1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIẢI PHÁP DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP DU LỊCH TRONG ĐẠI DỊCH COVID – 19

8 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp duy trì hoạt động giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch trong đại dịch COVID-19
Tác giả TS. Lê Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại học Thủy lợi
Chuyên ngành Giáo dục đại học, Giáo dục nghề nghiệp
Thể loại Nghiên cứu đề tài
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 259,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 47 GIẢI PHÁP DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC V.

Trang 1

GIẢI PHÁP DUY TRÌ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ GIÁO DỤC

NGHỀ NGHIỆP DU LỊCH TRONG ĐẠI DỊCH COVID – 19

TS Lê Thị Thu Hương

Khoa Văn hóa - Du lịch, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội

Email: huongltt@daihocthudo.edu.vn

Tóm tắt: Dịch bệnh COVID - 19 đã gây tổn thất lớn về nguồn nhân lực đối với mọi ngành nghề, đặc biệt

là ngành Du lịch Trong thời gian diễn ra đại dịch, các hoạt động của xã hội luôn trong tình trạng giãn

cách, nhiều trường đại học, cao đẳng và đào tạo nghề phải đóng cửa không thể đào tạo trực tiếp Các cơ

sở giáo dục du lịch đã có những giải pháp gì để đảm bảo việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch không bị

"gãy, đứt” và đã chuẩn bị những gì để đón thời cơ khi du lịch được phục hồi? Tham luận đề cập một số

giải pháp mà các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch đã triển khai trong đại dịch

COVID - 19 và những bài học kinh nghiệm để thích ứng với nhu cầu nguồn nhân lực du lịch trong tình

hình mới

Từ khóa: Du lịch; Đại dịch COVID - 19; Giáo dục đại học; Giáo dục nghề nghiệp; Nguồn nhân lực

du lịch

1 Đặt vấn đề

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), đại dịch COVID-19 bùng

phát 2 năm qua đã làm gián đoạn việc học của trên 1,7 tỷ học sinh, sinh viên tại ít nhất 192 quốc gia và

vùng lãnh thổ Một năm sau đại dịch, gần 50% học sinh, sinh viên toàn cầu vẫn bị ảnh hưởng vì trường

học đóng cửa toàn bộ hoặc một phần Như vậy COVID-19 đã gây ra “tình trạng khẩn cấp về giáo dục”

nói chung, trong đó có giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp du lịch Đối với các cơ sở giáo dục du

lịch các cấp học thì cơ hội học tập và thực hành nghề nghiệp trong hai năm qua đã mất đi 75% cơ hội học

trực tiếp do trường học đóng cửa, các khách sạn vắng khách, các công ty du lịch không thể hoạt động

Theo thống kê, từ đầu năm 2020 đến nay, du lịch là một trong những ngành kinh tế chịu ảnh hưởng

nặng nề nhất của đại dịch COVID-19 Theo WTTC (Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới), chỉ trong hai

năm 2020-2021, đại dịch đã làm mất đi 62 triệu trên tổng số 334 triệu việc làm trong ngành du lịch Đối

với du lịch Việt Nam, ngay sau khi đạt mức tăng trưởng kỷ lục vào tháng 1/2020, du lịch Việt Nam đã rơi

vào khủng hoảng do dịch COVID-19 bùng phát Năm 2020, lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt

3,7 triệu lượt, giảm trên 80% so với năm 2019, khách nội địa giảm 50% Ngành Du lịch thất thu khoảng

23 tỉ USD trong năm 2020 Theo thống kê, khoảng 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã ngưng hoạt

động, công suất sử dụng phòng của nhiều khách sạn ở các thành phố lớn, các khu du lịch chỉ đạt từ

10-15%, nhiều khách sạn phải đóng cửa Đại dịch COVID-19 tác động sâu sắc và toàn diện, thay đổi chiến

lược, kế hoạch và cấu trúc của Ngành trong đó có nguồn nhân lực Đại dịch COVID-19 cũng tác động

mạnh đến 2,5 triệu lao động trong ngành Du lịch với 800.000 lao động trực tiếp, trong đó đối tượng bị

mất việc, chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hướng dẫn viên du lịch, nhân viên làm việc tại cơ sở lưu trú du

lịch, khu điểm du lịch, các doanh nghiệp lữ hành, vận chuyển, tàu du lịch, doanh nghiệp du lịch khác

Cho đến cuối năm 2021, trên 35% doanh nghiệp xin thu hồi giấy phép kinh doanh, chỉ còn khoảng hơn

2.000 doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế trên toàn quốc, trong đó nhiều doanh nghiệp

phải đóng cửa tạm thời hoặc dừng hoạt động Trong khi đó, lĩnh vực kinh doanh lưu trú du lịch – lĩnh vực

Trang 2

chiếm đến 46% trong cơ cấu doanh thu của ngành du lịch Việt Nam cũng phải đóng cửa khoảng trên 90%

và hầu như không có khách trừ các cơ sở đón khách cách ly

Đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại các trường đại học và các cơ sở giáo dục khác cũng bị ảnh hưởng

ở hai khía cạnh Thứ nhất, việc tuyển sinh vào các ngành du lịch đã bị giảm ở một số cơ sở giáo dục, nhất

là những cơ sở giáo dục mang tính hàn lâm Thứ 2, đa số các trường đang đào tạo du lịch đều bị dừng lại

một khoảng thời gian dài, sinh viên không thể trực tiếp đến lớp, không thể trực tiếp học các nghiệp nghiệp như nghiệp vụ hướng dẫn, các nghiệp vụ khác như lễ tân, buồng, bàn bar, bếp Bao trùm lên toàn xã hội

là tâm lý "dò xét" cẩn thận trước khi quyết định các hoạt động bình thường mới trở lại Trong bối cảnh

đó, các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo chuyên ngành du lịch đã tùy vào tình hình thực tiễn để đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực du lịch cần thiết chờ cơ hội bình thường trở lại

2 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

2.1 Giải pháp trước mắt đã thực hiện trong thời kì đại dịch

Chuyển hình thức học trực tiếp sang học online Thực tế các trường đại học và hệ thống giáo dục nói

chung giai đoạn đầu của đại dịch COVID -19 đều chuyển sang hình thức học online, thực hiện giãn cách

xã hội theo quy định địa phương Việc học online rất khó khăn với các môn thuộc nghiệp vụ du lịch, vì đây là các môn học cần môi trường làm việc thực tế Để học online có hiệu quả, các cơ sở giáo dục đại học đã quan tâm đến nguồn học liệu phục vụ học online bằng cách số hóa nguồn học liệu, khai thác nguồn học liệu có tính thực tiễn từ các doanh nghiệp khách sạn và lữ hành Liên kết các thư viện số giữa các trường đại học nhằm cùng khai thác nguồn tài liệu trên không gian số Trao đổi cách học, phương pháp học các nghiệp vụ du lịch giữa các cơ sở giáo dục du lịch trong và ngoài nước

Thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá người học Trước đây khi chưa bùng phát đại dịch, hình thức

kiểm tra đa số là trực tiếp đối với các môn nghiệp vụ du lịch Từ khi dịch bệnh bùng phát, các trường đã dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá bằng hình thức online, đánh giá kết quả của môn học là sản phẩm

do chính người học thực hiện và báo cáo online Hình thức này tuy mất thời gian nhưng giúp cho người học nâng cao ý thức tự giác học tập và khả năng là việc độc lập và khả năng phối hợp khi làm việc nhóm

Tăng cường dạy kĩ năng mềm cho sinh viên, kĩ năng thích ứng với mọi biến cố xảy ra trong ngành để

có khả năng tự chuyển đổi cho phù hợp với mọi tình hình Kĩ năng mềm vốn được coi trọng trong các ngành dịch vụ trong đó có ngành du lịch Trong bối cảnh dịch bệnh cần nhấn mạnh đến khả năng thích ứng, đây là vấn đề rất quan trọng đối với người làm du lịch Để vận dung thành thạo các kĩ năng mềm trong đào tạo các chuyên ngành du lịch thì các kĩ năng về chuyên môn nghiệp vụ phải thành thạo, phải tăng cường các kĩ năng phụ trợ để sẵn sàng phục vụ và đáp ứng các yêu cầu của du khách như kĩ năng bơi lội, cứu đuối nước, kĩ năng lái mô tô, ô tô, kĩ năng y tế du lịch, kĩ năng đàm phán xử lý các vấn đề phát sinh trong du lịch Tất cả những kĩ năng đó vô cùng cần thiết với người làm du lịch, nó đòi hỏi các cơ sở giáo dục du lịch phải có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực du lịch phát triển toàn diện Nắm bắt được điều đó, nhiều cơ sở giáo dục đã tranh thủ thời gian dịch bệnh, sinh viên chưa đến trường học trực tiếp, bằng nhiều hình thức khác nhau đã truyền tải phần lý thuyết cho sinh viên, chờ cơ hội thuận lợi sẽ dạy trực tiếp các kĩ năng mềm cho người học

Bồi dưỡng kĩ năng công nghệ thông tin, trong lĩnh vực đào tạo du lịch, công nghệ thông tin được ứng

dụng phổ biến và rất hiệu quả Trong những năm gần đây, nhiều chương trình phần mềm đã được ứng dụng trong quản lý đào tạo và giảng dạy ở tất cả các cơ sở giáo dục, từng bước chuyên nghiệp hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo, đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao kết quả học tập và là một yếu tố then chốt để tạo ra một xã hội học tập mọi lúc, mọi nơi đáp ứng sự thay đổi của xã hội Đối với các cơ sở giáo dục chuyên ngành du lịch thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo

Trang 3

là hết sức cần thiết khi mà nhu cầu và thị hiếu của khách du lịch đã thay đổi Trong bối cảnh đại dịch COVID - 19, nắm bắt được điều này, các trường và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp du lịch đã tranh thủ thời gian đẩy mạnh việc bồi dưỡng kiến thức tin học, kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào đào tạo du lịch, nhất là trong các kĩ năng marketing, truyền thông quảng bá Cách khai thác các nguồn tư liệu (hình ảnh, video, phần mềm chuyên ngành) cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học du lịch Đại dịch đã biến thách thức thành cơ hội mới trong việc nâng cao trình độ công nghệ thông tin cho cả người dạy và người học Nhiều cơ sở giáo dục đã có chuyển mình trong đào tạo các chuyên ngành du lịch, nhất

là những cơ sở giáo dục định hướng ứng dụng

Chuyển đổi hình thức thực tập của sinh viên Việc thực tập nghề nhất là thực tập tốt nghiệp là điều

kiện bắt buộc để xét tốt nghiệp cho sinh viên Nếu như trước đây thực tập thường do các cơ sở giáo dục

du lịch gửi từng đoàn xuống các doanh nghiệp, thì khi đại dịch bùng phát, các địa phương có những thời điểm thực hiện giãn cách xã hội khác nhau nên việc tập trung cho sinh viên đi thực tập là không thể thực hiện được Trong bối cảnh đó, các cơ sở giáo dục du lịch đã nhanh chóng chuyển sang hình thức cho sinh viên tự liên hệ với các sơ sở thực tập tại địa phương, những cơ sở ít bị ảnh hưởng bởi giãn cách xã hội Cùng với đó là việc gửi bài tập kết thúc đợt thực tập là các clip sản phẩm của sinh viên sau đợt thực tập Biện pháp này đã giúp người học tự giác trong quá trình thực tập và đảm bảo tiến độ xét tốt nghiệp cuối năm học

2.2 Giải pháp lâu dài cần hướng đến

2.2.1.Cần xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, kinh tế mũi nhọn Du lịch là một ngành kinh tế

tổng hợp, phát triển dựa trên hệ thống dịch vụ công cộng, xã hội và trong mối tương quan với các ngành, lĩnh vực khác Do đó, chỉ khi nào xã hội thực sự bình thường, các ngành dịch vụ hoạt động bình thường thì mới thực sự là điều kiện phát huy của du lịch Cho nên sự phục hồi sẽ là từng bước cho đến khi đạt được kỳ vọng Chỉ khi xác định được du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mới thấy được sự tác động qua lại

và ảnh hưởng lẫn nhau của các ngành kinh tế trong xã hội và ngành Du lịch

Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là định hướng chiến lược quan trọng để phát triển đất nước, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đã nhấn mạnh: “Phát triển du lịch

là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, của toàn xã hội, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò động lực của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; tập trung nguồn lực quốc gia cho phát triển du lịch”

Thực tế sau hơn 35 năm đổi mới đất nước, ngành Du lịch Việt Nam đã có bước phát triển nhanh cả

về quy mô và chất lượng Đội ngũ doanh nghiệp kinh doanh du lịch, hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ngày càng lớn mạnh Hạ tầng du lịch được nhà nước, xã hội quan tâm đầu tư Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn trên thế giới Khách du lịch quốc tế, trong nước và tổng thu du lịch liên tục tăng trưởng với tốc

độ cao, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của đất nước Du lịch đã góp phần bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, góp phần quảng bá hình ảnh và khẳng định vị thế Việt Nam trong quá trình phát triển, hội nhập quốc tế Du lịch cũng là một công cụ góp phần giảm tụt hậu, chênh lệch giàu nghèo cho những vùng xa xôi, còn ít điều kiện để phát triển, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển

du lịch Việt Nam xác định với nhiều tiềm năng, lợi thế, tới năm 2030 kỳ vọng lớn du lịch sẽ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực quan trọng tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và đóng góp cho sự phát triển của đất nước

Trang 4

Trước đại dịch COVID-19, số khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam tăng cao liên tục và con số mơ ước đạt được là 18 triệu người, tương đương với nhiều quốc gia có du lịch phát triển ở Đông Nam Á Thời điểm đó, du lịch quốc tế chiếm tới 80% số lượng hành khách hàng không quốc tế ra vào Việt Nam Ngành Du lịch đã đóng góp tới 9,2% tổng sản phẩm trong nước, tạo công ăn việc làm trực tiếp cho 2,5 triệu người và gián tiếp cho khoảng 2 triệu người trong các lĩnh vực có liên quan đến du lịch Sự xuất hiện của đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn tạm thời sự “cất cánh” của du lịch Việt Nam Trong lịch sử 61 năm, ngành Du lịch Việt Nam đã trải qua nhiều đợt khủng hoảng do dịch bệnh, thiên tai, suy thoái kinh

tế, nhưng chưa bao giờ lại chịu thiệt hại nặng nề như cuộc khủng hoảng lần này do đại dịch COVID-19 gây ra

Khi xác định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mũi nhọn thì cần nghiên cứu sự tác động của các ngành đến du lịch và tập trung nguồn lực cho du lịch

Cần đào tạo nguồn nhân lực du lịch phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và tâm lý tiêu dùng sản phẩm du lịch Đại dịch COVID-19 đã mở ra những xu hướng du lịch mới, giúp ngành Du lịch nhận diện

lại tiềm năng và cơ hội Quan điểm tập trung đẩy mạnh hoạt động kích cầu, phục hồi du lịch, lữ hành nội địa toàn quốc, coi đây là nội lực, nền tảng căn bản để phát triển du lịch bền vững là một hướng đi đúng

Từ cuối năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Chương trình về phát động du lịch nội địa thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19 và triển khai đồng loạt trên cả nước với chủ đề “Du lịch an toàn – Trải nghiệm trọn vẹn” Chương trình hướng đến 2 mục tiêu cơ bản là: 1) Phục hồi du lịch theo lộ trình từ thị trường nội tỉnh, nội vùng đến nội địa góp phần từng bước phục hồi ngành Du lịch thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19, đáp ứng nhu cầu tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng của người dân; 2) Giới thiệu, quảng bá điểm đến, sản phẩm, trải nghiệm du lịch

đa dạng, hấp dẫn, bảo đảm an toàn trong phòng, chống dịch, khôi phục niềm tin của thị trường về du lịch nội địa an toàn Nhờ những biện pháp cụ thể như tập trung vào hoạt động trọng tâm gồm hướng dẫn đón

và phục vụ khách du lịch an toàn và tổ chức truyền thông, quảng bá, xúc tiến mở lại du lịch nội địa; Tổng cục Du lịch tổ chức các hoạt động kết nối đến các điểm đến, hiệp hội du lịch, doanh nghiệp du lịch và hàng không, xây dựng các chương trình du lịch trọn gói, có chất lượng, ưu đãi nhằm kích cầu du lịch Các địa phương cũng tạo điều kiện, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như miễn, giảm phí/lệ phí tham quan tại các điểm đến do địa phương quản lý

Từng bước thí điểm mở cửa thị trường quốc tế với Chương trình thí điểm được tiến hành từ cuối năm

2021 Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, từ khi thực hiện chương trình thí điểm đón khách du lịch quốc

tế (từ tháng 11/2021 - 8/2), Việt Nam đón hơn 8.900 khách du lịch quốc tế Số liệu phân tích từ công cụ Google Destination Insights cho thấy lượng tìm kiếm quốc tế về du lịch Việt Nam tăng mạnh từ đầu năm

2022 Lượng tìm kiếm đã tăng dần từ tháng 12-2021 và tăng mạnh từ cuối tháng 12-2021, đầu tháng

1-2022 Lượt tìm kiếm vào thời điểm ngày 1-1-2022 tăng 222% so với tháng trước và tăng 248% so với cùng kỳ năm 2021 Đây là những tín hiệu khả quan về một sự phục hồi mạnh mẽ của ngành du lịch Theo các chuyên gia, COVID-19 tác động nặng nề đến ngành Du lịch nhưng lại gián tiếp tạo nên các

xu hướng tiêu dùng sản phẩm du lịch mới của người dân Vì vậy các cơ sở giáo dục chuyên ngành du lịch cần nắm bắt thông tin, thị trường để có những giải pháp đào tạo nguồn nhân lực du lịch hướng đến tâm lý tiêu dùng sản phẩm của khách du lịch

Cần đa dạng sản phẩm, phát huy nguồn tài nguyên văn hóa Sản phẩm du lịch luôn là một trong

những vấn đề then chốt để tăng khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam Du lịch Việt Nam cần định vị

rõ thương hiệu và bản sắc của văn hóa, con người, đất nước Việt Nam để mang đến cho du khách trải nghiệm chân thực và độc đáo Tổng Thư ký Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) Zurab Pololikashvili

Trang 5

nhận định, đại dịch đã chỉ ra một số xu hướng đang đi lên theo hướng du lịch trải nghiệm độc đáo và chân thực Du lịch Việt Nam bộc lộ một số xu hướng là an toàn tránh dịch bệnh; ứng dụng công nghệ nhằm quản lý bảo đảm an toàn; du lịch theo nhóm nhỏ; du lịch ngắn ngày và dịch vụ cận ngày; lựa chọn các hoạt động nghỉ dưỡng, gần gũi với thiên nhiên, thưởng thức văn hóa, ẩm thực, trải nghiệm văn hóa bản địa Cần thực hiện các nhóm giải pháp khai thác và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế tài nguyên văn hóa, bảo tồn và phát triển môi trường du lịch bền vững Coi bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa, di tích lịch sử gắn với phát triển hài hòa du lịch như một tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả du lịch Bên cạnh đó, tạo ra sự thu hút, hấp dẫn bằng những hướng đi mới, đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phát huy tính sáng tạo và lợi thế của từng địa phương

Đa dạng sản phẩm du lịch cần theo hướng đáp ứng xu hướng mới của thị trường, phát triển, làm mới các sản phẩm du lịch hiện có phù hợp với nhu cầu đã thay đổi do tác động của COVID-19; phát triển các loại hình, hoạt động kinh tế đêm, góp phần tăng chi tiêu, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch Đối với các địa phương, việc xác định đầu tư, phát triển sản phẩm du lịch theo chủ đề, trên cơ sở thế mạnh, tiềm năng sẵn có, mang tính khác biệt, tạo thành mạng lưới các sản phẩm đa dạng và bổ trợ cho nhau cũng là một hướng đi mới Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đang đề nghị các tỉnh, thành phố cố gắng làm mới, khu trú lại sản phẩm du lịch địa phương, theo tinh thần một tỉnh phải có một sản phẩm du lịch tiêu biểu và kết nối an toàn cho du khách lựa chọn Sản phẩm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách sau đại dịch: nhóm nhỏ, an toàn, trọn gói; hướng về di tích, danh lam

Để làm được điều này, các cơ sở giáo dục du lịch cần chú trọng đào tạo các môn cơ sở ngành, các học phần tự chọn cần được đa dạng để người học có sự lựa chọn phù hợp Các môn học về lịch sử, văn hóa, địa lý, quy hoạch du lịch, sản phẩm du lịch cần được đẩy mạnh trong quá trình đào tạo

2.2.2.Cần tiếp cận xu hướng số hóa Qua khảo sát du lịch mới nhất (ở 31 quốc gia và vùng lãnh thổ)

từ nền tảng du lịch Booking.com cho thấy công nghệ sẽ đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc linh động thay đổi kế hoạch với nhiều lựa chọn hơn để đặt chỗ ngay trong chuyến đi và tự do điều chỉnh kế hoạch Kết quả cũng cho thấy 70% khách du lịch Việt Nam đang tìm kiếm những cải tiến công nghệ mới nhất nhằm gợi ý những “từ khoá” hay những cơ hội bất ngờ dựa trên sở thích hoặc ngân sách trước đây của họ, giúp du khách có một trải nghiệm hoàn toàn mới và nắm bắt được mọi cơ hội dịch chuyển tiềm năng Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, có tới 79% du khách Việt Nam quan tâm đến một dịch vụ sáng tạo và có đến 82% du khách quan tâm đến các địa điểm du lịch an toàn

Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp phải đẩy nhanh việc thích ứng với chuyển đổi số để tiếp cận đối tượng khách hàng tiềm năng mới, thử sức với các sản phẩm, dịch vụ mới áp dụng công nghệ; Chuyển đổi số là một hành trình không hề dễ dàng và phải bắt đầu từ yếu tố con người, chuyển đổi tư duy trước khi trang bị kỹ thuật số Các cơ sở giáo dục du lịch nhận thấy cần có sự liên kết với các doanh nghiệp du lịch, đồng thời tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin đồng bộ và hiện đại cùng đội ngũ nhân sự về công nghệ từ khi ngồi trên ghế nhà trường để tiếp cận phục vụ cho các hoạt động quản trị, vận hành và kinh doanh… Khi dữ liệu tổng quan được số hóa và phổ cập toàn quốc, sẽ giúp cho các sơ sở giáo dục, các địa phương, doanh nghiệp thuận tiện trong việc nghiên cứu xu hướng du lịch mới, đánh giá thị hiếu du khách từng thị trường, để xây dựng sản phẩm và cách thức tiếp cận, phục vụ phù hợp Thực tế cho thấy thời gian qua từ các cơ sở giáo dục đến các doanh nghiệp đã có nhiều tín hiệu tích cực trong quá trình chuyển đổi số Ngành ngành Du lịch rất coi trọng đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng kế hoạch phát triển du lịch số giai đoạn 2021-2025 Ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện số hóa các thông tin dữ liệu phục vụ quản lý các cơ sở lưu trú, các hãng lữ hành, hướng dẫn viên, điểm đến, các cơ

sở dịch vụ du lịch; cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu thị trường, xúc tiến, quảng bá du lịch Xây dựng nền

Trang 6

tảng kết nối hỗ trợ kinh doanh du lịch, dần hình thành sàn kinh doanh điện tử đối với các dịch vụ du lịch

quốc gia Xu hướng số hóa đã trở thành tất yếu, sống còn của ngành Du lịch, vì vậy trong quá trình đào

tạo các trường đại học, trường có giáo dục du lịch cần cập nhật để đào tạo bắt kịp với xu thế của xã hội

2.2.3 Chú trọng phát triển nguồn nhân lực du lịch, đây là vấn đề trọng tâm của các cơ sở giáo dục du

lịch Vấn đề gãy, đứt nguồn nhân lực du lịch sau đại dịch là một khó khăn lớn cho cả phục hồi trong ngắn

hạn và dài hạn Để phát triển du lịch bền vững, nâng cao khả năng cạnh tranh, rất cần có sự rà soát, đánh giá lại, đầu tư, đào tạo lại lao động nghề phục vụ hoạt động kinh doanh khách sạn, lữ hành, hướng dẫn viên, xúc tiến quảng bá du lịch; xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn bình thường mới Bên cạnh đó, cũng có thể kỳ vọng khi du lịch từng bước phục hồi, các địa phương và doanh nghiệp cũng sẽ có các biện pháp thích hợp để dần dần khôi phục lại và phát triển nhân sự cho mình Muốn làm tốt điều này cần có sự phối hợp đào tạo nguồn nhân lực du lịch giữa cơ sở giáo dục du lịch với các doanh nghiệp du lịch Đây là khâu đột phá và đi tắt đón đầu trong việc khôi phục nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng nhu cầu mới Cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao tại các trường đại học, chú trong liên kết đào tạo liên kết trong nước và quốc tế Tăng cường hình thức thực tập tại nước ngoài (chương trình Intership) để giúp sinh viên vừa nâng cao kĩ năng nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ

2.2.4 Coi trọng truyền thông, quảng bá và xúc tiến du lịch Để phục hồi nhanh, mạnh mẽ và hiệu

quả, xúc tiến quảng bá đóng vai trò quan trọng Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, hiện Tổng cục Du lịch cũng đang làm việc với các cơ quan thông tấn quốc tế như CNN, CNBC, hướng tới thị trường cao cấp, trung lưu Tổng cục Du lịch đã đề xuất với bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch về việc thí điểm thành lập Văn phòng xúc tiến du lịch Quốc gia Xây dựng các chương trình truyền thông “tấn công” vào thị trường quốc tế cụ thể, nhiều tiềm năng là bước đi đúng đắn Việc đào tạo nguồn nhân lực giỏi về ngoại ngữ, đa dạng về ngôn ngữ để đáp ứng thị hiếu của khách du lịch quốc tế là vấn đề đặt ra đòi hỏi các cơ sở giáo dục du lịch tăng cường dạy ngoại ngữ chuyên ngành du lịch cho sinh viên

2.2.5 Linh hoạt trong các biện pháp hỗ trợ khi du lịch phục hồi Phục hồi du lịch có đúng là “thời cơ

vàng” hay không còn tùy thuộc vào sự linh hoạt nhưng nhất quán trong chính sách của Nhà nước, cơ quan quản lý; sự quyết liệt của địa phương, doanh nghiệp Về mặt chính sách, Nhà nước cần tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp, lao động ngành Du lịch vượt qua khó khăn hiện nay; chỉ đạo ban hành các cơ chế, chính sách mới, ưu tiên theo hướng tạo thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam; đẩy mạnh thu hút đầu tư vào phát triển các sản phẩm du lịch theo hướng tăng trưởng xanh, trải nghiệm cộng đồng hướng tới phát triển bền vững Điều này sẽ tác động đến việc định hướng trong đào tạo nguồn nhân lực du lịch Cần có chính sách hõ trợ các cơ sở đào tạo du lịch Hiện nay việc hỗ trợ đào tạo nghề du lịch mới chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp, trong khi các cơ sở giáo dục đại học đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao thì chưa có chính sách hỗ trợ

2.2.6 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đào tạo du lịch Đẩy mạnh tuyên

truyền cho cán bộ, giáo viên, giảng viên dạy chuyên ngành du lịch thấy rõ hiệu quả và yêu cầu mang tính tất yếu của ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp quản lý đào tạo và giảng dạy Tổ chức các lớp bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học và soạn giáo án điện tử cho các cán bộ, giáo viên, giảng viên Nâng cao trình độ ứng dụng công nghệ thông tin cho cán bộ, giáo viên, giảng viên cũng chính là nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở Tập huấn cho giáo viên, giảng viên sử dụng một số phần mềm hỗ trợ để soạn thảo bài giảng điện tử, giáo án điện tử, chú trọng sử dụng những phần mềm mã nguồn mở tương tác với môi trường internet

Cần đầu tư mua các sản phẩm phần mềm mới, phù hợp với các chuyên ngành du lịch Đầu tư, khai thác hệ thống E-Learning (học trực tuyến) để tiết kiệm, giảm tải được thời gian lên lớp, người dạy và

Trang 7

người học có thể giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, đa dạng hóa hình thức thi, kiểm tra, trả bài, lên lớp chuyên môn, hướng dẫn chuyên ngành… Tăng cường, bổ sung hệ thống giáo trình điện tử, xem như là những công trình nghiên cứu khoa học cần được đầu tư và phát triển, hỗ trợ việc tương tác giữa giáo viên, giảng viên với sinh viên Khai thác tốt hình thức kiểm tra và trả bài trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian và tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học các chuyên ngành du lịch mang tính đặc thù

Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo về du lịch có ứng dụng công nghệ thông tin, qua đó tạo điều kiện cho cán bộ giảng viên và sinh viên có điều kiện tiếp cận, cập nhật, chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, giao lưu học hỏi trong việc sử dụng những kỹ năng, phần mềm trong quá trình soạn bài giảng điện tử Khuyến khích, động viên cán bộ quản lý đào tạo, giáo viên, giảng viên tăng cường truy cập Internet để tìm kiếm, cập nhật thông tin, tài liệu mới nhất về ngành du lịch phục vụ cho công tác quản lý

và giảng dạy

Ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong đào tạo là chìa khóa thành công trong quản lý của các cơ sở đào tạo du lịch, là tiền đề nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực Việc đầu tư phát triển công nghệ thông tin tại các cơ sở giáo dục su lịch trong tình hình hiện nay không căn cứ vào khả năng kinh phí có thể sử dụng để mua phần mềm mà cần dựa vào việc phân tích kỹ các đặc điểm hệ thống và phải phát triển trên nền của một mô hình quản lý tốt cùng với các tiền đề nhân lực sử dụng công nghệ thông tin tốt Với các tính năng ưu việt của công nghệ thông tin, việc ứng dụng các tính năng này để thực hiện công tác quản lý đào tạo của các cơ sở giáo dục nói chung và các cơ sở giáo dục du lịch nói riêng rất

có hiệu quả, đảm bảo giảm thiểu được các chi phí về thời gian và các chi phí khác

3 Kết luận

Từ thực tiễn qua hai năm đại dịch COVID-19 hoành hành cho thấy trong khó khăn nhiều cơ sở giáo dục du lịch đã nắm bắt tình hình biến nguy cơ thành những cơ hội mới để phát triển Những giải pháp trước mắt và những giải pháp lâu dài đã định hướng cho nhiều trường đại học vẫn duy trì được số lượng sinh viên theo học về du lịch, thậm chí năm 2021 cao hơn năm 2020 trước đó Khi du lịch có dấu hiệu phục hồi thì các trường đại học và các cơ sở giáo dục nghề du lịch đã thực sự trở thành nơi ổn định về đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Du lịch Tuy nhiên, để việc đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội đòi hỏi các nhà trường không ngừng đổi mới chương trình đào tạo, bổ sung các môn học mới đáp ứng nhu cầu mới của khách du lịch ở thời điểm sau đại dịch Trong quá trình điều chỉnh chương trình đào tạo, nhất là các môn chuyên ngành nghiệp vụ mang tính đặc thù của ngành du lịch thì rất cần sự tham gia của các doanh nghiệp su lịch, các nhà quản lý du lịch để việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch ở các trường đại học và các trường có đào tạo nghề du lịch không bị xa rời thực tiễn./

Tài liệu tham khảo

[1] Số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch cuối năm 2021 và 4 tháng đầu năm 2022

[2] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

[3] https://destinationinsights.withgoogle.com/intl/vi_ALL/

[4] Bộ văn hóa, thể thao và du lịch Tổng cục du lịch, https://vietnamtourism.gov.vn

[5] Luật Du lịch 2017 - Tổng cục Du lịch

Trang 8

Abstract:

SOLUTIONS TO SUSTAINABLE UNIVERSITY EDUCATION AND TOURISM EDUCATION IN THE COVID-19 PANDEMIC

The COVID-19 pandemic has caused great losses in human resources in all industries, especially the tourism industry During the pandemic, social activities are always in a state of distance, many universities, colleges and vocational training schools have to close and cannot provide face-to-face training What solutions have tourism training institutions taken to ensure that the training of tourism human resources is not “broken and disconnected" and what have they prepared to catch the opportunity when tourism is restored? This paper hereby mentions some solutions that higher education institutions and tourism vocational education institutions have implemented during the COVID-19 pandemic and lessons learned to adapt to the needs of tourism human resources in the new situation

Keyword: Tourism; COVID-19 pandemic; University education; Job education; Tourism human

resources

Ngày đăng: 14/10/2022, 18:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w