Họ là những người theo học tại các trường Đại học, đây là nơi đào tạo nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội, khác với học sinh với các cấp khác, bên cạnh hoạt động chủ đạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
3 Tô Thị Nhược Lan – 19040896
Môn học: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Giang
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Trang 21
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
4.2 Khách thể nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học: 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: 4
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
9 Cấu trúc đề tài 5
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
10.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
10.2 Khái niệm công cụ 6
10.2.1 Khái niệm tự học 6
10.2.2 Thực trạng tự học của sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội 7
10.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực tự học cho sinh viên 7
10.3 Mô tả về nghiên cứu thực tiễn 10
10.3.1 Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu 10
10.3.2 Công cụ nghiên cứu 10
10.4 Phân tích dữ liệu nghiên cứu 11
10.4.1 Nhận thức về vấn đề tự học 11
10.4.2 Hình thức tự học 12
10.4.3 Những khó khăn trong vấn đề tự học 12
10.5 Kết luận nghiên cứu 16
11 Tài liệu tham khảo 17
12 Phụ lục 18
Trang 32
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc lượng kiến thức ngày càng gia tăng Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu của thời đại, mỗi người cần phải tìm cho mình phương pháp học tập phù hợp, đặc biệt là các sinh viên Họ là những người theo học tại các trường Đại học, đây là nơi đào tạo nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội, khác với học sinh với các cấp khác, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập lĩnh hội tri thức của người thầy thì sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập Bởi vậy mà ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, người học cần phải được hướng dẫn và rèn luyện năng lực tự học và những phương pháp tự học hợp lý Tự học đóng một vai trò rất quan trọng trên con đường học vấn của mỗi người Để hiểu sâu được vấn đề bắt buộc người học phải tự mình tìm tòi do kiến thức là vô hạn Nhận thấy tầm quan trọng của tự học, Đảng ta
ở Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã khẳng định: “Các nhà trường phải nâng cấp năng lực tự học cho học sinh và phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp toàn dân, nhất là thanh niên.”
Với sinh viên, khi tiếp cận với hình thức học tập khác hoàn toàn so với chương trình phổ thông cũng như cách giảng dạy mới ở trường Đại học đã gặp phải nhiều khó khăn, tình trạng này có thể bắt gặp ở tất cả các cấp sinh viên, từ năm nhất cho đến năm cuối Tuy nhiên bài nghiên cứu sẽ đi sâu vào cấp sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội Phần lớn sinh viên ở đây đều có ý thức
tự hoàn thiện mình, có ý thức tự học để nâng cao trình độ Tuy nhiên cũng có một
bộ phận sinh viên chưa ý thức được vai trò của hoạt động tự học, thiếu động cơ học tập đúng đắn, còn thụ động trong việc học hoặc chưa có phương pháp tự học thích hợp Từ lý do trên, chúng tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài: thực trạng về vấn
đề tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 43
2 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là điều tra hoạt động tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội Nghiên cứu gồm có ba nội dung chính: Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội Thứ hai là khảo sát thực trạng hoạt động tự học của sinh viên sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội Cuối cùng là đề xuất các biện pháp để nâng cao hoạt động tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội
3 Câu hỏi nghiên cứu
Sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội có gặp những khó khăn trong hoạt động tự học không? Nếu có, những khó khăn ấy là gì?
Các tác nhân nào đã gây ra những khó khăn ấy?
Giải pháp để khắc phục những khó khăn ấy là gì?
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội
4.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về mức độ tự học của sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học:
Sinh viên năm hai trường Đại học Ngoại Ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội có ý thức cao về tự học và chủ động động tìm kiếm phương pháp tự học có hiệu quả đối với ban bản thân
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lí luận: Làm rõ thêm thực trạng vấn đề tự học của sinh viên trường Đại học Ngoại Ngữ-ĐHQGHN hiện nay Bên cạnh đó khảo sát thực trạng tự học của các bạn sinh viên trường ĐHNN để tìm hiểu những khó khăn mà các bạn
Trang 54
đang gặp phải, những vướng mắc chưa thể giải quyết trong quá trình tìm kiếm nguồn tri thức Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp sinh viên chủ động hơn trong việc học, tự tìm cho mình phương pháp học tập tốt nhất
6.2 Nghiên cứu thực tiễn: Hiện nay, đa số sinh viên trường năm 2 trường Đại học Ngoại Ngữ, ĐHQGHN đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự học Tuy nhiên trên thực tế nhiều sinh viên mới chỉ dừng lại ở mặt nhận thức, còn nhiều sinh viên chưa có kĩ năng tự học, thiếu nguồn tài liệu tham khảo, chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học
6.3 Đề xuất các biện pháp:
- Cần xây dựng kế hoạch học tập riêng cho mình, cho mỗi môn học, vào mỗi thời gian học (mỗi năm học, mỗi kỳ học) một cách phù hợp, có thời gian biểu học tập hợp lý theo từng giai đoạn cụ thể
- Thay đổi nhận thức và tâm lý tự học như thay đổi phương pháp học: học để hiểu, học để làm chứ không phải học thuộc lòng theo thói quen thời phổ thông chỉ
để qua môn học
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Đối tượng: Đánh giá khả năng tự học của sinh viên năm hai trường đại học Ngoại Ngữ Đại học Quốc Gia Hà Nội
7.2 Thời gian: Nghiên cứu từ 16/11/2021 đến ngày 29/11/2021
7.3 Nội dung: Thực trạng tự học của sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ Đại học Quốc Gia Hà Nội hiện nay
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
8.1.1 Phương pháp thống kê mô tả từ các nguồn dữ liệu, số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu, gồm:
• Dữ liệu thứ cấp: Các lý luận chung về các báo cáo, công trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố trên các phương tiện như báo, sách …
Trang 65
Các tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học, Internet… Từ đó tập hợp, thống kê, phân tích, so sánh, đối chiếu theo các tiêu chí đã xác định trong nghiên cứu
• Số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin qua khảo sát bằng bảng câu hỏi (Phiếu thu thập thông tin) với các mẫu phiếu theo từng đối tượng thu thập thông tin Dữ liệu khảo sát được tổng hợp bằng phần mềm Excel
để tổng hợp các dữ liệu khảo sát theo các tiêu chí đánh giá
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : Khảo sát/ điều tra thực tế tại trường Đại Học Ngoại Ngữ Đại học Quốc Gia Hà Nội Mẫu phiếu điều tra: ( 101 mẫu) Đối tưởng khảo sát là các sinh viên năm hai tại trường ĐHNN ĐHQGHN , khảo sát nhằm: thu thập thông tin qua đó đánh giá thực trạng hoạt động tự học của sinh viên gồm:
• Nhận thức về vấn đề tự học
• Các hình thức tự học
• Những khó khăn trong quá trình tự học
• Ý kiến của sinh viên về vấn đề tự học
• Các kết quả điều tra này sẽ được sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá hoạt động tự học của sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ Đại học Quốc Gia Hà Nội, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện vấn đề tự học cho sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ Đại học Quốc Gia Hà Nội
8.2.2 Phương pháp xử lý tài liệu, kết quả nghiên cứu bằng thống kê toán học:
sử dụng các công cụ thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận khách quan
9 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 76
Chương 2: Thực trạng tự học của sinh viên năm hai Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Quốc Gia Hà Nội
10.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong bối cảnh bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, giáo dục đang đứng trước thử thách mới cũng như các nội dung cần đổi mới Một trong những nội dung đổi mới được đề cập nhiều hơn cả là phương pháp dạy và học, nhất là phương pháp tự học của sinh viên Vấn đề tự học,
tự đào tạo cùa người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: “Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, sinh viên; Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, sinh viên, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”
Việc tự học còn được các học giả nước ngoài đề cao, điển hình như I.P.Pavlop viết: “ Tất cả vấn đề là ở chỗ có phương pháp tốt Khi có phương pháp tốt thì ngay cả một người không có nhiều khả năng cũng có thể làm được nhiều việc Còn trong trường hợp phương pháp không tốt thì ngay một thiên tài cũng làm việc một cách vô ích và không thể thu được số liệu chính xác, có giá trị” Ngoài ra tư tưởng “lấy học sinh làm trung tâm” cũng được sử dụng rộng rãi Học sinh, sinh viên cần phải chủ động tìm tòi, tự thu nạp kiến thức cũng như phối hợp với bài giảng của giáo viên để cải thiện và nâng cao kết quả học tập của bản thân
10.2 Khái niệm công cụ
10.2.1 Khái niệm tự học
Tuy đã được nghiên cứu từ rất lâu và rất nhiều trên thế giới nhưng “tự học”
là một thuật ngữ gây nhiều tranh luận, và đôi khi các nhà giáo dục học và ngôn ngữ học không thể thống nhất hoàn toàn với nhau về định nghĩa tự học là như thế nào Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa về tự học như sau:
• Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holex)
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 87
• Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)
• Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục, (Phil Benson)
Tuy có nhiều cách định nghĩa những vấn đề chính là chúng ta xem tự học là phương tiện hay là mục đích cuối cùng Hai cách nhìn này đan xen lẫn nhau và cả hai đều có thể là một phần trong quan điểm của chúng ta về việc học ngôn ngữ hay việc học nói chung
10.2.2 Thực trạng tự học của sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Hiện nay, đa số sinh viên năm hai trường Đại Học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự học đối với sinh viên
Tuy nhiên trên thực tế nhiều sinh viên mới chỉ dừng lại ở mặt nhận thức, còn nhiều sinh viên chưa có kĩ năng tự học, thiếu nguồn tài liệu tham khảo, chưa dành nhiều thời gian cho việc tự học
Phương pháp học tập (tự học) của sinh viên chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu
tố, vì vậy cần điều chỉnh và áp dụng chúng một cách hợp lý vào việc tự học một cách linh hoạt và cụ thể
10.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực tự học cho sinh viên
Từ kết quả nghiên cứu và đánh giá thực trạng việc tự học của sinh viên một cách khách quan, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực tự học cho sinh viên trường Đại học Ngoại Ngữ cụ thể như sau:
Thứ nhất là vai trò của đội ngũ giảng viên trong quá trình dạy học, giảng viên
là đội ngũ có vai trò rất lớn trong việc định hướng và khơi dậy ý thức tự học cho sinh viên Vì thế, giảng viên vừa có nhiệm vụ quan trọng trong những giờ lên lớp, nhưng đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong những giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Đối với hoạt động tự học của sinh viên, giảng viên càng phải có những quan tâm sát sao hơn để có những tư vấn, định hướng kịp thời khi sinh viên cần Để
Trang 98
góp phần giúp sinh viên có ý thức tự học và nâng cao chất lượng học tập, cũng như chất lượng giáo dục, trong quá trình giảng dạy các giảng viên cần phải:
• Xây dựng đề cương môn học cần chi tiết, rõ ràng và giúp sinh viên nắm được
đề cương môn học: Đối với mỗi môn học giảng viên cần có sự chuẩn bị và xây dựng đề cương cho môn học một cách chi tiết, rõ ràng Khi bắt đầu môn học, giảng viên phải cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết của môn học đó Qua
đó, sinh viên sẽ chủ động lên kế hoạch tự học, tự nghiên cứu để thực hiện được các mục tiêu đề ra của môn học Giảng viên và sinh viên cần tuân thủ
và nghiêm túc thực hiện theo đúng kế hoạch trong đề cương
• Xác định rõ nội dung tự học, cách thức và phương tiện thực hiện: Giảng viên cần xác định rõ các nội dung tự học, từ đó xây dựng các nhiệm vụ cụ thể và xác định rõ thời gian thực hiện cho sinh viên Để thực hiện được nhiệm vụ tự học, giảng viên cần giới thiệu cho sinh viên các tài liệu bắt buộc, tham khảo, cách thu thập, tra cứu và xử lý thông tin trong tài liệu Có nhiều cách thức thu thập và xử lý thông tin khác nhau như: ghi chép cẩn thận, trao đổi với bạn bè, giáo viên, sử dụng bản đồ tư duy…
• Chú trọng công tác kiểm tra - đánh giá hoạt động tự học của sinh viên: Khi đào tạo theo tín chỉ, hoạt động tự học sẽ là một thành phần bắt buộc trong
cơ cấu thời khóa biểu Do đó, cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá phù hợp với hoạt động này Giảng viên thường xuyên có hoạt động đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức kiểm tra
đa dạng như bài tập cá nhân theo tuần; bài tập nhóm theo tháng hay các bài tập lớn, thông thường là một bài luận về môn học hay các bài tiểu luận, các
đề tài nghiên cứu nhỏ…và các bài thi giữa kỳ, cuối kỳ Qua đó, hình thành cho sinh viên cách làm việc nghiêm túc, tính tích cực và ý chí phấn đấu vươn lên
để đạt kết quả cao trong học tập
Thứ hai là đối với sinh viên, có thể thấy để hoạt động tự học thực sự mang lại
hiệu quả, bên cạnh sự hướng dẫn của giảng viên, sự quản lý của nhà trường thì cần phải có sự nỗ lực từ chính bản thân các em sinh viên Khi chuyển sang phương thức
Trang 109
đào tạo theo tín chỉ, sinh viên phải thay đổi nhận thức, vượt qua sức ỳ của bản thân
để có những phương pháp học tập tích cực, thái độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với những yêu cầu học tập mới Vì vậy, các em sinh viên cần phải:
• Có sự chuẩn bị tốt về mục đích việc học tập, ý thức trách nhiệm, thái độ học tập, để tự chịu trách nhiệm trong quá trình học tập một cách chủ động và hiệu quả - Xác định rõ mục tiêu của môn học và mục tiêu của từng bài học
đã được đưa ra trong đề cương chi tiết môn học để làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự học phù hợp và cần có thái độ nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó
• Hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trước giờ lên lớp; Cần thúc đẩy suy nghĩ, sự sáng tạo của bản thân và mạnh dạn đưa ra những ý kiến, nhận xét, thắc mắc của mình; Tăng cường hoạt động làm việc theo nhóm, trao đổi với bạn bè theo chủ đề; Sau giờ lên lớp cần ôn tập kiến thức đã học
và vận dụng vào thực tế
• Có ý thức tự trau dồi, rèn luyện và nâng cao các kỹ năng như: Kỹ năng nghe giảng, ghi chép bài; Kỹ năng tự học ở nhà; Kỹ năng đặt câu hỏi trong tự học;
Kỹ năng làm việc với sách…
Thứ ba là vai trò của đội ngũ quản lý trong các nhà trường Ngoài vai trò của các
giảng viên và bản thân các sinh viên, hoạt động tự học không thể mang lại hiệu quả học tập như mong muốn nếu không đảm bảo các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất như: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn tài liệu học tập, đội ngũ phục vụ chuyên trách… Đội ngũ quản lý trong các nhà trường cần có sự quan tâm hơn, có kế hoạch cụ thể để không ngừng cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, có như vậy quá trình
tự học mới thực sự có hiệu quả Cụ thể:
• Cần củng cố, nâng cấp hệ thống phòng học, phòng thí nghiệm - thực hành- thực tập, thư viện
• Bám sát mục đích, yêu cầu của đề cương các môn học để chuẩn bị nguồn học liệu đã ghi trong đề cương môn học một cách đầy đủ Việc chuẩn bị nguồn học liệu đầy đủ về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu không thể thiếu trong hoạt động tự học của sinh viên