Quan điểm về môi giới thương mại của Việt Nam về cơ bản giống quan điểm về môi giới thương mại của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, theo điều 150 Luật Thương mại, môi gi
Trang 1Đề bài: Có quan điểm cho rằng: “ Bên môi giới chỉ được hưởng thù lao môi giới khi các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau” Ý kiến của
em về nhận định trên.
BÀI LÀM:
Phương thức kinh doanh thương mại qua trung gian đang ngày càng phát triển trong nền kinh tế thị trường Sử dụng dịch vụ trung gian là một khâu quan trọng có ý nghĩa lớn đến sự phát triển kinh doanh của thương nhân cũng như nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh hiện nay Môi giới thương mại là một trong những dịch vụ trung gian trên và đang ngày càng phổ biến
Quan điểm về môi giới thương mại của Việt Nam về cơ bản giống quan điểm về môi giới thương mại của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục
địa, theo điều 150 Luật Thương mại, môi giới thương mại là hoạt động thương mại trong đó: một thương nhân làm trung gian giúp các bên được môi giới tiếp xúc nhau để đàm phán, giao kết hợp đồng, bên môi giới không thực hiện chức năng của người đại diện Môi giới thương mại
được xác định là một “hoạt động thương mại” Điều này có nghĩa là “thương nhân” hoạt động trong lĩnh vực môi giới phải đăng ký kinh doanh đàng hoàng.
Có như vậy thì mới “hoạt động thương mại” một cách hợp pháp và chuyên nghiệp được Như vậy, quan hệ môi giới thương mại phát sinh giữa bên môi giới và bên được môi giới, bên môi giới phải là thương nhân ( Luật hiện hành chưa có quy định cụ thể về điều kiện của thương nhân thực hiện hoạt động môi giới).
Quan hệ môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi
giới Hợp đồng môi giới thương mại có thể được hiểu là sự thỏa thuận của
các bên, trong đó một bên là thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và bên được môi giới có nghĩa vụ trả thù lao cho bên môi giới theo như thỏa thuận Đi đồng thời cùng với bản hợp đồng môi giới giữa bên môi giới và bên môi giới
Trang 2được quy định trong Luật Thương Mại 2005, trong các luật về những hoạt động môi giới đặc thù như: Môi giới bảo hiểm, môi giới hàng hải, môi giới chứng khoán, môi giới bất động sản.
Quan điểm nêu trên đề cập đến vấn đề quyền của bên môi giới Bên
cạnh những nghĩa vụ phải thực hiện, bên môi giới được hưởng một số quyền rất quan trọng và tương ứng với những quyền này là nghĩa vụ của bên được
môi giới Quyền quan trọng đầu tiên của bên môi giới là quyền hưởng thù lao
và tương ứng với nó là nghĩa vụ trả thù lao của bên được môi giới
Trước hết, thù lao môi giới được hiểu một cách khái quát là khoản tiền mà bên được môi giới phải trả cho bên môi giới khi bên môi giới đem đến cho bên được môi giới một cơ hội giao kết hợp đồng dự định.
Khoản 1 Điều 153 LTM 2005 quy định: “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, quyền hưởng thù lao môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau”
Quyền hưởng thù lao của người môi giới phát sinh kể từ khi có kí kết hợp
đồng giữa các bên được môi giới trừ khi các bên có sự thỏa thuận khác.
Điều đó có nghĩa là việc các bên được môi giới không thực hiện hợp đồng đã giao kết hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến quyền hưởng thù lao của bên môi giới, quy định như vậy là phù hợp với chức năng của bên môi giới, bởi bên môi giới không thể chịu trách nhiệm cho khả năng thực hiện hợp đồng hoặc khả năng tài chính của các bên Bên môi giới được quyền hưởng thù lao môi giới theo mức quy định trong hợp đồng môi giới Dưới góc độ thực tiễn và pháp
lý, việc xác định thời điểm được hưởng thù lao trong trường hợp các bên không
có thỏa thuận khác sẽ hạn chế việc bên được môi giới trốn tránh nghĩa vụ trả thù lao trong quan hệ môi giới Tuy nhiên, trong trường hợp đồng môi giới các
bên có thể thỏa thuận thù lao môi giới chỉ phát sinh sau khi hợp đồng giữa các bên được môi giới thực hiện dưới các điều kiện mà bên môi giới mong muốn Như vậy, nếu giữa các bên đồng ý với nhau về thời điểm, hình
thức hưởng tiền thù lao môi giới cho bên môi giới mà không phải là khi hợp
Trang 3đồng đã được ký kết thì quyền hưởng thù lao môi giới của bên môi giới sẽ phát sinh theo sự thỏa thuận đó.
Sự thỏa thuận được các nhà làm luật dự liệu nêu trên rất đa dạng trong thực tế Ví dụ A làm công việc môi giới cho B và C, và giữa B, C và A có sự thỏa thuận trong hợp đồng môi giới là thù lao môi giới mà A được hưởng sẽ là 100 triệu, nhưng sẽ được hưởng 50 triệu khi A làm xong công việc môi giới của mình, còn 50 triệu còn lại sẽ được hưởng sau khi B và C kí kết hợp đồng Hoặc
có những tình huống trong thực tế, bên B đòi hỏi chỉ khi nhận được hàng từ bên C thì A mới được nhận thù lao môi giới Trong trường hợp này, mặc dù B
và C đã kí kết hợp đồng nhưng quyền hưởng thù lao môi giới của A lại còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa A với B,C trước đó.
Luật Thương mại 2005 đã tạo điều kiện cho các bên có thể thỏa thuận những điều khoản về nội dung cụ thể của việc môi giới, trong đó có vấn đề trên ( quyền hưởng thù lao môi giới) để hạn chế những tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng môi giới, đồng thời cả bên môi giới và bên được môi giới sẽ chủ động lựa chọn những thời điểm hưởng và trả thù lao môi giới một cách phù hợp với tính chất tình huống thực tế, đảm bảo cho quyền lợi
cả hai bên.
Như vậy, quan điểm nêu trên là sai Căn cứ vào Điều 153 LTM 2005 thì
không phải trong tất cả các trường hợp có quan hệ môi giới phát sinh, bên môi giới chỉ nhận được thù lao khi các bên được môi giới đã ký kết hợp đồng với nhau Quan hệ môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi giới Bản chất của hợp đồng chính là sự thỏa thuận, và nếu có sự thỏa thuận liên quan đến vấn đề thời điểm hưởng thù lao môi giới thì sự thỏa thuận đó của hai bên sẽ được luật pháp tôn trọng và đảm bảo được thực hiện.
Trong trường hợp các bên được môi giới không ký kết được hợp đồng với nhau, bên môi giới không được hưởng thù lao môi giới nhưng nếu các bên không có thỏa thuận khác, bên môi giới vẫn có quyền yêu cầu bên được môi giới thanh toán cho mình các chi phí hợp lý liên quan đến việc môi giới.
Trang 4Hiện tại các quy định về thù lao và chi phí môi giới trong LTM 2005 chưa thể hiện rõ vấn đề các bên không có thỏa thuận thì khi nào bên môi giới được hưởng thù lao môi giới, khi nào được hưởng chi phí môi giới Theo quan điểm
cá nhân, pháp luật cần quy định rõ bên môi giới được hưởng thù lao môi giới (bao gồm cả những chi phái đã bỏ ), nếu bên được môi giới giao kết được hợp đồng với bên thức ba, thù lao môi giới phải được chia đều cho các bên của hợp đồng đó cùng chịu
Trên đây là ý kiến của em, mong thầy cô và các bạn góp ý Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Luật thương mại – Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an Nhân dân
2 Pháp luật về hoạt động trung gian thương mại,TS Nguyễn Thị Vân Anh, NXB Lao động Xã hội.
3 Bình luận các vấn đề mới của luật Thương mại trong điều kiện hội nhập,
TS Lê Hoàng Oanh, NXB Tư pháp.
4 Hỏi đáp về Luật Thương mại 2005, NXB Lao động.