1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng hoạt động của con người đối với môi trường ven bờ biển việt nam trong mối quan hệ tương tác lục địa biển (human impact on vietnam coastal environment in the relation to the land sea interaction in the

8 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng hoạt động của con người đối với môi trường ven bờ biển Việt Nam trong mối quan hệ tương tác lục địa - biển.. ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG VEN BỜ BIỂN V

Trang 1

Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Phạm Văn Lượng, Đinh Văn Huy, 2001 Ảnh hưởng hoạt động của con người đối với môi trường ven bờ biển Việt Nam trong mối quan hệ tương tác lục địa - biển Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường biển, tập VIII, Tr.99-107 Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

ẢNH HƯỞNG HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐỐI VỚI

MÔI TRƯỜNG VEN BỜ BIỂN VIỆT NAM TRONG

MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC LỤC ĐỊA - BIỂN

Trần Đức Thạnh, Trần Đình Lân, Phạm Văn Lượng và Đinh Văn Huy

1.MỞ ĐẦU

Dải ven bờ Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa của vùng bờ Đông á, nơi mà lưu vực của các con sông lớn đổ vào thuộc địa phận của sáu nước và vùng biển phía ngoài có quan hệ về sinh thái và môi trường với hải phận của nhiều nước Dải ven

bờ Việt Nam không chỉ có vai trò to lớn đối với phát triển của đất nước mà còn có một

vị trí quan trọng về sinh thái và môi trường đối với hệ thống bờ Đông á Môi trường ven

bờ Việt Nam rất nhạy cảm do hoạt động nhân tác và những biến đổi tự nhiên bất thường Các hệ sinh thái ven bờ, đặc biệt là rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển,v.v rất dễ bị tổn thương Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số, hoạt động nhân tác ở cả trên lưu vực và tại chỗ đã tác động tiêu cực lên môi trường và

hệ sinh thái ven bờ thông qua tương tác giữa lục địa và biển ở đới này Hơn nữa, môi trường và hệ sinh thái ven bờ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xuyên biên giới và những biến động bất thường về khí hậu, thủy văn ở tầm vĩ mô, môi trường ven bờ Việt Nam chịu tác động sâu sắc của tương tác lục địa – biển, trong đó còn có vai trò nhân tác Nhiều vấn đề nổi cộm dẫn đến nguy cơ suy thoái môi trường ven bờ có liên quan đến tác nhân ở lưu vực, khu vực, thậm chí toàn cầu Vì vậy, chiến lược bảo vệ môi trường ven bờ Việt Nam cần phải được nhìn nhận từ những mối quan hệ vĩ mô đó mà bài viết này giới thiệu những nhận thức bước đầu Công trình này được hoàn thành với

sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học Tự nhiên

2 CÁC YẾU TỐ VÀ TÀI NGUYÊN NHIÊN NHIÊN

Bờ biển Việt Nam trải dài trên 3200 km với 114 cửa sông lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là các vùng cửa sông Mê Kông và sông Hồng Vùng biển Việt Nam với diện tích trên 1 triệu km2 và hơn 3000 hòn đảo là nơi có tuyến đường hàng hải quốc tế đi qua, nối liền ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Dải ven bờ Việt Nam có thể được chia làm 4 vùng tự nhiên là Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Vịnh Thái Lan Hàng năm, các dòng sông đổ vào dải ven bờ Việt Nam khoảng 880 tỷ m3 nước và 200-250 triệu tấn bùn cát, chủ yếu tập trung ở cửa sông Hồng và Mê Kông Lưu vực sông Mê Kông nằm trên địa phận 6 nước, gồm Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt

Nam (Thanh et all, 2001) Dải ven bờ Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, có

nhiệt độ trung bình năm 22,6–27,2 0c, tăng dần về phía nam Lượng mưa trung bình năm khoảng 1000–2400 mm Hàng năm (1975 - 1995), trung bình có 2,52 cơn bão và 2,2 áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào và số lượng tăng lên trong những năm gần đây Thiệt hại do bão khá lớn, ví dụ tới 600 triệu USD vào năm 1997 Mực nước biển dâng cao được ghi nhận ở một số trạm ven bờ, ví dụ, tốc độ 2,24mm/năm ở Hòn Dấu trong

khoảng thời gian 1957–1989 (N.N Thuỵ và B.Đ Khước, 1994).

Trang 2

Các hệ sinh thái ven bờ như cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, có năng suất và đa dạng sinh học cao Có tới 11 nghìn loài thủy sinh và trên 1300 loài sinh vật trên đảo có mặt ở biển và ven bờ Việt Nam, trong đó có nhiều loài quý hiếm, đặc hữu Sản lượng đánh bắt thuỷ sản cho phép trên một triệu tấn

năm (Bộ thủy sản, 1996).

Tài nguyên phi sinh vật biển và ven bờ khá phong phú, đặc biệt là dầu khí với trữ lượng địa chất khoảng 5 tỷ tấn và trữ lượng công nghiệp được xác định là 1,2 - 1,4 tỉ tấn, cho phép tăng sản lượng khai thác lên 20 triệu tấn mỗi năm ở vùng ven bờ có tới khoảng 100 mỏ khoáng sản, lớn nhất là mỏ than Quảng Ninh, trữ lượng 3,59 tỉ tấn và

mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh có chất lượng tốt , đủ cho sản lượng 5 - 6 triệu tấn gang mỗi năm

3 TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VEN BỜ

Nhờ tài nguyên thiên nhiên phong phú và điều kiện tự nhiên thuận lợi, dải ven

bờ trở thành vùng phát triển kinh tế năng động Đây là nơi có mật độ, tốc độ phát triển dân số cao Trong tổng số 77 triệu dân của cả nước, có tới 24% dân số sống ở các huyện ven biển và 54% sống ở các tỉnh ven biển Dọc bờ biển có tới 12 đô thị dân số trên 10 vạn, 37 cảng bến lớn nhỏ, hàng trăm bến cá, khoảng 3000 nhà máy xí nghiệp Từ năm

1992, Việt Nam đã có 124 đội tàu gồm 800 tàu vận tải biển với tổng trọng tải 1 triệu tấn

và 54 nghìn tàu thuyền đánh cá

Hàng năm, có hơn 1 triệu tấn sản lượng nghề cá đã được khai thác, vượt số lượng khai thác cho phép từ năm 1996 và đáng chú ý đến 80% sản lượng khai thác từ vùng nước ven bờ Cả nước có khoảng 200 ngàn ha đầm nuôi thủy sản mặn lợ, phần lớn được xây dựng trên vùng rừng ngập mặn Một số diện tích đáng kể là bãi bồi ngập triều,

kể cả các bãi sú vẹt đã được khai hoang làm đất nông nghiệp Chỉ riêng ở ven bờ châu thổ sông Hồng, có đến 24 nghìn ha đất bồi ven biển được khai hoang trong khoảng thời gian 1958-1995 Rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề do chiến tranh, làm nương rẫy và cháy rừng Diện phủ của rừng giảm từ 43% xuống 28% trong khoảng thời gian

1943-1995 (N M Cuong, 1997).

Suốt nghìn năm qua, một hệ thống đê điều được xây dựng để bảo vệ đồng bằng

và các khu dân cư khỏi ngập nước biển và nước sông Cả nước có tới 5700 km đê sông

và 2100 km đê biển, trong đó riêng châu thổ sông Hồng có 3000km đê sông và 1500 km

đê biển Nhiều nhánh sông bị chặn đắp làm hồ chứa nước phục vụ cho tưới nước và thủy điện Chỉ riêng 9 đập thủy điện lớn nhất chiếm 1267 km2 và đập thủy điện Hoà Bình mỗi năm bẫy giữ ở lòng hồ hơn 40 triệu tấn bùn cát Hệ thống đập hồ kênh tưới nông nghiệp đã làm giảm đáng kể lưu lượng bồi tích từ các sông đổ ra ven bờ

Việt Nam là một nước nông nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp trên 7 triệu ha, trong đó 60 % là đất trồng lúa Hàng năm, một khối lượng lớn nước cần cho tưới cây nông nghiệp, ví dụ, 7 tỉ m3 nước vào năm 1990 Tải lượng nước sông giảm đi, trong khi, lượng phân bón và hoá chất nông nghiệp tăng lên làm tăng nồng độ thải ở nước sông đổ

ra biển Vào năm 1993, có 2,1 triệu tấn phân hoá học, trong đó có 1,2 triệu tấn U rê, 793 nghìn tấn phốt phát và 22 nghìn tấn lân được dùng cho nông nghiệp Lượng thuốc bảo

vệ thực vật, ví dụ, DDT, Lindan, Monitor, Wafatox , dùng cho nông nghiệp không

ngừng tăng, từ 20 nghìn tấn vào năm 1988 tăng lên 30 nghìn tấn vào năm 1994 (Sandoz, 1996) Dư lượng các loại hoá chất này, một phần đáng kể được nước sông tải ra vùng

biển ven bờ

Trang 3

Hàng năm, lượng nước cần cho sinh hoạt và công nghiệp cũng cần đến trên 4 tỉ

m3 Một khối lượng lớn nước thải, chủ yếu chưa được xử lý đổ vào sông để ra biển Khu công nghiệp Hà Nội -Việt Trì - Hải Phòng đổ ra 657-820 nghìn m3 nước thải mỗi ngày Khu vực thành phố Hồ Chí Minh đổ ra 550 nghìn m3 mỗi ngày

Sản lượng dầu khai thác trên biển không ngừng tăng, gần đây khoảng 10 triệu tấn mỗi năm Tính toán cho thấy vào năm 1995 có 47 nghìn tấn dầu thải xuống vùng biển Việt Nam, trong đó, từ dàn khoan dầu 3%, từ lục địa 12,8%, tràn dầu 1,2 %, từ

tuyến hàng hải quốc tế 81,9 % và hoạt động tàu thuyền trong nước 1,1% (T Đ Minh, 1996) Khai thác khoáng sản ven bờ, cụ thể là than, vật liệu xây dựng, sa khoáng làm

biến dạng cảnh quan bờ, đổ thải các chất thải rắn, lỏng, làm tăng xói lở bờ biển Mỏ than Quảng Ninh gần đây vượt sản lượng 10 triệu tấn than/ năm, mỗi năm cũng đổ thải

ra khoảng 10 triệu tấn chất thải rắn và 700 triệu m3 chất thải lỏng

4 NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG VEN BỜ NỔI BẬT

Gần đây, những biến đổi về môi trường sinh thái ven bờ Việt Nam là rất rõ ràng,

do cả quá trình tự nhiên và hoạt động nhân sinh Những biến đổi có liên quan đến hoạt động nhân sinh có thể có qui mô toàn cầu, ví dụ sự dâng cao nước biển, nhiễu động về bão và các hiện tượng khí tượng khác do trái đất ấm lên, có thể qui mô khu vực, như phá rừng thượng nguồn và xây dụng hồ chứa nước trên lưu vực và các hoạt động trực tiếp ở dải ven bờ Hầu hết các tai biến tự nhiên ven bờ dường như liên qua đến sự dâng

cao của mực nước biển (Sterr, 2001) - một hậu quả của thay đổi khí hậu Hoạt động

nhân sinh đã tác động đến dải ven bờ, như làm thay đổi nguồn cung cấp nước, trầm tích, dinh dưỡng và các vật chất khác ra biển, thay đổi chất lượng môi trường biển và dải ven

bờ do khả năng nhận và tích luỹ chất gây ô nhiễm và do mất các habitat

4.1 Sự gia tăng các tai biến tự nhiên và nhân tác

Ngập lụt ven bờ tăng lên cả về cường độ và tần xuất xuất hiện Đó là hậu quả kết hợp của quá trình phá rừng đầu nguồn, mưa lớn, mực nước biển dâng cao và lấp kín các cửa sông, cửa lạch biển do sa bồi Ngập lụt ven biển đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm khi xuất hiện trùng mưa lớn, nước dâng trong bão và triều cường Ngập lụt hàng năm ở châu thổ Mê Kông kéo dài 2-6 tháng, chủ yếu và tháng 8-10, trên diện rộng 1,7 trệu ha và ảnh hưởng trực tiếp đến 9 triệu dân Trong thời gian 1926-2000 có khoảng 24 trận ngập lụt lớn, mà gần đây vào các năm 1991, 1994, 1996 và 2000 ở vùng ven bờ Trung Bộ, trận lũ lịch sử năm 1999 đã gây ra những thiệt hại rất lớn về người và tài sản, riêng ở tỉnh Thừa Thiên - Huế chết hơn 300 người và mất trên nghìn tỷ đồng

Xói lở bờ biển tăng lên cả về qui mô và tính chất nguy hiểm Có đến 397 điểm, đoạn bờ đã và đang bị xói lở với tổng chiều dài 920 km và tốc độ phổ biến 5–10 m/năm,

cá biệt 30-50 m/năm, thậm chí đột xuất 100-200 m/năm ở cả châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông, những nơi nổi tiếng về bồi tụ, xói lở cũng đã xuất hiện trên một phần tư chiều dài bờ châu thổ ở châu thổ sông Mê Kông, bờ Bồ Đề dài 36 km bị xói lở 30-50 m/năm trong nhiều năm ở châu thổ sông Hồng, dải bờ Giao Hải - Văn Lý dài 30km bị

xói lở 10-15 m trong hơn nửa thế kỷ qua, mặc dù đã có đê kè ngăn chặn (T.Đ Thạnh và

Đ V Huy, 2000).

Sa bồi, cơ bản cũng là tai biến phổ biến, đặc biệt là tác động tiêu cực đến cảng

bến (T Đ Thạnh, 1995) Cảng Hải Phòng là một ví dụ điển hình Hơn một thế kỷ, cảng

này từng lớn nhất Việt Nam, nhưng gần đây bị sa bồi nặng nề và tàu lớn trên vạn tấn không vào cập cảng được Một trong những nguyên nhân sa bồi luồng cảng là việc đắp đập Đình Vũ vào năm 1981 Dọc bờ biển miền Trung, dòng bồi tích cát dọc bờ phát sinh

Trang 4

do sóng bồi lấp kín các cửa đầm phá, cửa sông, dẫn đến ngập lụt, ngọt hoá và tắc nghẽn lối ra biển

Do áp lực triều, xâm nhập mặn vào sâu 30–40 km trên hệ thống sông Hồng và 60-70 km trên hệ thống sông Mê Kông Hơn 1,7 triệu ha đồng bằng sông Mê Kông chịu tác động nhiễm mặn Diện tích này có thể tăng lên 2,2 triệu ha trong tương lai gần, nếu không có giải pháp quản lý phù hợp Do xâm nhập mặn về phía lục địa, độ mặn mọi nơi

ở châu thổ sông Mê Kông tăng lên vào mùa khô, cực đại vào khoảng tháng 3- 4 hàng năm và đường đẳng mặn 4 phần nghìn dịch về phía lục địa 20km trong vòng 20 năm

gần đây, từ năm 1978–1998 (Nguyen et all, 1999) Hầu hết nước sông Mê Kông mùa

khô chảy về từ Trung Quốc Sự kết hợp một số yếu tố như giảm tải lượng sông do đắp đập, tưới tiêu và mực biển dâng cao đã dẫn đến xâm nhập mặn tăng lên Vấn đề này không chỉ nghiêm trọng đối với nông nghiệp mà còn đối với một số lĩnh vực kinh tế khác Dọc bờ biển miền Trung, nhiều tỉnh thiếu nước trầm trọng dùng cho nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp do xâm nhập mặn ngược sông vào mùa khô

Đến nay một phần biển Việt Nam bị đe doạ bởi dầu thải từ hoạt động tàu thuyền, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Tràn dầu là một nguồn ô nhiễm dầu đáng kể Cho đến năm 1999, được biết có trên 40 vụ tràn dầu ở vùng nước ven bờ và cửa sông Việt Nam Vụ nghiêm trọng nhất xảy ra vào ngày 3 tháng 10 năm 1994 tại cảng dầu Sài Gòn

do tai nạn của tàu Neptune Aries, quốc tịch Singapore, làm tràn 1865 tấn dầu ( B H Cầu, 1999).

4.2 Sự ô nhiễm nước biển ven bờ

Đa phần nước biển và ven bờ Việt Nam còn khá tốt, mặc dù nhiễm bẩn ở các mức khác nhau đã được ghi nhận ở một số nơi do hoạt động của con người ở cả trên lưu vực và vùng biển, ven bờ Ô nhiễm dầu ở mức nghiêm trọng nhất ở các vùng nước sát

bờ, hàm lượng dầu thường vượt mức cho phép 0,05 mg/l đối với nước nuôi trồng thủy sản và thậm chí nhiều nơi vượt mức cho phép 0,3 mg/l đối với các mục đích khác ở vùng ngoài khơi, hàm lượng dầu trên 0,05 mg/l, cực đại 0,4 mg/l ghi nhận được ở mức 10% số trạm thu mẫu vào trước năm 1996, cao nhất ở khu vực khai thác dầu và trên

tuyến hàng hải quốc tế (T.Đ Minh, 1996) Số liệu gần đây cho thấy hàm lượng dầu trong nước biển tăng trung bình 0,34 mg/l vào thời gian 1997–1998 (L V Diệu và nnk, 2000) Nhiễm bẩn kim loại nặng như Fe, Cu, Zn, Cd, As, Pb chưa rộng rãi nhưng có

biểu hiện tập trung theo hướng tăng trong nước ven bờ, trầm tích và cơ thể sinh vật Ô nhiễm Fe, Zn, Cu được xác nhận rõ ràng ở một số nơi Vào thời gian 1996–1998, ô nhiễm kẽm khá phổ biến ở vùng biển Việt Nam với hàm lượng 5,30–53,80 g/l (L.V

Diệu và nnk, 2000) Tương tự, ô nhiễm chất thải hữu cơ phân bố cục bộ, nhưng khá cao

ở một số điểm Nói chung, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật còn thấp hơn mức độ cho phép, mặc dù biểu hiện tích lũy khá phổ biến và vượt qúa giới hạn cho phép tại một số

điểm, ví dụ ở ven bờ châu thổ sông Hồng (N Đ Cự, 1998).

Phú dưỡng là một vấn đề môi trường ở phía nam, nơi chất dinh dưỡng như phốt phát, nitơ, vật chất hữu cơ phát sinh từ nguồn thải sinh hoạt, nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản Đã xuất hiện các rủi ro nuôi nước lợ ở phía nam, có lẽ liên quan đến phú dưỡng (thủy triều đỏ) Vào năm 1996, nghề nuôi tôm nước lợ ở ven bờ châu thổ sông

Mê Kông thiệt hại đến hàng nghìn tỉ đồng do phú dưỡng (thủy triều đỏ)

4.3 Mất habitat và suy giảm tài nguyên sinh học

Những biến động tự nhiên và do con người gần đây ở dải ven bờ đã làm mất habitat như các bãi triều, đầm lầy sú vẹt, bãi biển, thảm cỏ biển và rạn san hô Rừng ngập mặn đã bị hủy hoại nặng nề do khai hoang nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, xây

Trang 5

dựng các khu định cư và do xói lở (Hong and San, 1993) Vào năm 1943 có khoảng 400

nghìn ha rừng ngập mặn, riêng ở châu thổ Mê Kông 250 nghìn ha, cho đến nay chỉ còn khoảng 200 nghìn ha trên cả nước Các diện tích bãi triều giảm mạnh do xói lở và khai thác cát Các rạn san hô và cỏ biển bị hủy hoại do bùn đục, ngọt hoá, sóng bão và nhiễm bẩn Trong thời gian El-Nino vào năm 1997-1998, hiện tượng san hô chết trắng đã xuất hiện ở vùng biển Việt Nam Dải ven bờ, đặc biệt là các cửa sông, vũng vịnh, đầm phá là nơi có mặt các bãi giống, bãi đẻ quan trọng cho duy trì sản lượng nghề cá Nhiễm bẩn

và mất habitat ở đã làm suy thoái tài nguyên sinh học, ảnh hưởng đến cả nghề cá ven bờ

và ngoài khơi Những biến động môi trường ven bờ đe doạ đến sự tồn tại của nhiều loài

sinh vật biển (Bộ thủy sản, 1996)

Sự suy thoái của các hệ sinh thái ven bờ do ngọt hoá, đục, phú dưỡng, nhiễm bẩn, mất habitat dẫn đến thay đổi cân bằng sinh thái, giảm năng xuất sinh học và đa dạng sinh học Nghề cá biển, mà chủ yếu ở ven bờ, phải đối mặt với suy giảm nguồn lợi, trong khi nghề nuôi biển và nước lợ phải hứng chịu những rủi ro do biến động môi trường và ô nhiễm gây ra

5 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VEN BỜ TỪ GÓC ĐỘ VĨ MÔ: TƯƠNG TÁC LỤC ĐỊA–BIỂN VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI

Là một phần của Biển Đông liên quan đến nhiều nước trong khu vực, biển và dải ven bờ Việt Nam giữ một số vai trò về môi trường và sinh thái khu vực và toàn cầu Đó

là một vùng quan trọng lưu giữ khí nhà kính CO2, là vùng chuyển tiếp đặc biệt giữa ấn

Độ Dương và Thái Bình Dương về mặt địa lý sinh vật và hàng hải Dải ven bờ Việt Nam có những hệ sinh thái đặc thù với các loài đặc hữu, quý hiếm Dọc bờ biển có những sân chim di cư lớn Về bản chất môi trường, bờ Việt Nam rất nhạy cảm với các tác động của con người và biến động bất thường của tự nhiên Các hệ sinh thái biển nhiệt đới như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển cũng rất dễ bị tổn thương

Việt Nam là một nước đang phát triển và với đường lối đổi mới, chính sách mở cửa, nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh trong thập kỷ qua Tuy nhiên, áp lực dân số và kinh tế đến môi trường cũng tăng theo thời gian Dự báo rằng qui mô và số lượng đầu tư trong và ngoài nước vẫn tăng vào những năm gần đây Các hoạt động kinh tế biển như cảng và hàng hải, khai thác dầu khí, nuôi trồng thủy sản và du lịch biển sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới Trên lưu vực, sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp, việc xây dựng các đập chứa cho thủy điện và nước tưới, việc sử dụng phân bón hoá học

và hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp sẽ có tác động mạnh hơn đến môi trường biển và ven bờ Mặt khác, tai biến ven bờ sẽ tăng lên do biến động về khí hậu và thủy văn

Môi trường ven bờ Việt Nam đang đối mặt với những vấn đề môi trường nổi bật như gia tăng các tai biến tự nhiên và kỹ thuật, mất habitat, suy giảm tài nguyên sinh học và nhiễm bẩn Sự phát triển kinh tế–xã hội Việt Nam không thể bền vững và chất lượng cuộc sống sẽ không được duy trì nếu môi trường ven bờ suy thoái Vì vậy, bảo

vệ môi trường ven bờ và biển Việt Nam, bao gồm ngăn ngừa, kiểm soát và giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động nhân tác thông qua tác động tương tác lục địa–biển

là một đòi hỏi cấp thiết Việt Nam đã có những nỗ lực bảo vệ môi trường dải ven bờ thông qua thiết lập cơ cấu tổ chức, cơ sở luật pháp, phát triển tiềm lực, xây dựng chiến lược và kế hoạch quốc gia, thực thi các các dự án môi trường ven bờ và tăng cường quan hệ quốc tế trong lĩmh vực này Tuy vậy, những thành tựu đạt được mới chỉ là bước đầu

Trang 6

6 KẾT LUẬN

Dải ven bờ Việt Nam là nơi phát triển kinh tế sôi động và có mật độ dân số cao Trong mối quan hệ tương tác lục địa và biển, các hoạt động nhân sinh trên cả lưu vực và tại chỗ như phá hủy rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn, xây đê, đập, đào kênh, các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, công nghiệp và sinh hoạt đã gây ra ảnh hưởng lớn đến môi trường ven bờ Ngoài ra, các yếu tố xuyên biên giới và biến động khí hậu cũng gây ra tác động quan trọng đến chất lượng và động thái môi trường

Những tác động này đã dẫn đến một số vấn đề nổi bật về môi trường ven bờ như gia tăng các tai biến như ngập lụt, xói lở, sa bồi, xâm nhập mặn, tràn dầu; nhiễm bẩn môi trường do dầu, vật chất hữu cơ, dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng ở mức độ khác nhau; mất habitat và suy giảm tài nguyên sinh vật Chắc chắn, những tác động này còn tăng lên dưới áp lực của sự phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số Bảo

vệ môi trường ven bờ Việt Nam bao gồm cả ngăn ngừa, kiểm soát, giảm thiểu, các tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh tham gia vào quá trình tương tác lục địa–biển ở dải ven bờ là một yêu cầu cấp bách và chỉ có thể thành công nhờ phối hợp toàn diện với việc quản lý lưu vực thượng nguồn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Thuỷ Sản, 1996 Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam Nxb Nông Nghiệp Hà Nội

Tr 1-616

2 Bùi Huê Cầu, 1999 Quản lý sự cố tràn dầu Tạp chí dầu khí Số 6 Hà Nội Tr.42-45

3 Nguyễn Đức Cự , 1998 Điều tra khảo sát chất lượng Môi trường và động thái dinh dưỡng vùng cửa sông châu thổ sông Hồng Báo cáo tổng kết đề án điều tra

cơ bản nhà nước trong hai năm 1997 - 1998 Lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng

4 Cuong, N.M.1997 Forest mapping in Vietnam In: Remote sensing for tropical ecosystem management New York United Nations published p 47-59

5 Lưu Văn Diệu, Vũ Thị Lựu và Cao Thu Trang, 2000 Một số nhận xét về xu thế biến động môi trường vùng biển Việt Nam Tài nguyên và Môi trường biển T.VII Nxb KH & KT Hà Nội Tr 125-135

6 Hoi, N.C 1995 Viet Nam In: K Hotta and I.M Dutton “Coastal Management

in the Asia - Pacific Region: Issues and Approaches Tokyo Press of Japan International Marine Science and Technology Federation,

7 Hong, P.N and San, H.T 1993 Mangrove of Vietnam Published by IUNC 173pp

8 Tạ Đăng Minh, 1996 Nguồn nhiễm bẩn và tiềm năng nhiễm bẩn dầu ở vùng biển Việt Nam Khí tượng và Thuỷ văn Số 432 Hà Nội Tr.8-14

9 Nguyen, V.L., Ta, T.K.O., Tateishi M and Kobayashi, I 1999 Coastal variation and saltwater intrusion on the coastal lowlands of the Mekong River Delta, southern Vietnam In: Saito, Y., Ikehara, K and Katayama, H., eds Land-Sea Link in Asia, STA(JISTEC) and Geological Survey of Japan, pp 212-217

10 Sandoz, M 1996 Agriculture water use in Vietnam In: Vietnam water resources sector review Selected working papers of World Bank, ADB, FAO/UNDP and

Trang 7

11 Sterr, H 2001 Coastal zone at risks In Jose L Lozan (eds.): Climate and the

21st Century: Changes and Risks Hamburg Wissenchaftliche Auwertungen Press P.245-250

12 Thanh, T.D 1995 Coastal morphological changes concerning the management

of coastal zone in Vietnam Workshop Report No 105 Supplement IOC/UNESCO Published 1995, pp 451-462

13 Trần Đức Thạnh và Đinh Văn Huy, 2000 Tổng quan về tai biến xói lở và sa bồi

bờ biển Việt Nam Hoạt động Khoa học Số 1 Hà Nội Tr 26-27

14 Thanh, T.D., Huy, D.V., Nguyen, V.L., Ta,T.K.O., Tateishi, M., & Saito,Y 2001

The impact of human activities on the Vietnamese rivers and coast Proc Asia

BASINS I Workshop IGBP/LOICZ, Hong Kong Baptist University, China, 12 Dec – 14Dec 2000 p.1-11

15 Nguyễn Ngọc Thuỵ và Bùi Đình Khước, 1994 Hiện tượng El-Nino, sự ấm lên của khí hậu toàn cầu và mực nước biển Việt Nam và Biển Đông Khí tượng và Thuỷ văn Số 5 Tr 16-23

SUMMARY

HUMAN IMPACT ON VIETNAM COASTAL ENVIRONMENT IN THE RELATION

TO THE LAND-SEA INTERACTION IN THE COASTAL ZONE

Stretching on the length of over 3200km, the Vietnam coastal zone locates in the West of South China Sea where the Red and Mekong Rivers-two of the World’s large rivers - discharge into the sea Their catchments cover on parts of six countries, and their water and sediment discharges greatly influence on the coastal sea of much country in the region Along coast, there exist the typical coastal ecosystems such as estuaries, lagoons, and mangrove forests, coral reefs and seagrass beds with high biodiversity By rich natural resources and other favorable natural conditions, the Vietnam coastal zone has became an area of active economic development and high population density From Vietnam’s 77 million people, 24 percent live in coastal districts The most important economic sectors such as waterway and ports, agriculture, fishery, industry, mining, and tourism are concentrated in this zone

Human activities in both the coastal zone and the watersheds such as upstream deforestation, destruction of mangrove swamps, dike and dam building, channel dredging, agriculture, fishery included over catching and over aquaculture, and industrial and domestic activities have strongly influenced on the Vietnam coastal environment and ecosystems Besides, they have been obviously influenced by human activities in the larger scales through the manifestations of sea level rise due to global warming, and typhoon turbulence and oil spills in the region, for examples

In the relation to the land-sea interaction in the coastal zone, these activities have impacted negatively on coastal environment quality and ecosystems due to the increased use and accumulation of pollutants, the loss of habitats and over catching The environmental pollution from, for example, oil, organic matters, pesticide residues, and,

to varying degrees, heavy metals; and the degradation of ecosystems with accompanying have made decreases in biodiversity and fishery productivity These impacts have also contributed to coastal diseases such as floods, erosion, sedimentation, and saltwater intrusion becoming less predictable and more severe It’s sure that these impacts will increase under the pressure of population and economical development

Trang 8

The Vietnam coastal environment protection including prevention, control and mitigation of the negative impact become an urgent demand, and it is only implemented successfully by comprehensive combination with the watershed management

Ngày đăng: 14/10/2022, 13:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w