1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nhóm 13 so sánh đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ giữa tiếng nhật và tiếng việt

39 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Đối Chiếu Cách Sử Dụng Tôn Kính Ngữ Và Khiêm Nhường Ngữ Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Việt
Tác giả Đỗ Mai Lan, Bùi Thị Ánh, Nguyễn Thùy Dương
Người hướng dẫn Nguyễn Đức Giang
Trường học Trường Đại Học Ngoại Ngữ
Chuyên ngành Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học
Thể loại Đồ Án Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu có thể tiến hành so sánh đối chiếu với hệ thống kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong tiếng Việt, từ đó nêu bật những điểm giống và khác trong cách sử dụng thì sẽ thuận tiện hơn cho bản

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU CÁCH SỬ DỤNG TÔN KÍNH NGỮ VÀ KHIÊM NHƯỜNG NGỮ GIỮA

TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT

Nhóm thực hiện: Đỗ Mai Lan

Bùi Thị Ánh Nguyễn Thùy Dương

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU CÁCH SỬ DỤNG TÔN KÍNH NGỮ VÀ KHIÊM NHƯỜNG NGỮ GIỮA

TIẾNG NHẬT VÀ TIẾNG VIỆT

Nhóm thực hiện: Đỗ Mai Lan – Ngôn ngữ Nhật Bản

Bùi Thị Ánh – Ngôn ngữ Nhật Bản Nguyễn Thùy Dương – Ngôn ngữ Pháp Môn học: Phương pháp luận Nghiên cứu khoa học

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Đức Giang

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 2

4.2 Khách thể nghiên cứu: 2

5 Giả thuyết khoa học 2

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6.1 Nghiên cứu lý luận: 2

6.2 Nghiên cứu thực tiễn: 2

7 Phạm vi nghiên cứu 3

8 Phương pháp nghiên cứu 3

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: 3

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 3

9 Dự kiến cấu trúc 3

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

1 Lịch sử nghiên cứu: 5

1.1 Bằng tiếng Nhật: 5

1.2 Bằng tiếng Việt: 5

2 Khái niệm kính ngữ và khiêm nhường ngữ: 6

Trang 4

2.1 khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật 6

2.1.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính trong giao tiếp: 7

2.1.2 Đặc trưng văn hóa tôn kính và khiêm nhường trong ngôn ngữ Nhật Bản 8

2.2 khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Việt 10

2.2.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính và khiêm nhường của người Việt 10

2.2.2 Đặc trưng trong văn hóa sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ của tiếng Việt 11

CHƯƠNG 2: So sánh đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ của người Nhật và người Việt qua hai bộ phim “Chúng Ta Mất Trí Rồi” (Watashitachi wa Douka Shiteiru) và “Về nhà đi con” 18

1 Mô tả nghiên cứu: 18

2 Khái quát nội dung phim “Chúng Ta Mất Trí Rồi” (Watashitachi wa Douka Shiteiru) của Nhật Bản và phim “Về nhà đi con” của Việt Nam: 18

2.1 Phim “Chúng Ta Mất Trí Rồi” (Watashitachi wa Douka Shiteiru): 18

2.2 Phim “Về nhà đi con”: 19

3 Biên bản ghi chép quá trình tìm hiểu và phân tích cách sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong hai bộ phim: 19

3.1 私たちはどうかしている: 19

3.2 Về nhà đi con: 25

3.3 So sánh đối chiếu qua hai bộ phim: 31

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 33

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 6

Bên cạnh đó, trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu về tiếng Nhật, chúng tôi cũng đã nhận thấy rằng hệ thống kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật còn có rất nhiều quy tắc phức tạp và khó nhớ Nếu có thể tiến hành so sánh đối chiếu với hệ thống kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong tiếng Việt, từ đó nêu bật những điểm giống và khác trong cách sử dụng thì sẽ thuận tiện hơn cho bản thân

và những người khác trong quá trình học tập và nghiên cứu tiếng Nhật

Nghiên cứu của nhóm chúng tôi sau đây sẽ so sánh, đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ giữa tiếng Nhật và tiếng Việt dựa trên các tình tiết trong hai bộ phim “Chúng Ta Mất Trí Rồi” (Watashitachi wa Douka Shiteiru) và

“Về nhà đi con” Qua đó, giúp người học hiểu rõ hơn về cách sử dụng tôn kính ngữ

và khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật, có thể vận dụng linh hoạt vào những gì đã học vào trong cuộc sống hàng ngày

2 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài “So sánh đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ giữa tiếng Nhật và tiếng Việt” nhằm mục đích ss đối chiếu điểm tương đồng trong cách sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong ngôn ngữ Nhật

và ngôn ngữ Việt; đồng thời cung cấp những kiến thức liên quan đến kính ngữ, khiêm nhường ngữ nhằm giúp người đọc có thể áp dụng tốt hơn trong cuộc sống Ngoài ra

Trang 7

2

nghiên cứu còn giúp người đọc hiểu thêm về văn hóa truyền thống của hai nước thông qua nét đặc trưng trong việc sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ

3 Câu hỏi nghiên cứu

Cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong ngôn ngữ Nhật Bản

và ngôn ngữ Việt giống và khác nhau như thế nào?

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Điểm giống và khác nhau trong cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật và tiếng Việt

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Hai bộ phim điện ảnh nổi tiếng của Nhật Bản và Việt Nam trong thời gian gần đây:

- Phim Nhật: “私たちはどうかしている” (Watashitachi wa doukashiteiru)

- Phim Việt: “Về nhà đi con”

5 Giả thuyết khoa học

Cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong ngôn ngữ Nhật và Việt có điểm tương đồng về đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và thái độ giao tiếp, nhưng lại khác nhau về cách phân chia đối tượng giao tiếp và các hình thức thể hiện cụ thể

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong ngôn ngữ Nhật và ngôn ngữ Việt

6.2 Nghiên cứu thực tiễn:

So sánh đối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa cách sử dụng tôn kính ngữ

và khiêm nhường ngữ của người Nhật và người Việt được thể hiện cụ thể trong hai

bộ phim điện ảnh: “私たちはどうかしている” và “Về nhà đi con”

Trang 8

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm nghiên cứu, chúng tôi đã áp dụng một số phương pháp trong hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp case study, phân tích cụ thể trong hai bộ phim, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết,…

Trong đó, phương pháp case study được chú trọng đặc biệt

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích và tổng hợp thông tin từ các tài liệu khác nhau để đưa ra hệ thống thông tin đầy đủ, đúng đắn về cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường trong tiếng Nhật và tiếng Việt

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp case study được phân tích cụ thể trong hai bộ phim: “私たちはどうかしている” và “Về nhà đi con”

- So sánh đối chiếu về cấu trúc, ý nghĩa, cách sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ của người Nhật và người Việt

9 Dự kiến cấu trúc

Chương 1: Cơ sở lý luận

1 Lịch sử nghiên cứu

2 Khái niệm công cụ

2.1 Khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật

Trang 9

4

2.1.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính trong giao tiếp

2.1.2 Đặc trưng văn hóa tôn kính và khiêm nhường trong ngôn ngữ Nhật Bản

2.1.2.1 Các trường hợp sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ

2.1.2.2 Các hình thức thể hiện

2.2 Khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Việt

2.2.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính và khiêm nhường của người Việt

2.2.2 Đặc trưng trong văn hóa sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ của tiếng Việt

2.2.2.1 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính trong tiếng Việt

2.2.2.2 Đặc trưng cơ bản trong cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt

Chương 2: So sánh đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ

của người Nhật và người Việt qua hai bộ phim “私たちはどうかしている” và “Về nhà đi con”

1 Mô tả nghiên cứu

2 Khái quát nội dung phim “Chúng Ta Mất Trí Rồi” (Watashitachi wa Douka Shiteiru) của Nhật Bản và phim “Về nhà đi con” của Việt Nam

3 Biên bản ghi chép quá trình tìm hiểu và phân tích cách sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong hai bộ phim

3.1 Phim “私たちはどうかしている”

3.2 Phim “Về nhà đi con”

3.3 So sánh đối chiếu qua hai bộ phim

Chương 3: Kết luận nghiên cứu

Trang 10

5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Lịch sử nghiên cứu:

Lịch sử nghiên cứu đề tài “Cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ”

là một đề tài được nhiều nhà nghiên cứu, các học giả quan tâm và đã viết nên nhiều công trình nghiên cứu bằng tiếng Nhật và tiếng Việt Bởi vì hai hình thức xưng hô này có vai trò quan trọng trong giao tiếp và ảnh hưởng rất nhiều đến các mối quan

hệ xã hội đặc biệt là mối quan hệ con người Thực tế đã cho thấy từ trước đến nay

ở trong và ngoài nước đã từng công bố rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan về

đề tài trên Đó là các công trình nghiên cứu:

1.1 Bằng tiếng Nhật:

日本語教育指導参考書 18-敬語教育の基本問題 (下) thuộc quyền sở hữu tác giả tại trung tâm nghiên cứu 国立国語 khái quát về cách sử dụng kính ngữ, trường hợp sử dụng kính ngữ, đối tượng sử dụng kính ngữ… trong tiếng Nhật và 敬語再入門 của tác giả 菊土康人 khái quát về bước khởi đầu khi học và quen với kính ngữ trong tiếng Nhật Trong cuốn sách có khái quát một số mẫu kính ngữ có kèm ví

dụ minh họa và các bài hội thoại với bối cảnh là trong công ty, nhà hàng, nhà ga, siêu thị… 敬語表現 của các tác giả 蒲谷宏, 川口義一 và 坂元惠 khái quát về một số cách biểu hiện thường gặp trong kính ngữ như thể hiện sự kính trọng với cấp trên, khách hàng, người lớn tuổi… và thể hiện sự nhún nhường, kính trọng đối tượng nói khi người nói muốn đề xuất ý kiến hay lối nói khiêm tốn về những hành động mà người nói thực hiện

1.2 Bằng tiếng Việt:

- Cơ sở Văn Hóa Việt Nam của GS-TS Trần Ngọc Thêm, Chu Xuân Diên khái quát về một số loại hình văn hóa của từng vùng miền hay cách ứng xử trong giao tiếp và những chuẩn mực trong xưng hô của người Việt Nam

Trang 11

6

- Tiếng Việt Thực Hành của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp khái quát

về những vấn đề cơ bản trong tiếng Việt như cách đặt câu, cách dùng từ, cách sắp xếp và phân tích đoạn văn, phân biệt văn nói và văn viết…

- Nhập Môn Xã Hội Học của TS Trần Thị Kim Xuyến, ThS Nguyễn Thị Hồng Xoan làm rõ về những mối quan hệ con người, mối quan hệ xã hội, mối quan hệ cộng đồng

và thế giới…nhằm củng cố những chuẩn mực trong giao tiếp và những tình huống cần tránh trong xưng hô để tạo mối quan hệ tốt đẹp, hữu hảo

Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu phân tích về kính ngữ trong tiếng Nhật và lịch sự chuẩn mực trong cách xưng hô trong tiếng Việt

2 Khái niệm kính ngữ và khiêm nhường ngữ:

2.1 khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Nhật

Trong tiếng Nhật, kính ngữ [ 敬語 ] là hình thức giao tiếp thể hiện sự tôn trọng của mình với đối phương Nó được chia thành 3 loại chính, bao gồm: tôn kính ngữ, khiêm nhường ngữ và cách nói lịch sự Người dùng phải phán đoán ngữ cảnh, đối phương, mục đích giao tiếp để sử dụng cho phù hợp

• Tôn kính ngữ (尊敬語): là những từ ngữ của người nói (話し手) dùng để chỉ hành động, trạng thái của người có vai vế, cấp bậc trên mình, bày tỏ thái độ kính trọng với đối phương

Ví dụ, khi nói về hành động hay trạng thái của giám đốc, cấp trên thì phải dùng tôn kính ngữ:

社長がまだいらっしゃいませんでした。Ngài giám đốc vẫn chưa đến

• Khiêm nhường ngữ (謙譲語): dùng để nói về hành động của bản thân người nói (話し手) nhằm bày tỏ sự kính trọng, thái độ khiêm nhường với người đối diện

Ví dụ, khi giao tiếp với cấp trên hoặc tiền bối trong cùng công ty:

はい、今すぐ直しております。Tôi sẽ chỉnh sửa lại ngay đây

私はお先に失礼します。Tôi xin phép về trước

Trang 12

7

• Lịch sự ngữ (丁寧語): là từ ở thể 「です」「ます」 Nếu tôn kính ngữ không thể dùng để nói về hành động, trạng thái của bản thân, thì lịch sự ngữ có thể dùng cho mọi trường hợp

Ví dụ :

明日の飲み会、田中さんは参加しませんか。

Anh Tanaka sẽ tham gia buổi tiệc rượu ngày mai chứ?

暇つぶしのため、テレビを見ています。

Tôi đang xem TV để giết thời gian

2.1.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính trong giao tiếp:

2.1.1.1 Các quy tắc cúi đầu trong chào hỏi của người Nhật:

Khi chào hỏi cũng như khi bày tỏ thái độ biết ơn hoặc lời xin lỗi của mình, người Nhật thường hay cúi người xuống Đây cũng được xem là một trong những nét đẹp văn hóa lâu đời của người Nhật, tên thường gọi là Ojigi Tùy từng thời điểm

và hoàn cảnh giao tiếp, vai vế trong giao tiếp mà Ojigi mang những ý nghĩa khác nhau, được thể hiện ở những góc độ cúi chào khác nhau

• Kiểu chào khẽ cúi người Eshaku (cúi người khoảng 15 độ về phía trước): Khi chào hỏi bạn bè, đồng nghiệp hoặc những người có cùng cấp bậc, địa vị với mình

• Kiểu chào Keirei (cúi người khoảng 30 độ về phía trước): Khi chào cấp trên, khách hàng, người lớn tuổi

• Kiểu chào Saikeirei (cúi người sâu khoảng 45-60 độ về phía trước): Là hình thức cao nhất, thể hiện sự kính trọng sâu sắc và thường được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo, trước Thiên Hoàng, trước Quốc kỳ Kiểu chào này cũng được sử dụng kèm theo khi người nói muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc hoặc

sự xin lỗi chân thành

2.1.1.2 Văn hóa nói lời cảm ơn và xin lỗi của người Nhật:

Ở Nhật, lời cảm ơn và xin lỗi cũng được xem là một phần quan trọng của cuộc sống thường ngày Trong tiếng Nhật cũng có rất nhiều từ, cụm từ mang ý nghĩa cảm

ơn hoặc xin lỗi Mỗi từ, cụm từ lại thể hiện một sắc thái khác nhau Ví dụ đối với lời xin lỗi: xin lỗi thân mật, xin lỗi lịch sự, xin lỗi trang trọng, xin lỗi với thái độ hối lỗi,

Trang 13

8

xin lỗi với thái độ khiêm nhường, Đối với lời cảm ơn cũng vậy Lối văn hóa này bắt nguồn từ “chánh niệm” trong Phật giáo Trong Phật học, “chánh niệm” được định nghĩa là sự thức tỉnh, là lối sống hòa hợp với chính mình và thế giới xung quanh Nhiều nghi thức trong nền văn hóa Nhật Bản cũng được xây dựng xoay quanh sự nhận thức về mối quan hệ giữa con người và thế giới xung quanh này Nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa cảm ơn xin lỗi ở Nhật Bản Lời cảm

ơn xin lỗi chính là cánh cửa để bước vào một nền văn hóa lịch thiệp, tôn trọng và đầy đạo đức Theo người Nhật, một người biết nói lời cảm ơn và xin lỗi là người biết khiêm tốn và chịu trách nhiệm cho những gì mình làm Và những người như thế sẽ luôn được coi trọng và đánh giá cao

2.1.2 Đặc trưng văn hóa tôn kính và khiêm nhường trong ngôn ngữ Nhật Bản

2.1.2.1 Các trường hợp sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ

Trong văn hóa giao tiếp của người Nhật, để biết được khi nào cần dùng tôn kính ngữ, khi nào cần dùng khiêm nhường ngữ, và khi nào thì chỉ cần sử dụng những

từ ngữ mang sắc thái lịch sự là việc không hề đơn giản Người học cần phải hiểu rõ

về văn hóa Trong (内) - Ngoài (外) của người Nhật thì mới có thể tùy cơ ứng biến trong mọi trường hợp

Văn hóa giao tiếp Trong - Ngoài (Uchi-Soto) trong tiếng nhật là sự phân biệt giữa “trong nhóm” (uchi, 内) và “ngoài nhóm” (soto, 外) Sự phân biệt giữa các nhóm này là một phần căn bản trong tập quán xã hội Nhật Bản, và phản ánh trực tiếp trong ngôn ngữ tiếng Nhật

Cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ cũng được dựa trên cách phân chia này Khi giao tiếp với những người ngoài nhóm, để thể hiện sự tôn trọng của mình với đối phương, người nói sẽ sử dụng tôn kính ngữ đối với những hành động mà người đối diện làm và sử dụng khiêm nhường ngữ cho bản thân và những người trong nhóm

Cách phân chia này không phải lúc nào cũng đơn giản Trong giao tiếp, có những trường hợp tùy theo thời điểm và tình huống mà mối quan hệ giao tiếp sẽ khác đi, từ đó ảnh hưởng đến sự thay đổi của vai vế giao tiếp và cách sử dụng từ ngữ trong giao tiếp

Trang 14

9

Dưới đây là một số văn cảnh cụ thể mà người Nhật thường sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ trong giao tiếp:

• Trong môi trường làm việc, nhân viên sử dụng tôn kính ngữ để nói về cấp trên

và sử dụng khiêm nhường ngữ để nói về bản thân mình

• Trong những buổi họp gặp mặt đối tác làm ăn, khiêm nhường ngữ lại được

sử dụng cho bản thân nhân viên và những người cùng công ty (giám đốc, đồng nghiệp, ), còn tôn kính ngữ sẽ được sử dụng cho đối tác

• Trong mối quan hệ thầy trò, tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ cũng được

áp dụng để thể hiện sự kính trọng của học sinh, sinh viên dành cho các giảng viên

• Trong khi tham gia phỏng vấn xin việc

• Khi muốn tỏ thái độ kính trọng đối với người nghe (ví dụ với người già)

• Trong những trường hợp trang trọng khác

2.1.2.2 Các hình thức thể hiện

a Các từ lịch sự và cách tạo ra chúng

Để bày tỏ sự kính trọng của người nói đối với người nghe:

- Đối với danh từ:

Trong danh từ để nói về sự vật, sự việc thuộc đối tượng cần sử dụng kính ngữ, bạn chỉ cần thêm お vào phía trước những danh từ thuần Nhật

• Với những từ thuần Nhật người ta sẽ thêm tiền tố 「お」trước từ đó

Trang 15

2.2 khái niệm kính ngữ khiêm nhường ngữ trong tiếng Việt

Trong tiếng việt, kính ngữ còn có thể hiểu là cách nói tôn kính Theo từ điển tiếng Việt, trong từ tôn kính thì “tôn” có nghĩa là “tôn sùng, tôn trọng”, “kính” có nghĩa là “kính trọng, cung kính” Do đó cách nói tôn kính là cách nói thể hiện sự kính trọng và tôn trọng tới đối tượng giao tiếp Kính ngữ thường dùng kết hợp với các hệ thống kính ngữ trong ngôn ngữ học, mang tính ngữ pháp hoặc các cách hình thái học của việc mã hóa vị thế trong gia đình và xã hội tương đối của người nói

Khiêm nhường ngữ cũng có thể hiểu là cách nói khiêm nhường Trong đó,

“khiêm” có nghĩa là “khiêm tốn”, “nhường” có nghĩa là “nhún nhường” Vì vậy, cách nói “khiêm nhường” là cách nói khiêm tốn, chừng mực, luôn có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự cho mình hơn người trong giao tiếp, cách nói này cũng nhằm thể hiện sự tôn trọng, lịch sự đối với đối phương

2.2.1 Những thói quen văn hóa thể hiện sự tôn kính và khiêm nhường của người Việt

Trong văn hóa Việt Nam, con người rất coi trọng tính lễ nghi, tôn ti trật tự trong các mối quan hệ và lối giao tiếp tế nhị ý tứ Người Việt Nam xưng và hô theo nguyên tắc xưng khiêm hô tôn (gọi mình thì khiêm nhường, còn gọi đối tượng giao tiếp thì tôn kính) Cùng một cặp giao tiếp, nhưng có khi cả hai cùng xưng là em và cùng gọi nhau là chị Việc tôn trọng, đề cao nhau dẫn đến tục kiêng tên riêng: xưa kia chỉ gọi đến tên riêng khi chửi nhau; đặt tên con kị nhất là không được trùng tên

Trang 16

11

của những người bề trên trong gia đình, gia tộc Vì vậy mà người Việt Nam trước đây có tục nhập gia vấn húy (vào nhà ai phải hỏi tên chủ nhà để khi nói nếu có động đến từ đó thì phải nói chệch đi)

Nghi thức trong cách nói lịch sự cũng rất phong phú Do truyền thống tình cảm và linh hoạt nên người Việt Nam không có một từ cảm ơn, xin lỗi chung chung cho mọi trường hợp như phương Tây Với mỗi trường hợp có thể có một cách cảm

ơn, xin lỗi khác nhau: Con xin chú (cảm ơn khi nhận quà), Chị chu đáo quá(cảm ơn khi được quan tâm), Bác bày vẽ quá (cảm ơn khi được đón tiếp), Quý hóa quá (cảm

ơn khi khách đến thăm), Anh quá khen (cảm ơn khi được khen),Cháu được như hôm nay là nhờ cô đấy (cảm ơn khi được giúp đỡ)… Ngoài ra, việc giảm tránh hoặc từ chối lời khen cũng là một nét đặc trưng trong văn hóa giao tiếp khiêm nhường của người Việt Chẳng hạn, khi khách tới nhà dùng bữa, khen ngợi về khả năng nấu nướng của người vợ như “Chà, chị nhà khéo tay quá Nấu món gì cũng ngon” thì khi đó người tiếp nhận lời khen sẽ không đồng ý hoàn toàn mà thường khiêm tốn trả lời là “Dạ, anh (chị) quá khen Em còn cần phải cố gắng nhiều hơn nữa” Hoặc khi nhận được lời khen về các con trong gia đình như “Các con của anh chị giỏi quá Các cháu vừa học giỏi lại biết giúp đỡ bố mẹ” thì người cha mẹ cũng thường trả lời khiêm tốn là

“Cảm ơn anh chị quá khen Các cháu còn phải học hỏi và cố gắng nhiều hơn nữa”

Một trong những thói quen đặc trưng khác mà các con, các cháu trong trong gia đình Việt luôn được dạy từ nhỏ là phải đi thưa về hỏi, gọi dạ bảo vâng Đây là thói quen nhằm răn dạy tính lễ độ và lễ phép của người bé đối với người lớn trong gia đình, “đi thưa về gửi” có nghĩa là đi đâu thì cũng phải xin phép người lớn, khi về thì phải chào hỏi mọi người trong gia đình, “gọi dạ bảo vâng” là phép xưng hô cần

có khi thưa gửi, nói chuyện với người lớn hơn

2.2.2 Đặc trưng trong văn hóa sử dụng kính ngữ và khiêm nhường ngữ của tiếng Việt

2.2.2.1 Đặc trưng cơ bản trong cách nói tôn kính trong tiếng Việt

a Xưng hô:

Tiếng việt sở hữu nhóm các đại từ để xưng và gọi rất đa dạng, có thể nói là

đồ sộ, là phương tiện thể hiện lịch sự, tình cảm, lễ nghi – là một trong những nét đẹp trong văn hóa ngôn ngữ của người Việt Đồng thời nó cũng nhằm thể hiện sự tôn kính những người có tuổi tác cao, những người có vị thế lớn, những người có uy

Trang 17

12

tín trong mối tương quan với người nói Người nói phải biết tính toán, lựa chọn những từ ngữ xưng hô trang trọng, hợp chuẩn phù hợp với vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mối quan hệ thân – sơ giữa người nói và người đối thoại để sử dụng cho thích hợp

a.1 Xưng hô trong gia đình

Người trong nhà sẽ không xưng hô theo sự chênh lệch về tuổi tác mà dựa theo mối quan hệ huyết thống trong gia đình Và có sự phân biệt giữa họ nội và họ ngoại Xưng hô phổ biến là kèm theo vai, thứ bậc, tên, phụ thuộc vào sơ đồ gia phả Mình thuộc đời thứ mấy, đời trên mình là những ai, mình thuộc chi nào, nhánh nào, bằng vai với mình trong họ là những ai? Có sơ đồ gia phải mới phân biệt được thế thứ trong họ, theo đó mỗi người tự xác định được quan hệ trong nội tộc mà xưng

hô cho đúng

Với bậc cha chú của cha mẹ, chúng ta xưng cháu và gọi là “ông” - đối với nam giới, gọi là “bà” - đối với nữ giới

Với những người có bậc anh, chị của cha mẹ, chúng ta xưng là “cháu” và gọi

họ là “bác” - với những người có vai vế lớn hơn cha mẹ

Với những người có vai vế nhỏ hơn cha mẹ, có sự khác biệt giữa họ nội và họ ngoại

Đối với họ nội (có quan hệ họ hàng với bố của người nói), chúng ta xưng “cháu”

và gọi họ là “chú” - nếu người nghe là nam giới; gọi họ là “cô” - nếu người nghe là

nữ giới

Đối với họ ngoại (có quan hệ họ hàng với mẹ của người nói), chúng ta xưng

“cháu” và gọi họ là “cậu” - nếu người nghe là nam giới; gọi họ là “dì” - nếu người nghe là nữ giới

Đối với những người cùng thế hệ với người nói, chúng ta xưng “em”, gọi người nghe là “anh” - nam giới, “chị” - nữ giới nếu trong gia đình, vai vế của cha mẹ

họ lớn hơn cha mẹ mình; xưng là “anh” - nếu người nói là nam giới, xưng là “chị” - nếu người nói là nữ giới và gọi người nghe là “em”, khi mà vai vế trong gia đình của cha mẹ người nghe nhỏ hơn vai vế của cha mẹ người nói

Ở người Việt còn có sự “chuyển vai xưng hô” theo lối tự xưng gọi thay cho con (khi người đó đã có con) Cách xưng hô này thể hiện sự trân trọng, đề cao vai

Trang 18

13

giao tiếp gia đình, mặt khác thể hiện lối sống vì con, coi trọng con cái (lấy con cái làm trung tâm của quan hệ, giao tiếp, đặt con cái vào trong cuộc sống, quan hệ của mình)

a.1 Ngoài xã hội

a.1.1 Theo tuổi tác

Chúng ta cần ước lượng độ tuổi để biết được vai vế trong xưng hô, với người nhỏ tuổi hơn thì có “em”, “cháu”; với người lớn tuổi hơn thì có “anh”, “chị”, “cô”,

“chú”, “bác”, “ông”, “bà”,

Nếu như người nghe nhỏ hơn người nói (mình) vài tuổi, thì ta gọi người đó là

“em”, xưng là “anh” - nếu bạn là nam giới; “chị” - nếu bạn là nữ giới

Nếu người nghe nhỏ hơn chúng ta nhiều tuổi, thì ta gọi người nghe là “cháu”

và tùy vào vai vế của người nói với cha mẹ của người nghe để xưng hô Ví dụ, bạn nhỏ tuổi hơn cha mẹ của người nghe thì bạn dùng “chú” - nếu bạn là nam; dùng “cô” nếu bạn là nữ; nếu bạn lớn tuổi hơn cha mẹ của người nghe, thì bạn xưng là “bác” Còn nếu bạn là người nhỏ tuổi hơn người nghe, nếu người nghe lớn hơn bạn một vài tuổi, bạn xưng “em” và gọi người nghe là “anh” - nếu người nghe là nam giới;

“chị” - nếu người nghe là nữ giới

Nếu người nghe lớn hơn bạn nhiều tuổi, thì bạn xưng cháu và ước lượng tuổi của họ với cha mẹ mình để tìm cách xưng hô phù hợp Nếu họ ít tuổi hơn cha mẹ - bạn gọi là “cô” (đối với nữ giới), gọi là “chú” đối với nam giới Nếu họ có vẻ nhiều tuổi hơn cha mẹ bạn, thì bạn gọi bằng “bác” Nếu họ cao tuổi hơn nữa, tầm ngang tuổi với ông bà bạn, thì bạn gọi “ông” đối với nam giới, gọi “bà” đối với nữ giới

a.1.2 Theo địa vị xã hội

Đây cũng là một trong những quy tắc xưng hô đối với người mới quen/biết nhưng chúng ta biết về địa vị, chức vụ hoặc công việc của họ Ví dụ, chúng ta có thể xưng là “em”, “cháu”, “tôi” và gọi người đối diện là “bác sĩ” - với những người làm nghề y Học trò xưng “em” và gọi giáo viên là “thầy” - nếu người nghe là nam giới,

“cô” - nếu người nghe là nữ giới

b Sử dụng thán từ

Khi nói chuyện với bố mẹ, ông bà, con cháu thường dùng cách thưa gửi và gọi

dạ bảo vâng chứ không bao giờ nói trống không với người trên Người Việt thường

Trang 19

14

dùng tiếng thưa trước khi xưng hô với người ở vai trên, chẳng hạn như: “Thưa mẹ con đi học Thưa ông bà con đi học về Thưa cô con về Thưa ba, ba bảo con điều chi ạ?” Trong cách xưng hô với người ở vai trên thì lưu ý là không bao giờ được gọi tên tục (tên cha mẹ đặt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng, và chú bác Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia đình Nếu ông có tên là Hùng, ba có tên là Chính, và chú có tên là Tài chẳng hạn, ta chỉ nói là: “Cháu mời ông bà xơi cơm, con mời ba má dùng trà, cháu mời cô chú lại chơi.” Đối với người trên, không được dùng tiếng “cái gì” để hỏi lại một cách trống không vì đó là từ vô lễ, không lịch sự

Do đó, khi nói chuyện với người lớn tuổi, người nói thường thay từ “cái gì” bằng từ

“điều chi” cho lịch sự và lễ độ Thay vì hỏi: “Cái gì?” hay “Ba bảo con cái gì?” thì hỏi:

“Ba bảo con điều chi ạ?” Từ “cái gì” chỉ sử dụng với người ngang hàng Thí dụ: “Anh hỏi tôi cái gì?” hay “Chị nói cái gì vậy?” Khi trả lời bố mẹ hay ông bà, con cháu thường dùng chữ “dạ, ạ, vâng ạ, vâng” Nếu người mẹ gọi con: “Tư ơi?” thì khi nghe thấy, người con phải thưa: “Dạ” Nếu người mẹ nói tiếp: “Về ăn cơm!” người con phải nói: “Vâng” (người Bắc) hay “Dạ” (người Nam) Người ta còn dùng chữ “ạ” ở cuối câu để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép Thí dụ: “Chào bác ạ!”, “Vâng ạ!”

2.2.2.2 Đặc trưng cơ bản trong cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt

a Xưng hô

a.1 Trong gia đình

Xưng hô khiêm nhường mang tính phổ biến trong gia đình như khi bố / mẹ xưng hô với con cái dùng các cặp từ xưng hô như: bố - con, mẹ - con là họ đã nhấn mạnh đến quan hệ quyền lực và thân thiện Khi con cái đã trưởng thành, bố / mẹ thường chuyển sang xưng hô với con bằng các cặp từ xưng hô: tôi – anh, tôi - chị là

họ đã nhấn mạnh đến sự bình đẳng hơn (khiêm) nhưng cũng có khoảng cách trong quan hệ với con cái

Cách nói khiêm nhường trong tiếng Việt không chỉ được thể hiện phong phú bằng các hình thức từ xưng hô mà còn được thể hiện bằng các phương tiện ngữ pháp, các cấu trúc câu, sự sắp xếp trật tự từ…Chẳng hạn, khi nói chuyện với người ngoài về vợ (chồng) hoặc những người trong gia đình của người nói thì nên cân nhắc lựa chọn những ngôn từ thích hợp để thể hiện sự khiêm tốn không khoa trương Tiếng gọi vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: nhà tôi, bà nhà tôi, má tụi nhỏ, má sắp nhỏ, má bày trẻ, bà xã, bà xã tôi, và vợ tôi…

Ngày đăng: 14/10/2022, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Về nhà đi con là một bộ phim truyền hình được thực hiện bởi Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam do NSƯT Nguyễn Danh  Dũng làm đạo diễn - Nhóm 13   so sánh đối chiếu cách sử dụng tôn kính ngữ và khiêm nhường ngữ giữa tiếng nhật và tiếng việt
nh à đi con là một bộ phim truyền hình được thực hiện bởi Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam do NSƯT Nguyễn Danh Dũng làm đạo diễn (Trang 24)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w