Do đó cái cần thiết nhất là một cuộc cách tân trong các chínhsách về giáo dục và truyền thông của chúng ta.Chúng ta cần phát triển những chương trình đã được cấu trúc một cách kỹlưỡng ch
Trang 1NHỮNG LÝ THUYẾT DẠY HỌC TK XX VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG
ĐẾN GIÁO DỤC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU TK XXI
1 Những nhu cầu toàn cầu đang biến đổi giáo dục
1.1 Toàn cầu hóa là gì?
Xuất hiện từ những năm 1960, “Toàn cầu hóa - (Globalization)” đã trở thànhmột trong những khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành khoa học xã hộiđương đại và đồng thời là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất Toàn cầuhóa có thể hiểu là một hiện tượng gắn liền với sự gia tăng về số lượng cũng như cường
độ của các cơ chế, tiến trình và hoạt động nhằm thúc đẩy gia tăng sự phụ thuộc lẫnnhau giữa các quốc gia trên thế giới cũng như sự hội nhập kinh tế và chính trị ở cấp độtoàn cầu Theo đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp cáckhoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục vàvăn hóa của thế giới
- Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới.
- Hội nghị giáo dục toàn cầu, là Hội nghị thường niên do Hội đồng Anh củaVương quốc Anh tổ chức Từ năm 2004 đến nay đây là sự kiện thu hút sự tham giađông đảo của các nhà lãnh đạo giáo dục các nước, sự tham gia của các học giả quốc tế,các tổ chức quốc tế về giáo dục trên toàn thế giới Tại Hội nghị, các quan chức, cáchọc giả về giáo dục trên toàn thế giới chia sẻ, trao đổi những nghiên cứu về thực trạng
và xu hướng của các nền giáo dục
Ngoài ra, Hội nghị cũng là diễn đàn để trao đổi về những thách thức đối vớigiáo dục toàn cầu nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề; trao đổi và thảo luận vềnhững giải pháp hợp tác giữa các nền giáo dục của các quốc gia; những ưu tiên trongviệc xây dựng mạng lưới giáo dục trong chương trình giáo dục toàn cầu Hội nghịcũng bao gồm hàng loạt các hợp tác song phương và đa phương tùy theo những chủ đềtrọng tâm của từng năm được lựa chọn Ví dụ, Hội nghị Giáo dục Toàn cầu GoingGlobal 2019: Going Global 2019 - Hội nghị giáo dục toàn cầu được Hội đồng Anh tổchức thường niên đã diễn ra từ ngày 13 đến 15-05 tại thành phố Berlin, Đức Các lãnhđạo giáo dục đến từ 85 quốc gia trên thế giới sẽ cùng tham gia và bàn luận về tương laicủa giáo dục sau phổ thông và đại học với các phiên họp tiêu điểm xoay quanh chủ đềchính ngoại giao tri thức và thế giới số: Vai trò của giáo dục đại học quốc tế là gì?Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự hội nghị Going Global năm nay có PGS TS NguyễnThu Thủy – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, PGS TSNgô Thị Phương Lan – Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, GSTrần Thanh Hải, Hiệu trưởng trường Đại học Mỏ Địa chất, TS Hà Thúc Viên - Phóhiệu trưởng trường Đại học Việt Đức, Bà Hoàng Vân Anh – Giám đốc các chươngtrình Giáo dục và Xã hội của Hội đồng Anh Việt Nam cùng các nhà quản lý giáo dục
Trang 2khác Các đại biểu đã tích cực trao đổi, đối thoại và chia sẻ kinh nghiệm với đại diệnđến từ nhiều quốc gia trên thế giới.
Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị Giáo dục toàn cầu năm 2019 (Ảnh: B.C)
Giáo dục đại học quốc tế luôn được biết đến với vai trò là nơi kiến tạo tri thứctoàn cầu, nơi đào tạo kỹ năng cấp độ cao và là điểm tựa mạnh mẽ của xã hội địaphương và toàn cầu Tuy nhiên, trong một tương lai số hoàn toàn khác, giáo dục đạihọc quốc tế phù hợp đến mức độ nào và có thể đóng góp gì cho xã hội đã là tâm điểmthảo luận của hội nghị giáo dục toàn cầu năm nay
Cụ thể, hội nghị tập trung thảo luận bốn vai trò chính của giáo dục đại học quốc
tế, thông qua lăng kính chính sách hoặc thực hành bao gồm: Nơi sản sinh tri thức toàncầu; nơi phát triển kỹ năng cấp độ cao; điểm tựa của xã hội toàn cầu và là nơi cung cấpgiải pháp; vai trò lãnh đạo và đối tác trong thế giới tương lai
Một trong những nội dung quan trọng của hội nghị năm nay là việc công bố kếtquả của báo cáo về cơ hội, mô hình và các cách tiếp cận để tăng cường liên kết giữatrường đại học và doanh nghiệp thông qua hợp tác giáo dục giữa Vương quốc Anh vàcác nước Đông Á được thực hiện bởi Hội đồng Anh tại 12 quốc gia và vùng lãnh thổ
Báo cáo này khẳng định, giáo dục đại học quốc tế tại Việt Nam vẫn đang duy trìtốt các hợp tác với Vương quốc Anh trong lĩnh vực giáo dục và phát triển các chươngtrình liên kết đào tạo tại Việt Nam - qua đó tạo nền tảng cho việc phát triển mối quan
hệ hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp Về mặt chính sách, Việt Nam chothấy là một quốc gia rất kiên định với mong muốn phát triển một chính sách đổi mớitrong tương lai, tuy nhiên vẫn còn những mặt cần phải có sự phối hợp thực hiện
Việt Nam vẫn đang trong quá trình tiếp tục thúc đẩy phát triển các chính sách
hỗ trợ hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoahọc và Công nghệ, Bộ Ngoại Giao, và Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã công bốsáng kiến Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam với sự tham gia của các nhà khoa họctiêu biểu hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ trong và ngoài nước để cùngchia sẻ tầm nhìn, chiến lược nhằm tiếp cận, tận dụng những kết quả của cuộc Cáchmạng công nghiệp 4.0 đối với Việt Nam
Trang 3Tuy nhiên, báo cáo cũng chỉ ra rằng, những thách thức mang tính hệ thống màViệt Nam đang phải đối mặt không chỉ là những thách thức dễ dàng giải quyết đượcchỉ với công nghệ Tập trung cải thiện về chất lượng giảng dạy cũng như việc gia tăng
tỉ lệ việc làm của sinh viên tốt nghiệp sẽ cần được giải quyết thông qua các chươngtrình trao đổi và giao lưu quốc tế cùng với sự hỗ trợ của mạng lưới đối tác trường đạihọc và doanh nghiệp
Phát biểu tại phiên họp chủ đề Tăng cường liên kết giữa trường đại học vàdoanh nghiệp: những mô hình hợp tác mới và linh hoạt trong thời đại Cách mạngCông nghiệp 4.0 và hơn thế nữa, PGS TS Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng trườngĐại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chia sẻ quan điểm về mức độ phù hợp vàkhả năng tồn tại của những mô hình hợp tác hiện tại với bối cảnh phát triển của Giáodục Đại học tại Việt Nam Bên cạnh đó, bà cũng nêu lên tầm nhìn về các mô hình giúptăng cường liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong tương lai cũng như khảnăng đáp ứng một cách linh hoạt các nhu cầu, kỹ năng mới của thị trường lao độngtrong thời đại CMCN 4.0
Như vậy, Going Global 2019 mang lại cơ hội đặc biệt nhằm chia sẻ tri thức vàkết nối các chương trình của địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu, mang lại mộtmạng lưới toàn cầu cho các nhà lập sách và thực thi chính sách trong lĩnh vực giáo dụcquốc tế; hỗ trợ quá trình đưa ra chính sách với những bằng chứng cụ thể từ kết quả củacác nghiên cứu và các chương trình đàm thoại chính sách trong các khu vực và hỗ trợtính lãnh đạo tiên phong trên toàn cầu
Các phiên thảo luận nhằm tìm hiểu những mô hình mới cho quốc tế hóa giáo dục đại học tại các nước ASEAN được tổ chức trong khuôn khổ Hội nghị (Ảnh: B.C)
Trong phiên thảo luận nhằm tìm hiểu những mô hình mới cho quốc tế hóa giáodục đại học tại các nước ASEAN, chia sẻ về các chiến lược quốc tế hóa trong tương laigần của Việt Nam, những nỗ lực nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác của Việt Namnói riêng và khu vực ASEAN nói chung với Vương quốc Anh thông qua trao đổi kiếnthức và kinh nghiệm thực tiễn, PGS TS Nguyễn Thu Thủy – Phó Vụ trưởng Vụ Giáo
Trang 4dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo khẳng định quốc tế hóa giáo dục đại học là một trong những giải pháp giúp nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Chính phủ Việt Nam cam kết đầu tư nhân lực và nguồn lưc vào nâng cao chấtlượng đại học Việt Nam Going Global chính là dịp để các đại biểu Việt Nam tìm hiểu thêm về những khía cạnh quốc tế hóa phù hợp mà Việt Nam có thể học hỏi từ VươngQuốc Anh và các quốc gia trong khu vực
1.2 Giáo dục vì một xã hội toàn cầu
- Một trong báo cáo gửi UNESCO của Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỉ XXIKaran Singh đã viết: trong chặng đường của thập niên cuối thê kỷ XX, một thế kỷ đãchứng kiến sự tàn phá chưa từng có và những tiến bộ không thể tưởng tưởng nổi, việcgiết người hàng loạt tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại và những thành tựu đáng kinhngạc nhất trong việc chăm sóc phúc lợi cho con người Ngày nay nhân loại đang bị lôikéo khẩn trương vào một thời kỳ quá độ tiến đến một xã hội toàn cầu Chúng ta sốngtrong một thế giới mà khoảng cách không ngừng được thu hẹp và chúng ta cần phải từ
bỏ những di sản độc hại của quá khứ, của các cuộc xung đột và cạnh tranh; những điềunày mở đường cho một nền văn hóa mới của sự hội tụ và hợp tác, và hố ngăn cáchđáng ghê sợ giữa các nước phát triển và đang phát triển sẽ phải lấp đi nếu những lờihứa hẹn đẹp đẽ cho thiên niên kỷ tới không bốc hơi trong các cuộc xung đột và lộnxộn nay vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Đây là thách thức cơ bản đối vớigiáo dục trong thế kỷ XXI
Không phải là chúng ta thiếu nguồn lực trí tuệ hay kinh tế để giải quyết nhữngvấn đề đặt ra, những đột phá của khoa học và những phát minh về công nghệ đã chochúng ta những phương tiện vượt qua tất cả những thách thức đó, nhưng cái đangthiếu, chính là sáng suốt và nhiệt tình áp dụng chúng một cách sáng tạo Tri thức đangđược mở rộng nhưng trí thông minh lại đang bị suy tàn Hố sâu này cần phải được sanlấp trước khi bước vào thế kỷ XXI, nếu như chúng ta muốn xoay ngược chiều hướnghiện tại đang dẫn đến thảm họa và ở đây điều cần nói là, giáo dục với nghĩa rộng nhất,
có tầm quan trọng sống còn Các hệ thống giáo dục quốc gia hầu như đều dựa trênnhững niềm tin xuất phát từ những tri thức đã có từ trước kỷ nguyên hạt nhân và toàncầu Do đó chúng không thể đảm bảo cung cấp một mô hình tư duy mới mà sự tồn tại
và phúc lợi của nhân loại ngày nay đang đòi hỏi Những tính chất chính thống đã lỗithời và những khuynh hướng lạc lậu tiếp tục ngăn cản những thế hệ trẻ giác ngộ mộtcách thích hợp sự thống nhất cần thiết của thế giới mà thế hệ chúng được sinh ra Dĩnhiên, việc khuyến khích những thái độ tiêu cực đối với những dân tộc khác hay cộngđồng khác, đã kìm hãm sự lớn mạnh của ý tưởng toàn cầu Những công nghệ truyềnthông kỳ diệu tạo nên những mạng lưới trên khắp thế giới ngày nay, còn rất ít được sửdụng để truyền bá những giá trị toàn cầu và nuôi dưỡng ý thức quan tâm hơn và nhiệtthành hơn đối với người khác Ngược lại, các phương tiện truyền thông đại chúng đầynhững hình ảnh bạo lực và rùng rợn, sự tàn ác và giết người hàng loạt, việc tiêu dùngthoải mái và chơi bời thoái quá đã gây nên hậu quả không chỉ là làm biến dạng ý thứccủa tuổi trẻ mà còn làm mất đi sự nhạy cảm đối với những đau khổ và mất mát mà con
Trang 5người phải chịu đựng Do đó cái cần thiết nhất là một cuộc cách tân trong các chínhsách về giáo dục và truyền thông của chúng ta.
Chúng ta cần phát triển những chương trình đã được cấu trúc một cách kỹlưỡng cho toàn thế giới, dựa trên tiền đề là sự sống còn của loài người phụ thuộc mậtthiết vào sự phát triển ý thức toàn cầu về sự sáng tạo và lòng nhiệt thành Khía cạnhtinh thần có tầm quan trọng trung tâm trong suy nghĩ mới về giáo dục của chúng ta
Chúng ta phải có lòng dũng cảm suy nghĩ một cách toàn cầu, chúng ta phải huyđộng mọi nguồn lực bên trong chúng ta cùng như những nguồn lực bên ngoài để có thểbắt đầu xây dựng một cách có ý thức một thế giới mới, dựa trên lợi ích tương hỗ giữacác bên thay vì sự phá hoại lẫn nhau Là những công đân thế giới, cam kết vì cuộcsống và phúc lợi của nhân loại, chúng ta phải sử dụng kho tàng hiện đại nhất củanhững phương pháp giáo dục đổi mới, và tác nhân thực hiện một chương trình giáodục của chúng ta phải có lòng dũng cảm suy nghĩ một cách toàn cầu Có thể mở nhữngcon mắt của trẻ em cũng như của người lớn để nhìn thấy một kỷ nguyên toàn cầu đang
hé sáng và mở những trái tim của họ để nghe thấy những tiếng kêu gào của những kẻ
bị áp bức và đau khổ Và không còn thời gian để lãng phí, cùng với sự xuất hiện xã hộitoàn cầu, những lực lượng hung dữ của chủ nghĩa chính thống bảo thủ và chủ nghĩacuống tín, của sự bóc lột và đe dọa đang hoạt động rất tích cực
Khi ấy với tốc độ nhanh nhất, chúng ta hãy đi đầu và tuyên truyền triết lý tổngthể của giáo dục cho thế kỷ XXI, dựa trên những tiền đề sau đây:
+ Hành tinh mà chúng ta đang sống và là công dân của nó - hành tinh Trái Đất
là một thực thế sống động nhất đang bị chấn động: loài người, phân tích cho đến cùng,cũng chỉ là một gia đình mở rộng mà mọi thành viên có quan hệ mật thiết với nhau -Vasudhaiva Kuktumbakam như Thánh Veda đã nói: sự khác nhau về nòi giống và tôngiáo, quốc tịch và hệ tư tưởng, giới tính và sự đam mê tình dục, địa vị kinh tế và xã hộibản thân chúng có ý nghĩa gì đi chăng nữa - cũng phải được đặt lại trong nội hàm tốthơn của sự thống nhất toàn cầu
Hệ sinh thái của hành tinh Trái Đất phải được bảo vệ, không bị phá hoại mộtcách không suy nghĩ, không bị khai thác bừa bãi, và phải được phong phú lên vì lợi íchcủa các thế hệ mai sau; cần phải thực hiện một cách tiêu thụ công bằng hơn, dựa trênnhững hạn chế về sự tăng trưởng, chứ không phải là sự lãng phí có hạn chế
+ Lòng hận thù và sự cố chấp, chủ nghĩa chính thống bảo thủ và chủ nghĩacuồng tín, lòng tham và sự đố kỵ, dù là giữa những cá nhân, những nhóm hay nhữngdân tộc đều là những đam mê phá hoại cần phải được khắc phục, khi chúng ta đangtiến vào thế kỷ mới mà tình yêu và sự cảm thông, sự quan tâm đến người khác và lòng
từ thiện, tình hữu nghị và hợp tác là những yếu tố cần phải được phát huy, khi ý thứccủa chúng ta đang chuyển sang sự nhận biết toàn cầu mới
+ Những tôn giáo lớn trên thế giới đang tìm kiếm sự siêu cường cho mình, naycần phải chấm dứt cảnh chiến tranh tương tàn và cần phải hợp tác với nhau vì lợi íchcủa loài người, và thông qua sự đối thoại thường xuyên, sáng tạo và tin cây lẫn nhau,sợi chỉ vàng về những khát vọng tinh thần chung, nối kết các tôn giáo với nhau, naycần được tăng cường thay cho những giáo điều và sự loại trừ lẫn nhau đã chia rẽ họ
Trang 6+ Nền giáo dục tổng thể phải tính đến những khía cạnh đa dạng của nhân cáchnhư về thể lực, trí lực, thẩm mỹ, tình cảm và tinh thần và có định hướng như vậy mớithực hiện được ước mơ lâu nay về một cá thế hòa nhập đang sống trên một hành tinhhài hòa.
+ Những thách thức đối với giáo dục là rất lớn trong một thế giới mang tính đavăn hóa Một nền giáo dục đa văn hóa sẽ phải thực sự nỗ lực đồng thời vào những yêucầu của sự thống nhất toàn cầu và quốc gia và đáp ứng những nhu cầu riêng biệt củacộng đồng mang những nét văn hóa đặc thù
Để đạt được một nền giáo dục đa chiều như vậy chúng ta cần phải suy nghĩ lại
về mục tiêu giáo dục, xây dựng lại nội dung và chương trình giáo dục trong hệ thốnggiáo dục nhà trường, phát triển phương pháp, kĩ năng, hình thức tổ chức dạy học mới,xác định lại mối quan hệ thầy trò trong quá trình giáo dục Một nền giáo dục có tính đachiều được dựa trên triết lý đa chiều nhân đạo
2 Sự biến đổi các quan điểm về học tập trong thế kỷ XX và XXI
Tổ chức UNESCO đưa ra bốn trụ cột của giáo dục đó là “Học để biết, học đểlàm, học để cùng chung sống và học để làm người”
Giáo dục phải tạo ra những giá trị thực sự phù hợp với nhịp sống của thời đạimới, những con người có đức, có tài sẽ cống hiến hết mình cho sự phát triển của xãhội Thời đại đòi hỏi những con người có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹnăng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định
dựa trên cơ sở phân tích các chứng cứ và dữ liệu Học tập suốt đời, học tại bất cứ đâu, vai trò của giảng viên từ chuyên gia thành người điều phối… là những khác biệt trong nền giáo dục.
Giáo dục thay đổi trong nhiều thế kỷ, từ phạm vi kiến thức tới mô hình vàkhông gian học tập Trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, nhiều quan niệm học tập
Trang 7truyền thống đã thay đổi so với quá khứ, mở ra một viễn cảnh giáo dục rộng mở và linh hoạt hơn.
- Mục tiêu học tập mở rộng:
Trong cách mạng công nghệ lần thứ nhất, mục tiêu học tập là để làm chủ nhữngkiến thức và kỹ năng cơ bản Ví dụ: tại trường, người học học kiến thức về các môntoán, ngôn ngữ, nghệ thuật…; trong đào tạo kỹ năng có thể đào tạo về kỹ năng cơ bảnnhư đọc sách, tranh biện…Với thời đại 4.0, giáo dục hướng tới phát triển cá nhân mộtcách tổng thể
Trong nền giáo dục của thế kỉ XXI, người học phải biết cần cái gì, cần trang bịnhững hiểu biết và kỹ năng gì và sau đó tìm hiểu bản chất của nó, trái với việc giáodục mà rất nhiều thứ người học bị nhồi nhét và đưa vào đầu mà không biết nó thực sự
có ích hay không cho cuộc sống tương lai Hãy sống và học tập theo niềm đam mê củachính mình Học tập cùng nhau, học hỏi lẫn nhau, phương pháp dạy lấy người học làtrung tâm, vai trò giảng viên chỉ là người hỗ trợ, hướng dẫn và xây dựng được mộtcộng đồng học tập cùng chung một ý tưởng, một khát vọng, đó là nền giáo dục 4.0 Đểđạt được điều đó, người học cần phải:
(1) Học mọi lúc, mọi nơi (đa dạng địa điểm và thời gian): Người học có nhiều cơhội học tập trong những khoảng thời gian khác nhau và ở những nơi khác nhau Việchọc tập sẽ trở nên dễ dàng và thuận tiện khi có các công cụ học tập trực tuyến hỗ trợcho việc học tập từ xa và tự học Các lớp học dường như sẽ bị đảo ngược so với cáclớp học truyền thống hiện nay, phần lý thuyết sẽ là tự học, học trực tuyến bên ngoàilớp học, còn phần thực hành sẽ được giảng dạy và hướng dẫn trực tiếp trên lớp
(2) Cá nhân hóa việc học tập: Người học sẽ học cách thích nghi với các công cụ
hỗ trợ học tập phù hợp với khả năng của mỗi cá nhân Mỗi nhóm sinh viên có trình độkhác nhau sẽ được thử thách bởi các nhiệm vụ có mức độ khó khăn khác nhau Sinhviên có cơ hội thực hành nhiều hơn đối với các học phần khó cho đến khi đạt yêu cầu.Sinh viên sẽ được củng cố kiến thức cũng như có được kinh nghiệm tích cực trong quátrình học tập độc lập của mình, họ sẽ có động lực hơn cũng như tự tin hơn về khả nănghọc tập của mình Hơn nữa, giảng viên sẽ dễ dàng thấy được trình độ của từng sinhviên để can thiệp và giúp đỡ kịp thời
(3) Tự do lựa chọn: Mặc dù mỗi môn học được giảng dạy với cùng một mục đích,tuy nhiên, con đường để đạt được mục đích đó thì có thể khác nhau đối với mỗi sinhviên Mỗi sinh viên đều có thể lựa chọn cho mình một chiến lược học tập của riêngmình với những công cụ học tập mà họ cảm thấy là cần thiết và phù hợp nhất với họ.Sinh viên sẽ học tập cùng với các thiết bị hỗ trợ khác nhau, các chương trình khácnhau và các công nghệ khác nhau dựa trên sở thích riêng của từng người Học tập theophương thức truyền thống kết hợp với học trực tuyến sẽ tạo nên sự thay đổi quan trọngtrong xu hướng học tập hiện nay Hiện nay, chương trình học tập theo học chế tín chỉ
đã đáp ứng được một phần của vấn đề này; xu hướng sắp tới người học sẽ quyết địnhhọc tập gì, cần kiến thức gì cho bản thân để vận dụng vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp
ra trường
Trang 8(4) Thực hiện dự án: Nghề nghiệp trong tương lai sẽ gắn với nền kinh tế tự do, dovậy sinh viên ngày càng phải thích nghi với việc học tập theo kiểu dự án Điều này cónghĩa học phải học cách áp dụng các kỹ năng trong một thời gian rất ngắn để giảiquyết nhiều tình huống khác nhau Sinh viên nên sẵn sàng làm quen với các kỹ năngdựa trên dự án trong trường đại học, đó là các kỹ năng quản lý tổ chức, kỹ năng quản
lý thời gian có thể được giảng dạy như những điều cơ bản mà mọi sinh viên có thể sửdụng trong quá trình học tập của mình
(5) Trải nghiệm thực tế: Mỗi một chương trình học đều được gắn liền với mộtlĩnh vực ngành nghề nhất định trong xã hội, do vậy, kinh nghiệm trong từng lĩnh vực
sẽ được ẩn mình trong từng chương trình, từng môn học Các trường học sẽ tạo nhiều
cơ hội để người học có được các kỹ năng thực tế ở mỗi lĩnh vực đại diện cho chươngtrình học của mình Điều này có nghĩa là chương trình sẽ tạo ra nhiều khoảng trốngcho người học hoàn thiện thông qua thực hành thực tế, tư vấn và tham gia vào các dự
án hợp tác
(6) Giải thích số liệu: Mặc dù toán học được coi là một môn học có thể tính toán
và giải thích, tuy nhiên phần tính toán này sẽ trở nên không quan trọng trong tương laigần khi máy tính đã làm thay phần tính toán, thống kê mô tả và phân tích dữ liệu cũngnhư dự đoán tương lai Do đó, sự giải thích của con người về những dữ kiện đó sẽ trởthành một phần quan trọng hơn ở chương trình giảng dạy trong tương lai Áp dụngkiến thức lý thuyết cho các con số, sử dụng lý luận của con người để suy luận logic và
xu hướng từ những dữ liệu này sẽ trở thành một nền móng căn bản của việc học toánhọc
(7) Tư vấn sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn: Người học sẽ ngày càng độc lậphơn trong việc học tập của mình, lấy tự học là chính, giáo viên như một người hướngdẫn và là một tâm điểm trong nguồn dữ liệu thông tin khổng lồ mà người học sẽ phải
đi qua
Trang 9- Vai trò của người học có sự thay đổi lớn:
Thời đại cách mạng 4.0 có nhiều thay đổi, khác biệt Do vậy, học sinh ngàynay nhìn chung có sự hiểu biết, có vốn kinh nghiệm sống, có thể chất và trí tuệ pháttriển hơn học sinh ở những thời kỳ trước, nên trong quá trình học tập, học sinh xuấthiện xu hướng có nhu cầu và khả năng nhận thức vượt ra khỏi nội dung tri thức trongchương trình qui định Xu hướng này thể hiện ở chỗ, các em học sinh không thoả mãnvới những điều học được trong chương trình mà muốn tìm kiếm những kiến thức mới,muốn được học thêm, mở rộng, đào sâu tri thức, muốn phát hiện và giải quyết vấn đềbằng nhiều cách, muốn vận dụng những hiểu biết của mình vào thực tiễn để kiểmnghiệm những điều đã học được
Trong quá trình dạy học hiện đại, học sinh vừa là đối tượng của hoạt động dạy,
vừa là chủ thể nhận thức, chủ thể của học động học Với vai trò này, các em phải có sựhứng thú rõ rệt với tri thức thu nhận được, phải tự mình tìm ra kiến thức bằng hoạtđộng nhận thức của chính mình dưới sự hướng dẫn của thầy, có ý thức trách nhiệm vớiviệc học của mình và tham gia tích cực trong suốt quá trình học Hoạt động nhận thứccủa học sinh phải là hoạt động mang tính tự giác, tích cực, chủ động, nhờ vậy học sinh
có thể tiếp thu và xử lí thông tin - tri thức để tự biến đổi mình
Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh ý thức đúng và đầy đủ mục đích,nhiệm vụ học tập của mình trong quá trình lĩnh hội tri thức
Tính tích cực nhận thức thể hiện ở thái độ tích cực của học sinh đối với việc họctập của mình thông qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giảiquyết những vấn đề học tập Tính tích cực nhận thức vừa là mục đích, là phương tiện,
là kết quả, là phẩm chất hoạt động của cá nhân
Tính chủ động nhận thức là sự sẵn sàng tâm lý hoàn thành những nhiệm vụnhận thức - học tập, nó vừa là năng lực, vừa là phẩm chất tự tổ chức hoạt động học tập,cho phép người học tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tậpcủa mình
Quá trình học của học sinh có thể diễn ra dưới tác động trực tiếp hoặc gián tiếpcủa người giáo viên:
+ Nếu quá trình học của học sinh có sự tác động trực tiếp của giáo viên thì tính
tự giác, tích cực, chủ động nhận thức của học sinh thể hiện:
Tiếp nhận những nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra
Tiến hành thực hiện những nhiệm vụ học tập đó một cách tự giác, tích cực
Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới sự kiểm tra, đánh giácủa giáo viên và tự đánh giá của bản thân
Phân tích những kết quả hoạt động nhận thức - học tập dưới tác động chủ đạo củagiáo viên
+ Nếu quá trình học của học sinh thiếu sự tác động trực tiếp của giáo viên thì tính tự giác, tích cực, chủ động nhận thức của học sinh thể hiện:
Tự lập kế hoạch hoặc cụ thể hoá nhiệm vụ học tập của mình
Tự tổ chức hoạt động học tập bao gồm việc lựa chọn các phương pháp vàphương tiện học tập
Trang 10Tự kiểm tra và tự đánh giá, qua đó tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân.
Tự phân tích các kết quả hoạt động nhận thức - học tập để cải tiến phương pháphọc của mình
- Tự học là yêu cầu bắt buộc:
Vai trò của giáo viên thay đổi, người học cũng thay đổi theo Học tập trong quákhứ thường mang tính thụ động Người học chủ yếu tham gia các chương trình giáodục đã được xây dựng sẵn, có khuôn mẫu chung cho số đông và tiếp cận kiến thức mộtchiều Ngày nay, theo đòi hỏi của giáo dục hiện đại, người học buộc phải tăng tính chủđộng, khả năng tự định hướng các kiến thức mình cần và xây dựng lộ trình học tậpriêng theo đòi hỏi của từng cá nhân
Giáo dục truyền thống trên thế giới tập trung vào nhóm K-12 - độ tuổi từ trẻmầm non tới hết giai đoạn phổ thông Sau giai đoạn K-12, người học trưởng thành lựachọn con đường để phát triển nghề nghiệp đã được định hướng từ sớm Giáo dục thờiđại 4.0 đã mở rộng độ tuổi học tập qua khái niệm “học tập suốt đời” Với sự phát triểncủa công nghệ và robot, nhiều chuyên gia giáo dục trên toàn cầu thừa nhận rằng chưathể xác định các kỹ năng nghề nghiệp cho trẻ nhỏ trong giai đoạn hiện nay vì nhiềucông việc trong tương lai gần thậm chí chưa xuất hiện Vì vậy, học tập không thể chỉgiới hạn trong độ tuổi đi học Người học cần phải có năng lực học tập suốt đời, khôngngừng cập nhật kiến thức và tri thức để theo kịp các đòi hỏi công việc liên tục thay đổitrong xã hội 4.0
3 Sự biến đổi các quan điểm dạy học trong thế kỷ XX và XXI
3.1 Bản chất của dạy học hiện đại
Về phương diện xã hội-lịch sử, dạy học là quá trình và kết quả của sự tái sản xuất
và phát triển những giá trị và kinh nghiệm xã hội cơ bản, có chọn lọc, ở từng cá nhânthuộc những thế hệ người học nhất định để thực hiện những chức năng phát triển cánhân và cộng đồng Trong khuôn khổ một thời đại, một quốc gia, dạy học được chếđịnh bởi các thể chế chủ yếu sau: hệ tư tưởng xã hội - chính trị, pháp luật và chínhsách; chế độ kinh tế; nhu cầu học tập của dân cư; các tầng văn hoá (tiềm ẩn, trung gian
và tường minh); hệ giá trị đạo đức Dạy học và giáo dục ở hình thức hiện thực có cùngcấu trúc: ở đâu có dạy học thì ở đó có giáo dục, chỉ có điều giáo dục đó là giá trị hay làphản giá trị xét theo chuẩn mực của xã hội cụ thể Ngược lại, giáo dục không thểkhông dựa trên dạy học Dù ở phương thức nào thì để giáo dục người khác và tự giáodục, nhất thiết phải có chuyện dạy và học cái gì đó
Mục đích lý tưởng của dạy học xét ở phương diện này là giáo dục con người phát
triển hài hoà về các mặt:
- Tâm trí (trí tuệ, tình cảm, ý chí);
- Thể chất (thể lực, thể hình, thể năng);
- Năng lực hoạt động thực tiễn (năng lực kỹ thuật tổng hợp-Mác; kỹ năng
sống-Phương Tây; kỹ năng xã hội-UNESCO)
Nội dung tổng quát của dạy học là huấn luyện, bồi dưỡng, phát triển có địnhhướng các thành phần thực thể của con người
Trang 11- Tâm hồn và Thể xác; các chức năng cơ bản thiết yếu của mỗi người đối với
sự phát triển của chính họ - nhận thức, biểu đạt xúc cảm và thái độ, vận động thể chất và tâm lý; các phương thức và kinh nghiệm hành vi và hoạt động cần thiết để con người sống an toàn, hạnh phúc, thành đạt - ngôn ngữ, đạo đức, nghệ thuật, logic, khoa học, công nghệ, sinh hoạt, tay nghề… Nội dung này phản ánh các môi trường
và các nhiệm vụ đặc thù của quá trình phát triển con người ở một cộng đồng xác định
mà không có ở bất kỳ cộng đồng nào khác
Phương thức tổng quát của dạy học là quá trình dạy học, tức là quá trình xã
hội hoá cá nhân bằng các công cụ vật chất và tinh thần cụ thể, được hoạch định chặtchẽ về nhiều mặt, được tiến hành có hệ thống, có quy trình, có nguyên tắc và phương
pháp nhất định Bản thân dạy học được xem như một quá trình vì chức năng chủ yếu
của nó là xử lý: đó là việc xử lý kinh nghiệm xã hội từ hình thái xã hội thành hình thái
cá nhân, từ trừu tượng thành cụ thể, từ khách quan thành chủ quan, được thực hiện bởingười học trong môi trường đựơc tổ chức đặc biệt về mặt sư phạm do nhà giáo tạo ra
và giữ vai trò quyết định
Quá trình dạy học diễn ra trên cơ sở bản thể luận của nó là nội dung dạy học Haimặt này luôn thống nhất với nhau trong dạy học dù nói ở quy mô nào, tầng bậc nào,thời điểm nào, địa điểm nào cũng vậy Nội dung sư phạm của dạy học là một thể tíchhợp đa thành tố Cả nội dung và quá trình dạy học được phản ánh và thiết kế đồngthời, nhất quán với nhau trong văn bản học trình hay chương trình Có nghĩa là,chương trình chỉ là văn bản mô tả nội dung và quá trình dạy học, tự nó không phải làhọc trình thực tế Mỗi học trình thực tế diễn ra đều biểu hiện như là thể tích hợp mặtnội dung và mặt quá trình cuả dạy học
Mỗi thành tố của nội dung dạy học tự nó đã là tập hợp nhiều hiện tượng Tuyvậy, có thể nhóm chúng lại dựa vào vai trò và chức năng chung của chúng Khi đó cóthể phân biệt được 5 thành tố sau:
(1) Nội dung học vấn, bao gồm 4 yếu tố là Tri thức về tự nhiên, xã hội, con
người, khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật và về những phương thức hoạt động; Cácphương thức hoạt động; Kinh nghiệm HĐ sáng tạo; Kinh nghiệm đời sống cảm xúc vàđánh giá Nội dung này được tổ chức và thiết kế thành các lĩnh vực học tập và các hoạtđộng khác Đây là thành tố định hướng của dạy học, tương đối tĩnh và ổn định;
(2) Các hoạt động và chủ thể hoạt động, trong đó chủ yếu là hoạt động giảng
dạy và hoạt động của người học, các quan hệ giáo dục, các hành vi giao tiếp Đây làthành tố năng động, có chức năng chủ yếu là vận hành và thực hiện các nhiệm vụ DH;
(3) Các nhân tố và tình huống tâm lý, đạo đức, xã hội - đặc biệt quan trọng là
nhu cầu dạy và nhu cầu học, động cơ dạy và động cơ học, ý chí, tình cảm… của thầy
và trò Đây là thành tố động lực của dạy học;
(4) Các nguồn lực vật chất của dạy và học, như sách, dụng cụ học tập và giảng
dạy, cảnh quan sư phạm, các điều kiện vật lý, địa lý… tham gia vào môi trường dạyhọc cụ thể Đây là thành tố có chức năng điều kiện của dạy học;
(5) Các sản phẩm của dạy học, tức là tri thức, kỹ năng, thái độ, năng lực nhận
thức, năng lực đánh giá, năng lực vận động…Chúng phản ánh những mục tiêu của
Trang 12người học ở đầu vào của học trình và những kết quả hay thành tưụ của họ ở đầu ra củahọc trình Thành tố này có chức năng quản lý là chính.
Trong từng lĩnh vực hay xét chung ở quy mô toàn xã hội, dạy học quy đồng cácphương thức phát triển khác nhau của các cá nhân khác nhau trên những chuẩn mựcchung, những thang giá trị chung, những bổn phận và lợi ích chung, song nó khôngquy nhất tiến trình và thành tựu phát triển của những cá nhân này Vì vậy cá nhân luôn
có hai phương thức phát triển, trong đó không thể khẳng định cái nào là quyết địnhhơn cái nào
Dạy học có chức năng phát triển người, song điều đó không có nghĩa nó là nguyên nhân của sự phát triển, nó đẻ ra trí tuệ, tình cảm, hoạt động và giá trị ở cá
nhân Chức năng đó có tính hình thức: định hướng, tạo điều kiện, làm bộc lộ các tiềmnăng Sự phát triển cá nhân và dạy học có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ trong thời đạihiện nay, kỷ nguyên bước vào xã hội học tập, nền kinh tế tri thức Mặc dù vậy, giữachúng không phải quan hệ nhân quả Dạy học muốn trở thành nguyên nhân thực sựcủa tiến trình và thành tựu phát triển ở cá nhân nào đó, thì trước hết nó phải giúp cánhân chuyển học vấn của mình thành khả năng và nhu cầu học độc lập, thành giá trịbên trong, thành hoạt động và ý chí tự giáo dục Dạy học bắt buộc phải thông qua học
tập mới thực hiện được chức năng phát triển Hiểu một cách tổng quát rằng, sự phát triển của con người hiện đại, của tuyệt đại đa số cá nhân, diễn ra dưới hình thức dạy học (chính quy và không chính quy), còn tiến trình cụ thể và thành tựu cụ thể của sự phát triển ở mỗi cá nhân lại do kinh nghiệm, giá trị và hoạt động của chính cá nhân đó quy định.
Vai trò của các yếu tố bên trong- nội lực- đối với sự phát triển cá nhân thật vôcùng lớn Chưa từng có bằng chứng cho thấy con người có khả năng học tập vô hạn và
tự phát triển vô hạn Nhưng cũng không hề có bằng chứng nào khẳng định giới hạntrong sự học tập và tiềm năng phát triển độc lập của cá nhân con người Rất nhiềutrường hợp không có ai dạy mà nhiều người vẫn phát triển, thậm chí gần như tối đa so
với tiềm năng của mình Quy luật phổ biến trong mối quan hệ dạy học và phát triển chính là hoạt động Khái niệm hoạt động có thể giải thích thuyết phục tiến trình
và thành tựu phát triển trong mọi trường hợp và cần phải được đặt ra như một nguyêntắc chủ yếu nhất của dạy học hiện đại Sự phát triển cá nhân phải dựa vào hoạt động cánhân Muốn tiến trình phát triển diễn ra theo hướng tiến bộ, đạt những trình độ ngàycàng cao, thì hoạt động cũng phải phát triển Người nào không cải thiện được, khôngphát triển được hoạt động của mình liên tục thì bản thân người đó nói chung khôngphát triển được
- Về mặt sư phạm, bản chất của dạy học chính là gây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của người khác, tạo ra môi trường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chất lượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của mình Dạy học chính là cơ cấu và quy trình tác động
đến người học và quá trình học Chủ thể dạy học là nhà giáo, thầy giáo, và bất kỳngười nào tiến hành bảo ban người khác học tập Vì thế, dạy học tức là dạy, bảo, chỉdẫn người khác học Khi dạy ai đó học, điều đó có nghĩa là:
Trang 13+ Dạy - muốn học (có nhu cầu học tập);
+ Dạy - biết học (có kỹ năng và biện pháp học tập);
- Trên cơ sở khái niệm hoạt động, có thể nêu lên những nguyên tắc chủ yếu nhấtcủa quá trình dạy học hiện đại:
(1) Tương tác - nhà giáo và hoạt động dạy học của họ phải phát động được và tổ
chức được các dạng tương tác khác nhau giữa người học và nội dung dạy học, giữangười học với nhau và với thầy, giữa các hình thức học tập và giao tiếp; hạn chế càngnhiều càng tốt tính chất một chiều trong quan hệ dạy-học, phát huy tối đa các cơ hộihoạt động của người học;
(2) Tham gia - hoạt động dạy học phải có tác dụng động viên, khuyến khích
người học trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, sao cho nỗ lực của mỗingười đều góp công vào mục tiêu và kết quả học tập chung, và việc đạt được kết quảchung cũng là cái bảo đảm cho mỗi người thành công trong học tập; trí tuệ chung, ýchí chung, tình cảm chung được vun đắp từ sự tham gia của mỗi người, và chínhchúng trở thành chỗ dựa, thành sức mạnh gấp bội của mỗi người;
(3) Tính vấn đề của dạy học - tình huống dạy học do nhà giáo tổ chức phải có
giá trị đối với người học, phải có liên hệ với kinh nghiệm và giá trị cá nhân của họ, từ
đó thúc đẩy họ hoạt động trí tuệ và thực hành; các yếu tố trong tình huống dạy họckhông được vô tính, trung tính đối với người học, trở thành nhàm chán, nhạt nhẽo, làmsuy giảm tính tích cực của họ
3.2 Một số xu thế của dạy học hiện đại
- Hiện nay các quá trình hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá sẽ là những xu thếtổng quát trong dạy học, kể cả chính quy và không chính quy Tất nhiên nội dung củahiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá chắc chắn được định hướng vào các mục tiêu nhân văn,dân chủ và phát triển bền vững Chẳng hạn không nên hiểu ở đây chỉ có vấn đề tăngcường các yếu tố khoa học - công nghệ trong việc khai thác, sử dụng các nguồn lựcgiáo dục, trong việc quản lý, điều hành, đánh giá dạy học, trong việc phát triển chương
Trang 14trình và phương pháp, công nghệ dạy học…, mà điều cốt lõi nhất chính là vì sự pháttriển của người học và con người nói chung.
Hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá chắc chắn còn đi vào các quan hệ và những mặtkhác nhau, không phải là phần kỹ thuật, nội dung, phương tiện, học liệu… của dạyhọc Bản chất của các kiểu phương pháp dạy học hiện đại nhất và có triển vọng nhất,đáp ứng được những đặc điểm của quá trình học tập tương lai và người học tương lai
chính là dựa vào người học và hoạt động của họ Tất cả những tiềm năng của chương
trình, học liệu, phương tiện kỹ thuật, dụng cụ, thiết bị công nghệ… đều phụ thuộctrước hết chính vào chất lượng và tính năng của chúng, và ở đây ai cũng thấy rõ nhữnggiới hạn khá rõ ràng Nhưng mặt giá trị, cảm xúc và những quan hệ trong dạy học thực
tế hàng ngày lại chứa đựng rất nhiều tiềm năng giáo dục to lớn, khó lường hết được
Vì vậy, phương pháp dạy học triển vọng nhất từ nay về sau chính là phương pháp dựavào người học và hoạt động của người học, khai thác mặt giá trị và cảm xúc của quátrình học tập, tổ chức các quan hệ dạy học theo nguyên tắc hoạt động và giao tiếp chủđộng giữa các chủ thể dạy-học
Để phát triển các hoạt động, đặc biệt và quan trọng nhất là hoạt động học tập, vàkích hoạt nhu cầu, tình cảm, ý chí của người học- nói chung là kích hoạt quá trình họctập, thì các quan hệ trong dạy học có vai trò quyết định Quan hệ là một thành tố chủyếu nhất của môi trường học tập, tất cả những tình huống dạy học khác nhau đều phảidựa vào quan hệ giữa thầy và trò, giữa người học với nhau, giữa cá nhân và nhóm,giữa nhóm và cả lớp Các quan hệ của dạy học hiện đại sẽ tiếp tục phát triển theo xuhướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia sẻ
Người ta nhất trí cho rằng những xu thế triển vọng nhất trong dạy học và giáo dụckhông thể không chịu những ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển nhu cầu của conngười, trước hết là những nhu cầu gắn liền với học vấn, tri thức, tay nghề, sự thành đạt
về mặt xã hội, hạnh phúc cá nhân trong đời sống cộng đồng đa dạng Trong điều kiện
xã hội học tập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, nhu cầu học vấn nâng lên rõràng, đa dạng hơn, và dặc biệt có tính chất chọn lọc hơn- người ta không chỉ đơn giản
là cần học, muốn học, thấy bức bách rằng phải học, mà quan trọng hơn còn phải họcnhư thế nào, học chính xác cái gì, học vào những lúc nào và học đến mức độ nào thì đủ
để biết, để làm việc, để chung sống và để làm người đàng hoàng Tuy vậy, học thườngxuyên và học suốt đời vẫn là những nét đậm trong nhu cầu học tập của con ngườitrong nhiều thập niên tới
- Chương trình và học chế nhà trường ngày càng đáp ứng cao hơn nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời, chứ không xem nó là chuyện tự phát bên lề nhà
trường Học trình hiện đại có những phần cơ bản và chuẩn mực đòi hỏi người học phải
cố gắng và thích ứng, nhưng phần này cần tinh gọn và được chọn lọc chính xác Phần
đa số còn lại của học trình vừa thích ứng với người học, vừa tạo những điều kiện, cơhội giúp người học thích ứng dễ dàng hơn Nhờ tính chất linh hoạt này, dạy học vừathực hiện hiệu quả chức năng phát triển(tạo dạng và định hướng cho sự phát triển) vừatạo điều kiện và khuyến khích việc học độc lập ngay trong quá trình học chính quycũng như bên ngoài nhà trường Học độc lập là nhu cầu của người học ngay từ khi còn
Trang 15ngồi trên ghế nhà trường và nếu nhu cầu này phát triển tốt thì khả năng học độc lập saunày của người học sẽ là con đường bảo đảm nhất, hiệu quả nhất việc học thườngxuyên, học suốt đời của họ, cho dù họ tham gia học trình nào, vào thời kỳ nào và dướihình thức nào cũng vậy.
Khả năng học độc lập của người học ngay trong quá trình dạy học cần được chú ýnhiều hơn trong việc phát triển chương trình và phương pháp dạy học vì chúng có sựtương tác mật thiết với khả năng đó Học độc lập nâng cao giá trị, tính thích ứng củanội dung và cấu trúc chương trình, khai thác tối đa những tiềm năng của chương trình
và đồng thời hạn chế rất nhiều những nhược điểm của chương trình Do đó, chươngtrình có thể được cấu trúc và tổ chức đa dạng hơn, phong phú hơn, dãn rộng hơn tầmhạn giữa học vấn tối thiểu và học vấn tối đa, mở rộng hơn các lĩnh vực học tập và cáchình thức học tập (học theo bài, học theo chủ đề, học theo dự án và những cách khác).Những chương trình linh hoạt và cơ động như vậy cũng có hiệu quả cao bồi dưỡng kỹnăng và nhu câù học độc lập của người học ngay trong quá trình dạy học chính quy
Các nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời còn đòi hỏi việc mở rộng các cơ hội học tập và khả năng lựa chọn của người học Nói chung, học từ xa vẫn là một xu thế
mạnh mẽ trong dạy học nhiều thập niên tới vì nhu cầu này ngày càng được đáp ứngđầy đủ hơn trong điều kiện phát triển các phương tiện công nghệ cao trong truyềnthông, giao tiếp, giáo dục, sinh hoạt và môi trường thông tin toàn cầu hoá Bản thânhọc từ xa đã chứa đựng cơ hội lựa chọn của người học, chính phương thức học tập này
đã làm giảm bớt rất nhiều bó buộc do số lượng cơ sở đào tạo tăng lên rất nhiều, tuỳ ýchọn, do phong cách học tập được tự do, không bị ai ép vào một khuôn mẫu nào.Nhưng vấn đề nâng cao khả năng lựa chọn của người học ngay trong quá trình dạy họcchính quy mới là cần thiết hàng đầu, và đó là một việc khó Cho đến nay, ngoài sự hỗtrợ của công nghệ hiện đại, chưa có cách nào tốt hơn cách tiếp cận phân hoá, tích hợp
và làm mềm hoá học chế bộ môn truyền thống Cần phải phát triển nhiều hơn các họctrình tự chọn (bắt buộc và tuỳ ý), giảm bớt số lượng môn học được tổ chức theo họcchế bộ môn cứng, tăng cường các học phần tích hợp theo chủ đề và HĐ thực hành
- Tương tác là xu thế cơ bản trong sự phát triển mối quan hệ Dạy - Học Giữa
hoạt động dạy học và hoạt động học tập, giữa quá trình dạy học và quá trình học tập có
sự phân công trách nhiệm triệt để hơn bởi vì chúng vốn là hai dạng hoạt động khác hẳnnhau xét về mặt động cơ, phương thức và giá trị Hoạt động dạy học là hoạt động nghềnghiệp, động cơ chủ yếu là sinh nhai và phần nào là tình cảm, sở thích sư phạm Hoạtđộng của người học có động cơ phức tạp hơn gấp bội và có tính chất cá nhân, khôngthể vo tròn vào thành một được Dạy và học tác động qua lại với nhau, mỗi bên đềutương đối tích cực và tương đối tự trị, mỗi bên đều là môi trường cụ thể của bên kia và
là điều kiện cần thiết của bên kia
Tương tác Dạy-học thể hiện ở các mặt khác nhau: giữa chủ thể dạy và chủ thể học,giữa mục tiêu dạy và mục tiêu học, giữa phương pháp dạy học và quá trình học, giữaphương tiện dạy và phương tiện học… Tương tác sẽ làm tăng động lực của cả dạy lẫnhọc, nó khắc phục tính chất thụ động của cả dạy lẫn học, đặc biệt của học tập, và tínhchất đơn điệu, xuôi chiều lâu nay của quan hệ dạy-học Xu thế tương tác cũng xác định
Trang 16rõ hơn vị trí đặc thù của người dạy và người học: không ai làm hộ ai, ai có việc củangười ấy, song mục đích cuối cùng và ưu tiên hàng đầu là sự phát triển của người học,
là để được việc của người học, để họ đạt được mục tiêu và lợi ích của mình
- Trong quan hệ thầy-trò có tính chất hợp tác là xu thế nổi bật Giáo viên
không hành động một chiều là hoạch định và tổ chức việc dạy của mình sao cho đượcviệc của mình (cho hết bài và hoàn thành nhiệm vụ lên lớp), mà tìm cách làm thế nào
để việc dạy của mình được người học hưởng ứng, ủng hộ, và chính nó có tác dụng tổchức, động viên, hướng dẫn việc học Khi dạy để người học được việc của họ thì điều
đó cũng có nghĩa người dạy được việc của mình, và kết quả dạy học mới là thực chất
Sự hợp tác thầy-trò là môi trường mạnh mẽ giúp người học huy động tốt nhất kinhnghiệm thường trực của họ vào các nhiệm vụ học tập và những hoạt động cần thiết, gỡ
bỏ những sức cản tâm lý nảy sinh trong điều kiện những nghi thức giao tiếp và nhữngphương thức hoạt động gò bó thường mang tính hình thức của dạy học chính quy, làmcho người học trải nghiệm sâu sắc hơn quá trình và kết quả học tập của bản thân vàcủa các bạn
- Quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học hiện đại nói chung mang tính hợp tác và tính cạnh tranh tương đối Tính chất này của dạy học
làm cho nó năng động hơn, có động lực công khai và có chiều hướng hiệu quả hơn.Tuy người ta chưa nói nhiều đến cạnh tranh trong học tập, nhưng ai cũng phải thừanhận tính chất cạnh tranh của công việc dạy học, bởi lẽ đơn giản dạy học cũng là mộtnghề như mọi nghề khác, trước hết nhằm sinh nhai, có mục tiêu vật chất và tinh thầnthiết thực, không phải để mua vui, cũng không phải để hy sinh bản thân mình chongười khác sống Có cạnh tranh trong việc dạy tức là có chuyện lớp này, thầy này tốthơn lớp kia, thầy kia, trường này, ban này bổ ích hơn trường kia, ban kia Điều đókhông thể không tác động đến sự cạnh tranh trong học tập vốn tự nó cũng đã không ítgay gắt Cần hiểu rằng, cạnh tranh trong môi trường học tập thường diễn ra êm dịu,ngấm ngầm, và nói chung ẩn dưới hình thức hợp tác Các học sinh giỏi hay chơi vớinhau, hợp tác với nhau trong học tập, nhưng chính nhờ điều kiện hợp tác này mà haibên cạnh tranh với nhau Người ta có xu hướng chỉ hợp tác với những ai có sức cạnhtranh ngang ngửa với mình, ngược lại hợp tác trước hết để nâng cao sức cạnh tranh củachính mình chứ không phải để làm cho đối tác mạnh hơn Mục đích của cạnh tranhcũng đúng như vậy, và chỉ những ai xứng đáng hợp tác mới là đối thủ thực sự để cạnhtranh Đây là một trong những động lực hết sức mạnh mẽ của dạy học trong nhữngthập niên tới
- Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, điện tử, số hoá trong thiết kế và tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ trong hiện đại hoá và tiêu chuẩn hoá.
Bản thân tính năng sư phạm của các phần mềm giáo dục hiện nay chưa đáp ứng đượcnhững yêu cầu khiêm tốn của việc dạy đa số các lĩnh vực học tập Chúng tiếp sức chongười dạy và người học chứ không thể thay thế vai trò của giáo viên chỉ với tư cáchgiảng dạy chứ chưa kể đến tư cách nhà giáo dục, cũng không hề học thay được ngườihọc xét ở mọi phương diện của quá trình học tập
Trang 17Cuối cùng, không thể không nhắc tới quá trình quốc tế hoá trong lĩnh vực chuẩnhọc vấn của nhiều lĩnh vực học tập, nhất là các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật,nghệ thuật thông dụng như âm nhạc, tạo hình, múa quốc tế và giáo dục thể chất Điều
đó kéo theo vấn đề quốc tế hoá bằng cấp, kỹ thuật thiết kế và cấu trúc chương trìnhdạy học, công nghệ đo lường và đánh giá dạy học (quản lý và thành tích học tập)
- Những xu hướng trong dạy học của thế kỷ 21:
Bài lược dịch dưới đây tóm tắt báo cáo một nghiên cứu trong nhiều năm tại Hoa
Kỳ do quỹ Bill & Melinda Gates Foundation tài trợ, về những xu hướng dạy học trongThể kỷ 21 Mọi đánh giá đều có ý nghĩa không bó hẹp ở bậc giáo dục đại học
+ Xu hướng 1: Ngày càng nhiều giảng viên chuyển từ Sách Giáo Khoa sang
Tài Liệu Học Tập Mở (Open Education Resources, OER).
Sẽ nhẹ nhàng hơn khi gọi tên sức ép thay thế các sách giáo khoa tốn tiền bằngcác nguồn tài liệu số chi phí thấp là một phong trào hay một công cuộc vận động.Trong năm qua, phần trăm giảng viên đưa ra các tài liệu học tập mở đã gấp đôi nămtrước đó Mặc dù con số đó vẫn còn nhỏ (chỉ 13% trong số các giảng viên được hỏi),nhưng đã gây sự chú ý tới các trường đại học, và hiện nay họ đang xây dựng một cơ sở
hạ tầng để hỗ trợ phong trào này và đo lường tác động của nó
Ví dụ, một liên minh 3 trường đại học (University System of Maryland, CityUniversity of New York and State University of New York) đã bắt đầu thông báo vềtài liệu học tập mở OER trong trường mình và đàm phán với các nhà cung cấp OERchi phí thấp Một trong những nỗ lực thiết yếu nhất là đưa cuộc trò chuyện quanh OER
từ quan niệm sự thay thế tiết kiệm hơn cho sách truyền thống sang những thảo luận để
Trang 18chứng minh rằng các nguồn tài liệu online đa dạng sẽ cải thiện thành công của sinhviên, theo lời M.J.Bishop, Hiệu phó trường University System of Maryland Cũng theolời bà, một lý do khác là nếu cuộc tranh luận chỉ tập trung vào yếu tố chi phí, vậy thìnhững nhà sản xuất truyền thống có thể sẽ tiếp tục cách làm truyền thống, giảm chi phísản xuất theo cách làm kinh doanh đã lỗi thời.
+ Xu hướng 2: Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classrooms) ngày càng
được nhân rộng
Một trong những người công khai ủng hộ mô hình Lớp học đảo ngược mạnh mẽnhất là một người yêu toán học, và ông ta gặm nhấm những con số chứng minh xuhướng này đang phát triển như thế nào Ông ấy là Robert Talbert, một giáo sư Toánhọc ở Grand Valley State University, đồng thời là tác giả cuốn Flipped Learning (tạmdịch, Học tập đảo ngược) Gần đây, Talbert lập một thống kê về số lượng các bài báokhoa học được công bố hàng năm về giảng dạy “đảo ngược” Theo phương pháp này,các tài liệu học tập bài giảng truyền thống được phát cho sinh viên trước khi bắt đầulớp học (thường là thông qua video), theo đó, thời gian trên lớp để dành cho thảo luận
và hoạt động học tập sáng tạo Và kết quả thống kê làm chính ông cũng sốc: số lượngbài nghiên cứu tăng lên theo hàm số mũ “Số lượng các nghiên cứu về học tập đảongược tăng gấp đôi sau mỗi 16 tháng”, ông cho biết trong một bài phỏng vấn gần đâytrên EdSurge
+ Xu hướng 3: Giảng viên đang hợp tác với các chuyên gia để cải thiện
phương pháp giảng dạy (mặc dù còn một số giảng viên thì không)
Chúng ta sẽ khó mà nhìn ra được sự thay đổi về văn hóa trên khuôn viên cáctrường đại học Và bởi vì mỗi giảng viên chịu trách nhiệm chính về những quyết định
tổ chức lớp học, nên những người ngoài khó lòng biết được giảng viên đó cập nhậtphương pháp giảng dạy đến đâu
Trang 19Nhưng rõ ràng thay đổi vẫn đang xảy ra Một trong những biểu hiện rõ ràngnhất là các trường đại học đang hỗ trợ các giảng viên và các khoa để tìm kiếm ra cáchthức dạy tốt hơn Ví dụ, xu hướng tuyển dụng các chuyên gia thiết kế sư phạm để đưalời khuyên cải tiến các khóa học, đặc biệt là khi thiết kế dịch vụ giảng dạy trực tuyến.Một ngành khoa học được gọi tên là khoa học về học tập (learning sciences) đang ngàycàng được biết đến và chấp nhận Ngành này bao gồm khoa học nhận thức, khoa họcmáy tính, tâm lý học, nhân chủng học và một vài ngành khác với nhiệm vụ vén màn bímật về cách con người học và làm sao để dạy học tốt nhất “Với những nhân sự giảngdạy mới nằm trong độ tuổi 20 hay ngoài 30, rất nhiều người trong số họ có hiểu biếtkhoa học về học tập,” Bernard Bull, Hiệu trưởng Trường Goddard College chia sẻ.Điều đó cho thấy rằng, có một xu hướng tiến bộ khi các giảng viên và các chuyên gia
sư phạm bắt cùng cải thiện chất lượng giảng dạy
+ Xu hướng 4: Lớp học không còn là nơi học tập duy nhất
Chúng ta thường dễ dàng quên rằng phần lớn những điều sinh viên học được ởtrường đại học lại diễn ra bên ngoài lớp học Nhưng ngày càng nhiều giảng viên vànhững nhà lãnh đạo trường học đang nghĩ xa hơn về các không gian khác trên khuônviên trường học và môi trường học tập trực tuyến, nhằm mang lại nhiều phút giây họctập và giảng dạy
Giữa đa dạng các ví dụ thực tế, chúng tôi tìm ra: một nhóm các thí nghiệm đưacác giờ văn phòng trực tuyến khuyến khích sinh viên tham dự, một ứng dụng thực tế
ảo trong các phòng học Lab nghiên cứu, và một thay đổi về yêu cầu hình thức làm bàitập về nhà và bài kiểm tra; Sinh viên cũng có những cách học tập mới lạ rất riêng, nhưchủ động tham gia học tập trực tuyến Học tập ngay trên khuôn viên trường học dườngnhư đã lỗi thời trong kỷ nguyên của Twitter, và họ cũng đang đóng góp ý kiến vào cácvăn đàn chính trị bằng những hashtag đơn giản (#)
+ Xu hướng 5: Các trường học vẫn đối mặt với thách thức từ đào tạo trực