Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên những cơ sở tư tưởng - lý luận và thực tiễn rất phong phú
Trang 1TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Đề tài 5: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc - Giá trị lý
luận và giá trị thực tiễn
Họ và tên sv: Đỗ Thành Duy
Mã sinh viên: 1454030010 Lớp: TCNH 14-02
Khoa tài chính ngân hàng Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Cẩm Ngọc
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 2
NỘI DUNG 3
I Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3
1.Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 3
2.Vai trò của đại đoàn kết dân tộc 6
3.Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 8
4.Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 9
5.Hình thức tổ chức khối đại đoàn kết toàn dân tộc 10
6.Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 12
II.Giá trị lý luận – thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc 14
1.Giá trị lý luận 14
2.Giá trị thực tiễn 15
KẾTLUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta trong suốt mấy nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Nó có sức mạnh to lớn, là một trong những nhân tố quan trọng nhất tạo ra thắng lợi của cách mạng Đại đoàn kết dân tộc là một nội dung xuyên suốt trong tư tưởng cũng như trong hoạt động thực tiễn Hồ Chí Minh, có ý nghĩa vô cùng to lớn Nhằm hiểu rõ hơn về nội dung trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nội dung của đại đoàn kết dân tộc - giá trị
lý luận và thực tiễn”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Từ đó, thấy được giá trị lý luận và thực tiễn của quan điểm đó Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên cần thực hiện hai nhiệm vụ: Một là, chỉ ra
và phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc; Hai là, từ quan điểm
đó đó, rút ra giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những quan điểm của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc Phạm vi nghiên cứu: các bài nói, bài viết, tác phẩm của Hồ Chí Minh; các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng, …
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đại đoàn kết dân tộc
Phương pháp nghiên cứu: so sánh, phân tích, tổng hợp, logic và lịch sử, khái quát hoá và các phương pháp khác
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề
Ý nghĩa lý luận: Đề tài đã làm rõ hơn tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, từ đó cho thấy giá trị lý luận và thực tiễn
Trang 4Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài thể hiện tầm quan trọng của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai Mỗi một người dân, đặc biệt là sinh viên cần có trách nhiệm trong việc củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh
NỘI DUNG
I Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được hình thành trên những cơ sở
tư tưởng - lý luận và thực tiễn rất phong phú:
a.Truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc
Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc của dân tộc Việt Nam đã được hình thành và củng cố, tạo thành một truyền thống bền vững thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của mỗi con người Việt Nam Đối với mỗi người Việt Nam, yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết đã trở thành một tình cảm
tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”; thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng nên non/Ba cây chụm lại nên hòn núi cao” và trở thành phép ứng xử và tư duy chính trị: “Tình làng, nghĩa nước/Nước mất thì nhà tan/Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Tất cả đã ghi đậm dấu ấn trong cấu trúc xã hội truyền thống, tạo thành quan hệ ba tầng chặt chẽ: gia đình - làng xã - quốc gia (nhà - làng - nước) và cũng trở thành sợi dây liên kết các dân tộc, các giai tầng trong xã hội Việt Nam
Truyền thông ấy không chỉ được phản ánh trong kho tàng văn học dân gian, mà còn được những anh hùng dân tộc ở các thời kỳ lịch sử khác nhau như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung đúc kết nâng lên thành phép đánh giặc, giữ nước: “tập hợp bốn phương manh lệ”, “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “tướng sĩ một lòng phụ tử”,…; sau đó được tiếp nối trong tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc của các nhà yêu nước trong cuộc đấu tranh chống thực dân
Trang 5Pháp xám lược và các thế lực phong kiến tiếp tay cho ngoại bang, mà tiêu biểu nhất là cụ Phan Bội Châu và cụ Phan Chu Trinh ở đầu thế kỷ XX Hồ Chí Minh
đã sớm hấp thụ truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc Người khẳng định: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy (yêu nước) lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết),
nó lướt qua mọi sự hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” và nhận thức phải phát huy truyền thống đó trong giai đoạn cách mạng mới của dân tộc: “phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến”
Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộng đồng của dân tộc Việt Nam là
cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
b.Kinh nghiệm của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa Những thành công hay thất bại của các phong trào ấy đều được Người nghiên cứu để rút ra những bài học cần thiết cho việc hình thành tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc
Phong trào yêu nước Việt Nam đã diễn ra rất mạnh mẽ từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta Từ các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu thế kỷ XX, các thế
hệ người Việt Nam yêu nước đã nối tiếp nhau vùng dậy chống ngoại xâm, nhưng đều thất bại Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, bước vào thời đại mới, chỉ có tinh thần yêu nước thì không thể đánh bại được các thế lực đế quốc xâm lược mà phải có một lực lượng lãnh đạo cách mạng mới có đường lối cách mạng đúng đắn, đủ sức quy tụ được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững thì mới giành được thắng lợi Hồ Chí
Trang 6Minh đã thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và những yêu cầu khách quan mới của lịch sử dân tộc và xác định:
“Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”
Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát tình hình các nước tư bản chủ nghĩa và các nước thuộc địa ở hầu khắp các châu lục Người đã nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản, đặc biệt là Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, nguyên nhân dẫn đến thắng lợi của giai cấp tư sản cũng như tại sao đó vẫn chỉ là cách mạng “không đến nơi” Tổng kết thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn to lớn của họ, và những hạn chế: các dân tộc thuộc địa chưa có được sự lãnh đạo đúng đắn, chưa biết đoàn kết lại, chưa có tổ chức và chưa biết tổ chức
Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với Lênin, người lãnh đạo thắng lợi của nó, đã đưa Hồ Chí Minh đến bước ngoặt quyết định trong việc tìm đường cứu nước Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng Tháng Mười một cách cảm tính, Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười, và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã đem lại cho phong trào cách mạng thế giới; đặc biệt là bài học về huy động, tập hợp lực lượng quần chúng công nông đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng, Nhà nước Xôviết non trẻ, để xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, mở ra một thời đại mới cho lịch sử nhân loại Hồ Chí Minh nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười không phải chỉ qua báo chí sách vở, mà còn ở ngay trên đất nước của Lênin Điều này đã giúp Người hiểu sâu sắc thế nào là một cuộc “cách mạng đến nơi”, để chuẩn bị cho việc lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi vào con đường cách mạng mới những năm sau này
Những kinh nghiệm rút ra từ thành công hay thất bại của các phong trào dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Trang 7c Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin
Cơ sở lý luận quan trọng nhất đối với quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông
là cơ sở để xây dựng lực lượng to lớn của cách mạng, đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế, “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại”, “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, v.v
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin vì chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng, đã chỉ ra sự cần thiết và con đường tập hợp, đoàn kết các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới để giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân
Bên cạnh quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh vừa nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa tìm hiểu về Cách mạng Tháng Mười, vì vậy Người đã sớm nắm được linh hồn của chủ nghĩa Mác - Lênin, những vấn đề cốt lõi nhất của học thuyết cách mạng và khoa học của các ông Nhờ đó Người đã có cơ sở khoa học để đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc cách mạng các nước, từ đó hình thành và hoàn chỉnh tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc
2 Vai trò của đại đoàn kết dân tộc
a Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược
+Đại đoàn kết dân tộc không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời mang tính sách lược mà là chính sách dân tộc, là vấn đề chiến lược của cách mạng Đó là
Trang 8chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, nhằm hình thành sức mạnh
to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù dân tộc, giai cấp
+Đại đoàn kết dân tộc không chỉ đơn giản là phương pháp tập hợp lực lượng cách mạng mà cao hơn, nó là bộ phận hữu cơ, là tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt trong tiến trình cách mạng Việt Nam
+Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc luôn được thể hiện từ rất sớm và nhất quán xuyên suốt từ đầu đến cuối trong toàn bộ quá trình hoạt động và lãnh đạo cách mạng của Người Người tập hợp lực lượng để cùng nhau đánh đổ thực dân, đế quốc xâm lược, từ đó đem lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân Điều này hoàn toàn khác so với cuộc cách mạng tư sản
- Đại đoàn kết dân tộc quyết định thành công của cách mạng
+Trong mỗi giai đoạn cách mạng, với những yêu cầu và nhiệm vụ khác nhau, chính sách và phương pháp tập hợp đại đoàn kết có thể và cần thiết phải điều chỉnh cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau song không bao giờ được thay đổi chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, vì đó là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng Theo Hồ Chí Minh, cách mạng muốn thành công phải có lực lượng, lực lượng đó phải đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công
xã hội mới Muốn có lực lượng phải thực hành đoàn kết, vì “đoàn kết là lực lượng”, “đoàn kết tạo ra sức mạnh, là then chốt của sự thành công”
+Đoàn kết với thắng lợi có mối quan hệ sâu sắc với nhau Tính chất, quy mô, mức độ của thành công phụ thuộc vào tính chất, quy mô của sự đoàn kết Người
đã khái quát chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công ”; “Đoàn kết là điểm mẹ, điểm này tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”
+Thực tiễn cách mạng Việt Nam gần thế kỷ qua đã chứng minh, nhờ đại đoàn kết dân tộc mà nhân dân ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn, vẻ vang
b.Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam
Trang 9- Đại đoàn kết toàn dân tộc là mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam.
+Sự nghiệp cách mạng có nhiều mục tiêu đặt ra, trong đó, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu hàng đầu vì có thực hiện được đại đoàn kết dân tộc thì mới có thể thực hiện được các mục tiêu khác
+Hồ Chí Minh coi đây không chỉ là khẩu hiệu chiến lược, mục tiêu hàng đầu mà còn là mục tiêu lâu dài của cách mạng, xem như tôn chỉ hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
+Đại đoàn kết dân tộc không phải là một chủ trương xuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lực lượng lãnh đạo cách mạng mà xuất phát từ nhu cầu khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, là
sự nghiệp của quần chúng, do quần chúng, vì quần chúng
+Đảng là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam nên tất yếu đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xác định là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, nhiệm vụ này phải được quán triệt trong tất cả mọi lĩnh vực, từ chủ trương, chính sách, tới hoạt động thực tiễn của Đảng
+Nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát của quần chúng thành những đòi hỏi tự giác, có tổ chức, thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người
3 Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
a.Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo Hồ Chí Minh bao gồm toàn thể nhân dân Khái niệm “dân”, “nhân dân ” được Hồ Chí Minh tiếp cận ở hai phương diện vừa với nghĩa cộng đồng “mọi con dân nước Việt”; vừa với nghĩa cá thể “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” “Dân” tức là không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, già trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện, ở trong nước hay ngoài nước Như vậy, dân, nhân dân vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu
Trang 10là mỗi con người Việt Nam cụ thể, và cả hai đều là chủ thể của đại đoàn kết toàn dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc tức là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối thống nhất trong cuộc đấu tranh chung Hồ Chí Minh nhiều lần nêu rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục
vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”6 Từ “ta” ở đây là chủ thể, vừa Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, vừa là mọi người dân Việt Nam nói chung
- Đại đoàn kết bao hàm nhiều cấp độ các quan hệ liên kết các lực lượng xã hội từ thấp đến cao bao gồm:
+Lực lượng đoàn kết (gồm các giai tầng xã hội: giới - ngành - lứa tuổi)
+Địa bàn đoàn kết (nông thôn - thành thị, miền ngược - miền xuôi)
+Phạm vi đoàn kết (gia đình - tập thể - quốc gia - quốc tế)
b.Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Theo Hồ Chí Minh, lực lượng làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc
là liên minh công - nông - lao động trí óc, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nền tảng liên minh công - nông - lao động trí óc càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc
- Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải đặc biệt chú trọng yếu tố “hạt nhân”
là sự đoàn kết và thống nhất trong Đảng vì đó là điều kiện cho sự đoàn kết ngoài
xã hội Sự đoàn kết của Đảng càng được củng cố thì sự đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường
4 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ, đoàn kết được mọi giai cấp, tầng lớp cần phải bảo đảm các điều kiện sau đây: Một là, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân