1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC kết QUẢ CHÍNH NGHIÊN cứu xói lở, bồi tụ VÙNG cửa SÔNG VEN BIỂN VIỆT NAM PRINCIPAL RESEARCH RESULTS ON COASTAL EROSION AND SEDIMENTATION IN VIETNAM

17 4 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào những nghiên cứu đã thực hiện, đặc biệt của nhóm dự án độc lập cấp nhà nước "Nghiên cứu, dự báo phòng chống xói lớ bờ biển" thực hiện vào các năm 1999-2001, bài viết này trình bà

Trang 1

TRUNG TAM KHOA HOC TU NHIEN VA CONG NGHE QUOC GIA

NATIONAL CENTRE FOR NATURAL SCIENCE AND TECHNOLOGY OF VIETNAM

Tap chi

KHOA HOC VA CONG NGHE

BIEN

JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY

Á (1.2)

200

HA NOI

Trang 2

TẠP CHÍ KHOA HOC VA CONG NGHE BIEN

JOURNAL OF MARINE SCIENCE AND TECHNOLOGY

Tap 2, s6 4, nam 2002

6

MUC LUC CONTENTS

`

Hoàng Trung Du, Nguyễn Tác An, Nguyễn Phi Phát - Phân bố thẳng

đứng của các đặc trưng hoá hải dương trong khối nước ngoài khơi Biển

Đông

The ‘vertical profile of chemical oceanographic features in water column

offshore Dong Sea

Pham Huy Tiến, Trần Đức Thạnh, Bùi Hồng Long, Nguyễn Van Cu -

Các kết quả chính nghiên cứu xói lở, bồi tụ vùng của sông ven biển Việt

Nam

Principal research results on coastal erosion and sedimentation in Vietnam

Thai Doan Hoa, Tran Nghi, Ta Hoa Phuong - Dac diém thach hoc va

qua trình thành tạo đá trong cấu trúc nhịp của đá san hô vùng quần đảo

trudng sa

Petrographical chracteristics and diagenesis in shithin s structure of TruongSa

coral reef archipelego

Hà Lê Thị Lộc - Một số đặc điểm dinh dưỡng của cá khoang cổ

Amphiprion clarkii (Bennett, 1830) vùng biển Nha Trang Khánh IIoà

Some nutritious characteristics of anemone fist Amphirpion clarki

(Bennett, 1830) in Nha Trang - Khanh Hoa ,

Phạm Văn Thục - Chế độ động đất khu vực Biển Đông Việt Nam

Seismic regime of the South China sea

Nguyễn Hữu Huân, Hồ Hải Sâm - Đánh giá độc tính môi trường, vịnh

Bình Cang- Nha Phụ bằng kỹ thuật kiểm định sinh học

Assessing environnmental toxixicity in Binh Cang - Nha Phu bay by the

bio -test technique

Trang

1

12

27

3-4

40

37

Trang 3

Tap chi Khoa hoc va Cong nghệ biển, T.2, số 4 (2002) Tr.12-26

CÁC KẾT QUÁ CHÍNH NGHIÊN CUU XOLLO, BOL TU

VUNG CUA SONG VEN BIEN VIET NAM

PITAM HUY THEN, TRAN DUC THANI?, BULIONG LONG", NGUYEN VĂN CU"!

Tám tắt Tai biển bỏi tụ, xói lở của xông ven bien dang là mới lo sâu sắc của các cấp chỉnh quyển nhân dân mhiều dia phương Mặc dù còn nhiều hạn chế, những két quả nghiên cứu dat due di tao dựng cơ sở khoa học giúp cho định hướng nghiên cứu tiếp theo và: bước đâu

đã có những đẻ xuất giải pháp phông chống

Xói lở phở biên ở cả ba miền, ở các kiểu địa hệ ven biển như bờ hở, cửa sóng châu thổ, 'cứa sóng hình phẩm, dâm phá và các đảo, với cường độ và tính bất thường ngày càng tăng

Bồi tụ bất thường sây tai biển nh sa bồi luỏng ben , béi lap cửa sông, cửa biển và đi động của côn cát ven biển cũng gia tăng đúng kể, Nguyên nhân sâu xa b 5ï liền quan đến tiến

hóa tụ nhiền, biển động khí hận-tluiy văn và tác động nhân sinh ở cả ven bờ và trên lưu Wc, Déng lie ndi sinh c6 vai trò phông nền và là nguyên nhân sâu Ad Động lực nIgoạt sinh

fu va trực tiếp, có liên quan các quá trình thuỷ thạch động lực

thường là nghyên nhân chủ vếu

gáy ra thiểu lun hoặc tập trung bồi tích Khá phổ biến các trường hợp tai biển sa bởi di kèm

và do xói lở Tương lai, diễn biển xói lở, bỏi tụ bờ biển cửa sông vẫn rất phức tạp

Xói lở và bởi tụ cứa sông bờ biển gây 1a những hận qud hết sức nặng nề nhựt thiệt hai trực tiếp vé sinh mang, tài sẵn và đất đai; gây tai biển di kèm và suy thodi méi trudng sinh thái: tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội kém bên vững như hiệu quả dâm tứ thấj, hạn chế khả ndng dau ue lon va dai han, di dan và tâm lý không ổn định trong đời song sain xuất Từ nhiều năm qua, phòng chống xói lở và sa bồi đã được quan tâm Tuy nhiền, đ@ điểu kiện kinh tế khó khăn các giải pháp phòng chống còn thụ động thiên về giải quyết tinh hudng va con Hiéu uhitng cdn ett khoa hoc tin cay Những kết quả nghiên đã đạt được còn bộc lộ nhiều

hạn chế: nhất là khả năng ứng dụng thực tiền Phòng chống tai biến bồi và xói bờ biển cửa

song là nhiệm vụ hết sức khó khăn và để đáp ứng được yêu câu của thực tiễn, nức độ đâu tư nghiên cứu cẩn được tăng cường hơn nữa

Phòng chơng bỏi-xói cẩu được tiến hành đồng bộ và toàn diện các giải pháp từ tẩm vĩ Mmó đến cụ thể, trực tiếp và gián tiếp, phí công trình và công trình, giải pháp cứng và giải

pháp mềm, phù lợp với từng doạn bờ cụ thể, Cẩn phái có giải pháp tổng thể nằm trong khuôn khó quản lý tổng hop đái ven biển, kết hợp với quản lý lưu vực và có những biện pháp ting xử cấp bách và chiến lược lân dài Cẩn tu tiên các giải pháp công trình kết hợp nhiều lợi Ích, chú trọng Kết hạp phàng chống xói lở với chỉnh trị sa bồi Áp dụng các giải pháp hiện

dại của thể giới, đông thời xây dụng các giải pháp phù hợp với diéu kiện Việt Nam Tăng cường cơ sở pháp lý, quy định bảo vệ bờ biển Xây dựng cơ sở dữ liệu thành lập mạng lưới quan trắc, giám sat tai biển bỏi-Aói lở định kỳ nhằm phát liện và cảnh báo tai biến để có những giải pháp ứng xứ kịp thời

I.MỞ ĐẦU

Bờ biển Việt Nam trải dài trên 3200 km với 114 cửa sông lớn nhỏ Dải bờ biển là nơi

tập trung dân cư, mật độ dân số cao nhất nước, chỉ riêng các huyện ven biển đã chiếm 24% dân số cả nước và có nhiều cơ sở kinh tế quan trọng Xói lở và bồi tụ là hai xu thế tự nhiên cơ bản của qúa trình trầm tích ở đải bờ biển Tuy nhiên, hiện nay ở không ít nơi, thiên tài bồi tụ, xói lở trở thành mối lo sâu sắc của các cấp chính quyền, nhân dân địa

phương và của nhiều công trình, cơ sở kinh tế Xói lở bờ biển có xu hướng tăng lên gần

12

Trang 4

đây trên qui mô toàn cầu Những năm qua, xói lở bờ biển ở cả ba miễn Bắc Bộ, Trung

Bộ và Nam Bộ, diễn biến hết sức phức tạp và gây thiệt hại nặng nề về sinh mạng, tài sản,

để lại những hậu quả lâu dài về kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái Về cơ bản, bồi tụ

mang lại những vùng đất bồi quý giá ở dải ven biển, có gía trị mở rộng đất sinh cư, phát

triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng Nhưng ở nhiều nơi, bồi tụ cũng trở thành tai biến gây thiệt hại nghiêm trong cho phát triển kinh tế, đặc biệt là giao thông-cảng Sa bồi cửa

sông, cửa biển còn góp phần gây ngập lụt, ngọt hoá gây thiệt hại về dân sinh, kinh tế và ô

Sự tập trung đân số và nhịp độ, qui mô phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển đang tăng mạnh, cần được đảm bao phat triển bên vững Vì vậy, bảo vệ bờ biển và phòng chống xói lở, bồi tụ trở thành một đòi hỏi cấp bách Nhiều năm qua, nghiên cứu phòng

chống xói lở, bồi tụ cửa sông và bờ biển đã đ.:ợc nhiều cơ quan như Viện Khoa học Kỹ thuật Thủy lợi, Viện Hải dương học Nha Trang, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng,

Viện Địa lý, Viện Cơ học v.v thực hiện thông qua các đẻ tài thuộc Chương trình Biển, các đề tài, dự án độc lập cấp nhà nước, cấp ngành hoặc các để tài do địa phương quản lý

Mặc dù điều kiện điều tra khảo sát hạn chế, và kinh phí đầu tư hạn hẹp, những kết quả

nghiên cứu đạt được dã cho những hiểu biết cơ bản và tạo dựng cơ sở khoa học quan trọng giúp cho dịnh hướng nghiên cứu tiếp theo và đẻ xuất các giải pháp phòng chống xói lở, bồi tụ cửa sông ven biển Việt Nam Dựa vào những nghiên cứu đã thực hiện, đặc biệt của nhóm dự án độc lập cấp nhà nước "Nghiên cứu, dự báo phòng chống xói lớ bờ biển" thực hiện vào các năm 1999-2001, bài viết này trình bày các kết quả chính nghiên cứu xói lở, bồi tụ vùng cửa sông ven biển Việt Nam

IL HIỆN TRẠNG XÓI LỞ VÀ ĐỔI TỤ

1 Hiện trạng xói lở

Tình hình xói lở dọc bờ biển

Xói lở bờ biển là một hiện tượng phổ biến ở ven bờ cả ba miễn, Tổng các đoạn bờ xói lở thống kê dược là 397 với tổng chiều dài 920,2Ikm Trong đó, xói lở có cường độ

yếu chiếm 196,82km (21,4%), trung bình 179,90km (19,5%), mạnh 260,67km (28,3%)

và rất mạnh 282,81km (30,7%) Chiều dài các đoạn xói lở có thể chỉ một vài trăm mét,

cho thể hàng chục kilomet Tốc độ xói lở trung bình phổ biến 5-10m/năm, nhưng có thể

đạt tới 50-100m/năm, thậm chí 200-250m/nãm trong các thời khoảng ngắn Có những

hu vue x6i 1G qui mô lớn kéo dài cỡ thế ký, gần thế kỷ Có những điểm xói lở xảy ra bất thường gần đây với tốc độ cực lớn Có những khu vực, xói lở xảy ra theo những thời khoảng xen kẽ với bồi tụ Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng cường độ và tính bất thường xói lở bờ biển tăng lên rõ ràng gần đây và thiệt hại do xói 16 gay ra rất lón

Xói lở bờ biến Bắc Bộ được xác định trên 51 đoạn với tổng chiều dài 113.930m,

chiếm 34,2% chiều đài đường bờ cơ bản, tốc độ trung bình 6.0 m/năm và hàng năm bị

mất 6§ hà đất Cường độ xói lở được phân thành 4 cấp, yếu (0 - 2,5 m/nam) chiếm 22,40%; trung bình (2,5 - 5 m/năm) 34,2%; mạnh (5 - 10 m/năm) 16,6% và rất mạnh (Œ>

10 m/năm) chiếm 26,8% tổng chiều dài xói lở Xói lở bờ trên qui mô lớn, diễn biế phúc tạp với nhiều đoạn bờ có cường độ xói lở mạnh, rất mạnh và tiếp tục tang theo thor pian

Từ Móng Cái đến Đồ Sơn, xói lở qui mô lớn, lâu dài, chủ yếu cường độ trung hình và yếu Tir DS Son đến Ba Lạt, xói lở trước đây rất mạnh, gần đây suy giảm; từ la Lạt đến Lach

13

Trang 5

“Trường, xói lở đặc biệt mạnh và ngày càng tăng ở Hải Hậu và Hậu Lộc Một số điểm xói

lở mới xuất hiện, qui mô nhỏ, nhưng cường độ mạnh và rất mạnh, mặc dù gần đây ít bão

Xói lở bờ biển Cát Hải (Hải Phòng) chiều dài 6,4 km, Hải Hậu (Nam Định) chiều dài

17.2 km và Hậu Lộc (Thanh Hóa) dài 5,0 km là những trọng điểm ở ven biển Bắc Bộ, có

qui mô lớn, cường độ mạnh và rất mạnh, diễn biến lâu đài và có xu hướng tiếp tục tăng

(TD Thanh va nnk, 2001)

Xói lở bờ biển Trung Bộ từ Thanh Hóa (Cita Lach Trường) đến Ninh Thuận (Sơn

Hải, Ninh Phước) được xác định trên 275 đoạn với tổng chiều dài 328,16 km, chiếm

21,1% chiều dài đường bờ cơ bản, tốc độ phổ biến dưới 5 m/năm, nhưng ngày càng gia

tăng Nhiều nơi, xói lở mới gần đây (1999 và 2000), nhưng tốc độ lớn 40-60m/năm, thậm

chí 150-250m/năm Cường độ xói lở đạt được chia thành 4 cấp: yếu (< 5 m/năm) chiếm

52,2%; trung bình (5 - 15 m/nam) chiếm 24,3%; mạnh (15 - 30 m/năm) chiếm 10,0% và

rất mạnh (> 30 m/năm) chiếm 13,5% tổng chiều dài xói lở Mỗi năm, xói lở làm bờ biển

mất đi 389,9 ha Từ cửa Lạch Trường đến mũi Chân May, xói lở qui mô lớn và rất lớn,

cường độ yếu và trung bình Khu vực Cửa Lạch Trường - mũi Ròn có qui mô xói lở lớn,

cường độ yếu và trung bình Khu vực mũi Ròn - mũi Chân Mây có qui mô xói lở lớn và

rất lớn, cường độ xói lở yếu, cục bộ có nơi rất mạnh và tăng trong thời gian gần đây Từ

mũi Chân Mây đến mũi Dinh, xói lở có qui mô lớn và trung bình, cường độ xói lở tập

trung ở 3 mức yếu, trung bình và rất mạnh Khu vực mũi Chân Mây - mũi Nam Trâm có

qui mô xói lở lớn, cường độ xói lở yếu và rất mạnh Khu vực mũi Nam Trâm - mũi Dinh

có qui mô xói lở lớn và trung bình, cường độ tập trung ở 3 mức yếu, rất mạnh và trung

bình Xói lở bờ Trung Bộ mạnh và rất mạnh diễn ra ở kiểu bờ lồi, thắng hướng sóng gió

và vật chất tạo bờ chủ yếu là cát Xói lở bờ biển giảm đi nhờ các biện pháp chống khác

nhau (P.H Tiến và nnÈ, 2001)

Xói lở bờ biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ từ Sơn Hải (Ninh Thuận) đến Hà Tiên

(Kiên Giang) có 71 doan, tong chiều dài 478.120m, (52% chiều dài đường bờ cơ bản), tốc

độ trên 2,5 m/năm và diện tích tới 15.738 ha Cường độ xói lở được phân thành 3 cấp:

trung bình (2,5 - 5 m/năm) chiếm 12,8%; mạnh (5 - 10 m/năm) chiếm 43,7% và rất mạnh

(> 10 m/năm) chiếm 43,5% tổng chiều dài xói lở Từ Sơn Hải đến Vũng Tàu xói lở diễn

biến lâu dài, qui mô không lớn, cường độ mạnh, đoạn Phước Thể, Liên Hương, cửa sông

Phan Rí, xói lở rất mạnh và có xu hướng gia tăng trong thời gian gần đây Từ Vũng Tàu

đến Cà Mau qui mô, độ đài và cường độ xói lở rất lớn, diễn biến lâu dài, phức tạp Trong

đó, Khu vực Vũng Tàu - Cửa Soài Rạp có độ dài xói lở không lớn, cường độ rất mạnh và

rất nguy hiểm do ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cảng - giao thông biển, du lịch; Khu

vực Cửa Soài Rạp - Cửa Tranh Đề có độ dài xói lở lớn, cường độ mạnh và nguy hiểm do

nhiều đoạn xói lở mạnh tập trung đông dân cư; Khu vực Cửa Tranh Đề - Mũi Cà Mau có

độ dài xói lở rất lớn, thời gian xói lở lâu dài, cường độ xói lở rất mạnh Từ Cà Mau đến

Hà Tiên, qui mô, độ dài xói lở không lớn, cường độ trung bình cao và không nguy hiểm

(B.H.Long va nnk, 2007)

Đặc điển xói lở trên các địa hệ ven bờ

Xói lở xuất hiện ở tất cả các kiểu hệ thống cửa sông ven biển Tại hai vùng cửa sông

châu thổ lớn, nổi tiếng về bồi tụ, xói lở cũng xẩy ra trên một phần năm đến một phần tư

chiều đài bờ mỗi châu thổ với cường độ lớn và rất lớn với nhiều đoạn xói lở tiêu biểu nhất

cả nước Bờ biển Gành Hào ngay sát phía Đông Bắc bán đảo Cà Mau bị xói lở trên chiều

ˆ đài bờ dài 60 km Tại bờ Bồ Đề, tốc độ xói lở 30 - 50 m/năm trên chiều dài 36 km và mỗi

14

Trang 6

năm mất đi 112 ha dat (7.0 Thịnh, 1992) Bờ bién Giao Thuy-Van Ly ở châu thổ sông

Hồng cũng bị xói lở với tốc độ 10 - 15 m/năm trên chiều dài 30 km trong thời gian 1930-

1990, nay quy mô giảm đi do phòng chống tích cực nhưng cường độ tiếp tục tăng

Tại các vùng cửa Sông hình phễu Đồng Nai, Bạch Đằng và vùng bờ thuỷ triểu Đông Dắc, xói lở cường độ nói chung không lớn nhưng quy mô lớn, đã xây ra từ rất lâu và xu thế xói còn lâu dai Tại đây, cũng xuất hiện các đoạn xói lở nổi tiếng như Cần Giờ, Cát Hải Bờ biển Cần Giờ bị xói lở 5 - 10 m/năm trên chiều dài bờ 8,5km trong nhiều năm qua Xói lở đảo Cát Hải trên chiều đài 6km có tốc độ trung bình tăng từ 3,5m/mãm lên 13m/năm trong khoảng thời gian 1930-2000

Ở ven bờ Miền Trung, tại các đoạn bờ cát ven cửa sông và cửa đầm phá, xói lở có

tính bất thường rất cao nên rất nguy hiểm Xói lở ở bờ phía bên này cửa sông và đầm phá cùng với bồi tu day lan ở bờ phía bên kia tạo nên sự di chuyển vị trí cửa trên khoảng dài hàng km tới hàng chục kmỉ trong thời gian từ vài năm đến vài chục và thậm chí đến một vài trăm năm Điển hình cho cách thức như vậy là các cửa Thuận An và Tư Hiền ở đầm phá Tam Giang-Cầu Hai và cửa đầm O Loan

Hiện tượng xói lở bờ cũng phổ biến ở các đảo, kể cả các đảo xa bờ như đảo Bạch

Long Vỹ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, hay đảo Trường Sa nằm giữa Diến Đông Ở các đảo này,

bồi tụ và xói lở tại một đoạn bờ luôn đổi theo mùa gió Đông Bắc và Tây Nam, nhưng đều

có xu thế chung dài lâu là xói lở ở đầu đảo hướng gió Dông Bắc và tạo nên sự biến dạng

bờ đảo rất lớn Do tác động của quá trình bồi-xói, đảo Trường Sa dài ra vào mùa gió

Đông Bắc với kích thước 700m x 300m và ngắn lại vào mùa gió Tây Nam với kích thước

650m x 320m (T.D Thanh, 1994) Tình trạng tương tự đã được biết trên quần đá› Hoàng

Sa (Krempf, A, 1927)

2 Hiện trạng bồi tụ

Bồi tụ ở các cửa sông châu thổ

Hàng năm, các dòng sông đổ vào đải ven bờ Việt Nam khoảng 880 tỷ mỶ nước và 200-250 triệu tấn bùn cát, tạo nên các vùng châu thổ sông l]lồng rộng 17 nghìn km? va

Mê Kông rộng 39 nghìn km” và các dải tích tụ chiếm phần lớn chiều dai bờ của cả nước

Ở cả hai châu thổ lớn, tốc độ bồi lấn ra biển trong khoảng 10 -100m năm, trung bình 30-

50m/năm, cực đại 120/năm ở châu thổ sông Hồng và 150m/năm ở châu thổ Mê Kông Trong thế kỷ qua, đồng bằng châu thổ sông Hồng bồi lấn ra biển mỗi năm trung bình 360

ha Quá trình bồi tụ xảy ra mạnh nhất ở khu vực Kim Sơn nằm ở rìa Nam châu thổ, tốc độ

bồi lấn trung bình 60-100m/năm, cực đại 120m/năm trong thế kỷ qua (ï hanh, T.D 1995)

Thời xưa, bây giờ không như thế Bồi tụ bờ biển bán đảo Cà Mau là một loại hình riêng không xếp vào "bồi tụ cửa sông châu thổ" Theo kết quả của để tài KHCN trong thời

gian 1965-1995 vùng cửa sông ven biển Việt Nam bồi tụ 1411ha/năm, trong đó, 316ha/năm ở ven bờ châu thổ sông Hồng va 794ha/nam 6 chan thé Mê Kông (L.P Trình

vd nnk, 2000) Õ các cửa sông ven biển Trung Bộ, quá trình bồi tụ có tính chất lấp đầy

bồn tích tụ sau các doi cát chắn cửa, tốc độ mở lấn lâu dài thường chỉ 2-5m/năm, hiếm

khi đạt 10m/năm Đối với một đất nước hơn 68% diện tích lãnh thổ là đổi núi thì đất bài raở rang đo bồi tụ ở ven biển hằng năm quả là một tài nguyên du 0a,

Sa bồi luồng bến

Tuy nhiền, các bồi tụ bất thường, ngoài mong muối, gần đây gia tăng ding 5 ké va gây

nhiều tiệt hại trực tiếp và gián tiếp, không chỉ về kinh tế mà cồn về môi trường sù.h tí

Trang 7

ảnh hưởng đến sự phát triển bền vũng Đối với ngành giao thông, sa bồi luồng bến đã trở

thành hiện tượng phổ biến (N.C /1ổi và nan, 1996) Cang Hải Phòng được xây dựng từ nam 1876 và đã từng là cảng biển lớn nhất Việt Nam suốt một thế kỷ Do cả tác động tự nhiên và nhân sinh, luồng vào cảng đã bị sa bồi nghiêm trọng Từ năm 1920 đến 1992, độ sâu luồng cảng giảm từ ốm xuống 4m, trong khi lượng nạo vét tăng từ 2 lên 4 triệu tấn

mỗi năm Đến nay đã có một số phương án nhằm khác phục sa bồi để cải tạo nâng cấp cảng nhưng tính khả thí còn rất hạn chế Cảng Cửa Lò được xây dựng từ năm 1981, thiết

kế cho tàu trên vạn tấn, nhưng trên thực tế, năng lực hoạt động của cảng này thấp do sa

bồi và chỉ những tàu 5-7 nghìn tấn mới có khả nãng cập cảng Cảng Sài Gòn cũng đang phải đối mặt với những biến động sa bồi phức tap ở luồng cửa Soài Rạp Sa bôi tại luồng

cửa Định An gây khó khăn lớn cho hoạt động của cảng Cần Thơ Sa bồi luồng cửa sông Ninh Cơ gần như làm tê liệt hoạt động của cảng Hải Thịnh mới xây dựng gần đây Đó là chưa kể nhiều cảng nhỏ, bến cá khác bị sa bồi trực tiếp tại bến hoặc cửa luồng

Bồi lấp cửa sông và của biển

Ở nhiều cửa sông và cửa đầm phá Miền Trung, sa bồi gây lấp kín cửa với thời khoảng kéo dài có khi đến trên chục năm Đó là các trường hợp đối với cửa Tư Hiền ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai ở Thừa Thiên - Huế, cửa sông Vệ, cửa Mỹ Á ở Quảng Ngãi, cửa sông Bàn Thạch và cửa đầm Ô Loan ở Phú Yên,.v.v Trong thời gian 1985-1995 Cửa Đại (Hội An) dich về phía Nam 50m/năm; Cửa Lở (sông Trường Giang) dịch về phía Đông

Nam trên 50m/năm; cửa Vệ, cửa Đà lằng, cửa Đà Nông dịch đáng kể về phía Bắc (L.P Trình và nnk, 2000) Điển hình nhất cho bồi lấp cửa biển Trung Bộ là ở đầm phá Tam Giang-Cầu Hai Gân nửa thế kỷ qua, Cửa Tư Hiền được biết bị bồi lấp trong các thời

khoảng 1953 - 1959, 1979 - 990 và 1994 -1999, Nhịp diệu lấp, mở cửa mau hơn nhiều

so với trước đây Do bồi lấp và chuyển chỗ, Cửa Thuận An đã từng tồi tại nhiều vị trí cũng như tên gọi khác nhau trong lịch sử Năm 1404, cửa mở lần đầu tại vị trí Hoà Duân,

sau đó bị dap lại rồi lại bị vỡ vào đời Cảnh Thống (1498 - 1504) Trong khoảng thời gian

200 năm kể từ năm 1504, cửa có vị trí ở Thái Dương Hạ Khoảng 200 năm tiếp theo cho

tới năm 1897, cửa có vị trí tại làng Hoà Duân Kể từ năm 1897, cửa có vị trí cơ bản như

hiện nay Cửa Hoà Duân được mở lại sau gần thế kỷ, trong trận lũ lịch sử, vào ngày 2 tháng I1 năm 1999 Tính từ vị trí đập chắn cũ (1931) đến nay trục cửa di chuyển lên phía

Bắc 15m/năm, còn bờ lạch bị bồi lấn dịch chuyển về phía Bắc có chỗ 40m/năm Do bồi lấn từ phía Nam lên phía Bắc, chuyển dịch cửa Thuận An tạo nên sự không ổn định của

doan bo dai 7km (7.P Thanh va nnk, 2001b) Khong chỉ bồi lấp cửa, hiện tượng, bồi cạn

cửa sông, đầm phá xảy ra lâu dài trong quá trình phát triển địa chất, nhưng có thể rút ngắn thời gian đáng kể do gia tang các nguồn bồi tích từ thượng nguồn và các cồn đụn cát ven rìa Hoạt động sa bồi còn dẫn đến sự ứ tắc và đổi hướng nhánh cửa sông của châu thổ sông Hồng Các nhánh lớn như cửa Đáy, Ba Lạt, Văn Úc đổi hướng về phía Bắc hoặc phía Nam với thời khoảng 30-40 năm Các nhánh nhỏ như Lạch Giang, Trà Lý đổi hướng chảy chính với thời khoảng 5-10 năm (T.Ð Thạnh và nnk, 20014)

Bồi lấp do di động của cồn cát

Một quá trình bồi tụ đặc biệt, có tính phi địa đới của quá trình bờ Việt Nam là hiện

tượng các cồn cát Miễn Trung di động về phía lục địa gây bồi lấp đường xá, nhà cửa và

ruộng vườn Các cồn cát này cao 10-30m, nhiều nơi cao 50-80m, phân bố trên dọc chiều

đài bờ khoảng 1000km từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận Thông qua quá trình “cát bay” và “ 16

Trang 8

cát chảy”, chúng lấn về phía lục địa với tốc độ 2-I5m/năm Các cồn cất ven rìa cửa sông

và đầm phá xâm lấn về phía trong gây nông cạn đầm phá và cửa sông nhanh chóng (T.Đ,

Thanh, 1995)

HI NGUYÊN NHÂN VA XU THE

Bờ biển là một hệ thống động lực, tồn tại ở ba trạng thái bồi tụ, ổn định và xói lở

phụ thuộc vào cân bằng giữa nguồn bồi tích dưa đến và mang đi dưới tác động của các yếu tố ngoại sinh thường xuyên biến đổi trên nên tác động chậm chạp, lâu dài của các yếu

tố nội sinh Vẻ cơ bản, xu hướng gia tăng tai biến sa bồi và xói lở gẩn đây trên thế giới là

do những biến động bất thường về khí hậu và tác động ngày càng tũng của hoạt dòng nhân tác

1 Nguyên nhân xói lở

Nguyên nhân sâu xứ xới lở bờ biển có ba nhóm: tiến hóa tự nhiền bao gồm cả vai trò của chuyển động kiến tạo hiện dại, biến động bất thường về khí hậu, thủy văn và tác động nhân sinh ở cả lưu vực và ven bờ, thậm chí ở quy mô toàn cầu như hiệu ứng nhà kính làm đâng cuo mực biển Ở mỗi nơi, bờ xói lở có thể có sự kết hợp của hai đến bà nhóm và kem theo các nguyên nhân cụ thể Tính chất tiến hóa tự nhiên của xói lở bờ có thể nhận thấy ở xu hướng lâu dài tại các cửa sông hình phu ngập chìm không dẻn bù, xu

hướng xói lở theo mùa gió ở nhiều dảo và các doan bờ cát Miền Trung, xu hướng xói lở theo các chủ kỳ triểu, pha triểu thấy rõ ở những vùng bờ nhật triểu có biên độ lớn

Động lực nội sinh đóng vai trò phông nên và có thể là nguyên nhân sân xa xói lờ bồ biển Sự thiếu hụt bồi tích là yếu tố cực kỳ nhạy cảm gây xói lở bờ biển Ở ven bù Trung

Bo, hoạt động hiện dại của các dứt gãy hướng á vĩ tuyến và á kinh tuyến, các trăng hạ

dạng chậu dối với xói lở bờ biển, Động lực ngoại sinh là nguyên nhân chủ yến và Irựe tiếp gáy xói lẻ bờ biển, thông qua các tác nhân sóng, thủy triểu và đồng chảy, đóng vai trò

đi chuyển gây thiếu hụt bồi tích và trực tiếp phá hủy bờ Tuy nhiên, ở mỗi điểm xói lở, có thể là mỗi yếu tố sóng, thủy triều, hoặc thậm chí dòng lũ cửa sông đóng vai trò chú đạo

Nhiễu động vẻ khí hậu thủy văn có vai trò quan trọng đối với gia tầng xói lớ gần dây,

đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ Đó là sự thay đổi về phân bố, gia tăng về số lượng, cường độ và tính thất thường của bão gây sóng lớn và nước dâng trong bão Dao động mực nước là tác nhân quan trọng gây xói lở bờ biển đo tạo ra cơ chế di chuyển ngàng bồi tích ra sâu và tái tạo trắc diện ngang bờ do quá trình trọng lực Đó là các dạng dâng cao mực biển do khí hậu trái đất ấm lên, các pha kỳ dao động triều, nước dâng trong bão, nước dâng ø1ó mùi

Xói lở bờ biển tăng lên gần dây còn do chịu tác động lớn của các hoại động nhân sinh

như đắp đập ngăn sông, đào kênh tưới tiêu và thoát lũ, quai dê lấn biển, phí rừng, ngập mặn, hủy hoại hệ sinh thất rạn san hồ, khai thác sa khoáng và vật liệu xây dựng làm thiếu

hụt, thay đổi cân bằng và phân bố bùn cát veii bờ Các công trình quan trọng dáng chú ý

là hệ thống dê Bắc Bộ, đập sông Đà, hệ thống kênh thoát lũ ra Biển Tây Ngoài ra, còn có nhiều đập ngân ở lưa vực các sông Trung Bộ gây tác động cục bộ đến xói lở cửa sông ven

biển Ở nhiều đảo, vật liệu tạo bãi chủ yếu là nhờ các mảnh vôi sinh vật cũng vấp từ rạn

san hd Ran bị suy thoái đo tác động nhân sinh (hat min, dao bai khái thác vát ñiệu xây

dựng, dùng thuốc độc bất thủy sản ) nén nguồn cung cấp bồi tích bị mặt đi và bờ dito bị xói lở mạnh Xói lở bờ biển cồn do con người xây dựn; các công trình ở những nơi bờ

17

Trang 9

động lực mạnh, chưa ổn định và còn biến động mạnh, điển hình là đê Bắc Bộ đắp trên

nền đất đang bồi nhưng còn thấp, có thể bị sạt vỡ khi bão lớn, triều cường

Nguyên nhân trực tiếp xói - sạt bờ biển hết sức phức tạp, tuỳ điều kiện cụ thể, về bản chất liên quan đến hai dạng thiếu hụt bồi tích Thứ nhất, do bồi tích thiếu hụt khi lượng

di chuyển đến nhỏ hơn lượng di chuyển đi và cơ chế di chuyển chủ yếu là dọc bờ, như ở Cát Hải (Hải Phòng), Hải Dương - cửa Hòa Duân (TT - Huế), Xuân Hải (Sông Câu, Phú Yên) và Cần Giờ (TP HCM) Thứ hai, do phân bố lại bồi tích để tạo nên cân bằng trắc

điện mới, thường là do di chuyển ngang phân tán bồi tích ra sâu, như ở Phước Thể, Phan

Rí (Bình Thuận) Có khi, cả vai trò di chuyển dọc bờ và di chuyển ngang xa bờ đều có vai trò rất quan trọng như ở Hải Hậu (Nam Định) và Sa Huỳnh (Quảng Ngãi)

Bồi tụ cửa sông ven biển thudng 1a qua trinh ty nhién do bồi tích được cung cấp từ các nguồn khác nhau được tập trung lắng đọng tại một khu vực cửa sông ven bờ Đáng

lưu ý là bồi tụ quy mô lớn ở các châu thổ nối tiếng như Mê Kông, sông Hồng đều xảy ra

trên nền ngập chìm được bồi tích đến bù

Các quá trình sa bồi gây tai biến gồm ba hình thái cơ bản: bồi lấp cửa, bồi lấp hướng lạch và bồi lấp góc Bồi lấp cửa là tai biến phổ biến nhất do tác động của dòng bồi tích từ

sông, hoặc dòng bồi tích dọc bờ kết hợp với tác động bồi tụ của sóng Bồi lấp luồng lạch

ngoài các đông trên còn có vai trò của dâng cao mực biển và quá trình cân bằng thể tích-

trắc diện, nhất là khi có hoạt động nạo vét Bồi tụ lấp góc xảy ra dưới tác động của dòng dọc bờ, thường do sóng, trong điều kiện có công trình tạo góc

Có những tai biến sa bồi về cơ bản liên quan đến tiến hoá tự nhiên của bờ biến và cửa sông Đó là các quá trình bồi lấp, bồi cạn các cửa sông, cửa đầm phá miền Trung và cả cửa các nhánh sông châu thổ lớn Biến động khí hậu-thuỷ văn gây suy gi#m dòng chảy sông tạo điều kiện bồi lấp các cửa sông nhỏ, cửa đầm phá miền Trung, nhất là vào các

năm EI-Nino và đổi hướng sóng bất thường gây tập trung bồi tích bồi lấp cửa

Nhiều tại biến sa bồi liên quan đến hoạt động của con người ở các mức trực tiếp, gián

tiếp khác nhau Sa bồi trầm trọng luồng cảng Hải Phòng là do một số nguyên nhân có liên quan đến hoạt động nhân sinh như lưu lượng bùn cát sông Cấm tăng gần gấp đôi sau 40 năm liên quan đến phá rừng và xói mòn đất thượng nguồn, việc đấp đập Đình Vũ và sự

phát triển của các khu khai hoang nông nghiệp, đầm nuôi nước lợ làm mất không gian sa lắng của sông Ngoài các nguyên nhân do nhiễu động khí hậu, thủy văn, quá trình bồi lấp

kín các cửa sông, cửa đầm phá Miền Trung tăng lên có quan hệ đến suy giảm diện tích vùng đầu nguồn tạo ra sự thay đổi phân bố, cân bằng và lưu lượng dòng chảy sông Ngoài thời gian ngắn dồn nước gây lũ kịch phát, thời gian dòng chảy sông cạn kiệt kéo dài tạo

cơ hội cho dòng bồi tích cát dọc bờ bồi lấp các cưả sông, cửa đầm phá Nhiều tai biến sa bồi ven bờ do chính các công trình bờ xây dựng làm thay đổi hình dạng, cấu trúc và cân

bằng động lực bờ, gây tác động trực tiếp đến công trình đó hoặc công trình bên cạnh Ví

dụ, kể từ khi xây dựng tuyến đê biển đường 14, ngoài việc tuyến đê này bị xói lở, xung

yếu, dòng bồi tích có xu hướng dồn xuống phía Nam gây sa bồi nghiêm trọng cảng cá

Ngọc Hải Tai biến sa bồi luồng cảng còn do: thiếu hiểu biết, xây cảng tại nơi sa bồi tự

nhiên rất mạnh mà không thể có hoặc chưa có khả năng chỉnh trị Đó là trường hợp các cảng Hải Thịnh, Cửa Lò, cửa Định An

Khá phổ biến các trường hợp tai biến sa bồi đi kèm xói lở, do xói lở giải phóng và dưa đến một lượng lớn bồi tích gây hoặc tăng cường sa bồi cho khu vực lân cận Đó là

18

Trang 10

cdc trudng hop xdi 16 dio Cat Hai va sa béi luéng Nam Triệu vào cảng Hải Phòng, xói lở

bờ Hải Hậu và sa bồi luồng vào cảng Hải Thịnh, xói lở bờ Thuận An và luồng vào cảng Tân Mỹ trong phá Tam Giang Ở đây, cần thiết phải tiến hành đồng bộ phòng chống sa

bồi và xói

3 Xu thế diễn biến bôi-xói

Nhân tố kiến tạo được coi là không thay đổi trong phạm vi quá ngấn của thời gian địa chất Nguồn bồi tích từ sông có thể giảm nhiều do các hoạt động nhân tác trong lưu vục, biến động về cả lưu lượng và phân bố chỉ lưu Mực nước biển dâng cao do trái đất ấm lên, theo dự báo hợp lý nhất gần đây, dâng cao trung bình 80 mm vào năm 2020, 200 mm

vào năm 2050 và 490 mm vào năm 2100 (so với năm 1990) Thay đổi bất thường khí hậu

thủy văn tăng lên theo hướng bất lợi Tác động nhân sinh đến quá trình bờ ngày càng lớn

Vì vậy, diễn biến xói lở bờ biển vẫn phúc tạp thể hiện ở sự gia tăng cường độ và tính bất thường Trong tương lai, những trọng điểm xói lở vẫn là Cát Hải và Hải Hậu (Bắc B),

Hậu Lộc, Thuận An-Hoà Duân, Sa Huỳnh, Xuan Hai, Phudc Thé-Ham Tiến (Trung Bộ)

và dải bờ biển từ cửa Soài Rạp đến cửa Tranh Đề, đặc biệt là bờ biển Gò Công (Nam Bộ)

Tốc độ xói lở có thể tăng 10-40% vào 20-50 năm tới

Cùng với gia tăng xói lở, quy mô bồi tụ, nhất là ở hai châu thổ lớn có thể bị giảm mà nguyên nhân quan trọng nhất là sử dụng nước trên lưu vực, đặc biệt xây ý dựng đập thuỷ điện và dùng nước cho nông nghiệp, làm giảm đáng kể lượng bồi tích đưa ra ven bờ Tuy nhiên, quá trình sa bồi cửa sông, cửa biển và luồng hạch tiếp tục tăng như là một hệ quả di kèm của quá trình xói lở bờ và sự dâng cao mực xâm thực cơ sở cùng với dâng cao mực

nước biển

IV HẬU QUẢ

Xói lở và bồi tụ cửa sông, bờ biển gây ra những hậu quả hết sức nặng nề: thiệt hại trực tiếp về sinh mạng, tài sản, cơ sở hạ tầng và đất đai; gây ra các tai biến ven bờ khác

và và suy thoái môi trường sinh thái như ngập lụt, ngọt hoá , nhiễm mặn, nhiễm bẩn và mất habitat; tạo ra sự phát triển kinh tế xã hội kém bền vững như hiệu quả đầu tư thấp, hạn chế khả năng đầu tư lớn và dài hạn, đi dân và tâm lý không ổn định trong đời sống,

sản xuất

Các tỉnh ven biển, đặc biệt là Bắc Bộ có mật độ dân số và tỷ lệ tăng dân số cao, phần

lớn có quỹ đất hẹp, kinh tế thủy sản, nông nghiệp và diêm nghiệp chiếm một vị trí quan trọng Trên nền chung chưa phát triển, có mặt những tâm diểm kinh tế trọng yếu của cả nước Các khu vực dân cư, kinh tế quan trọng ven biển Bắc Bộ nằm trên nền đất thấp có

đê biển bao bọc, nếu xói lở làm vỡ dê sẽ cực kỳ nguy hiểm, nhất là khí › ấy ra có bão lớn, triểu cường, nước dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn cho những vùng dân cư và kinh tế trù phú, rộng lớn trong đê Thiệt hại về người và tài sản trong những lần vỡ đê như vậy, ví dụ

vào các nãm 1955 và 1996, là cực kỳ to lớn Có đến hàng nghìn người bị thiệt mạng do vỡ

để trong cơn bão KAT vào tháng 9 năm 1955 Nhiều điểm dân cư, kinh: tế quan trọng ven biển Trung Bộ nằm trên vùng bờ cát, hết sức nhạy cảm và xói lở bờ biển bất thườn

khi có nhiều động lớn về bão, lũ Tại 7 tỉnh miền Trung có tới 147 đoạn bờ bị xé: [` với tổng chiều dài trên 200Km làm cho 6000 hộ dân phát dị dơi (NT, Tiệp và nnk, 2001) Ca những điểm dân cư hiện đang ở trạng thái hết sức nguy hiểm đo xói lở như làng IIái

Dương và Thuận An ở Thừa Thiên-Huế Xói lớ bờ Nam Bộ có quy mồ lớn, điển biến lâu

19

Ngày đăng: 14/10/2022, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w