Chúng ta chaquên sự can thiệp bất thành của 15 Ngân hàng Trung ơng trớc sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái Châu Âu những năm90; sự phá giá bất ngờ của đồng Bảng Anh tháng 9/1996 trớc
Trang 1Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lời nói đầu
Xu hớng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mộtcách sâu sắc, toàn diện trên phạm vi toàn thế giới Nó là quiluật khách quan mà Việt Nam cần sớm nắm bắt vận dụng
Việc tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới sẽ mở ra chochúng ta nhiều cơ hội đồng thời cũng đặt ra những tháchthức không nhỏ đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp Mộthoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhậpkinh tế là ngoại thơng Quyết định tới sự thành công hay thấtbại của chính sách kinh tế đối ngoại phải kể đến vai trò quantrọng của chế độ tỷ giá hối đoái mỗi quốc gia Chúng ta chaquên sự can thiệp bất thành của 15 Ngân hàng Trung ơng trớc
sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái Châu Âu những năm90; sự phá giá bất ngờ của đồng Bảng Anh tháng 9/1996 trớc sựtấn công của những kẻ đầu cơ mặc dù đã có sự can thiệp tíchcực của Ngân hàng Trung ơng Đức và Anh với khối lợng 15 tỷBảng Anh; hay hai sự kiện làm rung chuyển thế giới chỉ trongmột thời gian ngắn, đó là: Sự khủng hoảng của đồng Pê-sô
(Mê hi cô) tháng 12/1998 và sự mất giá kỉ lục trong năm 1999,rồi lại lên giá đột biến của đồng USD năm 1996
Là một nớc đang đi những bớc đi đầu tiên cả về phơngdiện lí luận và thực tiễn, hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỉgiá hối đoái đang trở thành vấn đề cấp bách đặt ra chochúng ta Xuất phát từ thực tế khách quan đó, bài viết sẽ đi
sâu nghiên cứu Tỷ giá hối đoái và vấn đề áp dụng chế độ
tỷ giá ở Việt Nam.
Cấu trúc bài viết gồm các phần:
Phần II: Kinh nghiệm một số nớc và thực trạng áp dụng chế
độ tỷ giá ở Việt Nam.
Phần III: Các giải pháp xúc tiến và đa chế độ tỷ giá ở Việt
Nam hoạt động có hiệu quả.
Do tỷ giá hối đoái và thị trờng ngoại hối là những vấn đềrất phức tạp không thể nghiên cứu triệt để nên chỉ xoayquanh phạm vi: những khái niệm cơ bản về tỷ giá hối đoái, thịtrờng ngoại hối và đi sâu phân tích việc áp dụng chế độ tỷgiá ở Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, những khiếmkhuyết hạn chế là khó tránh khỏi, vì vậy em rất mong đợc sự
Trang 2phê bình góp ý của các thầy cô để những bài viết sau đạtchất lợng cao hơn.
Trang 3phần I
Tổng quan về tỷ giá
1-/ Khái niệm tỷ giá, thị trờng ngoại hối:
Tỷ giá hối đoái là giá trị tiền tệ nớc này biểu hiện bằng
giá trị tiền tệ nớc kia dùng trong quan hệ kinh tế quốc tế Vídụ: 1 USD = 106 JPY
Tuy nhiên, không phải đồng tiền nào cũng đợc nhận đểthanh toán bên ngoài quê hơng của nó Để chuyển đổi ra nội
tệ của nớc nào đó, nó phải đợc ngân hàng nớc đó thu mua
Những đồng tiền có thể chuyển đổi thành nội tệ của một nớckhác đợc gọi là ngoại tệ, nó đợc xem là phơng tiện thanh toán
và đầu t quốc tế Trên thế giới hiện nay có một số ngoại tệmạnh đợc sử dụng rộng rãi, phổ biến nh: USD (Mỹ), JPY (Nhật),Bảng (Anh),
Thị trờng ngoại hối là nơi diễn ra hoạt động mua bán
ngoại tệ và vốn bằng ngoại tệ Đặc điểm của thị trờng ngoạihối ở mỗi quốc gia có thể khác nhau ở Mỹ thị trờng ngoại hối
đợc tổ chức thành thị trờng qua tay, tại đó hàng trăm nhà kinhdoanh (đa số là ngân hàng) sẵn sàng mua và bán các khoảntiền gửi ghi bằng ngoại tệ Tính cạnh tranh trên thị trờng này làrất lớn Mua bán trên thị trờng ngoại hối là những giao dịch trịgiá trên một triệu USD
2-/ Vai trò của tỷ giá:
Tỷ giá giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế Sựvận động của nó có tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới mục tiêu,chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia:
Thứ nhất, nó là phơng tiện để thực hiện trao đổi thơng
mại quốc tế Một quốc gia muốn mua hàng hoá ở nớc khác phải
đổi đồng tiền nớc mình ra tiền nớc đó để thực hiện các giaodịch Tỉ giá hối đoái sẽ qui định tỉ lệ qui đổi giữa hai loại
đồng tiền đó
Trang 4Thứ hai, nó tác động trực tiếp tới hoạt động xuất nhập
khẩu Khi đồng tiền của một nớc tăng giá (tăng trị giá so với các
đồng tiền khác) thì hàng hoá của nớc đó ở nớc ngoài trở thành
đắt hơn và hàng hoá nớc ngoài tại nớc đó trở thành rẻ hơn
Ng-ợc lại, khi đồng tiền của một nớc sụt giá, hàng hoá của nớc đó tạinớc ngoài trở thành rẻ hơn trong khi hàng hoá nớc ngoài tại nớc
đó trở thành đắt hơn (các yếu tố khác không đổi)
Tỷ giá tác động tới hoạt động xuất nhập khẩu vì vậy nó tác
động tới cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặcthặng d cán cân
Thứ ba, tỷ giá là công cụ điều tiết vĩ mô Tác động vào tỷ
giá sẽ làm ảnh hởng tới xuất nhập khẩu từ đó ảnh hởng tới tổngcầu, sản phẩm quốc dân, thất nghiệp, Việc điều hành tỷ giá
không tốt có thể dẫn tới lạm phát, khủng hoảng Tỷ giá còn gópphần vào việc cải thiện cung cầu về ngoại tệ, giải quyết vấn
đề nợ nớc ngoài,
3-/ Những nhân tố tác động tới tỷ giá:
Về dài hạn, có 4 nhân tố chính tác động tới tỷ giá: mức giá
cả tơng đối; thuế quan và cô-ta; u đãi đối với hàng nội hơnhàng ngoại; năng suất lao động
Mức giá cả tơng đối Theo thuyết ngang giá sức mua
(PPP), khi giá cả hàng nội tăng (giá hàng ngoại giữ nguyên) thì
cầu về hàng nội có xu hớng giảm xuống và đồng nội tệ có xuhớng giảm giá để hàng nội vẫn có thể bán đợc tốt Mặt khác,nếu giá hàng ngoại tăng lên, sao cho giá cả tơng đối của hàngnội giảm xuống thì cung về hàng nội tăng lên và đồng nội tệ
có xu hớng tăng giá bởi vì hàng nội vẫn bán đợc tốt ngay cả với
giá trị cao hơn của đồng nội tệ Về lâu dài, một sự tăng lên
mức giá của một nớc (tơng đối so với mức giá nớc ngoài) làm cho
đồng tiền nớc đó giảm giá; ngợc lại, một sự giảm giá xuống của mức giá tơng đối của một nớc làm cho đồng tiền nớc đó tăng giá.
Trang 5Thuế quan và cô-ta Thuế quan và cô-ta là những hàng
rào ngăn cản tự do buôn bán giữa các quốc gia Việc đánh thuếcao vào hàng nhập, miễn thuế cho hàng xuất sẽ khuyến khíchxuất khẩu hạn chế nhập khẩu Việc hạn chế cấp cô-ta (nhữnghạn chế về số lợng hàng ngoại nhập) sẽ kiềm chế hàng nhậpkhẩu Giả sử một quốc gia áp đặt một loại thuế cao hoặc mộtcô-ta đối với một mặt hàng của nớc ngoài Những hàng rào này
sẽ làm tăng cầu về hàng nội và đồng nội tệ có xu hớng tăng giá
bởi vì hàng nội đó vẫn có thể bán tốt ngay cả với giá trị cao
hơn của đồng nội tệ Thuế quan và cô-ta về lâu dài làm cho
đồng tiền của một nớc tăng giá.
Ưa thích hàng nội so với hàng ngoại Nếu sự ham thích
của ngời nớc ngoài về mặt hàng trong nớc tăng lên thì cầu vềhàng nội sẽ tăng lên làm đồng nội tệ tăng giá, bởi vì hàng nội
địa vẫn bán đợc nhiều ngay cả với giá cao hơn của đồng nội
tệ Ngợc lại, nếu ngời dân một nớc lại a thích hàng ngoại hơnhàng nội thì cầu về hàng ngoại tăng lên làm giảm giá đồng nội
tệ Cầu đối với hàng xuất của một nớc tăng lên về lâu dài làm
cho đồng tiền nớc đó tăng giá trong khi cầu về hàng nhập tăng lên làm cho đồng tiền nớc đó giảm giá.
Năng suất lao động Nếu năng suất lao động của Việt
Nam cao hơn năng suất lao động của Trung Quốc thì nhữngnhà kinh doanh Việt Nam có thể hạ giá hàng nội tơng đối so vớihàng Trung Quốc mà vẫn thu đợc lãi Kết quả cầu về hàng ViệtNam tăng lên và đồng tiền của Việt Nam có xu hớng tăng giá
bởi vì hàng nội sẽ tiếp tục bán đợc nhiều với một giá trị caohơn của VND Trong trờng hợp ngợc lại, nếu năng suất lao độngcủa Việt Nam kém hơn Trung Quốc thì hàng hoá Việt Nam trở
nên tơng đối đắt hơn và VND có xu hớng giảm giá Về lâu
dài, năng suất lao động của một nớc cao hơn tơng đối so với
n-ớc khác sẽ làm cho đồng tiền nn-ớc đó tăng giá.
Nắm bắt đợc các nhân tố tác động tới tỷ giá Chính phủ cóthể chủ động can thiệp điều hành tỷ giá khi cần thiết
4-/ Sự can thiệp điều hành tỷ giá:
Trang 6Thông thờng, Ngân hàng Trung ơng là ngời thay mặtChính phủ can thiệp vào thị trờng ngoại hối Nó đóng vai tròquan trọng, to lớn trong việc điều hành tỉ giá song không phải
là vô hạn Trên thị trờng ngoại hối nó đóng vai trò kép: Ngânhàng mua bán ngoại tệ và sử dụng các công cụ can thiệp khicần thiết
a-/ Các loại hình can thiệp của NHTƯ:
Can thiệp trách nhiệm: Khi tỷ giá của một đồng tiền trong
hệ thống tỷ giá cố định đạt tới cận điểm hoặc đỉnh điểmqui định can thiệp thì phải can thiệp Theo khuôn khổ hệthống Bretton-woods, các nớc thành viên có trách nhiệm duy trì
sự dao động của đồng tiền nớc mình trong miền dao động tỷgiá so với USD đã qui định trwcs Khi cán cân thanh toán củamột quốc gia bị mất cân đối hết sức nghiêm trọng (mặc dù đã
dùng mọi biện pháp mà không cải thiện đợc), thì mới đợc phéptăng hoặc giảm tỷ giá hối đoái của nội tệ
Can thiệp tự do (ngợc lại với can thiệp trách nhiệm):
Có thể xảy ra không chỉ trong hệ thống tỷ giá cố định màngay cả trong hệ thống tỷ giá thả nổi
Thông thờng, sự can thiệp của NHTƯ phải đợc tiến hành trớckhi sự dao động của tỷ giá hối đoái đạt tới những điểm cầncan thiệp, nhằm giảm bớt sự căng thẳng của tình hình
Sự can thiệp của NHTƯ vào thị trờng ngoại hối, ngoài các
hiệu ứng phụ, có 2 hiệu ứng chính sau đây: thứ nhất, tác
động trực tiếp vào khối lợng ngoại tệ; thứ hai, trực tiếp gây
biến động mức lãi suất trong nớc
b-/ Hệ thống công cụ can thiệp:
Phơng án can thiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song nóphụ thuộc phần lớn vào chế độ tỷ giá hiện hành Mỗi chế độngoại hối đều có phơng án điều chỉnh can thiệp thích hợp
Trên thực tế, đã và đang tồn tại nhiều phơng pháp khác nhau:
phơng pháp lãi suất chiết khấu, các nghiệp vụ thị trờng hối
Trang 7đoái, quĩ bình ổn hối đoái, giảm giá hoặc tăng giá đồng nộitệ,
Phơng pháp lãi suất chiết khấu: Đây là phơng pháp thờng
đ-ợc sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trờng Khi tỷgiá hối đoái đạt đến mức “báo động” cần phải can thiệp thì
NHTƯ nâng cao lãi suất chiết khấu Do lãi suất chiết khấu tăng, lãisuất cho vay trên thị trờng cũng tăng lên Kết quả là vốn vayngắn hạn trên thị trờng thế giới sẽ dồn vào để thu lãi cao hơn
Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ bớt đi, làm cho
tỷ giá không có cơ hội tăng nữa
Tuy nhiên, chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạnchế nhất định, vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan
hệ tác động một cách qua lại gián tiếp, chứ không phải quan hệtrực tiếp nhân quả Các yếu tố để hình thành lãi suất và tỷ giá
là không giống nhau, do đó những biến động của lãi suấtkhông nhất thiết kéo theo biến động của tỷ giá Lãi suất cao cóthể thu hút đợc vốn ngắn hạn từ nớc ngoài, nhng nếu tìnhhình kinh tế - chính trị - xã hội không ổn định thì khó có thểthực hiện đợc vì vấn đề an toàn vốn phải đặt lên trên hết
Khủng hoảng 1971-1973 ở Mỹ là một ví dụ Mặc dù lãi suất trênthị trờng New-York cao gấp rỡi thị trờng London, gấp ba thị tr-ờng Frankfurk nhng vốn ngắn hạn không đợc chuyển vào Mỹ màlại đợc đa đến Tây Đức và Nhật Bản
Các nghiệp vụ thị trờng hối đoái Thông qua các nghiệp vụ
mua-bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trongnhững biện pháp rất quan trọng của Nhà nớc để giữ vững sự
ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia Đây là biện pháptrực tiếp tác động vào tỷ giá hối đoái
Một sự can thiệp hữu hiệu trong đó đồng tiền trong nớc
đợc bán để mua tài sản nớc ngoài đa đến: (1) Thu thêm dựtrữ quốc tế; (2) Một sự tăng trong cung tiền tệ; (3) Một sự sụtgiá của đồng nội tệ Ngợc lại, khi đồng tiền trong nớc đợc muabằng cách bán tài sản nớc ngoài đa đến: (1) Dự trữ quốc tếgiảm; (2) Cung tiền tệ giảm; (3) Đồng tiền trong nớc tăng giá
Trang 8Tuỳ điều kiện mỗi quốc gia mà việc tổ chức thực hiệnnghiệp vụ này có sự khác nhau về phạm vi, qui mô tác động.
Với những nớc có nền kinh tế phát triển cao, các nghiệp vụ thịtrờng hối đoái đợc thực hiện trên qui mô rộng lớn, đôi khi mở ratrên phạm vi cả một khu vực, thậm chí thế giới
Việc lựa chọn các thời điểm cần mua, cần bán ngoại tệ trênthị trờng với tỉ giá nào để đạt đợc mục tiêu điều chỉnh lànhững hoạt động có ý nghĩa quyết định Nếu chủ quan,thiếu cân nhắc đầy đủ kỹ càng việc lựa chọn này thì hậuquả nhiều khi khó mà lờng hết đợc
Điều chỉnh tỷ giá theo phơng pháp này, Chính phủ thờnggặp phải phản ứng trái ngợc nhau của các doanh nghiệp cũng
nh các tầng lớp dân c trong xã hội bắt nguồn tự lợi ích kinh tế
Những mâu thuẫn này thờng xảy ra giữa những nhà xuấtkhẩu và nhập khẩu giữa những ngời đang nắm giữ trong tay
số lợng lớn ngoại tệ và những ngời trong túi chỉ có nội tệ
Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, một điều kiệnkhông thể thiếu là Chính phủ phải có một lợng dự trữ ngoại tệ
đủ sức để can thiệp vào thị trờng khi cần thiết
Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái: Trong điều kiện tình hình
giá cả thị trờng luôn không ổn định, thậm chí hay xảy ra cácbiến động lớn, các nớc thờng sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối
đoái nh là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối
Trang 9bình ổn hối đoái đòi hỏi các quốc gia phải có một thực lựcnhất định về kinh tế.
Vấn đề phá giá đồng tiền: Phá giá đồng tiền là việc nâng
cao hoặc giảm thấp sức mua của đồng tiền so với các ngoại tệ
Kết quả của phá giá sẽ ảnh hởng trực tiếp đến sự tăng hoặcgiảm của tỷ giá hối đoái Đây là điểm giống nhau giữa phá giá
đồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nhng không phảikhông có sự khác nhau
Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thờng xuyên liên tụccủa Nhà nớc nhằm duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, ổn
định sức mua của đồng tiền, kiềm chế đẩy lùi lạm phát Tỷgiá hối đoái đợc điều chỉnh theo nguyên tắc duy trì biên độdao động cho phép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với
tỷ giá hối đoái đợc sử dụng làm chuẩn Khác hẳn với phá giá
đồng tiền, một biện pháp mạnh, cực đoan, chỉ áp dụng trongnhững trờng hợp hết sức cần thiết
Phá giá không phải là giải pháp đúng cho mọi trờng hợp Nóphải đợc vận dụng linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụthể thích hợp Nếu không hiệu ứng tiêu cực của hành động phá
giá sẽ đẩy tình hình vào thế khủng hoảng trầm trọng hơn
Bên cạnh giảm giá sức mua đồng nội tệ là việc nâng giá
sức mua đồng nội tệ Nó thờng đợc áp dụng trong các trờnghợp:
- Giá hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu đợc xác định thấp so vớigiá trên thị trờng quốc tế
- Hạn chế xuất khẩu do sức ép của các nớc bạn hàng nhằmtạo thế cân bằng trong thơng mại quốc tế
Trang 10kiện, chế độ tỷ giá cụ thể Trong lịch sử đã xuất hiện các chế
độ bản vị vàng, bản vị đô la, chế độ tỷ giá thả nổi, chế độ
tỷ giá linh hoạt, Các chế độ này sẽ đợc nghiên cứu ở phần tiếptheo
5-/ Các chế độ tỷ giá trong lịch sử:
Chế độ bản vị vàng: Khi áp dụng chế độ tỷ giá cố định
lấy vàng làm bản vị (còn gọi là chế độ bản vị vàng) thì việclựa chọn phơng án xử lý tỷ giá ít phải đặt ra vì chế độ bản
vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền ít bị mất giá, tỷgiá xác định qua nội dung vàng của các đồng tiền ít khi bịbiến động Trong chế độ bản vị vàng thì biên độ dao độngcủa tỷ giá là ngang giá vàng cộng (hoặc trừ) chi phí vậnchuyển vàng (vận tải, bảo hiểm, đóng gói và thủ tục phí, )giữa các nớc hữu quan Biên độ dao động này gọi là “điểmvàng” Khi tỷ giá vợt qua điểm vàng thì nớc mắc nợ sẽ khôngdùng đồng tiền quốc gia của mình để mua ngoại tệ dùng vàoviệc trả nợ mà họ sẽ chuyển vàng ra nớc ngoài để trả nợ Với
đặc trng này, chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định,sức mua đồng tiền ít bị biến động Để biết chế độ bản vịvàng hoạt động nh thế nào ta hãy xem xét ví dụ sau: kho bạc
Mỹ chấp nhận đổi 1USD lấy 1/20 lạng vàng, ở Anh 1 Bảng đổi
đợc 1/4 lạng vàng Do đó, tỷ giá hối đoái giữa đồng Bảng Anh
và đồng USD Mỹ là 1 Bảng = 5 USD Bây giờ đồng Bảng Anhbắt đầu tăng giá cao hơn 5 USD Nếu một ngời nhập khẩu Mỹmua thực phẩm ở Anh trị giá 100 Bảng thì họ phải trả nhiềuhơn 500 USD so với trớc Song ngời nhập khẩu có cách lựa chọnkhác, đó là mua vàng bằng 500 USD ở Mỹ rồi trả số vàng đósang Anh để thanh toán tiền hàng Việc chở vàng sang Anh rẻhơn khi giá đồng Bảng Anh vẫn cao hơn giá 5 USD (cộng thêm
số tiền chi phí vận chuyển vàng từ Mỹ sang Anh)
Việc chuyển vàng từ Mỹ sang Anh làm cho cơ số tiền tệcủa Anh tăng lên và cơ sở tiền tệ của Mỹ giảm xuống Kết quả
tăng lên trong cung ứng tiền tệ làm tăng mức giá cả của Anhtrong khi việc cung ứng tiền tệ của Mỹ giảm xuống làm mức
Trang 11giá cả của Mỹ giảm xuống Kết quả mức giá tại Anh tăng lên sovới mức giá tại Mỹ làm cho đồng Bảng Anh giảm giá Quá trìnhnày tiếp tục cho đến khi giá trị của đồng Bảng Anh giảmxuống trở lại bằng 5 USD.
Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế t bản chủ nghĩa, chế
độ này tỏ ra có nhiều u điểm Nó có khả năng điều tiết khốilợng tiền tệ trong lu thông một cách tự phát, không cần đến sựcan thiệp của Nhà nớc theo cơ chế: Sự tăng giảm khối lợng tiền
tệ trong lu thông luôn tỷ lệ nghịch với sự tăng giảm dự trữ
vàng kim loại trong nền kinh tế
Chế độ tỷ giá cố định Bretton woods (1944) Theo chế độ
này, tỷ giá chính thức giữa đồng tiền của các nớc thành viên
đợc hình thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng của USD Mỹ(1 USD = 0,888671 gam vàng) và chỉ đợc phép dao độngtrong biên độ 1% của tỷ giá chính thức đã đợc đăng ký tại quĩtiền tệ quốc tế (IMF) Nếu vợt quá biên độ này thì Ngân hàngTrung ơng phải can thiệp bằng cách mua vào hoặc bán ra một
số lợng USD nhất định Theo chế độ này, vàng vẫn đóng vaitrò trung tâm để so sánh sức mua giữa các đồng tiền với nhauqua cái cầu nối là USD (lúc bấy giờ 1 ounce = 35 USD)
Từ cuối những năm 50 trở đi, vai trò của Mỹ ngày cànggiảm sút trên thị trờng thế giới, cán cân thanh toán quốc tế th-ờng xuyên bị thâm hụt, dự trữ suy giảm và nợ nớc ngoài tăng
đã làm cho đồng USD ngày càng mất giá nghiêm trọng
Sự mất giá liên tục của đồng USD làm cho nạn đầu cơ trêncác thị trờng hối đoái quốc tế tăng lên Hàng tỷ USD đợc tung
ra trên thị trờng để mua cái đồng tiền đợc giá Các Ngânhàng Trung ơng của các thành viên IMF cũng không đủ sức canthiệp để giữ giá đồng USD theo nguyên tắc tỷ giá cố địnhBretton-woods Trong bối cảnh đó, Mỹ buộc phải phá giá đồngUSD Đồng USD - đồng tiền chủ chốt, chỗ dựa cho các đồngtiền khác, trở nên bất ổn định kéo theo sự sụp đổ của chế
độ tỷ giá Bretton-woods
Trang 12Chế độ tỷ giá thả nổi (Floating rate): Chế độ tỷ giá thả
nổi ra đời sau khi chế độ tỷ giá cố định Bretton - woods sụp
đổ Với chế độ tỷ giá thả nổi, tỷ giá đợc hình thành trên cơ
sở diễn biến của cung và cầu ngoại hối trong nền kinh tế màkhông bị ràng buộc nh trớc đây Tỷ giá thả nổi có vai trò rấtquan trọng trong điều tiết xuất - nhập khẩu và góp phần làm
ổn định trở lại nền kinh tế đang có nguy cơ suy thoái
Thả nổi tỷ giá là xu hớng tất yếu của kinh tế thị trờng,song việc áp dụng nó nh thế nào lại là vấn đề phải cân nhắc
kỹ để lựa chọn Do đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội củacác nớc trên thế giới còn có những sự khác nhau nhất định nêntuỳ vào hoàn cảnh cụ thể mà các nớc tự lựa chọn cho mìnhmột chế độ phù hợp Đến nay chế độ tỷ giá thả nổi đợc chialàm 2 loại:
- Chế độ tỷ giá thả nổi tự do
- Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý
Chế độ tỷ giá thả nổi tự do là chế độ mà tỷ giá hối đoáikhông có sự can thiệp nào của Chính phủ hoàn toàn do quan
hệ cung cầu trên thị trờng quyết định, tuy nhiên trên thực tếthì hầu nh không có chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn Chế độ
tỷ giá này đợc áp dụng ở những nớc có nền kinh tế phát triểncao, thị trờng tài chính phát triển và hoàn chỉnh
Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là chế độ mà trong đócung - cầu ngoại hối là cơ bản, nhng không phải hoàn toàn,trong những trờng hợp cần thiết Chính phủ sẽ có những biệnpháp can thiệp nhằm giữ vững sự ổn định sức mua đồngtiền trong nớc
Lựa chọn chế độ tỷ giá nào luôn là bài toán hóc búa đối vớimọi quốc gia Thực tế đã chứng minh đó là cả một nghệ thuật
Trong lịch sử, nhiều quốc gia đã thành công trong việc lựachọn chế độ tỷ giá thích hợp Bên cạnh đó, không ít quốc gia
đã phải trả giá đắt cho việc sai lầm khi lựa chọn chế độ tỷgiá Qua đây, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ íchvận dụng vào thực tế ở Việt Nam Kinh nghiệm lựa chọn chế
Trang 13độ tỷ giá một số nớc và thực trạng lựa chọn chế độ tỷ giá ở ViệtNam sẽ đợc phân tích sâu hơn ở Phần II.
Trang 14phần II
kinh nghiệm một số nớc và thực trạng áp dụng
chế độ tỷ giá ở việt nam
Chế độ tỷ giá cố định, thả nổi tự do hay thả nổi có quản
lý đều có mặt tích cực và mặt hạn chế nhất định Việc lựachọn chế độ tỷ giá nào phải căn cứ vào điều kiện cụ thể củatừng quốc gia Nó phụ thuộc vào mục tiêu, chính sách pháttriển kinh tế xã hội trong từng thời kì Mỗi chế độ tỷ giá lại cómột cơ chế hoạt động riêng Việc vận dụng sáng tạo, hợp lý chế
độ tỷ giá vào nền kinh tế không phải đơn giản, dễ dàng Thực
tế, việc lựa chọn chế độ tỷ giá không hợp lý sẽ dẫn đến nhữnghậu quả khôn lờng Kinh nghiệm của một số nớc trên thế giới đã
cho thấy điều đó
1-/ Đức:
Nớc Đức lựa chọn cho mình chế độ tỷ giá thả nổi có sựquản lý của Nhà nớc Chính phủ Đức đã can thiệp điều hành tỷgiá để chống lại khủng hoảng kinh tế (sản xuất giảm tuyệt
đối, lạm phát cao, thất nghiệp hàng loạt) đầu những năm 80
Chính phủ Đức ma toan tìm lối thoát thông qua giải pháp
mở rộng xuất khẩu bằng lợi thế phá giá, thế nhng năm 1980 khi
DM mất giá 12% lại là năm Đức có mức xuất siêu thấp nhất (8,9
tỷ DM) Lúc đó ở Đức có hai cách nhìn nhận vấn đề phá giá
Một là, sẽ cải thiện Hai là, làm giá nhập khẩu tăng, khuyếnkhích lạm phát lên cao
Đến lợt mình lạm phát tất yếu tác động tiêu cực vào xuấtkhẩu, sản xuất Vậy là hiệu ứng phá giá tan mất, tình hìnhthêm phức tạp Còn các chủ xuất khẩu Đức thừa nhận phá giá DMhoàn toàn không thể khắc phục khó khăn
Trang 15Kề từ 1/1980 cha đầy hai năm, DM đã 5 lần mất giá so vớiUSD với mức đáng kể (14 đến 15%), song tỷ giá lại nhanhchóng quay trở lại mức xuất phát điểm trớc khi phá giá.
Chiến lợc khôi phục kinh tế của Đức lúc bấy giờ thất bại,ngoài các nhân tố nội địa, còn chịu tác động không thể cỡngnổi từ chính sách đồng tiền nặng của Chính quyền Rigân(vốn từ Đức, Anh “tháo chạy” sang Mỹ, Canada, )
Vấn đề kinh tế của Đức chỉ đợc giải quyết khi Chính phủmới của ông Hellmut Kol áp dụng phơng sách khác: giảm canthiệp Nhà nớc; sử dụng các cơ chế, chính sách tài chính; giảmmạnh thuế; khuyến khích sản xuất nội địa; thực thi chínhsách thắt chặt
2-/ Mêhicô:
Khủng hoảng ở Mêhicô là bài học có giá cho việc lựa chọn,
điều chỉnh tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối Sau khủnghoảng nợ 1982, với sự hỗ trợ của IMF, Mêhicô đã cải cách và điềuchỉnh kinh tế dựa trên các định hớng chính sách tài chínhthắt chặt, sử dụng tỷ giá hối đoái nh một chỗ dựa danh nghĩa,cải cách cơ cấu (t nhân hoá, tự do hoá ngoại hối và ngoại th-
ơng, cải cách lại các khoản nợ, ) nhằm tạo khả năng thanh toán
nợ nớc ngoài, tạo cơ sở phát triển cho khu vực t nhân,
Kết quả của cuộc cải cách (1988-1997) đợc thế giới đánhgiá là rất thành công trên nhiều mặt: chuyển từ thâm hụtngân sách (12% GDP năm 1988) sang bội thu trong các năm1996-1997 (trong khi thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 42%
xuống 35% bằng Mỹ, thuế thu nhập cá nhân từ 50% xuống35%) Lạm phát từ 160% năm 1987 còn 8% năm 1997; dự trữ
ngoại tệ tăng mạnh (80 tỷ USD năm 1997), tăng trởng kinh tế từ0% (1985-1988) lên 8% GDP trong các năm (1993-1997), việccơ cấu lại nợ đã khôi phục và mở rộng quan hệ của Mêhicô vàcác tổ chức tài chính quốc tế
Sau đó, kinh tế Mêhicô có nhiều biểu hiện xấu đi, mầmmống của khủng hoảng xuất hiện, nhất là từ năm 1998:
Trang 16- Thâm hụt cán cân thanh toán 6,5% GDP năm 1997 đã làlớn; năm 1998 lên tới 8% GDP và chủ yếu đợc tài trợ bởi cácnguồn vốn vay ngắn hạn (việc tăng giá nội tệ và giảm tích luỹ
t nhân là một nguyên nhân của tình hình trên), dự trữ ngoại
tệ giảm còn 6 tỷ USD vào năm 1998 thiếu khả năng bảo vệ giá
trị đồng nội tệ
- Mêhicô phải đơng đầu với việc lãi suất trên thị trờng quốc
tế tăng nhanh Ngoài ra, còn phải chuộc lại 28 tỷ USD trái phiếungắn hạn bằng ngoại tệ Hơn nữa, Chính phủ phải bng bíttình hình ngày càng xấu đi của nền kinh tế trớc cuộc bầu cử
Trong bối cảnh đó Chính phủ lại quyết định phá giá độtngột đồng nội tệ Vì vậy nó đã trở thành ngòi nổ cho cuộc
đại khủng hoảng Mặc dù IMF tài trợ 50 tỷ USD nhng Mêhicô vẫnkhông cải thiện đợc tình hình
Bài học rút ra từ sự kiện này là:
Thứ nhất, sự mở cửa ra thị trờng quốc tế ngày nay đòi hỏi
có trách nhiệm thực hiện quyết định đúng đắn trong chínhsách kinh tế Sự thận trọng và tuân thủ các nguyên tắc là ph-
ơng thức hiệu quả nhằm chống lại các biến động của thị trờngquốc tế Mêhicô đã phải trả giá đắt cho việc nới lỏng kiểm soát
và để mặc cho thị trờng tự do thực hiện các quy luật củamình
Thứ hai, thâm hụt cán cân thanh toán lớn chứa đựng nhiều
nguy hiểm, nhất là khi chúng đợc sử dụng vào tiêu dùng nội địa
và đợc tài trợ bằng các nguồn vốn ngắn hạn
Thứ ba, việc phá giá nội tệ vào tháng 10/1998 cho thấy
điều chỉnh tỷ giá hối đoái thích hợp là hết sức khó khăn ngaycả khi sự thay đổi đó là cần thiết Hơn nữa, các biện pháp vĩmô đi kèm và hỗ trợ là hết sức quan trọng, đảm bảo chắcchắn các đòi hỏi của thị trờng và đa ra một tỷ giá hối đoáihợp lý Chính phủ quyết định phá giá 20% (từ 3,4 Peso/USDxuống 4,5 Peso/USD) nhng thực tế không giữ nổi mức này và
đồng Peso giảm thêm 22% thành 5,5 Peso/USD
Trang 17Thứ t , cuộc khủng hoảng cho thấy sẽ phải trả giá đắt khi
những thông tin thờng xuyên, kịp thời về các chỉ số kinh tếquan trọng không đợc công bố đúng lúc
3-/ Các nớc ASEAN và NICs
Các nớc ASEAN và NICs theo đuổi chính sách tỷ giá ổn
định, hớng về xuất khẩu Theo đó, việc can thiệp vào tỷ giá
của Chính phủ nhằm ổn định tỷ giá, ổn định môi trờng kinh
tế vĩ mô, thu hút đầu t nớc ngoài Không một nớc nào chủ
tr-ơng phá giá làm động lực cho xuất khẩu, vai trò của tỷ giá chỉ
là hỗ trợ
Việc điều chỉnh tỷ giá ở các nớc này có một số điểmchung:
Thứ nhất, do khó khăn về tài chính, thiếu ngoại tệ nghiêm
trọng nên lúc đầu họ áp dụng nhiều loại tỷ giá, nội tệ định giá
cao trong cơ chế cố định Sau thời kì 1971-1973 thực hiệnphá giá, sau đó nhanh chóng thống nhất tỷ giá chính thức vàthị trờng
Thứ hai, khi đạt đợc tỷ giá thị trờng cân đối, họ áp dụng
cơ chế điều chỉnh theo quan hệ cung - cầu là chính Các nớcgắn nội tệ vào giỏ ngoại tệ mạnh
Thứ ba, các nớc nỗ lực ổn định hoá các quan hệ tỷ giá, tỷ
giá hối đoái thực tế, có dự trữ ngoại tệ để khống chế biên độdao động của tỷ giá ở mức thấp
Thứ t , khi tỷ giá tăng họ điều chỉnh tỷ giá để không cản
trở xuất khẩu, song luôn gắn bó việc điều chỉnh này vớinhiệm vụ khống chế lạm phát
Thứ năm, nhìn chung đồng nội tệ của các nớc này có xu
h-ớng tăng giá ổn định so với USD
Việc duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định, ổn địnhhoá các quan hệ tỷ giá hớng vào xuất khẩu trong thời gian đầu
đã phát huy tác dụng và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên việc theo
đuổi chế độ tỷ giá này trong một thời gian dài đã dẫn đến
Trang 18những bất cập Nó là một trong những nguyên nhân dẫn tớicuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu á vừa qua Khi nợ nớcngoài đến thời kì đáo hạn lại là lúc cán cân thanh toán quốc
tế thâm hụt nghiêm trọng Mặc dù nguồn ngoại tệ lúc này khanhiếm nhng hoạt động xuất khẩu lại bị chững lại Do đó nguồnthu ngoại tệ không đủ bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai
Chính phủ các nớc vẫn tiếp tục tung dự trữ ngoại hối nhằm duytrì tỷ giá cố định Lợi dụng tình hình đó, nhà đầu cơ ngời
Mỹ Soros đã đầu cơ vào đồng tiền các nớc ASEAN Khi ngoại tệkhan hiếm tới đỉnh điểm, đồng nội tệ có nguy cơ phải phá
giá thì Soros bán khống một lợng lớn nội tệ ra thị trờng làm cho
đồng bản tệ hoàn toàn mất giá Chính phủ Thailand phải tuyên
bố phá giá đồng Bath, mở đầu cho cuộc khủng hoảng tàichính Châu á, chấm dứt chế độ tỷ giá cố định
Qua các sự kiện Mêhicô, khủng hoảng ở Đức, bão táp tàichính ASEAN chúng ta có thể rút ra nhiều bài học bổ ích
Việc theo đuổi, áp dụng chế độ tỷ giá nào là cả một nghệthuật Nên chăng Việt Nam sẽ gắn chặt đồng nội tệ với đồngtiền nớc khác, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định (nh cácnớc ASEAN) hay sẽ chủ trơng thả nổi hoàn toàn tỷ giá và phá giá
nội tệ để chống đỡ khủng hoảng, hớng về xuất khẩu áp dụngmáy móc một chế độ tỷ giá nào đều là sai lầm bởi vì mỗi chế
độ tỷ giá đều có mặt mạnh và mặt hạn chế Việc lựa chọn, ápdụng chế độ tỷ giá nh thế nào là hợp lý, phù hợp với đặc thù củaViệt Nam sẽ đợc phân tích kỹ ở phần tiếp theo
II-/ Thực trạng áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam
1-/ Bối cảnh áp dụng chế độ tỷ giá thời gian qua ở Việt Nam
Từ ngày 25/11/1955 tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam
và Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc là: 1 NDT = 1.470 VNĐ,
1 Rúp (Liên Xô) = 0,5 NDT, tỷ giá chéo là 735 VNĐ = 1 Rúp Sau
đổi tiền (1959) tỷ giá VNĐ với Rúp và NDT thay đổi Đến năm
1977 các nớc XHCN thoả thuận thanh toán với nhau bằng đồng