1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

XU HƯỚNG ĐÀO TẠO NGÀNH DU LỊCH Ở VIỆT NAM

7 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 358,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 106 XU HƯỚNG ĐÀO TÀO NGÀNH DU LỊCH Ở VIỆT NAM1 PG.

Trang 1

XU HƯỚNG ĐÀO TÀO NGÀNH DU LỊCH Ở VIỆT NAM1

PGS.TS Phạm Hồng Long

Trưởng Khoa Du lịch học, Trường Đại học KHXH&NV,

Đại học Quốc gia Hà Nội Email: phamhonglong@gmail.com

Tóm tắt: Trong hai năm vừa qua, đại dịch COVID-19 đã làm ngành Du lịch Việt Nam bị ảnh hưởng

nghiêm trọng Nhân lực du lịch dừng việc, chuyển đổi công việc và mất việc nhiều dẫn đến nguồn nhân lực du lịch bị thiếu hụt Hiện nay, khi du lịch Việt Nam đã mở cửa trở lại hoàn toàn với thị trường khách

du lịch trong nước và quốc tế, thì vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch trở thành chủ đề được đặc biệt quan tâm Để giúp các bên liên quan, đặc biệt là các cơ sở giáo dục và phát triển nhân lực

có được cái nhìn tổng quan về đào tạo nhân lực du lịch từ đó có những định hướng và giải pháp cho riêng mình, bài viết cung cấp phân tích các xu hướng đào tạo ngành du lịch ở Việt Nam bao gồm 9 xu hướng: 1) Du lịch vẫn là ngành học được nhiều thí sinh lựa chọn; 2) Phân hóa trong định hướng đào tạo; 3) Đào tạo mở và đào tạo từ xa ngày càng được chú trọng; 4) Quốc tế hóa các chương trình đào tạo; 5) Lớp học đảo ngược là xu thế trong đào tạo du lịch; 6) Phòng học không còn là lớp học duy nhất; 7) Tập trung nhiều hơn vào đào tạo kỹ năng; 8) Liên kết chặt chẽ với ngành; 9) Hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu

Từ khóa: Đào tạo; Ngành Du lịch; Nhân lực du lịch; Việt Nam

1 Đặt vấn đề

Với tư cách là một hiện tượng xã hội, du lịch đã xuất hiện từ xa xưa Có thể coi ngành kinh tế du lịch chính thức ra đời từ năm 1842, sau khi Thomas Cook lập ra hãng lữ hành đầu tiên trên thế giới

Do đây là một ngành kinh tế dịch vụ nên nhu cầu nhân lực “sống” rất lớn Theo UNWTO, trung bình

cứ 10 việc làm có một vị trí trong ngành Du lịch Để đáp ứng nguồn nhân lực cho ngành du lịch và khách sạn, nhiều cơ sở đào tạo nghiệp vụ du lịch ra đời Theo nghiên cứu của Walanchalee Wattanacharoensil, 2014), những môn học về du lịch được giảng dạy trong các trường kỹ thuật hay trường nghề từ trước những năm 90 thế kỷ 20 Lashley 2004 cho rằng giáo dục về du lịch bắt đầu được triển khai ở Vương quốc Anh khoảng những năm 60, cùng thời với Bắc Mỹ và châu Âu Thực

tế này đã làm cho du lịch học đã nhận được sự quan tâm từ phía các học giả từ những năm 1970 (dẫn theo Walanchalee Wattanacharoensil, 2014)

Ở Việt Nam, cơ sở đầu tiên đào tạo nghiệp vụ du lịch là trường Công nhân Khách sạn Du lịch, được thành lập năm 1972, tiền thân của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Bước sang nửa cuối thế kỷ

20, nhiều cơ sở giáo dục đại học các ngành truyền thống như địa lý kinh tế đã bổ sung vào chương trình đào tạo của mình chuyên ngành du lịch Đi đầu là chương trình đào tạo địa lý du lịch tại khoa Địa lý Địa chất, trưởng Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1992 (nay là trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) Năm 1993, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chính thức chiêu sinh ngành Du lịch học, Các cơ sở giáo dục khác như trường Đại học Kinh tế Quốc dân, trường

1

Bài viết có tham khảo một số ý tưởng của PGS.TS Trần Đức Thanh trong Chương 5, sách Nhập môn Du lịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2022 do các tác giả PGS.TS Trần Đức Thanh, PGS.TS Phạm Hồng Long, TS

Trang 2

Đại học Thương mại, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội cũng mở chuyên ngành du lịch trong các mã ngành Kinh tế, Quản trị Kinh doanh, Văn hóa vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20

Cho đến nay, trên cả nước có hàng trăm cơ sở giáo dục du lịch từ bậc trung cấp đến cao đẳng, đại học Các cơ sở này góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Du lịch Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang chuyển đổi và thích nghi với bối cảnh đại dịch COVID-19 hiện nay, khi mà nguồn nhân lực du lịch bị thiếu trầm trọng

Bài viết này không đánh giá hiện trạng các cơ sở giáo dục nguồn nhân lực du lịch, mà xem xét đánh giá các xu hướng đào tạo du lịch, qua đó giúp cho các chủ thể liên quan có được những thông tin hữu ích

để định hướng công tác đào tạo và phát triển nhân lực du lịch

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Các xu hướng đào tạo ngành du lịch

2.1.1 Du lịch vẫn là ngành học được nhiều thí sinh lựa chọn

Du lịch đã và sẽ luôn nằm trong số những ngành đào tạo thu hút được nhiều người học nhất do nhiều

lý khách quan và chủ quan Trước hết nhu cầu du lịch của con người ngày càng tăng, do vậy nhu cầu nguồn nhân lực du lịch cũng ngày càng lớn Mặt khác, du lịch là một ngành học có tính nghề cao nên người học hình dung ngay được tương lai của mình sau khi sẽ tốt nghiệp Bên cạnh đó, nhiều nội dung của chương trình đào tạo ngành du lịch đã, đang và vẫn sẽ luôn thu hút sự quan tâm của người học đó là văn hóa, tâm lý, kinh doanh Học du lịch, cho dù chuyên ngành nào thì người học vẫn được học những kiến thức về văn hóa như phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, trang phục, ẩm thực, văn học… cũng như những kiến thức tâm lý học như tâm lý khách hàng, hành vi tiêu dùng của khách hàng, nghệ thuật ứng xử trong mọi tình huống

2.1.2 Phân hóa trong định hướng đào tạo

Với sự bùng nổ của các cơ sở giáo dục, đào tạo bồi dưỡng du lịch và khách sạn trên cả nước thì đồng nghĩa với việc sẽ có phân hóa trong định hướng đào tạo của các cơ sở giáo dục này Theo đó, 03 định hướng đào tạo chủ yếu trong các chương trình về du lịch và khách sạn ở Việt Nam, bao gồm:

* Định hướng học thuật: Đây là định hướng các trường đại học công lập và một số trường đại

học tư thục tập trung theo đuổi Sinh viên và học viên theo học chương trình này được chú trọng cung cấp nền tảng lý thuyết và học thuật, thường có thời gian học tập 4 năm với chương trình đào tạo đại học, 2 năm đối với chương trình đào thạc sĩ và 3 năm với chương trình đào tạo tiến sĩ Đây cũng

là định hướng Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội đang theo đuổi

* Định hướng kết hợp cả đào tạo nghề và học thuật: Định hướng này được một số cơ sở đào tạo đại

học và cơ sở đào cao đẳng thực hiện, thường có thời gian đào tạo từ 3-4 năm Các chuyên ngành đào tạo thường là hướng dẫn du lịch, văn hóa du lịch, quản trị du lịch, quản trị khách sạn, quản trị nhà hàng - dịch

vụ ăn uống, marketing du lịch

* Định hướng nghề nghiệp: Các trung tâm và một số trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề tập trung

vào đào tạo nghề, qua đó giảm thiểu nội dung lý luận, tăng hàm lượng thực hành nghề Các chuyên ngành đào tạo định hướng dạy nghề chủ yếu là kỹ thuật chế biến món ăn, phục vụ buồng, bàn, bar, lễ tân, hướng dẫn viên Thời gian đào tạo thường từ vài tháng đến 2-3 năm

Trang 3

Hình 1 Định hướng đào tạo du lịch và khách sạn ở Việt Nam

Các chương trình đào tạo và cấp văn bằng cho cả lĩnh vực du lịch và khách sạn ở Việt Nam hiện nay như sau:

- Chương trình đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề du lịch, lữ hành - hướng dẫn, nghề khách sạn

- Văn bằng (cao đẳng) về lữ hành, hướng dẫn, khách sạn

- Bằng cử nhân về du lịch, quản trị du lịch, quản trị lữ hành, quản trị khách sạn, quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học

- Bằng thạc sĩ về du lịch, thạc sĩ về kinh tế du lịch, quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, quản trị khách sạn

- Bằng tiến sĩ về kinh tế du lịch, quản trị kinh doanh (kinh tế du lịch) được cấp cho những người có mong muốn trở thành những nhà nghiên cứu, hoặc làm công tác giảng dạy

Bên cạnh việc đào tạo nguồn nhân lực của các viện, trường, trung tâm, thì các doanh nghiệp du lịch

và khách sạn (của cả Nhà nước và tư nhân) - đơn vị tuyển dụng nguồn nhân lực cũng đã quan tâm tới việc đào tạo lại và bổ sung kiến thức thực tế, kiến thức mới về nghề nghiệp, kỹ năng mềm, ngoại ngữ cho đội ngũ nhân viên của mình để đáp ứng những yêu cầu nghề nghiệp theo chuẩn của từng doanh nghiệp Việc đào tạo này có thể được tiến hành bởi chính doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp liên kết với các trường, viện, trung tâm, hoặc doanh nghiệp gửi nhân viên đi đào tạo ở nước ngoài Có thể kể ra đây tên tuổi một

số doanh nghiệp rất chú trọng công tác nhân lực nói chung và công tác đào tạo nhân lực nói riêng của doanh nghiệp mình như Tập đoàn Vingroup, Tổng Công ty Du lịch Saigon Tourist, Tập đoàn Khách sạn Mường Thanh, Tập đoàn ACCOR

2.1.3 Đào tạo mở và đào tạo từ xa ngày càng được chú trọng

Đào tạo mở và đào tạo từ xa sẽ được chú trọng trong việc đào tạo đội ngũ nhân lực du lịch và khách sạn vì nó có khả năng cung cấp các cơ hội học tập và đào tạo đáp ứng được nhiều các đối tượng khác nhau dựa trên những ưu điểm chủ yếu sau đây:

- Người học có thể linh hoạt trong việc việc lựa chọn tham gia khóa học, thời gian học, địa điểm học tập, môn học và cách thức học

- Chủ động hoàn thiện các mức độ học tập qua tích lũy kiến thức và kỹ năng đạt được

Trang 4

- Có thể truy cập nguồn học liệu từ nhiều nhà cung cấp dịch vụ đào tạo cùng hệ thống

Theo nghĩa tích cực, đào tạo mở và đào tạo từ xa có khả năng “trao quyền” chủ động và tích cực nhiều hơn cho người học Giúp người học theo đuổi con đường “học tập tự thân” và con đường này là xu thế không thể đảo ngược Đào tạo mở và đào tạo từ xa còn giúp cho người học tránh được các quy trình ngặt nghèo liên quan tới thi cử, kiểm tra, đánh giá và các thủ tục hành chính rườm rà trực tiếp khác Nó có thể làm thay đổi cách thức đào tạo truyền thống (Phạm Hồng Long, 2014)

2.1.4 Quốc tế hóa các chương trình đào tạo

Quốc tế hóa các chương trình đào tạo sẽ là xu hướng mà nhiều cơ sở đào tạo về du lịch và khách sạn

ở trong nước sẽ theo đuổi Theo hướng đi này, việc quốc tế hóa chương trình đào tạo có thể theo 3 hướng:

- Liên kết với các cơ sở đào tạo uy tín của nước ngoài để đào tạo các chương trình cử nhân 2+2 (2 năm ở Việt Nam, 2 năm ở nước ngoài) hoặc 3+1 (3 năm ở Việt Nam, 1 năm ở nước ngoài), hoặc các chương trình đào tạo thạc sĩ (trước đây Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

có chương trình thạc sĩ về Quản trị khách sạn liên kết với Đại học Toulouse, Pháp), hoặc tiến sĩ Mối liên kết này giúp người học được công nhận các tín chỉ, khối kiến thức học tập ở nước ngoài

- Đào tạo theo hình thức nhượng quyền thương hiệu Người học sẽ được học tập các chương trình quốc tế và nhận bằng của các cơ sở đào tạo quốc tế Nhưng bản thân các cơ sở đào tạo trong nước vẫn có quyền được chủ động phần nào trong việc đề xuất các học phần và giảng viên tham gia Hình thức này còn giúp nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên của cơ sở đào tạo trong nước

- Nỗ lực quốc tế hóa các chương trình đào tạo bằng việc đưa vào chương trình các học phần chuyên môn được giảng dạy bằng ngoại ngữ Đây cũng là xu hướng sẽ được nhiều trường thực hiện để thu hút sinh viên nước ngoài theo học

2.1.5 Lớp học đảo ngược là xu thế trong đào tạo ngành du lịch

Học liệu mở ngày càng phong phú và được sử dụng nhiều trong học tập sẽ làm cho các lớp học đảo ngược nhanh chóng thay thế lớp học truyền thống trong đào tạo ngành du lịch ở tất cả các cấp Người học

sẽ được cung cấp, gợi ý tìm kiếm tài liệu để tự tìm hiểu hay trao đổi qua mang xã hội, phần mềm giảng dạy trước khi gặp gỡ giảng viên Tại các buổi gặp gỡ này, hoặc trực tiếp hay trực tuyến, người học sẽ đề xuất các giải pháp để phân tích, tổng hợp, đánh giá, ứng dụng hay sáng tạo một nhiệm vụ cụ thể Lớp học đảo ngược sẽ được áp dụng cho cả các môn đầu tiên như nhập môn du lịch, cũng như môn chuyên sâu như quản trị lễ tân, quản trị sự kiện…; cho các môn có tính hàn lâm, khoa học như môn phương pháp nghiên cứu trong du lịch đến các môn có tính thực hành cao như nghiệp vụ lữ hành, nghiệp vụ buồng… Đào tạo tích hợp theo tiếp cận STEAM sẽ là được triển khai nhiều hơn trong các lớp học đảo ngược Bản thân du lịch là ngành học có đối tượng nghiên cứu rất rộng với nhiều học phần có thể khác nhau như địa lý, văn hóa, tâm lý, môi trường, quản trị kinh doanh… Do vậy hướng tiếp cận tích hợp sẽ là một xu thế phát triển tất yếu trong đào tạo du lịch

2.1.6 Phòng học không còn là nơi học tập duy nhất

Do tính nghề cao nên nhiều học phần không chỉ được học trong phòng học mà còn được tổ chức ở ngoài khuôn viên nhà trường Số môn học thực hành cao ở các trường trung cấp và cao đẳng, số thời gian dành cho thực tế, thực hành ở mỗi học phần cũng gia tăng Người học được dành nhiều thời gian đi thực

tế, tham gia các hoạt động kiến tập, thực tập ở các doanh nghiệp Điểm nhiều môn học thực tế sẽ phụ thuộc nhiều vào đánh giá chất lượng thực tập của doanh nghiệp, của khách du lịch

Bên cạnh đi thâm nhập vào thực tế, thực tế ảo và thực tế tăng cường sẽ trở thành công cụ không thể thiếu được trong đào tạo du lịch Thực tế ảo giúp người học tiếp cận được với thực tế tốt hơn, thực tế tăng cường giúp người học đề xuất được nhiều lựa chọn khác nhau Ví dụ, khi học về hệ thống khách sạn,

Trang 5

người học có thể đến tham quan tất cả các bộ phận của một số khách sạn hạng sang trên thế giới thông qua thực tế ảo

2.1.7 Tập trung nhiều hơn vào đào tạo kỹ năng

Du lịch là một ngành dịch vụ, người làm trong ngành này trước hết phải có khả năng giao tiếp, nắm bắt tâm lý khách du lịch nhanh nhạy Trong các chương trình đào tạo du lịch trước đây những kỹ năng này đã được coi trọng, tuy nhiên trong tương lai, những kỹ năng này sẽ được tiếp tục chú ý đào tạo để đáp ứng sự đòi hỏi ngày càng cao của các doanh nghiệp Bên cạnh kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm được coi là kỹ năng không thể thiếu và song hành với nó

Nhóm kỹ năng thứ hai sẽ được tập trung đào tạo cho người học chuyên ngành du lịch là nhóm kỹ năng sử dụng công cụ làm việc, trong đó có kỹ năng sử dụng, khai thác công nghệ thông tin và truyền thông, kỹ năng chụp ảnh

Nhóm kỹ năng thứ ba là nhóm các kỹ năng tư duy sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn

đề, kỹ năng ra quyết định Du lịch phát triển, nhiều sản phẩm du lịch, mô hình kinh doanh ở nước ta trong thời gian quan có hiện tượng sao chép nhau, không có tính đặc trưng Xuất hiện hiện tượng cạnh tranh bằng cách giảm giá Điều này dẫn đến sản phẩm nghèo nàn, tính cạnh tranh kém Đây cũng là kết quả của sản phẩm đào tạo ít tính sáng tạo, khô cứng Trong tương lai, các cơ sở đào tạo sẽ tập trung nhiều hơn nữa vào đào tạo kỹ năng này để định vị uy tín của mình Tuy nhiên, đào tạo nhóm kỹ năng này không chỉ là đặc trưng trong đào tạo ở các cấp độ nghiên cứu, kinh doanh mà còn phát triển cả ở các chương trình đào tạo nghề vì chính các chương trình này sẽ tạo ra nguồn nhân lực trực tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch cho

tổ chức của mình

Tất nhiên, như mọi chương trình đào tạo khác, chương trình đào tạo du lịch sẽ tăng cường đào tạo kỹ năng sống trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm

cá nhân và xã hội

2.1.8 Liên kết chặt chẽ với ngành

Để tăng khả năng cạnh tranh và tiếp cận nghề nghiệp của đội ngũ sinh viên tốt nghiệp, nhiều cơ sở đào tạo

sẽ cố gắng liên kết với các doanh nghiệp và nhà tuyển dụng Theo đó, chương trình đào tạo liên kết hoàn toàn

có thể thực hiện và theo đúng chủ trường của công văn số 4929/BGDĐT- GDĐH về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành về du lịch2 Một số doanh nghiệp có thể kết hợp với cơ sở giáo dục để hợp tác về đào tạo trực tiếp sinh viên tại doanh nghiệp hoặc tại cơ sở đào tạo Học tập theo cách này là cách học tập rất “mở”, cho phép người học được học tập với thời gian, địa điểm và nhịp độ phù hợp với bản thân họ

Ngoài ra, hầu hết chương trình đào tạo về du lịch và khách sạn đều có mảng thực tập, thực tế hoặc đào tạo theo hướng chuyên ngành Thời gian, thời lượng và cách thức thực hiện việc thực tập là đa dạng

và khác nhau cho các cơ sở đào tạo khác nhau Một số cơ sở thực tập, thực tế 6 tháng trong khi một số cơ

sở chỉ thực tập, thực tế 1-2 tháng, một số cơ sở thì đòi hỏi sinh viên phải có số giờ thực tập nghề nghiệp ngoài số giờ lý thuyết trên lớp

Mặc dù cả cơ sở giáo dục và doanh nghiệp đều nhận thức được sự liên kết này Tuy nhiên, có rất nhiều cơ sở giáo dục và các doanh nghiệp, nhà tuyển dụng chưa tìm được tiếng nói chung trong tổ chức đào tạo vì chưa rõ đối tác của mình muốn gì, chưa rõ mình có thể hỗ trợ gì đối tác

2.1.9 Hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu

Trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu, du lịch là một trong những ngành có cơ hội hợp tác cao nhất Việc hợp tác liên kết được thể hiện ở liên kết dọc cũng như liên kết ngang

2

Trang 6

Hình 2 Sơ đồ liên kết đào tạo du lịch

Liên kết dọc là hợp tác liên thông trong đào tạo Các trường trung cấp, cao đẳng sẽ tập trung vào đào tạo kỹ năng nghề, giảm tải các môn lý thuyết Nguồn tuyển sinh của các trường này là học sinh phổ thông Đầu ra của chương trình này sẽ là nguồn nhân lực cho ngành và là đầu vào của các chương trình đào tạo cử nhân Đầu ra của chương trình cử nhân sẽ là nguồn nhân lực cho ngành du lịch và đầu vào cho các chương trình sau đại học Chương trình sau đại học sẽ cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành

Liên kết ngang thể hiện ở xu thế tăng cường sử dụng nguồn chuyên gia từ bên ngoài (outsourcing) Bên cạnh các chuyên gia từ các cơ sở đào tạo khác là các chuyên gia có kinh nghiệm từ ngoài cơ sở đào tạo Theo Tô Quang Long và Trần Thị Yến Anh (2019), để việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 cần có sự chung tay vào cuộc của cơ quan quản lý nhà nước, nhà tuyển dụng và chính sinh viên Nhà nước phải có chính sách và đặt hàng những nghiên cứu để nâng cao chất lượng đào tạo, cơ sở phải đầu tư hơn nữa về cơ sở vật chất, nâng cao trình độ giảng viên, có mô hình đào tạo phù hợp, nhà tuyển dụng phải đặt hàng đào tạo theo yêu cầu của mình và sinh viên phải nâng cao tính chủ động trong việc tích lũy kiến thức cũng như nâng cao tay nghề

3 Kết luận

Đào tạo du lịch và khách sạn ở Việt Nam được chú trọng cùng với sự ra đời và phát triển của ngành Du lịch Việt Nam vào năm 1960 Ngành đào tạo này được nhìn nhận là một trong những ngành đào tạo có sự tăng trưởng mạnh mẽ ở bậc cao đẳng và đại học trong cả nước Đến nay, dù đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác đào tạo, nhưng công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch vẫn luôn là vấn đề thời sự đối với ngành Du lịch Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch COVID-19 Bài viết này giúp những người trong cuộc, đặc biệt là các cơ sở đào tạo và nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực nhìn nhận được xu thế đào tạo ngành du lịch để qua đó có được những định hướng và giải pháp thích ứng trong điều kiện hiện thời cũng như trong tương lai

Tài liệu tham khảo

[1] Phạm Hồng Long (2014), “Đào tạo du lịch và khách sạn ở Malaysia.” Tạp chí Du lịch (11), Tr.34-35

[2] Tô Quang Long và Trần Thị Yến Anh (2019) “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh cuộc

cách mạng công nghiệp 4.0 Thực trạng và giải pháp”, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Quốc gia: Nghiên cứu kinh tế du lịch các cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

tr.411-417

[3] Walanchalee Wattanacharoensil (2014), “Tourism Curriculum in a Global Perspective: Past,

Present, and Future” International Education Studies; Vol 7(1), pp.9-220

HỌC SINH

PHỔ

THÔNG

Chương trình cao đẳng

trình đại học

Chương trình sau đại học NGÀNH DU LỊCH

Trang 7

Abstract:

THE TRENDS OF TOURISM EDUCATION AND TRAINING IN VIETNAM

In the past two years, the COVID-19 pandemic has seriously affected Vietnam's tourism industry Tourism labor forces stopped working, lost, and left their jobs, leading to a shortage of tourism human resources Recently, when Vietnam's tourism has fully reopened to the domestic and international tourist market, the issue of training and developing tourism human resources becomes a very importance topic

In order to help stakeholders, especially human resource training and development institutions, having an overview of tourism human resource education and training from which to have their own orientations and solutions, this article provides an analysis of tourism education and training trends in Vietnam, including 9 trends: 1) Tourism is still the chosen studied field by many students; 2) Differentiation in training orientation; 3) Open training and distance learning are increasingly focused; 4) Internationalization of training programs; 5) Reversible classroom is a trend in tourism training; 6) The classroom is no longer the only way of teaching; 7) Focusing more on training skills; 8) Close links with the industry; 9) Cooperation in training and research

Keyword: Training; Tourism industry; Tourism human resources; Vietnam

Ngày đăng: 14/10/2022, 18:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Sơ đồ liên kết đào tạo du lịch - XU HƯỚNG ĐÀO TẠO NGÀNH DU LỊCH Ở VIỆT NAM
Hình 2. Sơ đồ liên kết đào tạo du lịch (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w