1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI KHI DU LỊCH PHỤC HỒI

8 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hợp Tác Quốc Tế Về Phát Triển Nguồn Nhân Lực Du Lịch Trong Trạng Thái Bình Thường Mới Khi Du Lịch Phục Hồi
Tác giả Trần Thị Phương Nhung
Người hướng dẫn ThS. Trần Thị Phương Nhung
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Quản trị Du lịch
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 253,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 126 HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC.

Trang 1

HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI KHI DU LỊCH PHỤC HỒI

ThS Trần Thị Phương Nhung

Phó Vụ trưởng, Vụ Hợp tác quốc tế, Tổng cục Du lịch Email: nhungtp@vietnamtourism.gov.vn

Tóm tắt: Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn du lịch quốc tế và du lịch nội địa Mặc dù các cấp, các ngành,

các doanh nghiệp đang tích cực nỗ lực khôi phục hoạt động du lịch nhưng toàn ngành đang đứng trước

khó khăn lớn về thiếu hụt lao động du lịch cả về số lượng và chất lượng Bài viết này trên cơ sở đánh giá

thực trạng nguồn nhân lực du lịch, tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch của Việt

Nam, tổng quan hoạt động hợp tác, liên kết quốc tế về phát triển nguồn nhân lực du lịch trong thời gian

qua sẽ tập trung đề xuất một số giải pháp liên quan đến công tác hợp tác quốc tế nhằm góp phần phát

triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong bối cảnh hậu COVID-19

Từ khóa: Đào tạo du lịch; Lao động du lịch; Nguồn nhân lực; Hợp tác du lịch

1 Đặt vấn đề

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, có tính liên ngành, liên vùng, hội nhập quốc tế

và xã hội hóa cao, đóng vai trò động lực tạo việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Theo Tổ

chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hợp quốc (UNWTO), năm 2019, khách du lịch quốc tế toàn cầu là

1,46 tỷ lượt, tăng 3,8% so với năm 2018, tạo thu nhập 1,48 nghìn tỷ USD, đóng góp khoảng 10% vào

GDP toàn cầu [12] Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), ngành du lịch tạo ra hơn 334

triệu việc làm, cứ 10 việc làm trên thế giới có một việc làm trong ngành Du lịch Đồng thời, với đặc thù

tính liên ngành cao, một việc làm trong ngành Du lịch có thể gián tiếp tạo ra 1,5 việc làm cho các

ngành liên quan [14]

Trước đại dịch COVID-19, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc cả về lượng

khách và tổng thu du lịch Năm 2019, Việt Nam đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế, vươn lên đứng

thứ tư trong ASEAN1 Tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam đạt 16,2% so với năm 2018, cao hơn

đáng kể so với các nước trong khu vực2 Cũng trong năm 2019, ngành Du lịch đã phục vụ 85 triệu lượt

khách du lịch nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 720.000 tỷ đồng, đóng góp 9,2% cho GDP

Lượng khách du lịch quốc tế mặc dù chỉ bằng 21,2% lượng khách du lịch nội địa nhưng chiếm tới 55,7%

cơ cấu doanh thu ngành du lịch [5] Ngành du lịch đã tạo ra 2,3 triệu việc làm, trong đó có trên 800.000

lao động trực tiếp [2] Du lịch tăng trưởng nhanh kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về lực lượng lao động

trong ngành

Đại dịch COVID-19 đã tác động nghiêm trọng tới du lịch toàn cầu nói chung và Du lịch Việt Nam

không phải ngoại lệ Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong

năm 2020 là 3,8 triệu người, giảm 78,7% so với năm 2019 [6]; năm 2021 là 157.300 lượt3, giảm 95,9% so

với năm 2020 [7] Từ 15/3/2022, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn hoạt động du lịch, bao gồm cả du lịch

1

Sau Thái Lan, Ma-lai-xi-a, đã tiến rất sát với Xinh-ga-po (19,1 triệu lượt), vượt qua In-đô-nê-xi-a

(16,1 triệu lượt)

2

Thái Lan (+4,2%), In-đô-nê-xi-a (+1,9%), Xinh-ga-po (3,2%)

3

Trong đó khách du lịch vào Việt Nam theo Chương trình đón khách du lịch quốc tế thí điểm khoảng 3.500 lượt

Trang 2

quốc tế đến và đi Tuy nhiên, toàn ngành đang gặp khó khăn lớn về thiếu hụt nhân lực du lịch cả về số lượng và chất lượng, do đa số người lao động du lịch đã buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong thời gian du lịch đóng băng

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trước và trong đại dịch COVID-19

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực du lịch

Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp người tạo thành lực lượng lao động của một tổ chức, lĩnh vực kinh doanh, ngành hay nền kinh tế; theo nghĩa hẹp là vốn con người, kiến thức, kĩ năng mà

các cá nhân làm chủ [11] Nguồn nhân lực là một yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, đóng góp vào

sự phát triển của tổ chức, ngành, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Có thể hiểu, nguồn nhân lực du lịch

là những người “làm” du lịch

Nếu phân chia theo lĩnh vực hoạt động, nguồn nhân lực du lịch được chia làm ba nhóm làm việc ở :

1) Khu vực quản lý nhà nước về du lịch; 2) Khu vực sự nghiệp du lịch; và 3) Khu vực kinh doanh du lịch

như lữ hành, lưu trú, vận chuyển, hướng dẫn, ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí và các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch4 Bài viết này tập trung vào nhóm nguồn nhân lực thứ 3, nhóm lao động tại khối kinh doanh cung cấp dịch vụ du lịch cả ở doanh nghiệp và hộ tư nhân, cá nhân làm du lịch cộng đồng

2.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trước đại dịch COVID-19

Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về số lượng, nguồn nhân lực ngành Du lịch thời

điểm tháng 10 năm 2017 là 2.100.765 người (trong đó có 724.402 lao động trực tiếp và trên 1.376.363 lao động gián tiếp), chiếm khoảng 3,6% tổng số lao động cả nước, tăng gần 17% so với năm 2015 Ước tính năm 2020, tổng nhân lực của ngành Du lịch là 2,3 triệu người, trong đó có trên 800.000 lao động

trực tiếp Phân chia theo lĩnh vực hoạt động, nhân lực tại khu vực kinh doanh du lịch chiếm 98,1% tổng nhân lực của Ngành [2]

Lao động tại doanh nghiệp chia theo phân ngành như sau: Lao động trực tiếp phục vụ bàn, bar chiếm 15%, phục vụ buồng 14,8%, chế biến món ăn, đồ uống 10,6%, điều khiển phương tiện vận chuyển khách 10,4%, lễ tân chiếm 9%, lữ hành, hướng dẫn du lịch 4,9% và lao động khác (nhân viên bán hàng lưu niệm, bảo vệ, nhân viên kỹ thuật, sửa chữa, bảo dưỡng trong khách sạn, chăm sóc cây cảnh ) chiếm 35,3% Nhân lực phục vụ bàn, bar, buồng có tỷ trọng lớn là do đặc thù khối dịch vụ này của hoạt động khách sạn yêu cầu nhiều lao động [2]

Cơ cấu theo ngành nghề chuyên môn, nhân lực làm công tác quản trị, giám sát trong doanh nghiệp du

lịch chiếm 25% là quá nhiều Theo kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực du lịch của các nước EU thì tỷ trọng phù hợp khoảng 15% Có thể nói, cơ cấu theo trình độ đào tạo của nhân lực du lịch Việt Nam hiện đang mất cân đối Tỷ lệ “thầy/thợ” hiện tại là 1:3 trong khi hợp lý là vào khoảng 1:6

Về chất lượng nguồn nhân lực du lịch, trước hết phải kể đến trình độ đào tạo du lịch Theo số liệu

của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhân lực được đào tạo đại học và sau đại học về du lịch chiếm 7,4% số nhân lực có chuyên môn du lịch, bằng 3,2% tổng số nguồn nhân lực, chủ yếu làm việc trong lĩnh vực hướng dẫn, marketing du lịch Nguồn nhân lực du lịch trực tiếp có trình độ đào tạo sơ cấp, trung cấp

và cao đẳng du lịch chiếm 47,3% nhân lực được đào tạo, bằng 19,8% nguồn nhân lực toàn Ngành Nguồn nhân lực trình độ dưới sơ cấp (đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng) chiếm 45,3% nhân lực có chuyên môn, bằng 19,4% nguồn nhân lực toàn Ngành Nếu chỉ tính nguồn nhân lực có trình độ sơ cấp trở lên thì nguồn

4

Tên gọi các dịch vụ du lịch theo Luật Du lịch năm 2017

Trang 3

nhân lực được đào tạo chiếm khoảng 23% tổng số nguồn nhân lực toàn Ngành Nếu tính thêm số nhân lực được đào tạo truyền nghề, dưới 3 tháng thì nguồn nhân lực được đào tạo của ngành Du lịch đạt khoảng 42% tổng số nguồn nhân lực toàn Ngành Về trình độ ngoại ngữ, nhân lực sử dụng được ngoại ngữ khá cao, chiếm 60% tổng số nguồn nhân lực; tuy nhiên đặc thù của Ngành đòi hỏi phải nâng cao hơn nữa Nguồn nhân lực biết ngoại ngữ nhiều nhất là tiếng Anh, chiếm khoảng 42% tổng số nhân lực toàn Ngành, trong đó 85% ở mức cơ sở, có thể giao tiếp bình thường và có 15% số nhân lực có trình độ đại học, đọc, nói và giao tiếp thông thạo Số 15% này chủ yếu thuộc nhóm nhân lực làm hướng dẫn du lịch, lễ tân khách sạn Về trình độ tin học, toàn ngành có 563.961 người biết sử dụng máy tính phục vụ được yêu cầu công việc, chiếm khoảng 78% tổng số nguồn nhân lực là lao động trực tiếp thống kê được của Ngành; có 160.441 người không biết sử dụng máy tính phục vụ yêu cầu công việc [2]

2.1.3 Tác động của đại dịch COVID-19 đến nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

Đại dịch COVID-19 đã tác động mạnh mẽ chưa từng có trên phạm vi toàn cầu, trong đó ngành Du lịch là một trong những ngành bị thiệt hại nặng nề nhất Theo WTTC, trong năm 2020, đã có 62 triệu việc làm bị mất đi, giảm 18,5% so với năm 2019 [14] Ngành Du lịch của Việt Nam không phải ngoại lệ Theo báo cáo của Tổng cục Du lịch, năm 2020, đã có 338/2.519 doanh nghiệp lữ hành quốc tế xin thu hồi giấy phép [6]; sang năm 2021, số doanh nghiệp lữ hành quốc tế còn lại là 2.111 [7] Tổng cục Du lịch sơ bộ đánh giá có tới 90% doanh nghiệp lữ hành quốc tế trong nước đã phải đóng cửa, số còn lại đã phải chuyển dịch sang hướng khai thác du lịch nội địa Khoảng 90% cơ sở lưu trú phải đóng cửa; các khách sạn, nhà hàng lần lượt phải cắt giảm biên chế đến 70% - 80% nhân sự; công suất buồng trung bình

của cả nước chỉ đạt từ 10-15% [3] Theo khảo sát của ILO, ngay vào thời điểm đầu năm 2020, trước ảnh

hưởng của dịch bệnh, có đến 18% các doanh nghiệp phải cho toàn bộ các lao động nghỉ việc, 48% cắt giảm từ 50-80% lượng nhân sự [4] Tính chung trong năm 2020, có đến 60% lao động trong lĩnh vực du

lịch bị cắt giảm hoặc lâm vào tình trạng thất nghiệp [3]

Kết quả khảo sát tháng 9/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho thấy gần 30% doanh nghiệp

lữ hành cắt giảm 51-80% nhân lực và gần 50% doanh nghiệp lữ hành ngưng hoạt động, cho toàn bộ nhân viên nghỉ việc; 32,8% cơ sở lưu trú cắt giảm từ 51-80% nhân viên và gần 20% cơ sở lưu trú đã đóng cửa hoàn toàn và cho tất cả nhân viên nghỉ việc [3]

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển, doanh nghiệp vận tải du lịch (ô

tô, tàu du lịch), các khu, điểm tham quan du lịch, các cơ sở kinh doanh các loại hình dịch vụ liên quan trực tiếp tới hoạt động du lịch như cơ sở ăn uống, vui chơi giải trí, giao thông vận tải cũng phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng tương tự dưới sự ảnh hưởng của đại dịch

Thực trạng trên đã buộc các lao động du lịch mất việc phải chuyển ngành nghề để đảm bảo sinh kế, tiềm ẩn nguy cơ thất thoát lao động du lịch Khi dịch bệnh được kiểm soát và ngành Du lịch bước vào giai đoạn phục hồi, hầu hết các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ khủng hoảng nhân sự trầm trọng Những thất thoát về nhân lực, kết hợp với việc nguồn nhân sự du lịch của Việt Nam còn thiếu và yếu, để lại những hậu quả lâu dài cho ngành kinh tế quan trọng này

2.1.4 Định hướng phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 17/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã xác định các nhiệm vụ căn bản về phát triển nguồn nhân lực của Du lịch Việt Nam như sau: 1) Nhà nước có chính sách thu hút đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực ngành du lịch; tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch cả về cơ sở vật chất kỹ thuật, nội dung, chương trình và đội ngũ

giáo viên Đẩy mạnh xã hội hoá và hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực phát triển nguồn nhân lực ngành

du lịch; 2) Đa dạng hoá các hình thức đào tạo du lịch Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến

Trang 4

trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch; 3) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và lao động nghề du lịch Chú trọng nâng cao kỹ năng

nghề, ngoại ngữ và đạo đức nghề nghiệp cho lực lượng lao động ngành Du lịch; 4) Hoàn thiện bộ tiêu chuẩn nghề quốc gia về du lịch tương thích với các tiêu chuẩn trong ASEAN; thành lập Hội đồng nghề du lịch quốc gia và Hội đồng cấp chứng chỉ nghề du lịch [1]

Trong Quyết định số 147/QĐ- TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030” xác định phát triển nguồn nhân lực du lịch là một trong 9 giải pháp

quan trọng và là một trong những nhóm nhiệm vụ trọng tâm Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030 đặt mục tiêu đến năm 2025, ngành Du lịch sẽ tạo ra khoảng 5,5-6 triệu việc làm, trong đó có 2 triệu lao động trực tiếp; đến năm 2030 là khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp [9]

2.2 Thực trạng và giải pháp hợp tác quốc tế phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

2.2.1 Hợp tác quốc tế phát triển nguồn nhân lực du lịch trước và trong đại dịch COVID-19

Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, ngành Du lịch đã tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về cả chiều rộng và chiều sâu Cho đến nay, đã có hơn 100 thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế được kí kết nhân danh Chính phủ, cấp Bộ, cấp Tổng cục Du lịch Trong các thỏa thuận, điều ước quốc tế, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch là một trong các nội dung hợp tác trọng tâm giữa Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế Việt Nam là thành viên tích cực của nhiều tổ chức/ diễn đàn đa phương có hợp tác du lịch như Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNWTO), Hiệp hội Lữ hành Châu Á

- Thái Bình Dương (PATA), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS),… Đặc biệt, “Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về nghề du lịch trong ASEAN” (MRA-TP) do 10 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, tham gia kí kết từ năm 2009 đã có hiệu lực triển khai, trong đó nội dung chính gồm công nhận lẫn nhau về chương trình đào tạo, cơ sở đào tạo, đánh giá/ thẩm định trình độ nghề, chứng nhận trình

độ nghề theo vị trí việc làm

Về hợp tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam ở cấp ngành, cấp quốc gia, phải kể đến hai dự án lớn do Liên minh châu Âu (EU), Chính phủ Luxembourg đã tài trợ không hoàn lại cho Du lịch Việt Nam; dự án đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về tiếng Anh và chuyên môn du lịch do Chính phủ Singapore tài trợ với hơn 1.000 người được thụ hưởng

Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ đã đào tạo cho 4.000 người, trong đó

có tổ chức 30 khoá đào tạo Đào tạo viên cho 700 cán bộ nghiệp vụ của các khách sạn tại các trung tâm du lịch lớn (8 khóa do chuyên gia quốc tế giảng bằng tiếng Anh); 4 khóa tiếng Anh và 4 khóa đào tạo phương pháp giảng dạy hiện đại cho 160 giáo viên Gửi 15 giáo viên và 5 cán bộ quản lý nhà nước đi học

3 tháng ở Malaysia; 10 giáo viên đi học chế biến món ăn Âu 1 tháng ở Áo, bồi dưỡng 61 giáo viên của các trường du lịch thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [2]

Dự án Luxembourg VIE/031 “Tăng cường năng lực nguồn nhân lực du lịch khách sạn” do

Luxembourg tài trợ đã: 1) Đào tạo bồi dưỡng 395 lượt giáo viên, giảng viên của 9 trường thụ hưởng Dự

án về kỹ năng, phương pháp giảng dạy ở các cấp trình độ, 78 giáo viên tiếng Anh được Hội đồng Anh dạy phương pháp dạy Tiếng Anh; 2) Lựa chọn cử 165 giảng viên, giáo viên đi học 1 năm ở Luxembourg; 3) Nâng cao năng lực quản trị cơ sở đào tạo, dạy nghề Du lịch: 136 cán bộ lãnh đạo và quản lý của 9 trường tham gia chương trình tập huấn quản lý cơ sở đào tạo du lịch tại Malaysia; Tổ chức 8 tập huấn và hội thảo với 146 lượt lãnh đạo 9 trường tham gia các chuyên đề cụ thể liên quan trực tiếp đến quản trị nhà trường;

Trang 5

Đã xây dựng và tổ chức thực hiện “Kế hoạch Kinh doanh” cho Villa Huế giúp trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế tăng cường năng lực quản lý khách sạn trường; 4) Tăng cường năng lực đào tạo đỉnh cao, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội được công nhận là Trung tâm luyện thi tay nghề ASEAN; Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế được công nhận là Trung tâm luyện thi tay nghề quốc gia; 5) Tổ chức tập huấn về MRA-TP cho 18 lãnh đạo trường và cán bộ phụ trách đào tạo của 9 trường; Phát triển mô hình đào tạo gắn với thực tiễn cho tất cả 9 trường; hình thành VTCB (24/4/2003) phù hợp với MRA - TP; thực hiện

cơ chế thừa nhận kiến thức đã có (APL) trước khi có Thỏa thuận [2]

Ở cấp doanh nghiệp, đã có nhiều cơ sở giáo dục liên kết với nước ngoài mở đào tạo chuyên ngành du lịch tại Việt Nam như Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại thương, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Hồng Bàng, Đại học Hoa Sen, Viện Du lịch thuộc Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, Đại học FPT… Cũng đã

có cơ sở đào tạo du lịch 100% vốn nước ngoài vận hành thành công tại Việt Nam như PEGASUS chuyên đào tạo về nghề du lịch hay Đại học La Trobe (LTU) đào tạo bậc đại học chuyên ngành du lịch

2.2.2 Các giải pháp tăng cường hợp tác phát triển nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới

Để đảm bảo phát triển nhân lực du lịch đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng cao, có khả năng làm việc trong môi trường công nghệ, cạnh tranh toàn cầu và đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, dưới góc độ hợp tác quốc tế, cần xem xét tới các giải pháp sau:

a) Tiếp tục kí kết các thỏa thuận quốc tế hợp tác về du lịch

Việc tham gia các tổ chức thương mại quốc tế, ký kết các Hiệp định thương mại tự do, các điều ước quốc tế về du lịch là điều kiện thuận lợi phát triển thị trường lao động Việt Nam, hoàn thiện quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn lực lao động du lịch

Ở cấp độ quốc gia, Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tiếp tục tham gia đàm phán ký kết thêm các thỏa thuận quốc tế về du lịch, trong đó có nội dung hợp tác phát triển nguồn nhân lực du lịch làm căn cứ cho Tổng cục Du lịch, các chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo du lịch của Việt Nam hợp tác với các đối tác nước ngoài

Trong bối cảnh ngân sách nhà nước dành cho giáo dục còn hạn hẹp, mức chi cho giáo dục còn rất thấp, đang có nguy cơ bị tụt hậu về mặt giáo dục và đào tạo nhân lực so với thế giới và khu vực, việc mời gọi các công ty, các trường đại học có uy tín trên thế giới liên doanh, liên kết trong đào tạo nguồn nhân

lực là vô cùng cần thiết Vì vậy, Chính phủ cần có chính sách tạo điều kiện để phát triển, khuyến khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế có uy tín đặt chi nhánh để đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước

Ở cấp độ doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo du lịch cần đẩy mạnh ký kết các thỏa thuận liên kết đào tạo, có thể thực hiện toàn phần tại Việt Nam hoặc thực hiện một phần tại Việt Nam và một phần tại nước ngoài; hoặc đào tạo từ xa Liên kết đào tạo với nước ngoài được thực hiện theo các chương trình đào tạo như: Chương trình đào tạo do hai bên xây dựng; cấp văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài và của Việt Nam; Chương trình đào tạo của nước ngoài; cấp văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài; Chương trình đào tạo của nước ngoài chuyển giao; cấp văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài và của Việt Nam5

b) Mở rộng hợp tác công nhận, thừa nhận lẫn nhau về nghề du lịch

Sự công nhận và thừa nhận lẫn nhau là điều kiện để trao đổi và hợp tác, hội nhập quốc tế về phát

5

Các hình thức liên kết đào tạo với nước ngoài quy định tại Nghị định 24/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các quy định về liên kết đào tạo với nước ngoài quy định tại Nghị định 15/2019/NĐ-CP ngày 1/2/2019

Trang 6

triển nguồn nhân lực du lịch, tạo điều kiện cho người lao động được di chuyển thuận lợi và cơ sở sử dụng lao động có điều kiện tuyển dụng được lao động chất lượng cao, tạo điều kiện cho hợp tác, hội nhập du lịch trong khu vực Với tầm quan trọng của việc công nhận và thừa nhận lẫn nhau như trên, thời gian tới,

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch cần mở rộng hợp tác quốc tế với các nước ngoài ASEAN về các nội dung công nhận:

- Công nhận về chương trình đào tạo và nội dung kiến thức, kỹ năng chuyên ngành đào tạo du lịch

- Công nhận về kết quả đào tạo thể hiện qua văn bằng, chứng chỉ ứng với các trình độ đào tạo du lịch

Trước mắt, nghiên cứu và hài hòa hóa Chương trình đào tạo du lịch chung ASEAN trong điều kiện Việt

Nam để làm cơ sở cho việc công nhận nghề về du lịch trong ASEAN của Việt Nam

- Thực hiện Tiêu chuẩn nghề du lịch ASEAN, cơ chế thừa nhận lẫn nhau và công nhận kỹ năng các nghề du lịch và các nghề liên quan nhằm đạt tới những tiêu chuẩn chung trong khu vực và quốc tế, tạo tiền đề phát huy tính tích cực và năng động của thị trường lao động không biên giới, không rào cản trong

quá trình hội nhập du lịch khu vực, thúc đẩy hợp tác đào tạo và sử dụng lao động du lịch

c) Hợp tác quốc tế về xây dựng chương trình giảng dạy, phương pháp đánh giá

Hội nhập khu vực và quốc tế đặt ra yêu cầu đối với đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch trong nước phải dần được chuẩn hóa

Trước hết, cần tăng cường hợp tác quốc tế trong xây dựng chương trình đào tạo Việc xây dựng các khung chương trình đào tạo cần được tính đến yếu tố hội nhập để đảm bảo các chương trình khung đào tạo phù hợp với chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế Để đạt mục tiêu này, trong quá trình xây dựng các khung hoặc chương trình đào tạo ở các cấp cần mời các chuyên gia, các giảng viên quốc tế có kinh nghiệm cùng tham gia thực hiện

Tiếp đến, cần đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chuyển từ đánh giá kiến thức ở cấp độ nhớ, hiểu, phân tích sang đánh giá năng lực và khả năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn Đồng thời, các trường cần xây dựng và công bố chuẩn đầu ra, kiểm định chất lượng bên trong kết hợp với kiểm định chất lượng ngoài, lấy ý kiến đánh giá chất lượng của tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm đào tạo

Với ngôn ngữ Anh, Nhà trường cần tổ chức giảng dạy bộ môn tiếng Anh chuyên ngành, các bài kiểm tra định kỳ có tiêu chuẩn đầu ra và cấp chứng chỉ tiếng Anh khi hoàn thành Các cơ sở giáo dục du lịch

có thể xem xét liên kết với các cơ sở đào tạo tiếng Anh quốc tế để xây dựng nội dung đào tạo tiếng Anh phù hợp từng vị trí công việc và phân ngành lao động du lịch

d) Tăng cường hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục du lịch, doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước

Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế giúp cho nguồn nhân lực được tự do dịch chuyển một cách

sôi động, đa dạng nhưng cũng nâng cao áp lực cạnh tranh do đòi hỏi kỹ năng của người lao động phải phù hợp với chuẩn mực lao động toàn cầu Điều này cũng làm gia tăng áp lực lên hệ thống giáo dục của Việt Nam trong việc đào tạo nguồn nhân lực có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế Một số nội dung các cơ sở giáo dục du lịch của Việt Nam cần chú trọng xem xét trong hợp tác liên kết:

- Hợp tác, kết hợp chặt chẽ giữa các nhà khoa học, chuyên gia giáo dục, giảng viên giàu kinh nghiệm

trong và ngoài trường, trong và ngoài nước, các đơn vị sử dụng lao động của Việt Nam và nước ngoài và

người học trong xây dựng chương trình đào tạo theo hướng cập nhật, hiện đại, đạt chuẩn quốc tế và đáp

ứng theo nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp

- Tham gia mạng lưới đào tạo du lịch trong và ngoài khu vực, đảm bảo chiếm được vị thế và uy tín trong mạng lưới, hoạt động hiệu quả hơn

- Các cơ sở giáo dục du lịch cần mở rộng hợp tác về đào tạo, nghiên cứu với các trường đại học của các nước phát triển, có chính sách thu hút, khuyến khích giảng viên, chuyên gia nước ngoài và giảng viên

Trang 7

là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy ở Việt Nam nhằm đảm bảo đủ về số lượng và nâng

cao chất lượng giảng viên, đặc biệt với những học phần chuyên sâu về du lịch hoặc những học phần mà Việt Nam còn ít các giảng viên, chuyên gia có trình độ cao

- Trao đổi học sinh trong quá trình đào tạo, đặc biệt là đào tạo thực hành, thực tập nghề nghiệp; thu nạp học sinh quốc tế đến từ các nước trong khu vực hoặc liên kết mở các chuyên ngành đào tạo mà Việt Nam có thế mạnh như chế biến món ăn tại các nước khác trong khu vực đào tạo học sinh quốc tế

- Các cơ sở giáo dục du lịch chú trọng đẩy mạnh công tác liên kết nghiên cứu khoa học thông qua việc phối hợp với cơ sở đào tạo nước ngoài đồng tổ chức các hội thảo khoa học, cùng thực hiện nghiên cứu

3 Kết luận

Tóm lại, trước bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa đã và đang là xu thế chủ đạo thì hợp tác liên kết là tất yếu khách quan Với đặc trưng liên kết của ngành Du lịch và là ngành kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất trong hội nhập quốc tế thì hợp tác liên kết quốc tế trong trong phát triển nguồn nhân lực du lịch

là vô cùng cần thiết Trong điều kiện bình thường mới khi nguồn lực nhân lực du lịch của Việt Nam đang

bị thiếu nghiêm trọng cả về số lượng lao động và lao động chất lượng cao thì công tác hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực du lịch cần phải được chú trọng hơn bao giờ hết Việc giải quyết khó khăn, thách thức về nguồn nhân lực du lịch dưới góc độ hợp tác quốc tế có thể được thực hiện thông qua bốn giải pháp chính ở cả cấp vĩ mô và vi mô./

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [2] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), “Đề án Nghiên cứu nhu cầu nhân lực du lịch để xác định quy mô, ngành nghề đào tạo trong lĩnh vực du lịch đến năm 2025, tầm nhìn 2030”

[3] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021), “Đề án Phát triển nguồn nhân lực du lịch thích ứng với tác động của đại dịch COVID-19 giai đoạn 2021-2030”

[4] International Labour Organization (2020), “Đánh giá nhanh tác động của đại dịch COVID-19 tới doanh nghiệp và người lao động trong một số ngành kinh tế chính: Ứng phó, điều chỉnh và khả năng phục hồi”

[5] Tổng cục Du lịch (2020), “Báo cáo thường niên 2019,” VNAT

[6] Tổng cục Du lịch (2020), Báo cáo tổng kết công tác năm 2020, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2021

[7] Tổng cục Du lịch (2021), Báo cáo tổng kết công tác năm 2021, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

[8] Tổng cục Thống kê (2021), “Du lịch năm 2020 lao đao vì Covid-19”, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/01/dulich-nam-2020-lao-dao-vi-covid-19/

[9] Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 147/QĐ- TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2030”

[10] Vũ Thành Long (2021), “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch,” Tạp chí Công thương, vol 18

[11] https://en.wikipedia.org/wiki/Human_resources

[12] World Tourism Organization (UNWTO) (2020), UNWTO International Tourism Highlights, https://www.e-unwto.org/doi/epdf/10.18111/9789284422456

Trang 8

[13] World Tourism Organization (UNWTO) (2022), UNWTO World Tourism Barometer, https://www.unwto.org/news/tourism-grows-4-in-2021-but-remains-far-below-pre-pandemic-levels

[14] World Travel and Tourism Council (WTTC), https://wttc.org/Research/Economic-Impact

[15] World Travel and Tourism Council (WTTC), https://wttc.org/News-Article/Travel-and-Tourism-sector-expected-to-create-nearly-126-million-new-jobs-within-the-next-decade

Abstract:

INTERNATIONAL COOPERATION ON TOURISM HUMAN RESOURCES DEVELOPMENT

IN THE NEW NORMAL WHEN THE TOURISM IS RECOVERED

Vietnam has completely opened up international tourism and domestic tourism Although all levels, sectors and businesses are actively making efforts to restore tourism activities, the whole industry is facing great difficulties in terms of shortage of tourism labour in both quantity and quality This article will review the current situation of tourism human resources, the impact of the COVID-19 pandemic on Vietnam's tourism human resources, international cooperation and linkages in term of human resource development and suggest a number of measures related to international cooperation aiming to the development of tourism human resources in Vietnam in the post-COVID-19 context

Keywords: Tourism training; Tourism labour; Human resources; Tourism cooperation.

Ngày đăng: 14/10/2022, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w