1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cổ phần thương mại vietcombank biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động của vietcombank

46 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Cổ Phần Thương Mại Vietcombank Biện Pháp Hạn Chế Rủi Ro Trong Hoạt Động Của Vietcombank
Trường học Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 429,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động huy động vốn được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốncủa ngân hàng thương mại, bao gồm: - Vốn tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm Đây là ngu

Trang 1

GIỚI THIỆU VỀ VIETCOMBANK

    Trụ sở chính:

198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Telex: 411504/411229 VCB –VTTel: 84-4- 9343137

Fax: 84-4-8269067

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCPNgoại thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạtđộng ngày 01/4/1963, với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngânhàng Nhà nước Việt Nam). Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên đượcChính phủ lựa chọn thực hiện thí điểm cổ phần hoá, Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam   chính   thức   hoạt   động   với   tư   cách   là   một   Ngân   hàng   TMCP   vào   ngày02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc pháthành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mãchứng khoán VCB)  chính thức được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoánTPHCM

Trải qua 48 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đónggóp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vaitrò của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tếtrong nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chínhkhu vực và toàn cầu. Vietcombank được xếp hạng là một trong 23 doanh nghiệpđặc biệt của Nhà nước. Vietcombank là một trong những thành viên đầu tiên củaHiệp hội Ngân hàng Việt Nam và là thành viên của nhiều hiệp hội ngân hàng khácnhư Hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tư vấn Doanh nhân APEC, Câu lạc bộNgân hàng Châu Á Thái Bình Dương…Vietcombank còn có sự hiện diện thươngmại tại nước ngoài thông qua các Văn phòng Đại diện tại Paris, Singapore cùng

Trang 2

Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombankngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp chokhách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốctế; trong các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng,tài trợ dự án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ vàcác công vụ phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…

 Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có lợi thế rõ néttrong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng,phát triển các sản phẩm, dịch vụ điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao. Các dịchvụ: VCB Internet Banking, VCB Money, SMS Banking, VCB Cyber Bill Payment,

…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanhchóng, an toàn, hiệu quả, dần tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt (quangân hàng) cho khách hàng

Song song với việc phát triển, đa dạng hoá các dịch vụ và sản phẩm ngânhàng, Vietcombank cũng đang tích cực mở rộng hệ thống mạng lưới nhằm đáp ứngtốt hơn nữa nhu cầu của khách hàng. Sau gần nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường,Vietcombank   hiện   có   khoảng   11.500   cán   bộ   nhân   viên,   với   gần   400   Chinhánh/Phòng Giao dịch/Văn phòng đại diện/Đơn vị thành viên trong và ngoàinước, gồm Hội sở chính tại Hà Nội, 1 Sở Giao dịch, 74 chi nhánh và gần 300phòng giao dịch trên toàn quốc, 3 công ty con tại Việt Nam, 2 công ty con tại nướcngoài, 1 văn phòng đại diện tại Singapore, 4 công ty liên doanh, 2 công ty liên kết

Bên cạnh đó, Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với khoảng16.300 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán thẻ (POS) trên toàn quốc. Hoạtđộng ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý tại 100quốc gia và vùng lãnh thổ

Trang 3

Vietcombank đặt mục tiêu sẽ trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và làngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỷ tới, hoạt động đa năng, kết hợpvới điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đến chokhách hàng sự thành đạt”

Bằng trí tuệ và tâm huyết, các thế hệ cán bộ nhân viên Vietcombank đã,đang và sẽ luôn nỗ lực để Vietcombank xứng đáng với vị thế là “Ngân hàng hàngđầu vì Việt Nam thịnh vượng”

Trang 4

Phần I: Cở sở lý thuyết

1 Khái niệm

Ngân hàng thương mại là 1 tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tíndụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịchdịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân

2 Các hoạt động cơ bản ngân hàng thương mại.

2.1 Hoạt động huy động vốn:

Đây   là  nghiệp   vụ  huy   động,  tạo   nguồn  vốn   kinh  doanh   cho   ngân  hàngthương mại. Hoạt động huy động vốn được phản ánh thông qua cơ cấu nguồn vốncủa ngân hàng thương mại, bao gồm:

- Vốn tiền gửi: (Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết

kiệm) Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài của cácngân hàng thương mại, bao gồm:

Thông qua các nghiệp vụ nhận tiền gửi thường xuyên, ngân hàng đã huyđộng được một lượng vốn lớn từ khách hàng. Căn cứ vào thời gian gửi tiền và mụcđích của khách hàng, có thể chia nguồn vốn này thành các bộ phận sau:

+ Tiền gửi không kỳ hạn

Với loại này, người gửi có thể gửi tiền vào và rút ra bất cứ lúc nào có nhucầu (nên còn được gọi là tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu – demand deposit)

Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả chongười thụ hưởng, hoặc chuyển số tiền được hưởng vào tài khoản này. 

Tiền gửi không kỳ hạn được để trong các tài khoản gọi là tài khoản vãng lai(current account). Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tàikhoản bất kỳ lúc nào. Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên dạng tiền gửinày thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp hoặc không được ngân hàng trả lãi(Các ngân hàng thương mại thậm chí còn yêu cầu duy trì một số dư tối thiểu trêntài khoản. Trường hợp trong thời gian dài trên tài khoản không có tiền hoặc có số

dư thấp hơn mức tối thiểu quy định thì chủ tài khoản còn phải trả phí duy trì tàikhoản cho ngân hàng) nhưng đổi lại người gửi tiền được sử dụng các dịch vụ thanhtoán qua ngân hàng (phải trả phí dịch vụ thanh toán hay không phải trả phí tùythuộc vào quy định của ngân hàng đối với từng loại hình dịch vụ thanh toán)

Mục đích chính của người gửi tiền là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản  vàthực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng, do vậy, nó còn được gọi là tiền gửithanh toán. 

Tiền gửi không kỳ hạn có chi phí thấp, bởi vì người gửi tiền sẵn lòng bỏ quamột số tiền lãi để có một tài sản có tính lỏng   cao sử dụng trong các hoạt độngthanh toán mua hàng. Những khoản chi phí của ngân hàng để duy trì loại tiền gửi

Trang 5

Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng phải đa dạng hóa và thựchiện tốt các dịch vụ trung gian, thu hút nhiều khách hàng là cá nhân, các doanhnghiệp lớn. Với quy mô lớn, cơ cấu đa dạng, cơ chế hoán đổi thời gian đáo hạn củacác khoản tiền gửi được thực hiện tốt sẽ làm cho mức dư tiền gửi bình quân tạingân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàn có thể sử dụng lượngtiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngânhàng

+ Tiền gửi có kỳ hạn (time deposit)

Các khoản tiền gửi có kỳ hạn được đặc trưng bằng những chứng chỉ tiền gửighi rõ thời gian đáo hạn và số lượng, khách hàng chỉ được rút ra sau một thời giannhất định theo kỳ hạn đã được thỏa thuận khi gửi tiền. Tuy nhiên, ngân hàng có thểgiải quyết cho khách hàng rút trước thời hạn khi có yêu cầu, nhưng phải bị phạttiền bằng việc chuyển từ mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn sang áp dụng mức lãi suấtkhông kỳ hạn thấp hơn. Đối với loại tiền gửi có kỳ hạn mục đích của người gửitiền là lợi tức, không quan tâm đến việc tận dụng những tiện ích thanh toán dongân hàng cung cấp. Vì vậy, để tăng tỷ lệ vốn huy động có kỳ hạn ngân hàng cóthể sử dụng công cụ lãi suất và các chính sách khuyến khích lợi ích vật chất khácnhư xổ số hoặc bốc thăm trúng thưởng…. để tạo ra sự quan tâm thu hút kháchhàng, đặc biệt là nhóm khách hàng cá nhân. Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thờigian gửi tiền và sự thỏa thuận giữa hai bên về những điều kiện đảm bảo an toàntrong quan hệ tín dụng, đồng thời được xác định theo nguyên tắc thời gian càng dàilãi suất càng cao

Với những đặc tính ổn định của tiền có kỳ hạn, ngân hàng có thể chủ động

kế hoạch hóa việc sử dụng nguồn vốn, tìm kiếm những khoản đầu tư có thời gianhợp lý và thu lợi nhuận cao

+ Tiền gửi tiết kiệm (savings deposit)

Là loại tiền gửi để dành của các tầng lớp dân cư, được gửi vào ngân hàng đểđược hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương uwngs với từng kỳ hạn gửiđược ngân hàng công bố sẵn. Các kỳ hạn thường là 1, 3, 6, 9, 12 tháng hoặc trênmột năm (18, 24 tháng). Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ

Về mặt kỹ thuật, dạng tiền gửi này người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một sổdùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi. Ngânhàng không cung cấp các dịch vụ trung gian thanh toán cho khách hàng gửi tiềntiết kiệm

Ở Việt Nam, hình thức gửi tiết kiệm phổ biến là:

Trang 6

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền

có thể gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào. Ngân hàng trả lãi cho loại tiền gửi nàynhưng rất thấp

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố

định trước. Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kỳ hạn ở các điểm làkhông được phép rút trước hạn, được hưởng lãi cao hơn các dạng tiền gửi không

kỳ  hạn và không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với dạng tiềngửi này, người gửi chỉ được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãikhi đến hạn. Không cho phép bổ sung thêm vào số tiền đã gửi khi chưa hết hạn

Mỗi lần gửi được coi là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tối thiểu của mỗi lầngửi tiền do từng ngân hàng quy định

Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và dài

hạn, người tham gia ngoài việc được ngân hàng trả lãi còn được ngân hàng cấp tíndụng nhằm mục đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương tiện phục vụ nhucầu tiêu dùng

Như vậy, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giaodịch. Chúng có cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không đượcphát hành séc

Lý do phải tách riêng tiền gửi tiết kiệm ra mà không xếp vào hai dạng tiềngửi trên (tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn) mặc dù tính chất của chúngrất giống nhau là vì đây là tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, là tài sản tích lũycủa quốc gia, được xem là nguồn vốn nội lực của đất nước, cho nên cần có chínhsách ưu tiên bảo vệ. (ví dụ: các NHTW thường buộc các ngân hàng thương mại khihuy động dạng tiền gửi này thì phải mua bảo hiểm cho chúng, hoặc các công ty tàichính không được huy động dạng tiền gửi này)

Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn của ngân hàng thương mại, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho vay Chính vì vậy người tao gọi ngân hàng thương mại là ngân hàng tiền gửi.

- Vốn đi vay (Vay của ngân hàng trung ương, vay của các ngân hàng thương

mại và các tổ chức tín dụng khác, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu)

+ Phát hành các chứng từ có giá

Ngân hàng chủ động phát hành các loại kỳ phiếu ngân hàng để huy độngvốn nhằm thực hiện những dự án đầu tư đã định. Việc huy động vốn dưới hìnhthức phát hành kỳ phiếu ngân hàng được thực hiện theo hai phương thức: pháthành theo mệnh giá (trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá được ghi trên bềmặt kỳ phiếu): phát hành bằng hình thức triết khấu (trả lãi trước, người mua sẽ trảmột số tiền bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng)

+ Vay của các ngân hàng và các trung gian tài chính khác

Trang 7

+ Vay của ngân hàng trung ương

Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được ngân hàng trung ương cấp phéphoạt động đều được vay vốn tại ngân hàng trung ương trong trường hợp cần bổsung vốn khả dụng. Nghiệp vụ vay vốn này được ngân hàng trung ương thực hiệndưới hình thức phổ biến là tái cấp vốn, bao gồm tái chiết khấu các loại giấy tờ cógiá và cho vay thế chấp. Khoản vay này liên quan đến lượng tiền cung ứng củangân hàng trung ương, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Hiện nay NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:

 Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác

 Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác

 Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợtheo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản, dựtrữ vật tư, nguyên liệu, sản xuất hàng hóa xuất khẩu thuộc diện ưutiên

- Vốn khác 

 Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác, đầu tư để cho vay theo cácchương trình, dự án xây dựng

 Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, ví dụ như trongnghiệp vụ qua lại đồng nghiệp (tiền gửi của các ngân hàng khác để nhờthanh toán hộ), trong nghiệp vụ trung gian của ngân hàng (tiền gửi củakhách hàng để đảm bảo thanh toán trong phương thức thanh toán tíndụng chứng từ - LC)

 Với những ngân hàng thương mại có các quan hệ quốc tế rộng lớn, có thểtranh thủ các khoản vốn tín dụng hoặc tiếp nhận từ các tổ chức tài chínhtiền tệ quốc

2.2 Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng thương mại,thực chất đây là quá trình ngân hàng thương mại cho các tổ chức, cá nhân vay vốn

Hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú. Có thể nêu một số loại hình chủ yếusau: 

- Cho vay ứng trước: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thương mại

cung cấp cho người đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trước. Người đi

Trang 8

a/ Cho vay ứng trước có bảo đảm:

 Bảo đảm bằng các động sản: như hàng hóa, tài sản hay chứng từ (cho vay

cầm cố): là cho vay trên cơ sở cầm cố tại ngân hàng các tài sản, có thể làhiện vật như vật tư hàng hóa, hoặc là giấy tờ như các giấy sở hữu hàng hóa( B/L, giấy lưu kho, lưu bãi container), các chứng từ thanh toán (bộ chứng từliên quan đến người nhập khẩu gồm B/E, chứng từ gửi hàng), chứng từ cógiá (thương phiếu, chứng khoán, ), thậm chí cả vàng, bạc, đá quý, ngoạitệ,  số tiền cho vay bằng một tỷ lệ phần trăm của giá trị tài sản cầm cố, tỷ lệnày cao hay thấp là tùy vào quan hệ của ngân hàng và khách hàng, vào uytín của khách hàng. Ngân hàng sẽ quản lý tài sản cầm cố trong suốt thời hạnvay và chỉ hoàn lại khi thu đủ nợ (gốc và lãi). Trong trường hợp người đivay không có khả năng trả nợ khi đến hạn, ngân hàng có quyền bán tài sảncầm cố để thu nợ

 Bảo đảm bằng bất động sản: như đất đai, nhà cửa (cho vay thế chấp): là cho

vay trên cơ sở nắm giữ các giấy tờ chứng thực quyền sở hữu hợp pháp về bấtđộng sản đem thế chấp. Số tiền vay được tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trịtài sản thế thấp (nhỏ hơn giá trị của tài sản thế chấp), tỷ lệ này cao hay thấpphụ thuộc vào quan hệ của ngân hàng và khách hàng và uy tín của kháchhàng. Cho vay thế chấp khác với cho vay cầm cố ở chỗ trong thời hạn vayngười đi vay vẫn được phép sử dụng tài sản thế chấp, ngân hàng chỉ nắm giữ

hồ sơ gốc

 Bảo đảm bằng sự bảo lãnh của bên thứ 3: (cho vay có bảo lãnh): bên bảo

lãnh lập hồ sơ bảo lãnh tại ngân hàng và cam kết hoàn trả nợ nếu bên đi vaykhông có khả năng thanh toán. Ngân hàng cũng có thể đề nghị bên bảo lãnhphải có tài sản cầm cố hoặc thế chấp tại ngân hàng

b/ Cho vay ứng trước không có bảo đảm:

Cho vay ứng trước không có đảm bảo: là hình thức cho vay chỉ dựa vào uytín của khách hàng với ngân hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc

sự bảo lãnh. Do vậy, còn gọi là vay tín chấp. Hình thức này được áp dụng với cáckhách hàng có uy tín, có quan hệ thường xuyên với ngân hàng hoặc những doanhnghiệp lớn

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trước sốtiền tối đa (gọi là hạn mức tín dụng) mà khách hàng được vay từ ngân hàng trongmột khoảng thời gian nhất định. Sau khi đã thỏa thuận về hạn mức tín dụng, kháchhàng có thể vay làm nhiều lần trong thời gian thở thuận mà không phải làm đơnxin vay với điều kiện tổng số tiền của các lần vay không vượt quá hạn mức tíndụng. Hình thức cho vay này thường áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốnthường xuyên

Trang 9

+ Hạn mức tín dụng+ Số vòng quay vốn+ Tổng doanh số trả nợ trong quýKhách hàng có thể vay làm nhiều lần nhưng khi có tiền thu bán hàng, ngườivay phải nộp toàn bộ số tiền đó vào tài khoản tiền vay để đảm bảo doanh số trả nợ

và vòng quay vốn tín dụng, phần còn lại chuyển về tài khoản tiền gửi để sử dụng

Lãi vay thường được ngân hàng tính và thu vào ngày cuối của tháng

- Cho vay thấu chi

Cho vay thấu chi: Là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt trong đóngân hàng cho phép khách hàng chi vượt quá số dư trên tài khoảng tiền gửi thanhtoán trong 1 hạn mức và thời gian nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữangân hàng và khách hàng

Khác với cho vay ứng trước mức tín dụng thỏa thuận cho vay thấu chi chưaphải là khoản tiền mà ngân hàng cho vay mà chỉ khi nào khách hàng sử dụng (chivượt số dư) thì mới được coi là tín dụng cấp phát và đầu tính tiền lãi. Hình thứcnày thường áp dụng cho những khách hàng có khả năng tài chính mạnh và có uytín

- Cho vay chiết khấu chứng từ

Cho vay chiết khấu chứng từ: là cho vay dưới hình thức Ngân hàng thươngmại mua lại các thương phiếu chưa đến hạn trả tiền với giá thấp hơn số tiền ghitrên thương phiếu. Khi đến hạn trả tiền, ngân hàng sẽ đòi toàn bộ số tiền ghi trenthương phiếu từ người trả tiền thương phiếu. Phần lãi của ngân hàng chính làkhoản chênh lệch giữa giá mua và số tiền ghi trên thương phiếu

Các chứng từ có giá bao gồm: Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do kho

bạc nhà nước, ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại và các tổ chức tàichính phát hành: các loại sổ tiết kiệm có kỳ hạn, các chứng chỉ tiền gửi, bộ chứng

từ thanh toán

Các chứng từ trên được chấp nhận chiết khấu nếu thỏa mãn điều kiện: đượcphát hành hợp pháp, được bảo toàn mệnh giá, có khả năng chuyển nhượng, không

bị tẩy xóa, còn trong thời hạn thanh toán

Phương thức chiết khâu:

+ Chiết khấu toàn bộ thời gian còn lại của chứng từ có giá là phương thứcmua bán chứng từ có giá theo giá chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngayquyền sở chứng từ có giá đó cho ngân hàng. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng cóquyền thanh toán với người phát hành

+ Chiết khấu có thời hạn: Là phương thức mua các chứng từ có giá theo thờihạn và giá chiết khấu đồng thời kèm theo cam kết của khách hàng về mua lạichứng từ có giá đó vào ngày hết hạn chứng khoán. Nếu hết hạn chiết khấu mà

Trang 10

2.3 Hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại

Hoạt động đầu tư là hoạt động NHTM dùng vốn của mình để mua chứngkhoán (các chứng khoán chính phủ và một số chứng khoán công ty) hoặc đầu tưtheo dự án. Ở Việt Nam luật các tổ chức tín dụng còn cho phép các ngân hàngđược dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệphay của các tổ chức tín dụng khác

2.4 Hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng

Dịch vụ ngân hàng được phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường và đưalại nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng thương mại. Hoạt động dịch vụ được thựchiện dưới các hình thức sau:

- Kinh doanh ngoại tệ và vàng: Ngân hàng mua bán ngoại tệ và vàng ở thị

trường trong nước và quốc tế. Lợi nhuận mang lại cho ngân hàng là chênh lệchgiữa giá bán và giá mua

- Dịch vụ trung gian thanh toán: Dịch vụ này bao gồm thanh toán không

dùng tiền mặt, hoặc thu chi tiền mặt, qua ngân hàng. Đây là một nghiệp vụ truyềnthống, đồng thời được phát triển mạnh trong nền kinh tế thị trường. Thông quahoạt động thanh toán, ngân hàng thu được lệ phí, tập trung được nhiều nguồn vốn

và thông qua đó kiểm soát được chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân

Các hình thức thanh toán:

+ Thanh toán bằng séc+ Ủy nhiệm thu

+ Ủy nhiệm chi+ Thanh toán bằng thư tín dụng+ Thanh toán bằng thẻ

- Dịch vụ bảo lãnh: Bảo lãnh là nghiệp vụ trong đó ngân hàng thương mại

chịu trách nhiệm trả tiền thay cho bên được bảo lãnh, nếu họ không thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ đối với yêu cầu của một đối tác nào đó. Bảo lãnh được thực hiện dướinhiều hình thức, như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh chất lượng vàkhối lượng hàng hóa

- Cung cấp các dịch vụ thông tin, tư vấn:

Ngân hàng thương mại là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán. Hơn nữa,ngân hàng là tổ chức khá đầy đủ và cập nhật các thông tin về thị trường, giá cả dovậy nó có thể cung cấp các thông tin theo yêu cầu của khách hàng trong giới hạncho phép

Trang 11

- Hoạt động ủy thác (ủy thác và nhận ủy thác): Ngân hàng thương mại

được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt độngngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước theo hợp đồng ủy thác đại lý

3 Chức năng và vai trò của Ngân hàng thương mại 3.1 Chức năng của ngân hàng thương mại

* Chức năng trung gian tín dụng

Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng này khi nó đóng vai trò là cầu nối giữa người có vốn với người cần vốn.

Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa những người có vốn dưthừa và những người có nhu cầu về vốn thông qua việc huy động khai thác cáckhoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nênquỹ cho vay cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, ngân hàng vừa đóngvai trò là chủ thể đi vay, vừa đóng vai trò là chủ thể cho vay

Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội,ngân hàng thương mại với vai trò là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tíndụng, nắm bắt tình hình cung cầu về vốn tín dụng sẽ thực hiện tiếp nhận và chuyểngiao vốn một cách có hiệu quả. Thông qua việc thu hút tiền gửi với khối lượng lớn,ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu vốn tín dụng về khốilượng và cả thời gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng được mô tả qua sơ đồ sau:

Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại thực hiện nhữngnhiệm vụ cụ thể sau:

- Huy động các nguồn vốn từ các chủ thể tiết kiệm, có vốn nhàn rỗi trong nềnkinh tế

+ Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, các tổchức xã hội, cá nhân dưới hình thái tiền tệ (nội tệ hoặc ngoại tệ)

+ Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức và cá nhân+ Phát hành kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn trong xã hội

Trang 12

* Chức năng trung gian thanh toán:

Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào một khoản tiền gửi của khách hàng từ bán hàng hóa hoặc các khoản thu khác.

Ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán làm cho nó trở thànhthủ quỹ cho khách hàn. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tàikhoản tiền gửi của khách làm cho ngân hàng thực hiện được vai trò trung gianthanh toán. Trên thực tế, khi việc than toán trực tiếp giữa các chru thể kinh tế bằngtiền mặt gặp nhiều hạn chế và rủi ro cao, do phải tập hợp, kiểm tra, vận chuyển làmcho chi phí thanh toán cao mà lại thiếu chính xác và an toàn, đặc biệt là khi hai đơn

vị này cách xa nhau, điều này tạo nên nhu cầu và gia tăng khối lượng thanh toánqua ngân hàng

Chức năng trung gian thanh toán được thể hiện qua biểu đồ sau:

Trong  chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thực hiện các nhiệm vụ

cụ thể sau:

- Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng: các tổ chức kinh tế, đoànthể xã hội, cá nhân có nhu cầu đều có quyền mở tài khoản giao dịch tại bất kỳ mộtngân hàng thương mại nào mà họ cảm thấy thuận tiện. Các ngân hàng thương mại

có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu mở tài khoản giao dịch cho khách hàng khi họ đápứng các yêu cầu theo quy định về việc mở và sử dụng tài khoản giao dịch tại ngânhàng. Chức năng thanh toán của ngân hàng chỉ được thực hiện thuận lợi khi cáckhách hàng tham gia có tài khoản giao dịch tại ngân hàng, do vậy, thủ tục  mở tàikhoản phải chặt chẽ nhưng đơn giảm, đảm bảo bí mật, an toàn cho khách hàng

- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: thanhtoán qua ngân hàng là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, nó được thựchiện qua việc phản ánh trên sở sách ngân hàng. Do đó, các chứng từ dùng làm căn

Trang 13

Những phương tiện này vừa đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát chặt chẽ, đồngthời đáp ứng yêu cầu linh hoạt, tiện lợi và dễ sử dụng

- Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng: để đảmbảo yêu cầu thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn và tiện lợi, ngân hàng phải

tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng. Tùy theo từngphương thức thanh toán sẽ có những quy trình khác nhau, khách hàng cảm nhậnđược những tiện ích và ưu điểm của từng phương thức để lựa chọn cho từng giaodịch thanh toán thích hợp

* Chức năng tạo tiền

Khi thực hiện hai chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại

Những hoạt động mà NHTM thực hiện đã tạo nên một cơ chế tạo tiền trongtoàn hệ thống ngân hàng. Trên cơ sở số tiền gửi của khách hàng, ngân hàng dùng

nó để cho vay. Tuy nhiên, số tiền cho vay không dừng lại ở số tiền mặt gửi ban đầu

mà khoản tín dụng do ngân hàng thực hiện đã tạo ra tiền dưới dạng bút tệ. Khi hếthạn vay, người vay trả nợ ngân hàng, tiền vay rút khỏi lưu thông quay trở lại ngânhàng. Như vậy, do hoạt động của ngân hàng mà hàng ngày thường xuyên có tiềnbơm vào lưu thông (ngân hàng cho vay) và tiền rút khỏi lưu thông (trả nợ vay ngânhàng)

Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thang toán, gnaan hàngthương mại có khả năng tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tàikhoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng thương mại. Đây chính làmột bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch

Từ khoản dự trữ tăng lên ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyểnkhoản, hệ thống ngân hàng có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấpnhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số

mở rộng tiền gửi. Hệ số này, đến lượt nó chịu tác động bởi các yếu tố tỷ lệ dự trữbắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán củacông chúng. Phân tích quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng thương mại chúng

ta sẽ thấy rõ sự tác động của các yếu tố này

Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phương tiệnthanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHTW phát

Trang 14

Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưuthông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làmtăng khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cungứng

Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,

hỗ trợ cho nhau, tỏng đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất,tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời, khi ngân hàng thựchiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làmtăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng

3.2 Vai trò của ngân hàng thương mại

* NHTM góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của DN cho hoạt động đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh:

Trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng được qui mô sản xuất đòi hỏidoanh nghiệp phải có một lượng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu,

áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Trong điều kiện đó, ngân hàng thươngmại một mặt đáp ứng đầy đủ và nhu cầu vốn thiếu hụt, cung cấp dịch vụ thanh toán

và các dịch vụ ngân hàng khác nhau nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt kếhoạch sản xuất kinh doanh. 

Mặt khác, thông qua cung ứng vốn tín dụng và các dịch vụ ngân hàng nhanhchóng, thuận tiện đã thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyểnvốn, tiết kiệm chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh cho từngdoanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế

* Ngân hàng thương mại góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực tài chính giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế quốc dân và tạo điều kiện cân đối nền kinh tế:

Thông qua các nghiệp vụ của mình, NHTM một mặt góp phần hình thành,duy trì và phát triển nền kinh tế theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định. Mặtkhác, các NHTM góp phần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triểnmất cân đối hoặc khi cần có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường

Khi muốn phát triển hay hạn chế phát triển một ngành hay một lĩnh vực nhấtđịnh nào đó, có thể thông qua hoạt động cho vay của ngân hàng để điều tiết. 

* Ngân hàng thương mại tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền

tệ của NHTW :

Để thực thi chính sách tiền tệ, Ngân hàng truong ương phải sử dụng cáccông cụ như  lãi suất, dự trữ bắt buộc, thị trường mở,  Chính các ngân hàngthương mại là “môi trường” để ngân hàng trung ương sử dụng các công cụ này

Trang 15

Thông qua các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương phát hànhthêm hoặc thu hồi bớt tiền từ lưu thông về. cũng thông qua ngân hàng thương mại,

sự biến động lãi suất, tỷ giá hối đoái… của nền kinh tế được phản hồi về ngânhàng trung ương để ngân hàng trung ương có giải pháp điều tiết thích hợp theo yêucầu của chính sách tiền tệ

Trang 16

Phần II: Các hoạt động cơ bản của ngân hàng cổ phần thương mại

Vietcombank

2.1.Hoạt động tạo lập vốn

Ban lãnh đạo của VCB đã quán triệt trong toàn hệ thống coi công tác huyđộng là một trong những nhiệm vụ tọng tâm hàng dầu và xuyên suốt trong năm

Kết quả huy động vốn năm 2009: Tổng huy động vốn từ 2 thị trường I và II năm

2009 tăng 17,5 %. Huy động từ nền kinh tế ( thị trường I) đạt 169,457 tỷ quy đồng,tăng 5,9 % so với 2008. Huy động VND từ KH tăng 18,8 % so với năm tước, huyđộng tiền gửi từ dân cư tăng trưởng khá tốt (+34,5 %). Bảng số liệu:

Tổng tài sản cóTrong đó:

- Tiền mặt và tiền gửi tại NHNN

- Tiền gửi và cho vay TCTD khác

- Chứng khoán kinh doanh

- Chứng khoán đầu tư

- Cho vay khách hàng

- Góp vôn đầu tư dài hạn

      255.496

29.66047.463633.061141.6213.741

         222.090

34.04430.37740441.905121.7933152

      15

-12.956.2-98.5-21.125.618.7

Ngân hàng Ngoại thương Việt thương cho biết, tổng nguồn vốn huy động từnền kinh tế trong năm 2011 tăng trưởng 17% so với năm 2010, đạt gần 242.300 tỷđồng. Trong đó huy động vốn từ dân cư của Vietcombank tăng mạnh ở mức trên23% so với năm trước, đạt gần 122.000 tỷ đồng

Trang 17

2.1.1 Vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ, vốn bổ sung trong qua trình hoạt động, các quỹ của các ngân hàng thương mại)

* Về vốn điều lệ và vốn bổ sung trong quá trình hoạt động:

1/4/1963, Ngân hàng thương mại quốc doanh (NHTMQD) được thành lậpvới vốn điều lệ hơn 3.955 tỷ đồng. Trải qua thời gian dài hoạt động được cổ phầnhóa từ 2/6/2008 thì vốn điều lệ của VCB đã không ngừng tăng lên. Cụ thể:

Theo báo cáo đã được kiểm toán theo tiêu chuẩn của Việt Nam (VAS), tạithời điểm 31/12/2006, vốn chủ sở hữu của Vietcombank đạt 11.127 tỷ đồng, trong

đó vốn điều lệ đạt 4.356 tỷ đồng và vốn Nhà nước tại ngân hàng này được xác định10.978 tỷ đồng. Đến cuối 2006, tổng tài sản của Vietcombank đạt 171.862 tỷ đồng

Cũng trong năm này, về cơ cấu huy động vốn, hiện Vietcombank có tổng tiền gửiđạt 102.000 tỷ đồng, tiền vay đạt 5.520 tỷ đồng và phát hành giấy tờ có tổng giá trị2.139 tỷ đồng. Ngân hàng này đang chiếm 18,2% thị phần huy động vốn toànngành

  Ngày  26/9/2007,   Thủ   tướng   Chính   phủ   đã   ban   hành   Quyết   định   số1289/QĐ-TTg phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam (Vietcombank). Cũng theo Quyết định này, cơ quan đại diện chủ sở hữu phầnvốn nhà nước tại NHTMCPNT Việt Nam là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanhvốn nhà nước. Vốn điều lệ của Ngân hàng là 15 nghìn tỷ đồng Việt Nam

Theo Giấy phép số 138/GP-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nướcquyết   định   cấp   ngày   23/5/2008   Ngân   hàng   Ngoại   thương   Việt   Nam(VietcomBank) chính thức chuyển sang hoạt động theo cơ chế và mô hình của mộtngân hàng thương mại cổ phần. với vốn điều lệ là 12.100.860.260.000 đồng. Tổngtài sản của VCB tính đến ngày 31-12-2008 là 221.950 tỷ đồng

Ngày   23/11/2010,   Ngân   hàng   Nhà   nước   Việt   Nam   đã   có   công   văn   số9096/NHNN-TTGSNH thông báo ý kiến của Ngân hàng Nhà nước về việc thayđổi mức vốn điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

Trang 18

án tăng vốn điều lệ đã được Đại hội đồng cổ đông Vietcombank thông qua ngày9/11/2010

Tính đến hết 31/12/2011, tổng tài sản của Vietcombank đạt hơn 369.200 tỷđồng, tăng 20,3% và vốn chủ sở hữu đạt gần 29.200 tỷ đồng

Ngày 22/3/2012, Ngân hàng Nhà nước đã có quyết định về việc sửa đổi giấyphép thành lập và hoạt động của Vietcombank.Theo đó, Thống đốc Ngân hàng Nhànước đã ký quyết định chấp thuận việc sửa đổi mức vốn điều lệ của Ngân hàngTMCP Ngoại thương (Vietcombank). lên 23.174.170.760.000 đồng (trên 1 tỷ USD)

Mặt   khác   để   tăng   cường   sức   cạnh   tranh   và   có   được   nhiều   vốn,   thìVietcombank và Ngân hàng Nhật – Mizuho đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược vàmua - bán cổ phần. Theo đó, Mizuho sẽ đăng ký mua 347,6 triệu cổ phiếu phổthông, do Vietcombank phát hành mới với tổng giá trị tương đương 567,3 triệuUSD. Số tiền sẽ được thanh toán trong quý I/2012 và giúp nhà băng này có thêmkhoảng 11.800 tỷ đồng để tăng vốn. Vốn điều lệ hiện tại của Vietcombank là24.623 tỷ đồng. Sau khi mua cổ phiếu và thực hiện pha loãng, Mizuho sẽ có số cổphần tương đương 15% vốn điều lệ của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Nhàbăng này cũng sẽ là đối tác chiến lược duy nhất của Vietcombank và được cử mộtđại diện tham gia vào hội đồng quản trị. Một chi tiết đáng chú ý trong thương vụnày là mức giá 34.000 đồng một cổ phần mà 2 bên thỏa thuận cao hơn khá nhiều

so với giá đóng cửa phiên 30/9 của cổ phiếu VCB tại Sở Giao dịch chứng khoán

TP HCM (27.300 đồng một cổ phiếu). Tuy nhiên, lượng mua (15% vốn điều lệ) lạithấp hơn so với con số tối đa 20% mà Đại hội cổ đông Vietcombank phê duyệt hồitháng 4 năm nay

* Về các quỹ của Ngân hàng thương mại:

Trang 19

Từ 12/1/2006, Vietcombank đã chính thức khai trương Công ty Liên doanhquản   lý   Quỹ   đầu   tư   chứng   hoán   Vietcombank   (VBCF)   và   Quỹ   thành   viênVietcombank 1 (VPF1). Vietcombank cho biết, ngay sau khi được cấp phép thànhlập công ty quản lý quỹ (ngày 2/12/05), VCBF cho ra mắt Quỹ thành viên VPF1.

Đây là một Quỹ thành viên dạng đóng có quy mô 200 tỷ đồng, tương đương với12.5 triệu USD. Sau VPF1, VCBF dự kiến sẽ tiếp tục huy động vốn từ các nhà đầu

tư nhằm lập các quỹ khác tại Việt Nam, cũng như tại nước ngoài dưới dạng quỹthành viên cũng như quỹ công chúng (mutual fund). Trong đó, Quỹ VPF1 vì là quỹthành viên nên sẽ không niêm yết trên Thị trường Chứng khoán. Các quỹ tiếp theo

có thể là quỹ công chúng, quỹ nước ngoài, và có thể được niêm yết trên thị trườngchứng khoán Việt Nam và thị trường chứng khoán nước ngoài. VCBF dự định sẽđầu tư vào các công ty có lịch sử kinh doanh tốt, có tiềm năng phát triển, được cổphần hoá hoặc có kế hoạch phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn hoặc có kếhoạch niêm yết trên thị trường trong nước và ngoài nước. VCBF dự kiến nhữngngành nghề lĩnh vực đầu tư trọng điểm của các Quỹ là Dầu khí, Ngân hàng và Bảohiểm, Công nghệ thông tin và Viễn thông …

2.1.2 Vốn tiền gửi

Dưới đây là bảng lãi suất tiền gửi của NH Vietcombank hiện nay:

Tiết kiệmKhông   kỳhạn

Trang 20

cả các điểm giao dịch của Vietcombank trên toàn quốc. Với số dư nhất định trên sổtiết kiệm, khách hàng có thể yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế Vietcombank –Visa, Vietcombank – MasterCard và Vietcombank – American Express để muasắm hàng hoá, dịch vụ tại Việt Nam và nước ngoài với  thời hạn trả tiền sau khôngtính lãi từ 15 đến 45 ngày. Khách hàng cũng có thể sử dụng sổ tiết kiệm để xácnhận số dư nhằm mục đích chứng minh khả năng tài chính khi đi du lịch, du học,

Trang 21

là 100 000  VNĐ, còn đối với ngoại tệ là 10 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trịtương đương

Để có thể huy động nhiều vốn hơn từ các khách hàng thì Vietcombank đãkhông ngừng triển khai các chương trình khuyến mại như là: Chương trình khuyếnmãi chào mừng ngày 30/4 và 1/5/2011; Tiền gửi trực tuyến (từ 5/4/2012); Chươngtrình   khuyến   mại   “Quà   tặng   kim   cương”   thời   gian   triển   khai   từ   26/3/2012-23/6/2012, với nhiều hình thức tiết kiệm có nhiều ưu đãi cộng giải thưởng hấp dẫn,đảm bảo thu hút được lượng lớn nguồn vốn từ những người gửi tiết kiệm…

2.1.3 Vốn đi vay 

2.1.3.1 Phát hành cổ phiếu

Khi VCB cổ phần hóa thì hình thức cổ phần hóa của Vietcombank giữnguyên vốn nhà nước hiện có, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn theo nguyêntắc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoạithương Việt Nam (NHTMCPNT) qua nhiều giai đoạn với tỷ lệ vốn Nhà nước giảmdần nhưng không thấp hơn 51/% vốn điều lệ. Cơ cấu cổ phần phát hành củaNHTMCPNT chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, tổng khối lượng cổ phần pháthành là 30% vốn điều lệ, trong đó cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nướcngoài tối đa không quá 20%. Giai đoạn 2, phát hành và niêm yết quốc tế khôngvượt quá 15% vốn điều lệ. Với tôn chỉ Bảo vệ lợi ích và tối đa hóa lựa chọn choKhách hàng, Vietcombank và công ty chứng khoán của mình VCBS với đội ngũcán bộ nhiều kinh nghiệm trong các ngành hàng, sẵn sàng cung cấp các dịch vụtrong quá trình phát hành trái phiếu doanh nghiệp:

- Tư vấn phát hành: Tư vấn cho Doanh nghiệp Sản phẩm phát hành phù hợp(số lượng, mức lãi suất trái phiếu, kỳ hạn trái phiếu, thời điểm phát hành…)

và tư vấn xây dựng phương án phát hành

Trang 22

- Bảo lãnh phát hành: Là việc cam kết bao tiêu một phần hay toàn bộ lượngtrái phiếu do Doanh nghiệp phát hành trong trường hợp lượng trái phiếukhông bán được hết ra thị trường.

- Bảo lãnh thanh toán: Để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu đối với thị trường,Vietcombank xem xét bảo lãnh cho khả năng hoàn trả nợ trái phiếu củaKhách hàng

Đồng thời việc thành lập Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCPNgoại Thương VN theo Quyết định số 27/QĐ-HĐQT ngày 07/01/2002 của Hộiđồng Quản trị Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) , có thể giúp VCB huyđộng được lượng vốn lớn thông qua phát hành trái phiếu. VCBS tự hào là mộttrong những công ty đầu tiên tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam và đãtạo dựng được thương hiệu và uy tín là một trong những công ty dẫn đầu trên thịtrường trong nhiều năm. VCBS được phép thực hiện tất cả các nghiệp vụ chứngkhoán và kinh doanh chứng khoán, bao gồm: 

Trong tháng 3/2012, VCB vừa công bố tờ trình Đại hội cổ đông về việc pháthành trái phiếu quốc tế. Việc gia tăng nguồn vốn ngoại tệ trung và dài hạn thôngqua phát hành trái phiếu quốc tế giúp cân đối nguồn vốn cho các khoản tín dụng

Trang 23

Vietcombank (45%); Cardif (43%) và SeaBank (12%). Công ty TNHH Bảo hiểmNhân thọ VCB Cardif hoạt động trên các lĩnh vực: Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ;

Kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn bổ trợ cho bảo hiểmnhân thọ; Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất, Giám định tổn thất; Quản lý quỹ vàđầu tư vốn; Lĩnh vực khác liên quan đến bảo hiểm nhân thọ được pháp luật cho

Ngày đăng: 14/10/2022, 08:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đây là bảng lãi suất tiền gửi của NH Vietcombank hiện nay: - Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cổ phần thương mại vietcombank  biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động của vietcombank
i đây là bảng lãi suất tiền gửi của NH Vietcombank hiện nay: (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm