Trường hợp Bốn quốc gia A, B, C và D đã ký điều ước quốc tế về chống khủng bố, trong đó có điều khoản quy định quốc gia thành viên sẽ dẫn độ cá nhân đã thực hiện hoặc bị tình nghi thực h
Trang 1Trường hợp
Bốn quốc gia A, B, C và D đã ký điều ước quốc tế về chống khủng bố, trong đó có điều khoản quy định quốc gia thành viên sẽ dẫn độ cá nhân đã thực hiện hoặc bị tình nghi thực hiện hành vi khủng bố đang hiện diện trên lãnh thổ quốc gia mình cho quốc gia nơi hành vi khủng bố diễn ra, không phụ thuộc vào quốc tịch của cá nhân đó Điều ước quốc tế đã được cả bốn quốc gia phê chuẩn
và phát sinh hiệu lực theo quy định của điều ước
Tuy nhiên, trong văn kiện phê chuẩn điều ước, quốc gia D đưa ra tuyên bố bảo lưu với nội dung quốc gia D sẽ chỉ dẫn độ đối với công dân nước mình nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực hiện tại lãnh thổ bên ký kết khác Theo quy định của điều ước quốc tế về chống khủng bố đẫ ký, tuyên bố bảo lưu của quốc gia D là hợp pháp Trước tuyên bố của quốc gia D, quốc gia A, quốc gia B phản đối nhưng khẳng định phản đối của B không làm ảnh hưởng tới quan hệ điều ước giữa D với quốc gia này, quốc gia C phản đối bảo lưu của D và tuyên
bố giữa hai quốc gia sẽ không có điều ước
Giải quyết trường hợp
Theo Điều 20, Tiết 2 - Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế, một bảo lưu được một điều ước rõ ràng cho phép thì không cần được các quốc gia ký kết chấp thuận, trừ khi điều ước quy định việc chấp thuận này Như vậy, tác động của tuyên bố bảo lưu, chấp thuận và phản đối bảo lưu đối với một hiệu lực của điều khoản bảo lưu nói chung và trong trường hợp này nói riêng như sau:
Thứ nhất, về tác động của tuyên bố bảo lưu: khi một quốc gia tuyên bố bảo lưu một hay một số quy định của điều ước quốc tế mà điều ước đó không cấm việc bảo lưu tức là đã loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hay một số quy định đó trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đó Trong trường hợp của
Trang 2lưu của quốc gia D là hợp pháp cũng có nghĩa tuyên bố này có hiệu lực Tuyên
bố bảo lưu này không thay đổi các quy định của điều ước đối với các bên khác tham gia điều ước trong những quan hệ quốc tế của họ
Thứ hai là tác động của việc chấp thuận và phản đối bảo lưu Theo quy định của điều ước về chống khủng bố đã ký, tuyên bố bảo lưu của quốc gia D là hợp pháp, như vậy việc bảo lưu này đã được điều ước cho phép thì không cản được các bên ký kết chấp thuận và việc quốc gia A chấp thuận tuyên bố bảo lưu
đó được áp dụng đối với quốc gia D trong quan hệ giữa quốc gia A và D nhưng không làm ảnh hưởng tới điều ước quốc tế về chống khủng bố đối với quốc gia
B và C Việc quốc gia B phản đối bảo lưu nhưng không làm ảnh hưởng đến quan hệ điều ước giữa quốc gia B và D thì quy định về việc quốc gia D chỉ dẫn
độ đối với công dân nước mình nếu hành vi khủng bố hoàn toàn được thực hiện trên lãnh thổ bên ký kết khác không được áp dụng giữa hai quốc gia (theo khoản
3 Điều 21 công ước Viên năm 1969) Việc phản đối bảo lưu của quốc gia B không cản trở việc điều ước này có hiệu lực giữa quốc gia B và A, C Tuy nhiên trong trường hợp phản đối bảo lưu của quốc gia C và tuyên bố giữa hai quốc gia
sẽ không có quan hệ điều ước không có hiệu lực vì trong điều ước quốc tế về chống khủng bố đã ký giữa các bên thì tuyên bố của quốc gia D là hợp pháp và điều ước này đã phát sinh hiệu lực tức là các quốc gia đã mặc nhiên chấp nhận quan hệ điều ước với các bên còn lại Như vậy tuyên bố của quốc gia C là vô hiệu
Kết luận
Có thể nói việc bảo lưu là giải pháp pháp lý để giải quyết hài hòa lợi ích riêng của quốc gia với lợi ích khi tham gia điều ước, nhưng cùng với đó, việc xác định tác động của tuyên bố bảo lưu, chấp thuận hay phản đối cũng cần được
rõ ràng để điều ước đã ký kết có thể phát huy vai trò điều chỉnh của mình một cách tối đa
Trang 3Danh mục tài liệu tham khảo
- Giáo trình luật quốc tế, trường Đại học luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân
dân năm 2004
- Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế