1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẤU PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRỞ THÀNH NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN

7 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 242,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Du lịch“Liên kết đào tạo du lịch trong bối cảnh thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID 19”, Trường Đại học Thủy lợi 2022 5 TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRON.Tóm tắt: Thời gian vừa qua, dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của các chủ thể liên quan, ngành Du lịch đã có những bước phát triển vượt bậc ở nhiều chỉ số. Hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch cũng đã có những bước đáp ứng dần từng bước yêu cầu của ngành, tuy nhiên, trải qua giai đoạn dịch bệnh, nhiều vấn đề đang đặt ra trước các nhà quản lý. Tham luận đã đề xuất các giải pháp để tăng cường giáo dục nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Từ khóa: Giáo dục nguồn nhân lực du lịch; Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Trạng thái bình thường mới

Trang 1

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẤU PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRỞ THÀNH NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN

PGS.TS Lê Anh Tuấn

Vụ trưởng, Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Email: letuananhv@yahoo.com

Tóm tắt: Thời gian vừa qua, dưới sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự cố gắng của các chủ thể liên quan,

ngành Du lịch đã có những bước phát triển vượt bậc ở nhiều chỉ số Hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du

lịch cũng đã có những bước đáp ứng dần từng bước yêu cầu của ngành, tuy nhiên, trải qua giai đoạn dịch

bệnh, nhiều vấn đề đang đặt ra trước các nhà quản lý Tham luận đã đề xuất các giải pháp để tăng cường giáo

dục nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Từ khóa: Giáo dục nguồn nhân lực du lịch; Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; Trạng thái

bình thường mới

1 Đặt vấn đề

Trong quá trình phát triển hoạt động du lịch, ngoài rất nhiều các yếu tố liên quan khác, đào tạo nhân

lực luôn là vấn đề quan trọng được quan tâm đặc biệt Kể cả trong bối cảnh công nghệ 4.0, do đặc thù của

quá trình chuyển giao và cung cấp dịch vụ du lịch diễn ra trong thực tiễn, sự hiện diện của con người, vai

trò của người lao động trong du lịch rất quan trọng, quyết định chất lượng dịch vụ du lịch, nâng cao hình

ảnh của du lịch quốc gia và điểm đến

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển du lịch và Nghị

quyết số 08-NQ/TW được ban hành ngày 16/1/2017 đã một lần nữa khẳng định sự quyết tâm của Đảng và

Nhà nước phát triển du lịch và đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Với sự quan tâm của Đảng,

Nhà nước các cấp, các ngành, ngành Du lịch đã có những bước phát triển mạnh mẽ Năm 2019, Việt Nam

đã đón trên 18 triệu lượt khách quốc tế; phục vụ 85 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ khách du

lịch đạt khoảng 720.000 tỷ đồng

Hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch có những bước phát triển đáng ghi nhận, thông qua sự

phát triển về số lượng cơ sở đào tạo, ngành nghề đào tạo, số lượng và quy mô tuyển sinh các ngành, nghề

lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, trong giai đoạn dịch bệnh thời gian qua, ngành Du lịch nói chung, hoạt động

giáo dục nguồn nhân lực du lịch nói riêng chịu nhiều ảnh hưởng Ngày 15 tháng 3 năm 2022, Du lịch Việt

Nam đã mở cửa trở lại, trong bối cảnh vừa phát triển, vừa thích ứng với điều kiện bình thường mới, ngành

Du lịch bước vào giai đoạn phục hồi, hướng tới phát triển trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Tham luận này, có mục đích đánh giá những cơ hội, thách thức, hay nói cách khác là các vấn đề đặt

ra đối với hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới, đề xuất các giải

pháp kiến nghị nhằm tăng cường giáo dục nguồn nhân lực du lịch đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trở

thành ngành kinh tế mũi nhọn

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Khái quát hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch hiện nay

2.1.1 Hệ thống cơ sở giáo dục du lịch

Theo số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhân lực ngành Du lịch năm 2020 khoảng 2,3

Trang 2

triệu người, trong đó trên 800.000 lao động trực tiếp Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm

2030 đặt mục tiêu: đến năm 2025, du lịch Việt Nam sẽ tạo việc làm cho khoảng 5,5-6 triệu việc làm, trong đó có 2 triệu lao động trực tiếp; đến năm 2030 có khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp (Bộ Văn hóa, Thể thoa và Du lịch, 2021)

Sau hơn 10 năm, so với năm 2010, mạng lưới cơ sở giáo dục du lịch đã được củng cố, số lượng tăng nhanh, cơ cấu đa dạng về cấp độ đào tạo và ngành nghề đào tạo, phân bố tập trung ở các trung tâm du lịch trọng điểm Theo thống kê từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, vào thời điểm tháng 12 năm 2021, cả nước có khoảng 278 trường, gồm: 101 trường đại học, 110 trường cao đẳng và 67 trường trung cấp tham gia giáo dục du lịch Con số này thay đổi thường xuyên hàng năm do các điều kiện

về mở ngành, giấy phép giáo dục nghề nghiệp hoặc dừng tuyển sinh, đào tạo của các cơ sở đào tạo

2.1.2 Cơ cấu ngành, nghề giáo dục

Cơ cấu ngành nghề giáo dục từng bước phát triển theo hướng tích cực Nhiều ngành, nghề giáo dục mới xuất hiện đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, nhu cầu giáo dục du lịch nói riêng và phát triển kinh

tế-xã hội trong hội nhập quốc tế nói chung Hiện có hơn 40 ngành, nghề lĩnh vực chuyên môn du lịch đang được các cơ sở đào tạo du lịch triển khai thực hiện Năm 2017, hệ thống các ngành nghề đào tạo du lịch

đã hoàn thiện các trình độ đào tạo từ sơ cấp đến tiến sỹ, khẳng định vai trò và vị thế của ngành Du lịch

2.1.3 Các bộ chuẩn đầu ra, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, ngành nghề trọng điểm

Các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia lĩnh vực du lịch được xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện, gồm: Quản trị lữ hành, Hướng dẫn du lịch, Quản trị khách sạn, Lễ tân, Dịch vụ buồng, Dịch vụ nhà hàng và Chế biến món ăn Bên cạnh đó, 13 bộ chuẩn đầu ra, khối lượng kiến thức người học đạt được các trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề cũng đã được xây dựng, thẩm định và ban hành Hoạt động tổ chức đào tạo đã chuyển dần từ cách thức tiếp cận theo quy trình sang tiếp cận theo năng lực; gắn kết đào tạo với phát triển kỹ năng nghề nghiệp, các cơ sở đào tạo đã gắn kết chặt chẽ hơn với hoạt động của doanh nghiệp… theo đó người học sau khi ra trường thích ứng tốt hơn với nhu cầu xã hội

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành danh mục các ngành nghề trọng điểm quốc gia, ASEAN và quốc tế lĩnh vực du lịch và triển khai giao nhiệm vụ cho các cơ sở giáo dục du lịch trên cả nước để tổ chức giáo dục cung cấp nguồn nhân lực cho Ngành Trong đó có 6 ngành, nghề nhóm ngành nghề trọng điểm: quốc gia, 6 ngành nghề trọng điểm ASEAN và 7 ngành, nghề trọng điểm quốc tế gồm: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị lữ hành, Du lịch sinh thái, Hướng dẫn du lịch, Quản trị khách sạn/Quản trị khu Resort, Quản trị lễ tân/Nghiệp vụ lễ tân, Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống, Quản trị nhà hàng/Nghiệp vụ nhà hàng, khách sạn/Nghiệp vụ nhà hàng/ Kỹ thuật chế biến món ăn

2.1.4 Cơ chế đặc thù trong giáo dục nguồn nhân lực du lịch

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành văn bản hướng dẫn các cơ sở giáo dục đại học có giáo dục

du lịch, xây dựng đề án đào tạo kết hợp với doanh nghiệp du lịch để triển khai thực hiện, một số cơ sở đã triển khai đào tạo, bước đầu mang lại hiệu quả, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng, kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn (Công văn 4929/BGDĐT-GDĐH ngày 20/7/2017 về việc áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành về du lịch)

2.2 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch đến năm 2030

2.2.1 Nhu cầu về quy mô

Như trên đã đề cập, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đã đặt mục tiêu: Năm 2025: Tạo ra khoảng 5,5 - 6 triệu việc làm, trong đó có khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 12 - 14%/năm Năm 2030: Tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 - 9%/năm (Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 147/QĐ-TTg)

Trang 3

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nguồn nhân lực trong ngành Du lịch được chia thành 3 nhóm với những vai trò, đặc điểm khác nhau:

Thứ nhất: Khối nhân lực quản lý nhà nước về du lịch, nhóm này có vai trò quan trọng trong việc xây

dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và từng địa phương, tham mưu hoạch định chính sách phát triển du lịch; đại diện cho Nhà nước để hướng dẫn để các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả, kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh

Thứ hai: Khối nhân lực sự nghiệp là bộ phận có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về

ngành Du lịch, có chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học về du lịch và có vai trò to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch, tác động lớn đến chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực ngành

Du lịch hiện tại và tương lai

Thứ ba: Khối nhân lực kinh doanh là nhóm có chức năng tổ chức thực hiện các hoạt động kinh doanh

du lịch như các nhà hàng, khách sạn, công ty du lịch, công ty vận chuyển khách du lịch… Nhóm nhân lực

này chiếm đa số trong hoạt động của ngành Du lịch và được chia thành 4 nhóm cơ bản gồm: Nhóm lao

động chức năng quản lý chung, Nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế;Nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch; Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách

Trong các nhóm nhân lực kể trên chỉ các nhóm thuộc Khối nhân lực kinh doanh là do các ngành

khác đào tạo, ngành Du lịch chỉ cần bồi dưỡng thêm các kiến thức về du lịch là có thể đáp ứng được

nhiệm vụ công tác, các khối nhân lực còn lại và nhóm lao động chức năng quản lý (cán bộ cấp cao) và

Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách thuộc Khối nhân lực kinh doanh phải do Ngành Du

lịch trực tiếp đào tạo hoặc phải được đào tạo về chuyên ngành du lịch (Tham khảo Bảng 1)

Bảng 1 Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch

1 Đội ngũ quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch

2 Lao động quản lý các doanh nghiệp (cấp trưởng, phó bộ phận trở lên)

Lao động nghiệp vụ

- Lễ tân

- Phục vụ buồng

- Phục vụ bàn, bar

- Nhân viên nấu ăn

- Hướng dẫn viên

- Nhân viên lữ hành, đại lý du lịch

3

- Nhân viên khác

Lao động sự nghiệp

- Các nghiên cứu viên hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu liên quan

4

- Các giáo viên, giảng viên các cơ sở đào tạo du lịch

Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016)

2.2.2 Yêu cầu về nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh mới, việc đào tạo nhân lực du lịch đảm bảo điều kiện về quy mô, số lượng, chất lượng, phù hợp về cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, cơ cấu vùng miền trên cả nước Với mục tiêu

Trang 4

phát triển bền vững, việc phát triển đồng bộ, tránh chỉ tập trung vào một số ngành nghề hoặc tập trung ở một vùng miền nhất định, bên cạnh đó, cần đảm bảo yêu cầu về chất lượng, tính chuyên nghiệp trong chuyên môn nghiệp vụ; yêu cầu về ngoại ngữ, định hình được tính nhạy cảm về nghề nghiệp của người lao động du lịch

Trong bối cảnh quốc tế hóa, dịch chuyển lao động trong khu vực và quốc tế; và bối cảnh công nghệ 4.0, nguồn nhân lực du lịch cần có kỹ năng và năng lực thích ứng với điều kiện hội nhập quốc tế, thích ứng với một thế giới có nhiều thay đổi; thích ứng với các rủi ro, khủng hoảng; với xu thế dịch chuyển lao động, với các điều kiện công nghệ tiên tiến trong cung cấp các dịch vụ du lịch

2.3 Những vấn đề đặt ra đối với đào tạo nguồn nhân lực du lịch giai đoạn tới

2.3.1 Tác động của đại dịch COVID-19 đối với giáo dục nguồn nhân lực du lịch

Đại dịch COVID-19 tác động sâu sắc và toàn diện, thay đổi toàn bộ chiến lược, kế hoạch và cấu trúc của ngành Du lịch trong đó có công tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực du lịch Trong giai đoạn 2020-2021, nhiều doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, nhà hàng, cơ sở vui chơi, giải trí, điểm tham quan ngưng hoạt động, dẫn đến một lượng lớn lao động du lịch phải chuyển đổi công việc sang lĩnh vực khác hoặc nghỉ việc

Hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch cũng theo đó mà ngưng trệ, ảnh hưởng lớn đến hoạt động dạy và học, cơ hội tiếp cận việc làm của người học, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, chất lượng đầu ra của sản phẩm đào tạo, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực du lịch

2.3.2 Tâm lý xã hội đối với ngành, nghề du lịch

Trải qua quá trình ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, do ngành Du lịch, các doanh nghiệp bị đình trệ như trên đã nêu, hiện trạng mất việc làm, nghỉ việc hoặc chuyển việc khác đã ảnh hưởng lớn đến tâm

lý xã hội Người dân có tâm lý e ngại đối với rủi ro nghề nghiệp, đối với việc tiếp cận với nghề nghiệp sau khi ra trường, do vậy, nhu cầu học các ngành, nghề lĩnh vực du lịch bị giảm sút mạnh, đây là một vấn

đề cần được giải quyết làm thay đổi tâm lý xã hội, tâm lý người học để gia tăng nhu cầu của người học, gia tăng quy mô tuyển sinh

2.3.3 Bùng phát nhu cầu về nguồn nhân lực khi bước sang trạng thái bình thường mới

Qua hơn 2 năm ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, các doanh nghiệp chỉ duy trì không quá 25% nhân lực nếu còn hoạt động, nhiều doanh nghiệp đóng cửa, dẫn đến 100% nhân lực Do vậy, khi ngành du lịch phục hồi trong trạng thái bình thường mới, du lịch nội địa, quốc tế đã mở cửa trở lại hoàn toàn trong thời gian ngắn, việc thiếu nhân lực làm việc trong thời gian ngắn hạn là vấn đề đã được dự báo và sẽ rất căng thẳng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô lớn Việc cần phải đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực để giải quyết vấn đề này như thế nào cũng là bài toán cần có lời giải trong thời gian ngắn hạn

2.3.4 Yêu cầu đối với việc giáo dục nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đưa du lịch thành ngành kinh

tế mũi nhọn

Trước mắt, giáo dục nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh bình thường mới, đáp ứng yêu cầu phục hồi ngành Du lịch, sau đó, cần có kế hoạch, chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch để đáp ứng với yêu cầu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, như vậy, bên cạnh việc giáo dục, phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu của ngành du lịch trong trạng thái bình thường mới, vấn đề đặt ra cần có

kế hoạch, chiến lược như thế nào để giáo dục nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu mới như hiện nay Như vậy, trước mắt làm thế nào để đảm bảo đủ nguồn nhân lực cho giai đoạn phục hồi hiện nay và hướng tới đủ nguồn nhân lực với quy mô, cơ cấu, chất lượng phù hợp đáp ứng được mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Trang 5

2.4 Giải pháp tăng cường đào tạo nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

2.4.1 Nhóm các giải pháp cần thực hiện trong giai đoạn ngành Du lịch phục hồi

Thứ nhất: Xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, kêu gọi nhân lực du lịch có kinh nghiệm quay trở lại làm việc: Việc thu hút người lao động quay trở lại làm việc được các doanh nhiệp

quan tâm khi mở cửa hoạt động trở lại Với số lượng lớn nhân lực hơn hai năm đã chuyển việc hoặc không hoạt động, hay hoạt động sang các nghề khác Để đảm bảo có nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu tăng cao trong giai đoạn ngành Du lịch bước vào giai đoạn phục hồi

Thứ hai: Tổ chức đào tạo lại, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ nhân lực quay trở lại làm việc, đang làm việc: Đảm bảo nguồn nhân lực trong bối cảnh ngành Du lịch phục hồi sau đại dịch

COVID-19, thông qua đào tạo lại, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho đội ngũ nhân lực đang làm việc và các đối tượng quay trở lại làm việc; đồng thời bổ sung về số lượng theo nhu cầu thực tiễn thông qua đào tạo mới Đa dạng hóa hình thức tổ chức đào tạo lại, bồi dưỡng thông qua các hình thức kết hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp, nâng cao vai trò dẫn dắt của các hiệp hội nghề nghiệp: Hiệp hội du lịch, Hiệp hội lữ hành và Hiệp hội khách sạn từ cấp trung ương tới các địa phương, triển khai đồng bộ trên diện rộng khắp cả nước

Thứ ba: Tăng cường truyền thông, thay đổi nhận thức, nhu cầu học tập của xã hội đối với ngành, nghề lĩnh vực du lịch: Việc thay đổi nhận thức về ngành, nghề lĩnh vực du lịch, việc thay đổi trong cách

tiếp cận đối với ngành nghề du lịch, công nghệ phục vụ du lịch đối vối người dân và xã hội; cần thông tin rộng rãi về sự phục hồi của ngành du lịch, nhu cầu nguồn nhân lực, chế độ chính sách ưu đãi đối với người lao động trong lĩnh vực du lịch nhằm thay đổi cách nghĩ, nhận thức và thu hút người học đối với lĩnh vực du lịch

2.4.2 Nhóm giải pháp hướng tới đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Thứ nhất: Triển khai chương trình điều tra, đánh giá tổng thể để xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực du lịch Việt Nam: Khi ngành Du lịch đã phục hồi và bước sang giai đoạn phát triển, mục tiêu

đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo định hướng đã được xác định trong chủ trương của Đảng và Nhà nước Theo đó, việc xác định được cụ thể quy mô, cơ cấu và năng lực của người lao động

du lịch, xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực du lịch để làm căn cứ hoạch định các chính sách, phát triển giáo dục nguồn nhân lực du lịch về quy mô, cơ cấu, chất lượng phù hợp với hiện trạng và yêu cầu phát triển của từng lĩnh vực dịch vụ du lịch, từng vùng miền, địa phương thích ứng với việc đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Nhiệm vụ đặt ra là chuẩn bị nguồn nhân lực đảm bảo đủ về quy mô, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao, chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu hội nhập và dịch chuyển lao động trong ASEAN; gia tăng khả năng cạnh tranh của ngành Du lịch

Thứ hai: Hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, tập trung triển khai thực hiện cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia: Thực hiện thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau đối với nghề du lịch trong

ASEAN đang là yêu cầu bức thiết, bằng việc thành lập các Hội đồng kỹ năng ngành du lịch, Hội đồng chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia để quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến chuyên môn, nghiệp

vụ trong Ngành; thực hiện việc thỏa thuận với Ban thư ký ASEAN về việc công nhận các bộ tiêu chuẩn

kỹ năng nghề quốc gia đã được ban hành, hài hòa với các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề ASEAN Tăng cường tổ chức đánh giá cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia lĩnh vực du lịch, trên cơ sở phát triển hệ thống các trung tâm thẩm định kỹ năng nghề, kiện toàn đội ngũ các đánh giá viên đủ chuẩn để tham gia triển khai thực hiện Triển khai cấp chứng chỉ kỹ năng nghề cho người lao động và triển khai hệ thống tiếp cận việc làm trong khối ASEAN đảm bảo cơ hội cho người lao động Việt Nam trong dịch chuyển lao

Trang 6

động nội khối Rà soát các bộ tiêu chuẩn kỹ năng đã được ban hành để bổ sung điều chỉnh phù hợp với điều kiện mới, nghiên cứu xây dựng và ban hành các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia mới đảm bảo

tính hệ thống và đầy đủ

Thứ ba: Nâng cao năng lực của hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ du lịch; mở mã ngành đào tạo mới phù hợp với thực tiễn: Đảm bảo đủ năng lực đào tạo, bồi dưỡng nguồn

nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thực tiễn của Ngành trên cơ sở tái cơ cấu hệ thống các cơ sở đào tạo du lịch hiện có, tập trung đầu tư các trường đào tạo du lịch chất lượng cao, đào tạo các ngành nghề trọng điểm quốc gia, ASEAN và thế giới, đảm bảo phục vụ nhu cầu dịch chuyển lao động trong khối ASEAN Rà soát, phát triển ngành/chuyên ngành/nghề đào tạo lĩnh vực du lịch, chú ý đến bối cảnh của cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chuyển đổi số

Thứ tư: Xây dựng cơ chế, tăng cường sự phối hợp phù hợp, hiệu quả trong đào tạo nhân lực du lịch: Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động-Thương binh và Xã hội và các địa phương trên toàn quốc trong việc thực hiện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch Tăng cường phối hợp, gắn kết giữa nhà trường, doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp cần chủ động trong việc tham gia hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch Việc gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp cần được thực hiện ở cả hệ thống vĩ mô với các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp

3 Kết luận

Trải qua hơn 60 năm phát triển và trưởng thành, ngành Du lịch Việt Nam đã có nhiều bước phát triển vượt bậc, là Ngành tham gia hội nhập quốc tế sớm và đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo nền tảng cho Ngành phát triển Hoạt động đào tạo nhân lực được quan tâm phát triển về mạng lưới các cơ sở đào tạo, hệ thống mã ngành, nghề đào tạo được kiện toàn từ trình độ sơ cấp tới sau đại học Sự phối hợp giữa các chủ thể trong giáo dục nguồn nhân lực du lịch được thực hiện, quy mô, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển Ngành

Tuy nhiên trong giai đoạn từ 2020-2021, đại dịch COVID-19 đã có các tác động không nhỏ tới ngành

Du lịch nói chung và hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch nói riêng Trong bối cảnh Ngành đã bước vào giai đoạn phục hồi trong điều kiện bình thường mới, thực tế, nhiều vấn đề đặt ra cần phải được tháo gỡ, đồng thời cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để nhằm tăng cường hoạt động giáo dục nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu đưa Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch

trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Thông tư số 24/2017/TT-BGDĐT Ban hành danh mục đào tạo cấp

IV trình độ đại học

[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Thông tư số 25/2017/TT-BGDĐT Ban hành danh mục đào tạo cấp

IV trình độ thạc sĩ, tiến sĩ

[4] Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2017), Thông tư số 04/2017/TT-BLĐTBXH Ban hành Danh

mục ngành, nghề đào tạo cấp IV trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng

[5] Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2019), Quyết định phê duyệt ngành, nghề trọng điểm, trường

được lựa chọn ngành, nghề trọng điểm giai đoạn 2016-2020 và phương hướng đến năm 2025,

Quyết định số 1769/QĐ-BLĐTBXH

Trang 7

[6] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Đề án Tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội lĩnh vực

du lịch đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

[7] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2011), Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch giai đoạn

2011-2020

[8] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2021, Chương trình hành động phát triển du lịch giai đoạn

2021-2025, Quyết định số 2292/QĐ- BVHTTDL ngày 13/8/2021

[9] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2021, Đề án phát triển nguồn nhân lực du lịch thích ứng với tác

động của đại dịch covid-19 giai đoạn 2021-2030, Quyết định số 3624/QĐ-BVHTTDL ngày

31/12/2021

[10] Lê Anh Tuấn (2014), Nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch đồng bằng

sông Cửu Long trong giai đoạn mới, Kỷ yếu Hội thảo liên kết phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tổng cục Du lịch Việt Nam

[11] Thủ tướng Chính phủ (2020), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, Quyết định số

147/QĐ-TTg ngày 20/1/2020

[12] Các văn bản thống kê về hệ thống các cơ sở có đào tạo du lịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; các báo cáo thường niên của Bộ VHTTDL

Abstract:

INCREASE TOURISM HUMAN RESOURCES EDUCATION

IN THE NEW NORMAL STATE TO MEET THE REQUIREMENTS OF TOURISM DEVELOPMENT TO BECOME A SPEARHEAD ECONOMIC SECTOR

Recently, under the attention of the Party and State, and the efforts of related entities, the tourism industry has made remarkable progress in many indicators Tourism human resource education has also taken steps to gradually meet the requirements of the industry, however, going through the epidemic period, many problems are posed in front of managers This essay proposed solutions to strengthen the education of tourism human resources to meet the requirements of developing tourism into a spearhead economic sector

Keywords: Education of tourism human resources; To develop tourism into a spearhead conomic sector;

New normal Situation

Ngày đăng: 14/10/2022, 17:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

lịch trực tiếp đào tạo hoặc phải được đào tạo về chuyên ngành du lịch (Tham khảo Bảng 1). - TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH TRONG TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI ĐỂ ĐÁP ỨNG NHU CẤU PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRỞ THÀNH NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN
l ịch trực tiếp đào tạo hoặc phải được đào tạo về chuyên ngành du lịch (Tham khảo Bảng 1) (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm