Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 170 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VI.
Trang 1PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM
SAU ĐẠI DỊCH COVID-19
ThS Nguyễn Thị Thu Hà
Bộ môn Quản trị Du lịch, Khoa Kinh tế và Quản lý,
Trường Đại học Thủy lợi Email: hantt_kt@tlu.edu.vn
Tóm tắt: Đại dịch COVID-19 đã tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống Ngoài những
thiệt hại và mất mát về con người, sức khỏe và cộng đồng, cuộc khủng hoảng đại dịch COVID-19 đã để lại một hậu quả nghiêm trọng đến hàng triệu việc làm trên toàn thế giới Du lịch là ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch Hàng triệu việc làm trên thế giới trong lĩnh vực này bị biến mất đã kéo theo hàng triệu lao động rơi vào tình trạng mất việc và thu nhập Tại Việt Nam, ngành Du lịch phải đối diện với nguy cơ chưa từng có trong lịch sử ngành khi mà số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực
du lịch bị hao tổn một cách nghiêm trọng Trên cơ sở nghiên cứu bước đầu, tham luận này đã nêu thực trạng và ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch; đồng thời đề xuất một số giải
pháp để phục hồi và phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Từ khóa: COVID -19; Nguồn nhân lực du lịch; Phát triển bền vững
1 Đặt vấn đề
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tính đến ngày 07 tháng 3 năm 2022 trên thế giới
đã có hơn 445 triệu người nhiễm COVID-19, trong đó hơn 5,9 triệu người tử vong[8] Tại Việt Nam, có khoảng hơn 9 triệu ca nhiễm và hơn 42 nghìn ca tử vong1 Đại dịch COVID-19 đã thay đổi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực ngành nghề của cuộc sống trong đó du lịch là ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất tính đến tháng 10 năm 2020, lượng khách du lịch quốc tế đã giảm 72% (tương đương khoảng 900 triệu lượt khách) so với 1,5 tỷ lượt khách quốc tế vào năm 2019, do việc đóng cửa biên giới với du lịch quốc tế cùng các biện pháp cách ly kiểm soát toàn cầu Ngành Du lịch thế giới quay trở lại cột mốc cách đây 30 năm vào những năm 1990 với ước tính thiệt hại khoảng 2.000 tỉ USD Đặc biệt 100-120 triệu việc làm trực tiếp trong ngành Du lịch trên thế giới có nguy cơ rủi ro Theo số liệu của Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới (WTTC)[9] thì trong vòng 2 năm (2020-2021) đã 62 triệu/334 triệu việc làm trong ngành Du lịch đã biến mất bởi đại dịch
Tại Việt Nam, đại dịch COVID-19 đã gây ra tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng đến ngành Du lịch Nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống, lữ hành phải tạm đóng cửa Theo Tổng cục Du lịch, các doanh nghiệp vận tải du lịch (ô tô) gần như đóng cửa vì không có khách; 95% doanh nghiệp lữ hành dừng hoạt động, trong đó, 10%[10] xin thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành chấm dứt hoạt động Nguồn nhân lực du lịch phải đối diện với tình trạng mất việc và buộc phải chuyển sang ngành nghề khác để mưu sinh Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2020, nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp trong ngành Du lịch lần lượt phải cắt giảm nhân sự từ 70-80%[11] Trong năm 2021, số lượng lao động làm đủ thời gian chỉ chiểm 25% so với năm 2020, lao động nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động chiếm khoảng 30%, lao động tạm nghỉ việc khoảng 35% và 10%[11] lao động cầm chừng
1
Theo số liệu thống kê của Bộ Y Tế vào ngày 03/04/2022
Trang 2Chính vì vậy, sau khi mở cửa lại, ngành Du lịch tại Việt Nam phải đối diện với nguy cơ thiếu hụt trầm trọng về số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực Câu hỏi lớn được đặt ra là: Làm thế nào để ngành Du lịch Việt Nam có thể giải quyết được tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực sau đại dịch COVID-19; đồng thời có phương án phát triển một cách bền vững nguồn nhân lực du lịch trong tương lai? Tham luận này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng và khó khăn về nguồn nhân lực du lịch trước và sau đại dịch COVID-19 tại Việt Nam và đề xuất một vài giải pháp cho các cơ quan cũng như doanh nghiệp lữ hành góp phần duy trì và phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
Tham luận tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: 1) Khái niệm, phân nhóm và vai trò của nguồn nhân lực du lịch; 2) Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch trên thế giới; 3) Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch Việt Nam; 4) Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch; 5) Đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Để tham luận đạt hiệu quả, phương pháp chính được áp dụng là phương pháp phân tích và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến tác động của đại dịch COVID-19 đến ngành Du lịch và nguồn nhân lực du lịch trên thế giới
và tại Việt Nam, nguồn nhân lực du lịch và phát triển bền vững Ngoài ra, phương pháp quan sát cũng được áp dụng thông qua những trải nghiệm và chứng kiến thực trạng hoạt động của một số các doanh nghiệp lữ hành tại Việt Nam và phương pháp tổng hợp
2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Khái niệm, phân nhóm và vai trò của nguồn nhân lực du lịch
Nguồn nhân lực du lịch có thể hiểu là những người làm việc trong ngành Du lịch một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp Theo Nguyễn Văn Lưu trang 3 trong cuốn Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực du lịch:
“Nguồn nhân lực du lịch được hiểu là nguồn lực con người của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp du lịch, của một lãnh thổ có quy mô, loại hình, chức năng khác nhau, có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển du lịch cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia, khu vực
và thế giới” Cũng theo tác giả, nguồn nhân lực du lịch chính là tổng thể các tiềm năng lao động du lịch
và liên quan đến du lịch của một nước, một vùng lãnh thổ, một địa phương, một tổ chức sẵn sàng tham gia một công việc lao động du lịch nào đó, được thể hiện thông qua dân số, chất lượng của dân cư (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) Như vậy, nguồn nhân lực du lịch của một vùng lãnh thổ, một
tổ chức du lịch không chỉ bao hàm số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực du lịch hiện tại, mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực du lịch trong tương lai
Hiện nay, nguồn nhân lực du lịch được phân nhóm theo nhiều cách thức khác nhau Tuy nhiên, nguồn nhân lực du lịch tại một quốc gia hay một địa phương thường được phân theo 3 nhóm tiêu chí chính[12]: 1) Nhóm quản lý nhà nước về du lịch (công chức du lịch) Đây là nhóm có vai trò xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và địa phương đồng thời cũng tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động cũng như đảm bảo phát triển du lịch theo hướng bền vững có trách nhiệm 2) Nhóm làm việc trong khối sự nghiệp du lịch (viên chức du lịch) Nhóm này thường tham gia chức năng giáo dục, nghiên cứu khoa học, truyền thông thông trong ngành Du lịch 3) Nhóm kinh doanh du lịch Đây là nhóm nhân lực đông đảo nhất làm việc trực tiếp với khách hàng, hộ tư nhân, doanh nghiệp du lịch Thông thường nhóm này sẽ gồm 4 nhóm bộ phận cấu thành: Bộ phận quản trị chung, Bộ phận quản trị các nghiệp vụ du lịch, Bộ phận đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch và cuối cùng
bộ phận phục vụ khách hàng
Nguồn nhân lực du lịch có vai trò to lớn trong sự phát triển của ngành Du lịch, bởi đây là một ngành đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn tham gia vào quá trình phục vụ khách du lịch có nhu cầu rất phong phú và đặc biệt nguồn nhân lực du lịch là chủ thể tạo ra các yếu tố cấu thành cung du lịch [1]
Trang 3Một doanh nghiệp thu hút và duy trì được những người lao động có tay nghề, trình độ, kỹ năng và thái độ làm việc phù hợp thì sẽ thu hút và làm hài lòng nhu cầu của khách hành một cách cao nhất Chính vì vậy, doanh nghiệp du lịch muốn tồn tại và phát triển trong tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt thì cần phải nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của nguồn nhân lực du lịch đặc biệt là nguồn nhân lực du lịch trực triếp [1]
2.2 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch trên thế giới
2.2.1 Tình trạng nguồn nhân lực du lịch trước đại dịch COVID-19
Du lịch là một ngành sử dụng rất nhiều nguồn lao động Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) (2013), ngành Du lịch toàn thế giới có hơn 101[13] triệu việc làm trực tiếp, chiếm 3,4% tổng việc làm toàn cầu Đến năm 2019, việc làm trong ngành Du lịch đã chiếm tới 10,6% tổng số việc làm toàn cầu và đã tạo ra khoảng 334 triệu việc làm trực tiếp và gián tiếp trên toàn thế giới Ứớc tính cứ 1/10 việc làm và ¼ công việc mới [3] trên thế giới phụ thuộc vào ngành Du lịch
Phụ nữ, thanh niên trẻ và lao động nhập cư là nguồn nhân lực chính của ngành Du lịch Năm 2019, phụ nữ chiếm 54% lực lượng lao động trong lĩnh vực này, trong khi đó số lượng lao động phụ nữ chỉ chiếm 39% [3] cho tất cả lĩnh vực công việc trên thế giới Du lịch cũng sử dụng nhiều người trẻ tuổi, phần lớn những người làm việc trong ngành du lịch trên thế giới đều dưới 35 tuổi và một nửa trong số họ từ 25[3] tuổi trở xuống Trước cuộc khủng hoảng, người trẻ tuổi chiếm khoảng 30% lực lượng lao động du lịch ở Canada, Hoa Kỳ và Vương Quốc Anh Đối với nguồn lao động nhập cư, người di cư trong lĩnh vực
du lịch, chiếm khoảng 25% tổng số việc làm trong lĩnh vực khách sạn và nhà hàng [3]
Mặc dù ngành Du lịch tạo ra rất nhiều việc làm trên thế giới, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều vấn
đề khó khăn về nguồn nhân lực do tỉ lệ phi chính thức cao Thực trạng này được lí giải bởi tính thời vụ thêm vào đó thời gian làm việc quá dài, lương thấp, tỉ lệ làm việc luân phiên lớn, thiếu bảo trợ xã hội hoặc phân biệt đối xử giới tính [3] Tình trạng “làm việc không chính thức” này trong ngành Du lịch có thể coi là phổ biến ở tất cả các quốc gia và các khu vực trên thế giới, ở Châu Mỹ La Tinh và Caribe, 61,4% lực lượng lao động trong các nhà hàng và 25,1% ở ngành công nghiệp khách sạn mà không khai báo Tại Châu Á và Thái Bình Dương, hơn 3 công việc trên 4 trong lĩnh vực du lịch là các công việc phi chính thức [3]
2.2.2 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch trên thế giới
Đại dịch COVID-19 đã để lại một hậu quả nghiêm trọng đến hàng triệu việc làm trên toàn thế giới Ngành Du lịch đã phải có khoản lỗ gần 4,5 tỷ đô la USD vào năm 2020 và đóng góp vào GDP toàn cầu giảm xuống còn 5,5,% so với năm 2019 là 10,4% [3] Đại dịch đã gia tăng tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, mất thu nhập, đóng cửa, phá sản của các công ty Nguồn nhân lực du lịch trên thế giới bị tác động nghiêm trọng trong đó phụ nữ, thanh niên và người di cư là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề mà cuộc đại dịch này đã gây ra [3] Số lượng công việc trực tiếp và gián tiếp trong ngành Du lịch giảm xuống 18,5% tức là còn khoảng 272 triệu, giảm gần 62 triệu việc làm trong lĩnh vực này Các ngành nghề tại khách sạn và ăn uống bị thiệt hại đáng kể, ghi nhận trong quý 2 năm 2020, số lượng giảm hơn 20% số việc làm và 33% số giờ làm việc so với năm 2019[3] Tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, nơi du lịch chiếm một vị trí nổi bật trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam cũng là nơi mà tình trạng làm việc không chính thức thường xuyên diễn gia, cuộc khoảng hoảng đã tác động đến việc làm và sinh kế của ít nhất 15,3 triệu lao động trong khu vực [3]
Sự phục hồi của ngành Du lịch sau đại dịch là một thách thức lớn đối với Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động, nhưng cũng chính là cơ hội để suy nghĩ lại tương lai nguồn nhân lực du lịch
và phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch trong thời gian tới
Trang 42.3 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam
2.3.1 Tình hình nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trước đại dịch COVID-19
a) Về số lượng: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam có sự gia tăng đáng kể trong những năm gần đây
So với năm 2005, tổng số nhân lực trong ngành Du lịch Việt Nam chỉ có 875.128 [2] thì 10 năm sau đã tăng hơn 2 lần vào năm 2015 Con số này đã tăng gần 17% vào năm 2017 khi mà số lượng nguồn nhân lực du lịch trong ngành đã đạt 2.100.765 người trong đó 724.402 lao động trực tiếp và trên 1.376.363 lao động gián tiếp, chiếm khoảng 3,6%[14] tổng số lao động cả nước2 Đến năm 2019, Việt Nam có khoảng 2,5 triệu lao động[14] trong đó có 860.000 lao động trực tiếp với tỉ lệ 45% được đào tạo chuyên ngành du lịch, 35% được đào tạo chuyên ngành khác, 20% chưa qua đào tạo Lao động trong ngành Du lịch chủ yếu làm việc trong các cơ sở lưu trú chiếm khoảng 70%; lữ hành (bao gồm cả hướng dẫn viên) và vận chuyển chiếm 10%; khối các dịch vụ khác 20%
Bảng 1 Số lượng lao động du lịch ở Việt Nam
Tổng số 875.128 1.348.065 1.568.000 1.664.000 1.760.000 2.046.000 + Lao động
trực tiếp 275.128 478.065 490.000 520.000 550.000 620.000
+ Lao động
gián tiếp 600.0000 870.000 1.078.000 1.144.000 1.210.000 1.426.000
(Nguồn: [2])
Tuy nhiên, số lao động du lịch Việt Nam còn khá khiêm tốn so với tổng số lao động đang làm việc trong cả nước Năm 2015, ngành du lịch chỉ chiếm 3,8% tổng số lao động trong cả nước chưa kể nếu so sánh nguồn lao động trực tiếp chỉ chiếm 1,14%[2] Năm 2017, Việt Nam ta đón 13 triệu lượt khách quốc tế, và có 7 triệu người Việt ra nước ngoài nhưng lực lượng hướng dẫn viên quốc tế chưa được 13.000 người
b) Về chất lượng lao động:
1) Về trình độ đào tạo du lịch: Bên cạnh số lượng, chất lượng nguồn nhân lực còn là một thách thức lớn đối với sự phát triển du lịch tại Việt Nam Trước đại dịch COVID-19, một vấn đề lớn đặt ra cho ngành Du lịch tại Việt Nam là hơn một nửa số lao động trong ngành không có chuyên môn, nghiệp vụ về
du lịch[2] Tỉ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học khá cao, chiếm khoảng 27,8% bao gồm cả lao động trực tiếp lẫn lao động gián tiếp
Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, số lượng lao động có tay nghề tham gia trực tiếp vào công tác phục vụ trực tiếp khách du lịch cũng như cung cấp sản phẩm trong ngành Du lịch chiếm 47% tổng lao động toàn ngành Nguồn nhân lực đào tạo đại học, sau đại học về du lịch chiếm tỉ lệ thấp khoảng 10,5%[2] Số lao động được đào tạo từ sơ cấp, trung cấp đến cao đẳng chiếm 53% [2] trong tổng số lao động toàn ngành Nguồn nhân lực trình độ dưới sơ cấp được bồi dưỡng kiến thức về du lịch là 45,3%
2
Số liệu của Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du lịch
Trang 5Trong giai đoạn 2015 - 2019, tỉ lệ lao động sau đại học chiếm 0,37%, tỉ lệ lao động trình độ đại học khoảng 24%, tỉ lệ lao động trình độ cao đẳng 13%, trình độ trung cấp 14%[15][16] Đặc biệt cũng trong giai đoạn này chỉ có 45% lao động nghề đã qua đào tạo, 55% lao động còn lại thiếu kỹ năng/nghiệp vụ
[CATEGOR
Y NAME]
[CATEGOR
Y NAME][
[CATEGOR
Y NAME][
Số lượng lao động du lịch được đào tạo
Đại học và sau đại học Sơ cấp, trung cấp, cao đẳng Dưới sơ cấp
Biểu đồ 1 Số lượng lao động du lịch được đào tạo tại Việt Nam
(Nguồn:[2])
2) Về trình độ ngoại ngữ: Tỉ lệ nhân lực sử dụng được ngoại ngữ khá cao so với các ngành nghề khác Nguồn nhân lực sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ chiếm 48% trong tổng số lao động[2] Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến chiếm khoảng 45,2%[2] tổng số nhân lực toàn ngành, còn lại là ngôn ngữ khác như Pháp, Trung, Nhật, Hàn Tuy nhiên, với tính chất của ngành cần nâng cao mở rộng nhiều hơn nữa khả năng ngoại ngữ trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch để đáp ứng được với số lượng khách
du lịch quốc tế đến Việt Nam
3) Về trình độ tin học: 60% lao động có kỹ năng tin học nhưng chỉ ở mức đơn giản, trong khi đó ngành du lịch đang bước vào giai đoạn chuyển đổi số 4.0, áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ trong ngành Du lịch thì việc nâng cao trình độ tin học là điều cần thiết
c) Về cơ cầu phân bổ vùng miền của nguồn nhân lực du lịch:
Nguồn nhân lực du lịch phân bố không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng Sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc, Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ[2] Lao động du lịch ở phía Nam chiếm 41,6% tổng số lao động du lịch cả nước, ở phía Bắc là 40,1%[2] Lao động ngành du lịch chủ yếu tập trung ở các đô thị và trung tâm du lịch lớn Còn tại các vùng, địa điểm xa trung tâm du lịch tình hình thiếu lao động và lao động không có chuyên môn diễn ra phổ biến
Tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam trước đại dịch COVID -19 vẫn còn yếu và thiếu trong đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID -19 nguồn nhân lực du lịch Việt Nam bị ảnh hưởng một cách trầm trọng Đây chính là bài toán khó và thách thức lớn đối với ngành du lịch Việt Nam sau đại dịch
2.3.2 Tác động của đại dịch COVID -19 đến nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Đối với nhiều nước đang phát triển, du lịch chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu Có thể nói, đây chính là ngành kinh tế mũi nhọn có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trong
đó có thể kể đến Việt Nam Đại dịch COVID -19 đã ảnh hưởng trực tiếp và để lại hậu quả nghiêm trọng đến ngành Du lịch Trong năm 2020, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt 3,7 triệu lượt, giảm trên 80% so với năm 2019[17] Chính sách “Người Việt Nam đi du lịch Việt Nam” cũng gặp khó khăn
Trang 6với các biện pháp cách ly khiến khách nội địa cũng giảm 50%, khiến ngành Du lịch thất thu khoảng 23 tỷ
đô la trong năm 2020 Theo Tổng cục Du lịch, các doanh nghiệp vận tải du lịch (ô tô) gần như đóng cửa
vì không có khách; 95% doanh nghiệp lữ hành dừng hoạt động, trong đó 338/2.519 doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành chấm dứt hoạt động (~ 10%) Công suất buồng lưu trú ở chỉ đạt từ 10-15%, nhiều khách sạn phải đóng cửa
Năm 2021, lượng doanh nghiệp lữ hành xin thu hồi giấy phép kinh doanh chiếm trên 35% tổng số đã được cấp phép, phần còn lại dừng hoạt động Lĩnh vực lưu trú chiếm 46% trong cơ cấu tổng thu du lịch Việt Nam cũng phải đóng cửa khoảng 90% và hầu như không có khách, trừ các cơ sở đón khách cách ly
Từ năm 2020, các doanh nghiệp lần lượt phải cắt giảm nhân sự từ 70-80% Sang năm 2021, số lượng lao động vẫn làm đủ thời gian chỉ chiếm 25% so với năm 2020, lao động nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động chiếm khoảng 30%, lao động tạm nghỉ việc khoảng 35%, lao động làm việc cầm chừng chiếm 10%[18]
Không chỉ riêng với các doanh nghiệp du lịch, các ngành liên quan đến vận chuyển, vận tải ô tô du lịch, các điểm tham quan du lịch, cơ sở ăn uống, vui chơi cũng chịu những hệ lụy từ đại dịch Trước khủng hoảng chưa có tiền lệ, nhân lực trong ngành du lịch bắt buộc phải chuyển đổi ngành nghề Thực trạng này là tình trạng báo động cho nguồn nhân lực du lịch vốn trước đó đã có những khó khăn về nguồn nhân lực trực tiếp cũng như giáp tiếp
2.4 Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam
2.4.1 Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm
đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20[19] Khái niệm này bắt đầu được phổ biến vào năm 1987 [4] với
sự xuất hiện của báo cáo Brundtland3 Theo khái niệm này: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của thế hệ tương lai” Năm 1992, tại Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janerio năm 1992, khái niệm du lịch bền vững chính thức được ra đời bởi Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hợp quốc (UNWTO) : “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai” Theo khái niệm này, du lịch bền vững phải đảm bảo cân bằng 3 yếu tố chính: kinh tế, xã hội- văn hóa
và môi trường Dựa trên định nghĩa về sự phát triển bền vững cũng như du lịch bền vững thì có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực du lịch bền vững là “sự duy trì và đảm bảo đội ngũ nhân lực có động lực là năng lực đảm nhiệm các công việc hiện tại, thích ứng và thỏa mãn với những thay đổi, phát triển của ngành Du lịch trong tương lai và ở đó nhân lực du lịch giữ vai trò, vị trí quan trọng giúp cân bằng các lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường và phát triển xã hội” [6] Có thể nói, để đạt được sự phát triển bền vững của du lịch thì nguồn nhân lực du lịch phải thực sự được xây dựng một cách bền vững Tuy nhiên, hiện nay sự bền vững của nhân lực ngành du lịch hiện chưa được quan tâm đúng mức trên thế giới cũng như tại Việt Nam
2.4.2 Vai trò của các tác nhân trong sự phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
Các tác nhân tham gia vào quá trình phát triển bền vững nguồn nhân lực có thể kể đến: doanh nghiệp
du lịch, chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan, tổ chức giáo dục và tổ chức quốc tế [6] Để đạt
3
Báo cáo này có tên chính thức là Our Commun Future tạm dịch là Tương lai của chúng ta, được viết vào năm 1987 bởi Uỷ ban Môi trường và phát triển Thế giới của Liên Hợp Quốc, dưới sự chủ trì của Gro Harlem Brundtland người
Na Uy.
Trang 7được sự bền vững nguồn nhân lực du lịch các bên nói trên phải có sự kết hợp và tham gia một cách chặt chẽ vào tất cả các giai đoạn phát triển nguồn nhân lực
Mô hình 1 Các tác nhân trong sự phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
Nguồn [6]
a) Doanh nghiệp du lịch: Đây là tác nhân chính có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển bền
vững nguồn nhân lực để tham gia vào các chiến lược kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh góp phần phát triển bền vững doanh nghiệp 3 việc làm chủ chốt của doanh nghiệp du lịch có thể kể đến: bám sát trọng tâm, tôn chỉ phát triển bền vững của doanh nghiệp, thể hiện trách nhiệm với các tổ chức giáo dục, phối hợp với các cơ quan nhà nước, chính phủ trong việc xây dựng các quy chế, chính sách phát triển du lịch cũng như nguồn nhân lực du lịch Có thể nói vai trò của doanh nghiệp được coi là trung tâm của các tác nhân phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
b) Chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan: Đây là tác nhân tham gia tạo ra môi trường
thuận lợi để phát triển một cách có hiệu quả nguồn nhân lực du lịch thông qua các chính sách quy hoạch
về du lịch [6] Tuy nhiên, có thể thấy hiện nay vai trò của tác nhân này ngày càng bị lãng quên hay chưa phát huy được hết vai trò của mình trong quy trình phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
c) Tổ chức giáo dục: Tổ chức giáo dục chính là nơi đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường
lao động cụ thể là liên quan đến 3 tác nhân còn lại
d) Tổ chức quốc tế: Các tổ chức này hoạt động tích cực nhằm phát triển du lịch trên phạm vi toàn cầu
hoặc khu vực như đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch, nghiên cứu, thống kê du lịch, tổ chức các hội nghị, hội thảo bàn về các vấn đề cấp bách và lâu dài lĩnh vực du lịch, thu thập xử lý thông tin, tổ chức quản lý du lịch và bảo vệ môi trường [6]
2.4.3 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam
Theo Quyết định số 147/QĐ- TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược
phát triển du lịch đến năm 2030, ngành Du lịch sẽ tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3
triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 - 9%/năm Về khách du lịch: Phấn đấu đón được ít nhất
50 triệu lượt khách quốc tế và 160 triệu lượt khách nội địa; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân về khách quốc tế từ 8 - 10%/năm và khách nội địa từ 5 - 6%/năm [7] Với chiến lược như trên, một số giải pháp được đề xuất cho sự phát triển nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam
a) Nhóm giải pháp trước mắt: Khôi phục và bình ổn nguồn nhân lực du lịch sau đại dịch: Đối
với giải pháp ngắn hạn cần thực hiện ngay sau giai đoạn phục hồi COVID-19 Ở giai đoạn này cần tập trung vào vai trò của hai tác nhân chính là Chính phủ và các cơ quan nhà nước có liên quan và doanh nghiệp du lịch
Một là, đối với Chính phủ và các cơ quan liên quan cần ban hành những chính sách khuyến khích
Trang 8kêu gọi và hỗ trợ nguồn nhân lực du lịch có kinh nghiệm quay trở lại làm việc Cần nghiên cứu nhu cầu thị trường, dự báo phát triển du lịch để tính toán nhu cầu đào tạo tập trung, đào tạo tại chỗ, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ và xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo của từng địa phương, cơ sở
Hai là, đối với doanh nghiệp du lịch, khuyến khích nguồn nhân lực cũ của công ty quay trở lại làm việc Cần quan tâm đặc biệt đến chính sách lương, thưởng, chính sách bảo hiểm, y tế, thu hút hơn để tránh tình trạng nguồn nhân lực trực tiếp sẽ thành nguồn nhân lực gián tiếp của ngành Cần tổ chức bồi dưỡng, đào tạo, cập nhật kiến thức cho đội ngũ nhân lực quay trở lại làm việc cũng như đang làm việc Hình thức đào tạo có thể trực tiếp tại doanh nghiệp, hay giữa nhà trường với doanh nghiệp, các hiệp hội
du lịch, lữ hành và khách sạn Đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực du lịch gắn liền với công nghệ thông tin
và chuyển đổi số trong thời đại 4.0
Ba là Chính phủ và các cơ quan có liên quan cũng như doanh nghiệp du lịch cũng như các tổ chức giáo dục và tổ chức quốc tế cần có chính sách tuyên truyền, thay đổi nhân thức với nghề nghiệp liên quan đến du lịch và nhu cầu học tập của xã hội đối ngành, nghề du lịch Cần quan tâm tuyên truyền các chính sức ưu đãi đối với lao động trong ngành Du lịch nhằm thay đổi nhận thức của người dân, người lao động cũng như người học
b) Nhóm giải pháp lâu dài: Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch:
Một là Chính phủ và các cơ quan liên quan cần xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách trong đó phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch trở thành trọng điểm của phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam Các chuyên gia, các nhà khoa học, nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch thuộc các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu sâu hơn để có thể đưa ra những chính sách phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch
Hai là các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của từng bộ phận trong doanh nghiệp Đặc biệt, cần có những chính sách khuyến khích người lao động như cơ chế lương thưởng, chế độ bảo hiểm Cần quan tâm đến chất lượng cuộc sống cũng như cơ hội phát triển của cá nhân người lao động trong lĩnh vực du lịch đặc biệt là nguồn lao động là nguồn lao động là phụ nữ, người trẻ
Ba là cần có những giải pháp đào tạo nguồn nhân lực tại các trường đại học, cao đẳng hoặc các lớp bồi dưỡng tay nghề tại các địa phương có các điểm tuyến du lịch Đối với các trường đại học chuyên về đào tạo du lịch cần đầu tư mới, nâng cấp trang thiết bị dạy và học hiện đại gắn với thực tiễn nghề nghiệp, cập nhật và đổi mới thường xuyên các chương trình cũng như giáo trình môn học Đặc biệt, cần nâng cao
kĩ năng tin học văn phòng, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch Nâng cao hơn nữa về khả năng sử dụng ngoại ngữ của nhân lực du lịch Việc phát triển các cơ sở đại học, cao đẳng, lớp bổ túc nghiệp vụ tại các địa điểm thường xuyên có khách du lịch là một vấn đề cần thiết để tránh tình trạng thiếu nguồn nhân lực hoặc sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng
du lịch hoặc các thành phố khác nhau Bên cạnh đó cần nghĩ đến những hình thức dạy nghề, đào tạo từ
xa, e-learning với việc xây dựng những giáo trình điện tử
3 Kết luận
Có thể thấy rằng đại dịch COVID -19 đã ảnh hưởng sâu sắc đến ngành Du lịch trên toàn thế giới cũng như Việt Nam Tác động này đã làm cho nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam vốn trước đại dịch đã
có vô vàn khó khăn về số lượng cũng như chất lượng Khôi phục và phát triển nguồn nhân lực một cách bền vững là nhiệm vụ quan trọng của ngành du lịch Việt Nam sau đại dịch Để có thể làm được điều này công tác đào tạo nguồn nhân cần được tiến hành khẩn trương đồng thời áp dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tại các cơ quan, doanh nghiệp du lịch cũng như các tổ chức giáo dục Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch cần được đề cập, lồng ghép vào tất cả các chính sách, chiến lược của các cơ quan Chính Phủ và các cơ quan liên quan và các doanh nghiệp du lịch cũng như tổ chức, hiệp hội du lịch trong
Trang 9nước Sự kết hợp chặt chẽ và thống nhất của toàn bộ các tác nhân chính tham gia vào sự phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch là yếu tố then chốt đảm bảo sự phát triển bền vững nguồn nhân lực của Việt Nam trong tương lai
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Văn Lưu (2022), Giáo trình quản trị nguồn nhân lực du lịch, Đại Học Thủy Lợi
[2] Nguyễn Minh Tuệ (2021), Địa lý du lịch.Cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, nxb Giáo dục [3] Tổ chức Lao động Thế giới (2022), L’avenir du travail dans le secteur du tourisme : Promouvoir
un relèvement durable et sûr et favoriser le travail décent dans le contexte de la pandémie de COVID-19
[4] Beaupré.D, Cloutier.J, Gendron.C, Jiménez.A, Morin.D, (2008), Gestion des ressources humaines, développement durable et responsabilité sociale, Editions ESKA/ Revue internationale de
psychosociologie
[5] Borter.S, Gonin.F, Gendre-Aegerter.D, Bornand.T, Vers un modele de GRH durable, Haute Ecole d’Ingénierie et de Gestion du Canton de Vaud, Unité de Ressources Humaines et Management [6] Vụ đào tạo, Bộ văn hóa, thể thao, du lịch, (2021), Vai trò của các bên liên quan trong phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch, http://daotao-vhttdl.vn/articledetail.aspx?sitepageid=627&articleid=1058
[7] Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2030 số: 147/QĐ-TTg (2020),
Thủ tướng chính phủ
[8] Tổ chức Y tế thế giới, Update 75 Mise à jour sur les traitements contre la Covid-19,
https://bit.ly/3z8Zt70 (xem ngày 28 tháng 3 2022)
[9] Báo Việt Nam+, Nhân lực du lịch hậu Covid: Cuộc khủng hoảng chưa có tiền lệ,
https://bit.ly/3x7Zqap (xem ngày 15/04/2022)
[10] Tạp chí Công thương, Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 đến ngành du lịch Việt Nam,
https://bit.ly/3x7SJFm (xem 15/04/2022)
[12] Nguyễn Văn Lưu (2022), Tham luận: Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực du lịch hơn nữa để du lịch Ninh Bình phục hồi nhanh và phát triển bền vững, Hội Nghị xúc tiến và phát triển sản phẩm du
lịch Ninh Bình 2022
[13] Clergeau.C, (2014), Chapitre 14 Le management des ressources humaines https://bit.ly/3N9uPP0 [14] Tạp chí du lịch, Đánh giá chất lượng lao động nghề du lịch của Việt Nam, https://bit.ly/3lZ2tLE
(xem ngày 12/05/2022)
[15] Nhân dân, Rút ngắn khoảng cách đào tạo- việc làm trong ngành du lịch, https://bit.ly/3x5Wfjk
(xem ngày 12/05/2022)
[16] Cổng thông tiên điện tử Đài tiếng nói Việt Nam VOV, Hơn 50% lao động nghề du lịch thiếu kỹ năng nghiệp vụ, https://bit.ly/3GGCu5i (xem ngày 12/05/2022)
[17] RFI, Tạp chí Việt Nam, Hậu Covid-19: Du lịch Việt Nam vẫn ngóng chờ khách ngoại quốc, https: bit.ly/3PR9rzX (xem ngày 12/05/2022)
[18] Hội Thảo du lịch 2021, Du lịch Việt Nam phục hồi và phát triển, https: https://bit.ly/3z78fCJ ( Xem
ngày 12/05/2022)
[19] Đinh Xuân Nghiêm (chủ nhiệm đề tài), (2010), Một số chính sách chủ yếu phát triển bền vững làng nghề ở Việt Nam, trang 16-18.
Trang 10Abstract:
SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF HUMAN RESOURCES FOR TOURISM
IN VIETNAM AFTER COVID-19 PANDEMIC
The COVID-19 pandemic has a profound impact on all areas of life In addition to the damage and loss
of people, health and communities, the COVID-19 pandemic has left a serious impact on millions of jobs worldwide Tourism is the economic sector hardest hit by the pandemic The loss of millions of jobs in the world in this field has led to millins of workers losing their jobs and income In Vietnam, the tourism industry has to face an unprecedented risk in the industry’s history when the quantity and quality of tourism humain resources is seriously damaged On the basis of initial research, this study outlines the current situation and impact of the COVID-19 pandemic on tourism humain resources and propose some solutions to restore and develop sustainably human resources tourism in Vietnam
Keyword: COVID-19; Sustainable development; Tourism human resources