Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 271 ÁP DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG GIÁO D.
Trang 1ÁP DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING TRONG GIÁO DỤC DU LỊCH
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHỆ 4.0
ThS Trần Thị Thu Hảo
Trưởng Khoa Khoa Du lịch - Khách sạn, trường Cao đẳng Công nghệ Bách khoa Hà Nội Email: Tranthithuhao4787@gmail.com
ThS Trịnh Thị Tuyết và ThS Lương Thị Hát
Khoa Khách sạn – Du lịch, trường Cao đẳng Thương mại
và Du lịch, Bộ Công Thương
Email: tuyet.ksdl@gmail.com, luonghat268@gmail.com
Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật số và những ảnh hưởng nghiêm trọng của đại
dịch COVID-19 buộc ngành Giáo dục Việt Nam phải thay đổi toàn diện để thích nghi với tình hình và xu thế mới, trong đó có lĩnh vực giáo dục du lịch đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam trong những năm gần đây có nhiều bứt phá, nhưng cũng còn tồn tại rất nhiều hạn chế cần nhanh chóng khắc phục, nhằm nâng cao chất lượng Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, phân tích SWOT, nhóm tác giả thực hiện tham luận: “Áp dụng mô hình Blended learning trong giáo dục du lịch ở Việt Nam thời kỳ Cách mạng công nghệ 4.0” Tham luận giới thiệu khái quát về mô hình đào tạo Blend Learning, thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục, đặc biệt là trong giáo du lịch ở Việt Nam
Từ khóa: Dạy - Học phối hợp (Blended learning); Đào tạo du lịch; Mô hình blended learning; Bối cảnh
cách mạng cong nghiệp 4.0
1 Đặt vấn đề
Công nghệ thông tin và truyền thông trong những năm gần đây có sự phát triển với tốc độ vượt bậc
đã tạo ra một cuộc cách mạng trong giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học trên toàn thế giới Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục giờ đây đã trở thành một xu hướng phổ biến ở Việt Nam, hơn nữa trong bối cảnh đại dịch COVID-19, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học càng trở nên cần thiết Một trong những ứng dụng đó là mô hình dạy học Blended – Learning (viết tắt B-Learning) đã và đang được nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới ưa chuộng bởi những hiệu quả tuyệt vời mà mô hình này mang lại
Đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục đại học nói chung và giáo dục đại học du lịch nói riêng đòi hỏi phải có những thay đổi căn bản về tư duy đào tạo, cách thức trao đổi và truyền thụ kiến thức Kỷ nguyên công nghệ số cũng có thể làm thay đổi các tiêu chuẩn nghề du lịch, đe dọa đến một số vị trí việc làm, ảnh hưởng lớn đến nhu cầu và cơ cấu nhân lực du lịch trong tương lai Thực tế đó, buộc ngành Du lịch phải đổi mới hệ thống đào tạo nhân lực nhằm bắt kịp xu thế tất yếu của thời đại Trong giáo dục du lịch, có thể khai thác rất nhiều ứng dụng công nghệ phục vụ công tác giảng dạy, mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, các cơ sở giáo dục du lịch ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng các mô hình đào tạo mới, các điều kiện về chính sách, nguồn lực chính phủ và địa phương, cơ hội của giảng viên tiếp cận hình thức dạy học B-Learning còn nhiều hạn chế Vì vậy, nhóm tác giả đã lựa chọn nghiên cứu tham luận:
“Áp dụng mô hình Blended Learning trong giáo dục du lịch ở Việt Nam thời kỳ Cách mạng công nghệ
Trang 24.0” nhằm giới thiệu khái quát về mô hình giáo dục Blended Learning và đề xuất giải pháp áp dụng mô
hình này trong giáo dục du lịch tại các cơ sở giáo dục các cấp ở Việt Nam
Với tham luận “Áp dụng mô hình Blended learning trong giáo dục du lịch ở Việt Nam thời kỳ Cách
mạng công nghệ 4.0” nhóm tác giả lựa chọn đối tượng nghiên cứu là mô hình dạy học B-Learning
Để thực hiện tham luận này, nhóm tác giả đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính: nghiên cứu tài liệu thứ cấp dựa trên những nguồn tài liệu liên quan sẵn có từ các tạp chí du lịch, kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế, các nguồn tài liệu từ internet (website, facebook)… và phương pháp phân tích
ma trận SWOT nhằm đưa ra giải pháp khi ứng dụng mô hình B - Learning trong đào tạo sinh viên du lịch
ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của tham luận: nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu ứng dụng mô hình B – Learning trong giáo dục du lịch ở Việt Nam
2 Kết quả nghiên cứu
2.1 Mô hình giáo dục Blended Learning
2.1.1 Khái niệm
Blended theo từ điển Longman Online nghĩa là “to combine different things in a way that produces
an effective or pleasant result” (kết hợp nhiều thứ khác nhau theo một cách nào đó để tạo ra kết quả tốt
hơn) Còn từ điển Cambridge Online cho rằng “blend” là “trộn” hoặc “kết hợp” cùng nhau (to mix or
combine together) Từ cách diễn giải
trên có thể thấy Blended Learning xét
về bản chất của nó sẽ được hiểu là mô
hình học tập kết hợp [1, tr 82]
Blended Learning hay còn gọi là
“học tập kết hợp” là phương pháp học
hòa trộn giữa cách học truyền thống
trên lớp (Classroom Learning) và cách
học hiện đại E-Learning (Mobile
Learning và Internet Learning)
Phương pháp này được được nghiên
cứu đầu tiên bởi Đại học Cambridge
trong việc giảng dạy ngoại ngữ và trở
thành xu thế học tập của rất nhiều quốc
gia trên thế giới Sau đó, đã được áp dụng giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng cũng như các tổ
chức giáo dục chuyên nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục khác Các tài liệu tham khảo về thuật ngữ
“Blended Learning” được xuất hiện từ đầu thập niên 90 ở Thế kỷ XX, kể từ đó khái niệm này đã được
thay đổi theo sự kết hợp của giáo dục truyền thống đặc thù và công nghệ Đến nay, mô hình học tập này không phải là mô hình dạy học mới nhưng là một xu thế mới trong dạy học của các trường trên thế giới Việc kết hợp linh hoạt giữa hình thức dạy học trực tuyến và dạy học truyền thống với những tỉ lệ khác nhau sẽ giúp phân hóa trình độ học sinh, cá nhân hóa việc học giúp học sinh làm chủ kiến thức Dạy học kết hợp cũng giúp các trường giảm chi phí cho nguồn nhân lực, giảm bớt số lượng phòng học, không gian trường học có thể bị thu hẹp nhưng môi trường học tập lại được mở rộng không khoảng cách và không giới hạn
Tại Việt Nam, mô hình học tập kết hợp (Blended Learning) đã bắt đầu được nghiên cứu những chưa được áp dụng rộng rãi, các cơ sở giáo dục và giảng viên còn gặp nhiều khó khăn để thiết kế khóa học
[Nguồn: https://www.3plearning.com]
Trang 3Blended Learning Người học cũng gặp khó khăn trong việc phải đầu tư về công nghệ cũng như tiếp cận chúng Tuy nhiên, để phù hợp với xu thế của thời đại thì mô hình này đang là biện pháp mang tính một biện pháp tuyệt vời để phát triển các kỹ năng cần thiết cho người học trong xã hội tri thức và thông tin hiện nay
2.1.2 Đặc điểm
Mô hình giáo dục Blended Learning có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Về hình thức học tập: Có sự pha trộn giữa học trực tuyến và học trực tiếp ở những mức độ khác nhau, linh hoạt tùy theo từng lĩnh vực đào tạo, từng môn học cụ thể
- Về tính tương tác rất phong phú và đa dạng: Người học có thể tương tác với nhiều nguồn học liệu khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau (ảnh, video, sơ đồ, văn bản,…) và tương tác với những đối tượng khác nhau (với bạn cùng lớp, bạn khác lớp, với giáo viên, với các đối tượng bên ngoài lớp học,…)
- Về môi trường học: Dạy học kết hợp tạo ra một lớp học không tường, không giới hạn về không gian, hoàn toàn linh động cho người học Người học có thể học ở bất cứ đâu vào bất cứ thời gian nào tùy vào sự hứng thú, nhu cầu và điều kiện của bản thân
- Về chuẩn đầu ra: Đối với các mô hình dạy học kết hợp, các yêu cầu về chuẩn đầu ra được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo cho dù quá trình học mang tính cá nhân hóa cao
Như vậy, có thể thấy trọng tâm của phương pháp chính là học viên, mọi mong muốn và quyết định
của người học đều được tôn trọng Phương pháp này đề cao tinh thần sáng tạo và tự giác bởi vì người
học sẽ tự học nhiều hơn là được dạy qua phương pháp truyền thống
2.1.3 Các mô hình Blended Learning
Blended Learning có 6 mô hình đào tạo cơ bản khác nhau với những đặc trưng và khả năng ứng dụng linh hoạt vào trong giảng dạy phù hợp với từng môn học riêng Cụ thể được mô tả trong bảng dưới đây:
Bảng số 1 Các mô hình học tập của Bended Learning
Face – to –
face Driver
Thông dụng, gần gũi nhất với mô hình truyền thống Giáo viên dẫn dắt quá trình học tập trên lớp dưới sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ
Phù hợp đa dạng các phân khúc học sinh khác nhau về khả năng nhận biết
Rotation Người học luân phiên nhau học tập theo một lịch
trình nhất định – hoặc học tập trực tuyến, hoặc
học trực tiếp với giáo viên
Môi trường học tập linh hoạt, giáo viên có thể hỗ trợ nhiều hơn dựa trên nhu cầu của học sinh
Flex Người học chọn lựa lịch trình học tập trực tuyến
linh hoạt phù hợp với nhu cầu Giáo viên cung cấp nội dung khóa học, hướng dẫn khi cần thiết, giải đáp thắc mắc trong các giờ học trên lớp
Phát huy tối đa tính độc lập, làm việc nhóm và tương tác của người học, khá phổ biến trên thế giới
Labs Học sinh học trực tuyến hoàn toàn và đến phòng
thực hành để hoàn thành nội dung bài học của mình Tại các phòng thực hành sẽ có người giám sát công nghệ
Mô hình này giúp giảm thiểu các yêu cầu về cơ sở vật chất và nguồn lực
Trang 4MÔ HÌNH ĐẶC TRƯNG KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG Self-blend Người học tham gia vào các khóa học trực tuyến
nằm ngoài chương trình học chính thống dựa trên nhu cầu cá nhân
Phù hợp người học có nhu cầu học tập đa dạng: nâng cao trình độ chuyên môn
Online
Driver
Người học tham gia quá trình học tập thông qua một nền tảng quản lý trực tuyến Các tương tác với giáo viên cũng được thực hiện trực tuyến
Thích hợp với người học cần sự linh hoạt trong lịch trình hoạt động hàng ngày
(2, tr.106-107)
Tất cả các mô hình học tập trong phương pháp học tập kết hợp Blended Learning đều mang đến những trải nghiệm tiếp cận kiến thức khác nhau cho từng nhu cầu mục tiêu đào tạo khác nhau Tuy nhiên,
để lựa chọn một mô hình phù hợp cho môi trường đào tạo thì điều quan trọng nhất vẫn là hiểu được học viên của mình cần gì và mô hình nào có thể cung cấp cho họ những điều họ muốn
2.1.4 Tính ưu việt của mô hình Blended Learning
Cùng với sự phát triển của công nghệ, Blended Learning đã và đang nhanh chóng trở thành phương pháp giảng dạy phù hợp và mang tính phổ biến với nhiều ưu thế dưới đây:
Tạo ra một lớp học không tường, không giới hạn về không gian, hoàn toàn linh động cho người học Người học có thể học ở bất cứ đâu vào bất cứ thời gian nào tùy vào sự hứng thú, nhu cầu và điều kiện của bản thân
Thúc đẩy sự tự giác của người học bằng cách chuyển phần trách nhiệm từ giáo viên qua học viên trong khuôn khổ giám sát nhất định Học viên có thể học theo tốc độ và tiến trình của riêng họ Người học chậm có thể xem lại các bài học và làm bài tập nhiều lần nếu cần; người học học nhanh hơn có thể thay đổi tốc độ học
Chuẩn bị hành trang cho người học tiếp cận với ứng dụng công nghệ thời đại số cho tương lai Học viên sẽ được trang bị tốt hơn cách sử dụng các công cụ trực tuyến cũng như việc học hỏi nhiều kiến thức Blended Learning là một mô hình đầu tư tốt vì phương pháp này giúp tối đa hóa tiết kiệm chi phí như chi phí cơ sở tại trường, sửa chữa xây dựng và bảo trì Thay vào đó, học viên có thể sử dụng không gian công cộng như quán cà phê, thư viện hay nhà riêng
Giúp tăng cường sự tương tác giữa người dạy và người học, có thể gặp gỡ trao đổi bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu và chủ đề bài học phong phú, đa dạng hơn thông qua các ứng dụng dạy học, các trang mạng xã hội,…
Thu hút người học đem lại hiệu quả học tập tốt nhất Phá vỡ sự đơn điệu của lớp học truyền thống bằng cách mang đến những thông tin mới mẻ trong nhiều bối cảnh khác nhau Biến các chủ đề học nhàm chán thành các bài học thú vị như khám phá các cách tương tác, xem video và đọc những bài báo trên thế giới
Như vậy, hiệu quả mà mô hình Blended Learning đem lại là rất lớn cho các cơ sở đào tạo cũng như người dạy và người học, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đặc biệt là khi phải sống chung cùng với đại dịch COVID – 19
2.1.5 Hạn chế
Điểm hạn chế đầu tiên do phương pháp học này đem lại đó là về mảng kỹ thuật Khi lựa chọn các công cụ dạy học cần phải tìm hiểu kỹ để đảm bảo thao tác thực hiện trôi chảy và không gặp các vấn đề trong quá trình học của mình
Trang 5Blended Learning sẽ là rào cản đối với các bạn hạn chế về kiến thức tin học, công nghệ thông tin Người dạy và người học luôn phải cập nhật, làm mới kiến thức, update ứng dụng để không bị tụt lại so với sự phát triển thực tế hiện nay của xã hội
Đặc biệt khi học trực tuyến này sẽ khiến việc quản lý người học gặp nhiều khó khăn hơn Khi sử dụng mạng, không phải ai cũng có thể truy cập mạng để học, việc sửa chữa và nâng cấp về mặt kỹ thuật cũng tốn khá nhiều thời gian
2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giao dục du lịch ở Việt Nam
2.2.1 Những ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục du lịch ở Việt Nam hiện nay
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: CNTT sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI Thực tế cho thấy, quá trình ứng dụng công nghệ số trong giáo dục ngành hướng dẫn du lịch tại các cơ sở đào tạo du lịch ở Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định
Ứng dụng dạy học trực tuyến đang ngày càng được chú trọng Dạy học trực tuyến với khả năng tổ chức các không gian giáo dục, học tập mở, khả năng tương tác mạnh mẽ giữa các chủ thể tham gia và thông tin kiến thức (bao gồm các phương thức dạy học trực tuyến - Online Learning; hệ thống khóa học đặc thù riêng cho cá nhân) vừa đáp ứng được yêu cầu học tập từ xa, vừa hỗ trợ đắc lực cho sinh viên khi học chính thức trên lớp Trong điều kiện nhiều hình thức học tập mới ra đời như hiện nay, dạy học trực tuyến đang là sự lựa chọn hữu ích cho nhiều học viên Những công cụ để dạy học trực tuyến rất hiệu quả
đã và đang được nhiều giảng viên áp dụng như Zoom, Google Meet, Teams, xây dựng các bài giảng elearning bằng phần mềm Storyline…
Hình thức học tập truyền thống cũng có nhiều đổi mới khi các giảng viên lên lớp đã kết hợp trình chiếu bài giảng điện tử Những chuyên đề được thiết kế trên nền tảng powerpoint với hiệu ứng bắt mắt, hình ảnh và âm thanh chất lượng liên quan đến các điểm du lịch, các tình huống du lịch… đã làm tăng đáng kể hiệu quả giảng dạy và tạo hứng thú cho người học [3, 346]
Khai thác các phần mềm giáo dục để tăng tính tương tác Nhiều phần mềm giáo dục hiện đại đã được các thầy cô áp dụng trong giảng dạy cho sinh viên ngành du lịch như: Classdojo, Classpoint, Classroom, Kahoot, Baamboozle, QR code… Ứng dụng những phần mềm này trong việc giao nội dung tự học, tự nghiên cứu, tổ chức các trò chơi học tập hay kiểm tra nhận thức… đã mang lại hiệu quả rất khả quan Sinh viên không chỉ được trải nghiệm với vai trò là người chơi, người học mà còn được thử sức sáng tạo trò chơi
từ nguyên liệu là kiến thức chuyên ngành du lịch Bên cạnh các phầm mềm, việc sử dụng các Apps giáo dục (ứng dụng chạy trên nền tảng thiết bị di động) để kết nối dễ dàng với cơ sở dữ liệu lớn, các nguồn học liệu
số đa định dạng (game học tập, mô phỏng, 3D tương tác, E-book tương tác, video tương tác 3600…) cũng được áp dụng vào giảng dạy ngày càng phổ biến ở các cơ sở giáo dục du lịch ở Việt Nam
Khai thác dữ liệu số: Các thông tin của giáo dục số trong bối cảnh ứng dụng kết nối vạn vận trên nền tảng Internet, dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây hiện nay đã mang lại nhiều cơ hội và khả năng to
lớn giúp cho việc tái tạo, sản sinh tri thức, chia sẻ thông tin, “san bằng” các rào cản trong việc tiếp cận
kiến thức Dữ liệu số hiện nay đã được nhiều giảng viên khai thác, cập nhật làm thông tin giảng dạy và hướng dẫn sinh viên
Sử dụng các thiết bị thông minh như thiết bị cầm tay trong lớp học đang là xu hướng mới ở các cơ sở đào tạo du lịch Việt Nam Máy tính bảng, máy tính xách tay, thiết bị kết nối thông minh (bảng cảm ứng, bút cảm ứng…) cho phép sinh viên sử dụng các nền tảng điện toán đám mây, hạ tầng Web… để dễ dàng chia sẻ, tương tác trong học tập, thay thế học cụ truyền thống (bảng, sách, tài liệu in, đồ dùng thiết bị dạy học trực quan,…)
Trang 6Trong thời gian tới, dự báo công nghệ trong giáo dục sẽ tiếp tục được ứng dụng phổ biến trong giáo dục du lịch Sinh viên sẽ được tiếp cận với những công nghệ hiện đại, được khai thác tối đa thông tin và
kỹ năng từ quá trình tiếp cận công nghệ số Theo đó, những kiến thức về hướng dẫn, những kỹ năng khi thực hành nghề nghiệp sẽ được trau dồi một cách khoa học, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của thị trường lao động thời kỳ hội nhập
2.2.2 Những hạn chế còn tồn tại
Bên cạnh những kết quả khả quan thì quá trình ứng dụng công nghệ số trong giáo dục du lịch ở Việt Nam cũng còn tồn tại nhiều bất cập như: Cơ sở vật chất kỹ thuật, có sở hạ tầng CNTT chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới; Cán bộ, giảng viên còn nhiều hạn chế về trình độ công nghệ thông tin, còn ngại tiếp cận, học hỏi, nâng cao khả năng sử dụng công nghệ thông tin áp dụng trong giảng dạy; Nhiều công nghệ, kỹ thuật hiện đại chưa được phổ biến đến người dạy và người học chuyên ngành du lịch, trong đó có mô hình Blended Learning Blended Learning là phương pháp học tiên tiến đang được áp dụng ở các trường đại học hàng đầu thế giới
Tuy vậy, ở Việt Nam phương pháp này vẫn chưa thực sự phổ biến hay được áp dụng bài bản, đúng đắn, nhất là tại các cơ sở giáo dục du lịch
2.3 Áp dụng mô hình Blended Learning trong giáo dục du lịch ở Việt Nam
Xuất phát từ nhu cầu và theo xu hướng tất yếu của xã hội thời cách mạng công nghệ 4.0 trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy cũng như những phân tích về thực trạng giáo dục du lịch ở Việt Nam, xin tổng hợp những điểm mạnh, điểm yếu và cơ hội, thách thức khi ứng dụng mô hình Blended Learning trong ma trận SWOT dưới đây:
Bảng 2 Bảng ma trận SWOT ứng dụng mô hình Blended Learning
trong giáo dục du lịch ở Việt Nam
- Có thể đào tạo từ xa
-Thúc đẩy sự tự giác học tập của người học
-Tăng sự tương tác giữa người dạy và người học
-Giảm chi phí đầu tư phòng thực hành
-Tăng sự tương tác giữa người dạy và người học;
giữa người học với người học
- Khả năng sử dụng CNTT của giảng viên và sinh viên còn nhiều hạn chế
- Khó khăn hơn trong quản lý người học
- Quá trình ứng dụng có thể xảy ra lỗi từ công nghệ
-Là cơ hội cho người học tiếp cận và làm chủ
công nghệ số
-Người học được tiếp cận kiến thức đa chiều
- Phụ thuộc vào công nghệ, đường truyền, kết nối internet
Trong ma trận SWOT trên, nhóm tác giả đã đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng mô hình Blended Learning vào giáo dục du lịch ở Việt Nam Đây là cơ sở để nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp hữu hiệu nhất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục du lịch, bắt nhịp với xu thế phát triển toàn cầu:
Một là, nâng cao trình độ sử dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giảng viên tại các cơ sở giáo dục
Trang 7du lịch Mỗi cơ sở giáo dục du lịch cần tăng cường mở những lớp bồi dưỡng giảng viên về sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học Giảng viên cần được trang bị những kiến thức về thiết kế những bài giảng trực tuyến E – Learning bằng những phần mềm tiên tiến nhằm taọ ra những bài giảng chất lượng, lồng ghép những hoạt động tương tác để sinh viên phải tham gia mới hoàn thành bài Sau mỗi bài giảng trực tuyến cũng nên có phần kiểm tra nhận thức để đánh giá nhận thức của người học chính xác nhất Đây cũng là hình thức để quản lý người học khi tự học những nội dung online hiệu quả nhất Những kiến thức
về sử dụng công nghệ thông tin cho sinh viên cũng cần được chú trọng Mô hình Blended Learning đòi hỏi người học sử dụng thành thạo công nghệ khi tham gia học trực tuyến từ cách đăng nhập bài học, thao tác tương tác với giảng viên và cách thức hoàn thành bài kiểm tra theo yêu cầu… Những kiến thức này cũng cần được trang bị, được các trường hướng dẫn để người học chủ động trong học tập
Hai là, các cơ sở giáo dục du lịch cần trang bị hệ thống cơ sở hạ tầng internet thật tốt để đảm bảo
đường truyền ổn định, hạn chế tối đa những yếu tố cản trở để sinh viên học tập được tốt nhất
Ba là, xây dựng kho bài giảng trực tuyến chất lượng Hệ thống học liệu theo hình thức kết hợp cần
được thiết kế gọn nhẹ, truy cập và chia sẻ dễ dàng, không đòi hỏi yêu cầu quá cao về cấu hình máy tính
và chất lượng đường truyền Internet
Bốn là, lựa chọn tổ chức mô hình học tập kết hợp với các môn học thuộc khối kiến thức đại cương và
có các đặc điểm như: có hàm lượng lý thuyết cao hơn; bài tập có đáp số ngắn gọn; câu hỏi kiểm tra với đáp án theo cách lựa chọn phương án đúng Nhà trường xây dựng quy định thống nhất, điểu chỉnh đề cương, phân bố thời lượng học tập trên lớp tăng thời gian dành cho thảo luận, thực hành hay làm bài tập nhóm đối với những môn học, học phần đào tạo theo mô hình học tập kết hợp này
3 Kết luận
Qua tham luận, nhóm nghiên cứu đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình học tập kết hợp Blended Learning Mô hình này hoàn toàn khắc phục được nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống và trực tuyến Đó là sự kết hợp hài hòa nhằm tạo ra một môi trường học tập mở, không giới hạn về không gian, thời gian, phù hợp trong lĩnh vực đào tạo du lịch Ứng dụng mô hình dạy học này vào đào tạo cho các sinh viên chuyên ngành du lịch tại Việt Nam khi điều kiện cơ sở vật chất ngày càng tốt hơn cũng như đáp ứng những đòi hỏi về cải cách giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo Cùng với sự phát triển của công nghệ và xu thế hội nhập với nền giáo dục thế giới, Blended Learning sẽ trở thành xu hướng dạy học trong những năm tới đây của giáo dục nước nhà
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện bởi Hội thảo: “Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” kèm theo Công văn số:
195/TB-DHTL, ngày 28 tháng 3 năm 2022
Tài liệu tham khảo
[1] Ngô Thị Kim Hoàn, Phạm Thị Quỳnh Anh Sử dụng Blended learning trong dạy học cho sinh viên ngành Giáo dục tiểu học – Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội Tạp chí Khoa học số 17, 2017, tr 81-89
[2] TS Phạm Văn Đại, TS Lê Thu Hương Tăng cường ứng dụng công nghệ trong đào tạo nhằm đáp
ứng nguồn nhân lực trong đào tạo du lịch Tạp chí Du lịch, số 09/2021 Trang 40-41
[3] ThS Lương Thị Hát, Ths Trịnh Thị Tuyết (2021) Ứng dụng sản phẩm du lịch thực tế ảo trong đào tạo sinh viên chuyên ngành hướng dẫn viên du lịch ở Việt Nam Hội thảo khoa học Quốc tế TED –
2021: Văn hóa, giáo dục và Du lịch với phát triển kinh tế NXB Thông tin và Truyền Thông Số
ISBN: 978-604-80-5765-5 Trang 346-350
Trang 8[4] TS Nguyễn Hoàng Trang, Một số vẫn đề trong tổ chức dạy học Blended learningvà kinh nghiệm quốc tế Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Giáo dục cho mọi người Trang 105 – 112
[5] TS Nguyễn Anh Tuấn, TS Lê Quang Đăng Phát triển nhân lực du lịch trong bối cảnh cách mạng
công nghệ số Tạp chí Du lịch, số 1+2/2020 Trang 64-66.
Abstract:
THE APPLICATION OF BLENDED LEARNING IN THE TRAINING OF TOURISM STUDENTS IN VIETNAM IN THE CONTEXT 4.0 INDUSTRIAL REVOLUTION
The strong development of digital technology and the serious effects of the COVID-19 pandemic forced our country's education industry to comprehensively change to adapt to new situations and trends, including the field of tourism training at universities and colleges The reality of tourism human resource training in Vietnam in recent years has made many breakthroughs, but there are still many limitations that need to be quickly overcome in order to improve the quality of education By the method of studying secondary documents and SWOT analysis, the author team made the presentation: "The application of Blended Learning in the training of tourism students in Viet Nam in the context 4.0 industrial revolution" Presentation on briefly introducing the Blended learning training model, the reality of training tourism students in Vietnam and proposing solutions to apply the Blended Learning in training tourism students
at training institutions universities and colleges specializing in tourism in Việt Nam
Keywords: Blended learning, tourism training, blended learning model, tourism training in the context
4.0 industrial revolution