngoài Về nội dung: Năm 1975 cụ được nghỉ chế đ
ộ hưu trí, và sinh sống với vợ con tại địa chỉ như hộ khẩu thường trú Khoảng tháng 1/1
997 cụ C đi khỏi nhà, gia đình không nhớ rõ cụ đi ngày nào Thời điểm cụ C đi khỏi nh
à thì sức khỏe của cụ bình thường, không ốm đau, bệnh tật, cụ còn minh mẫn, tuy nhiê
n cụ C có tiền sử bị huyết áp cao Công an phường Bạch Mai và UBND phường BạchMai đều xác nhận cụ C đã đi khỏi địa phương và không sinh sống tại nơi đăng ký hộ kh
ẩu thường trú từ năm 1997 Theo lời bà K trình bày, việc nhận lương hưu của cụ C là d
o cụ và vợ cụ là bà S1 trực tiếp nhận, việc chi trả lương hưu cho cụ C chỉ được thực hi
ện đến hết tháng 4/1997 theo ghi nhận của Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng Căn c
ứ vào tài liệu và chứng cứ nêu trên thấy phù hợp với trình bày của bà K và những ngườ
i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, do vậy có cơ sở xác định cụ C đã biệt tích từ năm 19
Trang 1197 tới nay và không có tin tức gì nên xác định tin tức cuối cùng về cụ C là tháng 4/1997
Quyết định của tòa án
Chấp nhận đơn yêu cầu của bà K về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là đã chếtđối vớ cụ Phạm Văn C Tuyên bố cụ C đã chết kể từ ngày 1/5/1997 ( theo khoản 1 Điề
u 68 của BLDS năm 2015 về tuyên bố một người đã chết)
Tóm tắt quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự “Yêu cầu hủy bỏ quyết đ ịnh tuyên bố một người là đã chết” số 02/2020/QĐST-DS
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đ H
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà N T
Theo trình bày của Ông Đ H: Ông và vợ là Bà N T có mâu thuẫn từ năm 2008, t
ừ đó ông Đ H đến Lâm Đồng sinh sống và không còn liên lạc với gia đình Ngày 02/3/
2011 Tòa án nhân dân huyện C (nơi ông và bà N T từng sinh sống) đã tuyên bố mất tíc
h đối với ông Đến ngày 20/5/2015, Tòa tuyên bố Ông Đ H đã chết 14/6/2011 Tòa ánnhân dân huyện C cho ly hôn giữa Bà N T và Ông Đ H Ngày 20/11/2019, Ông Đ H trở
về sống huyện C và có đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố đã chết
Trình bày của Bà N T: thừa nhận Ông Đ H còn sống, đồng ý yêu cầu hủy bỏ tuyên bốmột người là đã chết
Quyết định của Tòa án:
Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Đ H về việc yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết Tòa hủy bỏ quyết định yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với Ô
ng Đ H
Câu 3: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án xác định ngày chết trong các Quyết đị
nh trên (quyết định năm 2018 và 2019).
Em đồng ý với cách xác định ngày chết trong quyết định số 94/2019/QĐST-VD
S và số 272/2018/QĐST DS và không đồng tình với quyết định số 04/2018/QĐST
-DS Vì nếu tính ngày chết là ngày bản án có hiệu lực thì sẽ làm nảy sinh hệ quả pháp lýbất lợi cho thân nhân của người bị tuyên bố Ví dụ như ở trong vụ việc này thì mọi giao
Trang 12dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của anh Đ và chị K sau khi chị K mất tích và trước ngày chết thì sẽ bị vô hiệu (k2 Đ 109 BLDS 2005) Hoặc là liên quan đến tài sản chồng chị K kiếm được từ khi chị K mất cho tới ngày chết thì sẽ là tài sản chung bị đem
ra chia thừa kế theo luật.(k1 Đ33 Luật Hôn nhân và gia đình)
*Điều 109 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình
1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận
2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đìnhphải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý
*Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình : “Tài sản chung của vợ chồng gồm t
ài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhâ
n, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồn
g được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thu
ận là tài sản chung.” Như vậy thì ông H sẽ được hưởng thêm một phần tài sản mà bà T
làm ra từ khi ông mất tích cho tới khi có bản án cho phép ly hôn của tòa án
Câu 4: Cho biết tầm quan trọng của việc xác định ngày chết của một cá nhân? Nê
u cơ sở pháp lý và ví dụ minh họa.
Việc xác định ngày chết của một cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì thời đi
ểm chết của một người là thời điểm phát sinh sự kiện pháp lý liên quan đến quyền, ngh
ĩa vụ về tài sản của người đó
Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 611 BLDS năm 2015.
“1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa án tuyên
bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Đi
ều 71 của Bộ luật này.”
Khi giải quyết tranh chấp về thừa kế (nếu phát sinh), Tòa án sẽ căn cứ vào thời điểm xá
c định một người là đã chết để xác định những vấn đề liên quan như thời hiệu thừa kế,