1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGUỒN NHÂN LỰC CHO THỰC HIỆN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM KHI ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐƯỢC KIỂM SOÁT

8 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 253,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 142 NGUỒN NHÂN LỰC CHO THỰC HIỆN GIẢI PHÁP PHÁT T.

Trang 1

NGUỒN NHÂN LỰC CHO THỰC HIỆN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM KHI ĐẠI DỊCH COVID 19 ĐƯỢC KIỂM SOÁT

TS Nguyễn Phúc Lưu

Giám đốc - Trung tâm UNESCO Phát triển Văn hóa và Thể thao

Email: luunpunesco@gmail.com

Tóm tắt: Bài viết về nguồn nhân lực cho thực hiện giải pháp phát triển du lịch di sản văn hóa Việt Nam

sau thời kỳ đại dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát nhằm đánh giá thực trạng nguồn nhân lực cho việc

phát triển hoạt động du lịch di sản văn hóa Việt Nam sau thời kỳ đại dịch COVID-19…, những bất cập,

khó khăn tồn tại và nguyên nhân? Để từ đó khuyến nghị các giải pháp cho các nhà hoạch định nhằm tháo

gỡ những khó khăn về nguồn nhân lực và một số nguồn lực khác trong việc phát triển du lịch di sản văn

hóa Việt Nam sau đại dịch COVID-19 cũng như hướng tới mục tiêu phát triển bền vững du lịch di sản

văn hóa Việt Nam

Từ khóa: Nguồn nhân lực; Du lịch di sản văn hóa; Đại dịch COVID-19; Việt Nam

1 Đặt vấn đề

Di sản văn hóa của Việt Nam là một hệ thống phong phú về tài nguyên Lịch sử - Văn hóa Trong

đó, nhiều giá trị văn hóa đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một dân tộc, một quốc gia và có ảnh hưởng

toàn cầu – đó là di sản văn hóa thế giới Tính đến tháng 12 năm 2021, Việt Nam có 28 di sản được

UNESCO công nhận là di sản thế giới trong đó có 19 di sản văn hóa (bao gồm 06 di sản văn hóa vật

thể và 13 di sản văn hóa phi vật thể thế giới) Đây là những tài sản vô giá chung của toàn nhân loại

Ngoài ra Việt Nam còn có hàng ngàn di sản cấp quốc gia, cấp thành phố…, trải dài đất nước từ Bắc -

Trung - Nam, ở đâu có dấu chân con người đi mở cõi, ở đó có những di sản quý giá người xưa để lại

cho đời nay Do vậy, di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam

và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ

nước của Nhân dân ta Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể,

là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này

qua thế hệ khác Trong đó, di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật trình

diễn dân gian, tập quán xã hội và tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, nghề thủ công truyền thống… Còn

di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch

sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia… [7] Do vậy, việc phát triển

nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động du lịch di sản văn hóa dân tộc luôn là việc làm

cần thiết

Trong những năm qua nhìn chung Việt Nam đã phát triển du lịch nhanh, mạnh, nhưng hiệu quả chưa

thực sự xứng tầm với một Quốc gia với hàng ngàn năm lịch sử Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Việt

Nam, năm 2019, với thành công của một chuỗi các sự kiện văn hóa, du lịch đặc sắc, ngành Du lịch Việt

Nam đã hoàn thành vượt mức mục tiêu đề ra, đón và phục vụ 18 triệu lượt khách quốc tế tăng 16,2% so

với cùng kỳ năm 2018; 85 triệu lượt khách nội địa tăng 6,25% so với năm 2018; tổng thu từ khách du lịch

đạt khoảng 720 nghìn tỷ đồng Nếu không có đại dịch COVID-19, năm 2020, ngành Du lịch Việt Nam sẽ

đạt mục tiêu đón 20 triệu lượt khách du lịch quốc tế; phục vụ 90 triệu lượt khách nội địa; tổng thu từ

khách du lịch dự ngành dự kiến đạt 800 nghìn tỷ đồng…

Trang 2

Hiện nay, các loại hình du lịch của Việt Nam đã được đa dạng hóa và trong đó du lịch di sản văn hóa

đã ngày một thu hút du khách, việc đầu tư vào bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa đã được chính phủ ngày một quan tâm Tuy nhiên, bên cạnh đó loại hình du lịch di sản văn hóa của Việt Nam chưa được hình thành rõ nét, chưa có sức hút lớn đối với khách du lịch và chưa được khai thác một cách

có hiệu quả, chúng ta còn lúng túng, chưa có cơ chế cụ thể, quản lý nhà nước thiếu hiệu lực dẫn đến việc các giá trị di sản văn hóa chưa được phát huy có hiệu quả để đem lại lợi ích về kinh tế thông qua hoạt động du lịch Điều đó, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có sở cứu khoa học và thực tiễn về những giá trị nổi trội của di sản văn hóa Việt Nam Trong đó, việc đầu tư vào công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng, chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, có thương hiệu

và có sức cạnh tranh là vấn đề quan trọng hàng đầu trong phát triển du lịch di sản văn hóa Việt Nam

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Thực trạng nguồn nhân lực trong phát triển du lịch di sản văn hóa Việt Nam sau đại dịch COVID-19 được kiểm soát

2.1.1 Khủng hoảng nguồn nhân lực du lịch sau khi đại dịch COVID-19 được kiểm soát

Đại dịch COVID -19 đã khiến trên 95% doanh nghiệp du lịch phải đóng cửa, tạm dừng hoạt động, khoảng 50 - 60% doanh nghiệp du lịch có nguy cơ phá sản Sở Du lịch Hà Nội cho biết, nửa đầu năm

2021, đã có khoảng 12,600 lao động tại các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn đang không có việc làm Ở mảng lữ hành, số lao động nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động chiếm khoảng 90% tổng số lao động doanh nghiệp lữ hành, tương đương trên 12.100 người Tại Đà Nẵng, trong số hơn 5.000 doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực du lịch, có hơn 90% doanh nghiệp đóng cửa do ảnh hưởng của COVID-19 Hiệp hội

Du lịch thành phố Đà Nẵng cho biết, có đến 1/10 doanh nghiệp là hội viên (tương ứng 1.000 doanh nghiệp) đã giải thể, số còn lại tiếp tục đóng cửa vì dịch bệnh Nhiều doanh nghiệp lữ hành, du lịch cũng đang tìm kiếm nguồn vốn hỗ trợ để có thể tồn tại và giữ chân đội ngũ lao động nòng cốt Tuy vậy, khó khăn chồng chất khó khăn khi phần lớn các doanh nghiệp đã cạn vốn hoặc đều đã vay ngân hàng Còn theo thống kê của Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, hiện có đến 90% doanh nghiệp lữ hành vừa và nhỏ, doanh nghiệp lữ hành chuyên kinh doanh thị trường trong nước đã tạm ngưng hoạt động Tính cả năm 2020 và hết quý II năm 2021, tổng cộng có trên 170 doanh nghiệp rút giấy phép kinh doanh dịch vụ

lữ hành Một số doanh nghiệp lớn vốn tư nhân chỉ bố trí nhân sự trực tại công ty, số còn lại cũng hoạt động cầm chừng hoặc chuyển hướng kinh doanh [8]

Bên cạnh đó, hàng loạt các khách sạn trên toàn quốc đóng cửa vì không có khách, nguồn nhân lực du lịch gặp vô vàn khó khăn Nhiều người đã thất nghiệp, rời bỏ nghề, tạm nghỉ việc hoặc chật vật chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực khác để duy trì cuộc sống Tình trạng này dẫn đến việc thất thoát trần trọng nguồn nhân lực du lịch nói chung và du lịch di sản văn hóa nói riêng Đây thực sự là một hiện tượng chưa từng có tiền lệ Nhiều công ty du lịch lo ngại, với tình trạng dịch chuyển lao động ra ngoài ngành như hiện nay, sau khi khống chế được dịch bệnh, toàn ngành sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng nguồn nhân lực Nếu tìm được công việc ổn định, thu nhập tốt, có lẽ khi quay lại trạng thái bình thường, việc thu hút lao động trong ngành trở lại sẽ rất khó khăn Dịch COVID-19 không chỉ ảnh hưởng đến nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp, mà còn tác động rất lớn đến công tác tuyển sinh của các cơ sở giáo dục du lịch PGS.TS Dương Văn Sáu, Trưởng Khoa Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho biết: Đại dịch COVID-19 đã khiến các cơ sở đào tạo phải chuyển đổi hình thức, phương pháp giảng dạy, đào tạo từ trực tiếp sang trực tuyến với cơ sở vật chất, trang thiết bị không đồng bộ, trình độ sử dụng công nghệ thông tin khác nhau; đồng thời, thiếu cơ sở thực hành, thiếu điều kiện học tập từ thực tiễn đã làm giảm chất lượng đào tạo Không chỉ vậy, công tác tuyển sinh ngành Du lịch của nhà trường cũng bị giảm đi đáng kể, số

Trang 3

lượng sinh viên ra trường trong hai năm gần đây đều gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm Điều này cũng

có nghĩa trong vài năm tới, số lượng lao động bổ sung mới cho ngành du lịch sẽ bị thiếu hụt [8]

Theo thống kê từ WTTC (Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới) cho thấy, chỉ trong hai năm

2020-2021, đại dịch COVID-19 đã làm mất đi 62 trên tổng số 334 triệu việc làm trong ngành Du lịch Có rất nhiều khuyến nghị, cảnh báo của nhiều tổ chức quốc tế và các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, khủng hoảng nguồn nhân lực du lịch khi đại dịch đi qua rất dễ xảy ra và mỗi quốc gia nên có sự chuẩn bị để giảm tránh hoặc không phải đối mặt với việc này Tuy nhiên, du lịch Việt Nam, rất tiếc lại đang rơi vào chính “khủng hoảng” đó khi năm 2020, dịch COVID-19 tác động sâu sắc và toàn diện, thay đổi toàn bộ chiến lược, kế hoạch và cấu trúc của ngành, trong đó có công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch Nhiều doanh nghiệp du lịch gặp rất nhiều khó khăn, hoạt động cầm chừng hoặc dừng hoạt động Điều này ảnh hưởng lớn đối với người lao động du lịch nói chung và du lịch di sản văn hóa nói riêng khi các doanh nghiệp phần lớn chỉ duy trì bộ khung với số lượng rất nhỏ nhân viên, còn lại cho nghỉ việc hoặc chờ việc Có doanh nghiệp hỗ trợ cho người lao động, có doanh nghiệp không và điều tất yếu sẽ dẫn đến việc chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động Hơn nữa, việc rời bỏ nghề du lịch chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực khác khiến cho tình trạng này dẫn đến việc thất thoát nguồn nhân lực đối với lĩnh vực

du lịch nói chung và du lịch di sản văn hóa nói riêng Một thực tế cũng cho thấy khi việc lựa chọn, chuyển đổi nghề nghiệp đã ổn định hơn, người lao động sẽ có tâm lý an tâm đối với công việc mới và không có ý định quay trở lại với du lịch nói chung và du lịch di sản văn hóa nói riêng Do vậy, các đơn vị hoạt động trong ngành Du lịch sẽ phải gặp thách thức về nhiều mặt khi chuỗi cung ứng du lịch bị đứt gãy, giảm sút về chất lượng dịch vụ, sự xuống cấp về cơ sở vật chất kỹ thuật, thiếu hụt nhân lực lao động

Do vậy, có thể nhận định rằng, nguồn nhân lực trong phát triển du lịch di sản văn hóa cũng nằm trong tình trạng giống như nguồn lực hoạt động phát triển du lịch chung của ngành Trong đó phải kể đến đội ngũ hướng dẫn viên du lịch cũng như đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp tại các điểm đến là di sản văn hóa vật thể, nguồn lực trực tiếp trong công tác thực hành, bảo tồn, duy trì và phát huy các giá trị

di sản văn hóa phi vật thể trong hơn hai năm qua không có việc làm và cũng trong tình trạng tương tự

2.1.2 Công tác đào tạo, bồi dưỡng du lịch còn nhiều bất cập

Đánh giá vấn đề thiếu hụt nguồn lực lao động trong ngành hiện nay, ông Phạm Văn Thủy – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch cho rằng, nhìn từ thực tiễn sau hơn hai năm trải qua đại dịch, ngành

Du lịch đã mở cửa trở lại với nhiều cơ hội và thách thức lớn Một trong số đó chính là vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực du lịch [7]

Sau ngày mở cửa, Du lịch Việt Nam cũng gặp khó khăn lớn trong tiến trình huy động nguồn lao động của ngành quay trở lại làm việc Bởi lẽ, đa số người lao động có tâm lý chưa sẵn sàng trở lại làm việc do

lo ngại dịch bệnh, một số đã chuyển nghề và dần ổn định nên không muốn quay lại ngành Do đó, vấn đề thiếu hụt nhân lực du lịch là vấn đề cấp bách, cần được tính toán, bổ sung kịp thời Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực mới, nhân lực trẻ bổ sung cũng gặp khó khăn, do quá trình đào tạo cần có thời gian thực hiện và bồi đắp Thực tế hiện nay, chỉ có một bộ phận nhân lực của ngành đã qua đào tạo Còn với cơ sở lưu trú

du lịch, hầu hết chỉ có nguồn nhân lực tại các khách sạn là qua đào tạo Với các đơn vị lưu trú như nhà nghỉ, homestay hầu hết đều là nguồn nhân lực tự do, không qua đào tạo Vì vậy, cần có những chính sách, giải pháp để bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, thậm chí phải “cầm tay chỉ việc” cho các nhóm lao động này

Cho đến nay, dịch COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp và chưa phải đã kết thúc, toàn xã hội cũng như ngành Du lịch phải chuyển sang giai đoạn hoạt động trong điều kiện bình thường mới Nhà nước đã

có chủ trương phát triển du lịch nội địa và mở cửa thị trường du lịch quốc tế từ đầu năm 2022 Song, có

Trang 4

nhiều vấn đề cần đặt ra đối với nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn mở cửa và phục hồi ngành Du lịch nói chung và hoạt động du lịch di sản văn hóa nói riêng Hiện nay công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch mới còn nhiều bất cập Cụ thể, tại các trường đại học cho thấy chương trình đào tạo dành cho sinh viên còn thiếu tính thực tế Một số chương trình giảng dạy cũng như bài giảng của giảng viên không áp dụng sát tính thực tế, từ đó ảnh hưởng tới chất lượng đầu ra của nguồn nhân lực du lịch Đây là vấn đề cần được xem xét, lưu ý và thay đổi để phù hợp với yêu cầu của thị trường; qua đó, tạo ra nguồn nhân lực bài bản, tiềm năng, sẵn sàng phục vụ ngành và hoạt động du lịch di sản văn hóa trong tương lai

2.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực và các nguồn lực khác trong phát triển

du lịch nói chung và du lịch di sản văn hóa Việt Nam nói riêng sau khi dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát

Thứ nhất, tiếp sức cho doanh nghiệp để giữ nguồn nhân lực: Để có thể khôi phục được lực lượng

lao động có tay nghề cao của ngành Du lịch khi đại dịch được kiểm soát, nhiều doanh nghiệp du lịch đã tinh giản bộ máy, sắp xếp lại vị trí việc làm, cố gắng giữ lại những nhân sự cốt cán để không mất nhiều thời gian tìm kiếm, đào tạo lại Một số doanh nghiệp tổ chức lớp tập huấn, bồi dưỡng, xây dựng lại quy trình quản lý, đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Đồng thời có hướng chuyển đổi mô hình kinh doanh nhằm giữ chân nguồn nhân lực Bên cạnh đó, các doanh nghiệp du lịch cũng cần được tiếp sức bởi trải qua 4 đợt dịch liên tiếp, “năng lượng” của họ đã cạn kiệt Hiện có hai vấn đề quan trọng nhất trong việc hỗ trợ hiện nay, đó là hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp du lịch để giảm áp lực trong điều kiện không có thu nhập Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ lao động thất nghiệp trong ngành

du lịch cũng như tạo điều kiện để người lao động quay trở lại với nghề khi hết dịch bệnh

Du lịch là ngành đặc thù, đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, cần thời gian dài tích lũy kinh nghiệm và đào tạo bằng thực tế trải nghiệm qua công việc hằng ngày Do đó, cần phải có những chính sách hỗ trợ

thích đáng nhằm giữ chân lực lượng lao động trong ngành Du lịch (Trong thời gian qua nhằm chia sẻ, hỗ

trợ phần nào cho nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là các hướng dẫn viên, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có đề xuất hỗ trợ người lao động là hướng dẫn viên du lịch bị mất việc làm do ảnh hưởng của dịch COVID-19 với số tiền 3.710.000 đồng/người bằng phương thức chi trả 1 lần Tổng số hướng dẫn viên du lịch đã được cấp thẻ trên toàn quốc đến thời điểm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất hỗ trợ

là 26.721 người Trong đó 16.965 hướng dẫn viên du lịch quốc tế, 8.743 hướng dẫn viên du lịch nội địa

và 1.013 hướng dẫn viên du lịch tại điểm Tính đến ngày 20/8, đã có khoảng 1.400 hướng dẫn viên trên

cả nước đã được xét duyệt hồ sơ hoặc nhận tiền hỗ trợ theo Nghị quyết 68/NQ-CP của Chính phủ về một

số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Dù số tiền không lớn, song việc hỗ trợ kịp thời

sẽ phần nào giúp người lao động trong ngành du lịch vượt qua khó khăn trước mắt, có thêm động lực trở lại với nghề khi dịch bệnh được kiểm soát)

Thứ hai, thay đổi và thích ứng linh hoạt, an toàn và hiệu quả: Việc khôi phục và phát triển nguồn

nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới khi du lịch Việt Nam mở cửa trở lại thì việc đào tạo nguồn nhân lực là điều cấp thiết Một trong những yếu tố quan trọng cho sự phục hồi và bứt phá đối với ngành Du lịch - đó chính là nguồn nhân lực qua đào tạo Việc thích ứng và thay đổi trong các hoạt động đào tạo du lịch cần có một sự linh hoạt, có thể bắt đầu từ việc tận dụng các tài nguyên sẵn có, hay là việc điều chỉnh những gì được coi là cố định và ổn định để hướng đến mục tiêu cuối cùng là trang bị cho nguồn nhân lực mới những kỹ năng, kiến thức và thái độ cần thiết trong công việc Do vậy, cần phát triển nguồn nhân lực theo cơ cấu hợp lý, bảo đảm số lượng, chất lượng, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình

độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập; Có chính sách toàn diện khuyến khích thúc đẩy phát

Trang 5

triển nguồn nhân lực và thị trường lao động; Chú trọng đào tạo kỹ năng nghề và kỹ năng mềm cho lực lượng lao động trực tiếp phục vụ du lịch, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch tại điểm du lịch di sản văn hóa; Khuyến khích hình thành đội ngũ tình nguyện viên hướng dẫn, hỗ trợ khách

du lịch lại các tuyến, điểm du lịch nói chung và các điểm đến là di sản văn hóa nói riêng

Hơn nữa, ngoài nhân lực được đào tạo bài bản, đối với nguồn nhân lực tự do làm việc trực tiếp tại hệ thống các nhà nghỉ, homestay cần có những chính sách, giải pháp để bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ hay

thậm chí là “cầm tay chỉ việc” cho các nhóm lao động này để có thể đáp ứng tốt công việc (Thống kê từ

Tổng cục Du lịch trong năm 2021, lượng khách quốc đến Việt Nam đạt hơn 157 nghìn lượt, giảm 95,9%

so với năm trước; lượng khách du lịch nội địa đạt khoảng 40 triệu lượt; giảm 28% so với năm 2020; tổng thu từ khách du lịch đạt 180 nghìn tỉ đồng, giảm 42% so với năm 2020; gần 60% lao động mất việc làm hoặc cắt giảm lao động, gần 90% doanh nghiệp lữ hành quốc tế dừng hoạt động Năm 2022, Việt Nam đặt mục tiêu đón 65 triệu lượt khách du lịch, trong đó có khoảng 5 triệu lượt khách quốc tế, khách du lịch nội địa đạt khoảng 60 triệu lượt khách, tổng thu từ khách du lịch đạt 400 nghìn tỉ đồng)

Thứ ba, tăng cường trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ: Ngành Du lịch cần tăng cường đào

tạo và đào tạo lại, bổ sung các kỹ năng cho đội ngũ nhân lực hiện có, đổi mới trong chương trình đào tạo

du lịch là hết sức cần thiết Đối với lực lượng lao động mới tuyển dụng, doanh nghiệp du lịch cần phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các cơ sở giáo dục du lịch các cấp trình độ để đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ cũng như kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao chất lượng phục vụ trực tiếp cho du khách Mặt khác, cần bổ sung những kiến thức, kỹ năng và thái độ đúng mực về phòng, chống dịch COVID-19, bảo vệ môi trường, kiến thức, kỹ năng tin học cần thiết Mỗi doanh nghiệp lĩnh vực du lịch, dịch vụ chú ý trang bị bổ sung kiến thức, kỹ năng cho người lao động khi đón khách nhằm đảm bảo an toàn cho du khách, nhân viên du lịch và cho cộng đồng dân cư tại điểm đến

Đối với lực lượng lao động cũ trở lại làm việc, cần đào tạo bổ sung những kiến thức, kỹ năng chuyên môn mới và bổ sung các kiến thức cần thiết trong bối cảnh mới Ngoài ra, đối với lực lượng lao động quản lý tại các điểm đến là di sản Văn hóa cấp quốc gia và di sản Văn hóa vật thể Thế giới, doanh nghiệp lữ hành hoạt động trong lĩnh vực du lịch di sản văn hóa, và cả cán bộ quản lý nhà nước về du lịch di sản văn hóa, ngoài những kiến thức quản lý về du lịch nói chung, du lịch di sản văn hóa nói riêng thì cần được bồi dưỡng thêm các kiến thức về phòng, chống dịch COVID-19, công nghệ thông tin, chuyển đổi số

Việc đào tạo những kiến thức về công nghệ số, chuyển đổi số trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế và đại dịch COVID-19 toàn cầu là rất quan trọng Nó tạo điều kiện cho một bộ phận lao động có thể

mở rộng quan hệ hợp tác và liên kết kinh tế và du lịch di sản văn hóa trên phạm vi thế giới và phạm vi quốc gia hoặc làm các công việc chuyên môn thường ngày mà không cần di chuyển đến công sở, tiết kiệm được hao phí lao động, chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất lao động Vì vậy, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực du lịch di sản văn hóa rất cần có kỹ năng sử dụng thành thạo các ứng dụng công nghệ thông tin, nhạy bén với các xu hướng của mạng xã hội Mỗi doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

du lịch di sản văn hóa cần chủ động bồi dưỡng, cập nhật các kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ nhân sự bằng nhiều cách như tổ chức đào tạo ngay từ khi mới tuyển dụng hoặc phối hợp với các cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch di sản văn hóa để tổ chức đào tạo nâng cao, chuyên sâu cho từng vị trí việc làm phù hợp

Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin cho du khách trong quá trình tìm hiểu thông tin về điểm đến là di sản văn hóa, hỗ trợ ứng dụng đặt tour, tuyến, các dịch vụ lưu trú, vận tải Tăng cường trang bị cho sinh viên ngành nhà hàng-khách sạn các kỹ năng về sử dụng các phần mềm ứng dụng trong

Trang 6

quản lý khách sạn, nhà hàng Sinh viên ngành hướng dẫn viên du lịch được tăng cường trang bị các kỹ năng về ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế tour du lịch di sản văn hóa, có khả năng cập nhật và tìm kiếm các dữ liệu di sản văn hóa, thực hiện số hóa tài nguyên du lịch di sản văn hóa, quay clip, biên tập và dựng các clip liên quan đến các hoạt động trải nghiệm du lịch di sản văn hóa thú vị của du khách trong chuyến đi, kỹ năng tổ chức sự kiện, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực du lịch đạt chất lượng ngày càng cao

Thứ tư, chính sách thu hút, khuyến khích nguồn nhân lực du lịch: Cần có chính sách thu hút, khuyến khích nguồn nhân lực du lịch di sản văn hóa có kinh nghiệm, kỹ năng nghề đã chuyển việc quay lại làm việc; thực hiện tốt các chính sách về lương, môi trường làm việc ; có chính sách lương theo bậc, năng lực để khuyến khích nhân viên, học nâng cao kiến thức, kỹ năng Ngoài ra, cũng cần củng cố, nâng cao chất lượng đầu ra đối với đội ngũ lao động nghề của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp du lịch, nâng cao năng lực và chất lượng của công tác đào tạo nghề; quản lý chặt chất lượng đào tạo; đồng thời cần kết hợp

và liên thông giữa các cấp độ đào tạo, giữa các chuyên ngành đào tạo đặc biệt là ngoại ngữ, tin học để đáp

ứng nhu cầu nguồn nhân lực trong phát triển du lịch di sản văn hóa

Thứ năm, xây dựng mục tiêu phát triển du lịch di sản văn hóa cho cộng đồng văn hóa xã hội tại địa phương nơi có các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể: Để phát triển du lịch di sản văn hóa thì cả

cộng đồng địa phương và khách du lịch đều phải có định hướng chia sẻ không gian chung của các di sản văn hóa Thế giới nói chung và di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại địa phương nói riêng Điều này có thể tạo ra một cuộc xung đột tiềm năng giữa hai bên liên quan Chính vì vậy, xét cho cùng, với tư cách là một sản phẩm du lịch, các di sản văn hóa dự kiến sẽ tối đa hóa lợi ích trong khi giảm thiểu các tác động tiêu cực tới văn hóa xã hội, kinh tế, môi trường và / hoặc chất lượng cuộc sống Vấn đề cần đặt ra ở đây là loại mục tiêu nào nên được đặt ra cho cộng đồng để làm hài lòng cả hai bên và để đảm bảo rằng lợi ích của cộng đồng được giữ tốt? Sự theo đuổi này trở nên phức tạp hơn khi một cộng đồng chủ nhà nhất định không phải là một thực thể đồng nhất và đại diện cho lợi ích nội bộ mâu thuẫn Do đó, các nhà hoạch định chính sách và những người ra quyết định liên quan đến việc xây dựng kế hoạch phát triển du lịch di sản

văn hóa nên cẩn trọng xây dựng các mục tiêu phát triển bền vững và được cộng đồng chấp thuận

Những trọng tâm phổ biến nhất sẽ là:

Ở góc độ Môi trường: 1) Giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường do du lich (văn hóa) đem

lại; 2) Cho phép cộng đồng có thể giới hạn sự chấp nhận có thể thay đổi môi trường được của họ; 3) Thu hút người dân địa phương lập kế hoạch và quản lý các tác động đến môi trường; 4) Chứng minh cho người dân địa phương về sự phát triển du lịch di sản văn hóa trong không gian chung của họ sẽ góp phần khôi phục những tác động xấu đến môi trường như là một phần của quá trình bảo tồn các di sản văn hóa;

và 5) Xây dựng các chính sách bắt buộc nhằm đảm bảo các lợi ích do du lịch di sản văn hóa đem lại sẽ được trực tiếp đóng góp vào sự tái tạo môi trường và bảo tồn các di sản

Ở góc độ Kinh tế: 1) Lôi kéo cộng đồng tham gia vào hoạt động kinh tế du lịch địa phương bằng các

biện pháp đào tạo, khuyến khích về tài chính, tạo các vườn ươm doanh nghiệp ,; 2) Mở ra một tổ chức tiếp thị điểm đến địa phương hoặc liên kết cộng đồng với tổ chức tiếp thị điểm đến để tạo ra các lợi thế quy mô

về kinh tế cho người dân; 3) Phân tích các lợi thế kinh doanh về du lịch theo không gian và chức năng cho phép số lượng các doanh nghiệp có thể tối đa hưởng lợi về mặt kinh tế đối với di sản; 4) Lập kế hoạch và theo dõi sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ một cách cẩn thận để tránh việc bỏ giữa chừng trong 3 năm đầu kể từ sau khi tổ chức hoạt động du lịch di sản văn hóa vật thể hoặc phi vật thể tại địa phương tiến hành

Ở góc độ Văn hóa xã hội: 1) Đảm bảo ở cấp độ lập kế hoạch và nghiên cứu tính khả thi để các giá trị

nổi bật của di sản văn hóa không mâu thuẫn với những lợi ích và nguyên tắc của người dân địa phương và

Trang 7

thậm chí trao quyền cho họ; 2) Sử dụng việc duy trì và bảo tồn các giá trị di sản như là một đòn bẩy cho

sự hồi sinh văn hóa (Chủ yếu liên quan đến thế hệ trẻ địa phương); 3) Sử dụng quá trình được ghi nhận di sản văn hóa như là một công cụ để thúc đẩy tình yêu đối với địa phương và sự đánh giá cao về di sản văn hóa của địa phương nhằm tăng cường sự kết nối với cộng đồng; 4) Cho phép người dân địa phương thiết lập các chương trình nghị sự riêng để họ có sự trao đổi về văn hóa xã hội và họ sẵn sàng tiếp nhận một lượng lớn du khách hơn cả mong đợi đến tham quan; 5) Thiết lập hệ thống giám sát thông qua việc nghiên cứu, ghi lại những thay đổi về văn hóa xã hội, nhằm tạo ra sự nhận thức về quản lý các di sản và tạo điều kiện cho các chính sách tham quan linh hoạt và năng động; 6) Cho phép tất cả các thành phần cộng đồng địa phương tham ra vào việc lập kế hoạch, phát triển và hoạt động

Ở góc độ chất lượng cuộc sống: 1) Đảm bảo quyền truy cập của người dân địa phương vào các cơ sở

giải trí, di sản và phát triển du lịch như một phần của việc du lịch hóa các di sản thế giới; 2) Quản lý các mẫu truy cập để đảm bảo khả năng tiếp cận của người dân địa phương đối với các hệ thống giao thông và các dịch vụ khác tại địa phương; 3) Sử dụng sự hiện diện của khách du lịch để tạo ra các sự kiện và dịch

vụ giải trí trong ngưỡng kinh tế tối thiểu; 4) Giảm thiểu bất kỳ sự lãng phí tiềm năng nào đến cuộc sống hàng ngày; 5) Giảm thiểu tối đa và loại bỏ toàn bộ những tác động gây ô nhiễm từ khách du lịch tới các di sản thế giới nói riêng và các di sản địa phương nói chung

3 Kết luận

Qua đánh giá về tiềm năng của du lịch di sản văn hóa Việt Nam và thực trạng nguồn lực trong phát triển du lịch di sản văn hóa Việt Nam khi đại dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát Tác giả đã đưa ra các đánh giá thực trạng xét trên góc độ khủng hoảng nguồn nhân lực chung của ngành du lịch sau thời kỳ đại dịch COVID-19, cũng như sự bất cập trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong du lịch Trên cơ sở đó, một số giải pháp nguồn nhân lực và các nguồn lực khác trong phát triển du lịch nói chung

và du lịch di sản văn hóa Việt Nam nói riêng thời kỳ đại dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát đã được tác giả khuyến nghị, trong đó vai trò của cộng đồng địa phương cũng như tính trung tâm của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch di sản văn hóa được đề cập./

Tài liệu tham khảo

[1] Du lịch Việt Nam, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

[2] TS Hà Văn Siêu (2013), Đổi mới trong quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam, Website Viện

Nghiên cứu phát triển Du lịch

[3] TS Vũ Tuấn Anh, Viện Kinh tế Việt Nam (2013), Khai thác tiềm năng thiên nhiên và giá trị văn hóa

truyền thống để phát triển du lịch cộng đồng ở Măng Đen

[4] Michael M Coltman (1991), Tiếp thị du lịch, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh

[5] Tourism Management at UNESCO World Heritage Sites (2018), edited by Silvia De Ascaniis,

Maria Gravari-Barbas and Lorenzo Cantoni

[6] http://www.vietnamtourism.gov.vn

[7] http://www.vietnamtourism.com

[8]

https://www.vietnamplus.vn/nhan-luc-du-lich-hau-covid-cuoc-khung-hoang-chua-co-tien-le/782003.vnp

[9] http://www.dulichvietnam.com.vn

[10] http://www.vista.net.vn

[11] https://thuathienhue.gov.vn

Trang 8

[12] https://thoibaotaichinhvietnam.vn/giai-bai-toan-ve-thieu-hut-nguon-nhan-luc-khi-mo-cua-du-lich-102900.html

[13] http://www.nvbi.nlm.nih.gov

[14] http://thaiembassy.org

[15] https://www.fun-mooc.fr/courses/course-v1:Paris1+16012+session01/about:

Abstract:

HUMAN RESOURCES FOR ACTIONS TO DEVELOP VIETNAM'S CULTURAL HERITAGE TOURISM WHEN THE COVID-19 PANDEMIC IS CONTROLLED

The article on human resources for solutions to develop Vietnam's cultural heritage tourism after the COVID - 19 pandemic period is under control to assess the current situation of human resources for the development of cultural heritage tourism activities in Vietnam After the COVID-19 pandemic…, what are the inadequacies, difficulties and causes? To then recommend solutions for planners to remove difficulties in human resources and some other resources in developing Vietnam's cultural heritage tourism after the COVID-19 pandemic as well as towards the goal of sustainable development cultural heritage tourism in Vietnam

Keywords: Human resources; Cultural heritage tourism; The COVID - 19 pandemic; Vietnam

Ngày đăng: 14/10/2022, 18:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w