1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx

8 894 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 150,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội Nguyễn Thanh Hương *, Trương Quang Tiến *, Hoàng Khánh Chi*, Nguy

Trang 1

Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung

học cơ sở, thành phố Hà Nội

Nguyễn Thanh Hương (*), Trương Quang Tiến (*), Hoàng Khánh Chi(*), Nguyễn Hoàng Phương (*), Trần Bích Phượng (**), Micheal Dunne (***)

Ngày nay vấn đề sức khỏe tâm thần là khá phổ biến trong giới trẻ và có xu hướng tăng lên đặc biệt

ở các nước đang phát triển Điển hình về vấn đề này như trầm cảm và lo âu trong thời kỳ vị thành niên có thể để lại hậu quả tức thì hoặc lâu dài tới sức khỏe thể chất cũng như tâm thần khi trưởng thành Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này lại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu Mục đích của bài báo này là xác định một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với trầm cảm và lo âu ở học sinh hai trường trung học cơ sở của Hà Nội Đây là nghiên cứu cắt ngang sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh với 972 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 Các mô hình phân tích đa biến được sử dụng để kiểm soát một số yếu tố nhiễu Kết quả cho thấy học sinh nội thành có sức khỏe tâm thần kém hơn so với học sinh ngoại thành (p<0.05) Trầm cảm và lo âu ở cả học sinh nam và nữ có mối liên quan với nhiều yếu tố khác nhau Gắn kết tốt với nhà trường; được cha, mẹ quan tâm phù hợp là yếu tố bảo vệ Bị bắt nạt/trêu ghẹo; sự kiểm soát và bảo vệ quá mức của cả cha lẫn mẹ là yếu tố nguy cơ của trầm cảm và lo âu Kết quả nghiên cứu nhất quán với công bố của một số nghiên cứu trước đây và cho thấy tính cấp thiết của việc triển khai các chương trình can thiệp tại trường học để cải thiện sự gắn kết với nhà trường, giảm tình trạng bắt nạt/trêu ghẹo và hỗ trợ phụ huynh quan tâm, chăm sóc các em một cách phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần của thế hệ trẻ.

Từ khóa: Trầm cảm, lo âu, vị thành niên, yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ.

Some risk and protective factors for

depression and anxiety among students

of two secondary schools in Hanoi

Nguyen Thanh Huong (*), Truong Quang Tien (*), Hoang Khanh Chi (*), Nguyen Hoang Phuong (*), Tran Bich Phuong (**), Micheal Dunne (***).

Nowadays, mental health problems are quite prevalent and on an increasing trend among adolescents and youth Typical mental health problems include depression and anxiety among adolescents which can have serious short-term and long-term impacts on adult physical and mental health However, this problem is still not prioritized for research in Viet Nam This paper aims to identify some of protective and risk factors of depression and anxiety among school children at two secondary schools

in Ha Noi This is a cross-sectional study using self-administered questionnaire without respondent's

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Các báo cáo nghiên cứu gần đây cho thấy vấn

đề sức khỏe tâm thần có xu hướng gia tăng Theo

ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trên 25%

dân số thế giới bị rối loạn tâm thần và hành vi tại

một thời điểm nào đó trong cuộc đời [21] Ở Việt

Nam, theo Nguyễn Viết Thiêm, kết quả nghiên cứu

gần đây cho thấy tỉ lệ người dân mắc rối loạn tâm

thần loại này hay loại khác chiếm khoảng 15-20%

dân số [3] Năm 2002, nghiên cứu dịch tễ học bệnh

tâm thần của Trần Văn Cường cho kết quả 2,8% dân

số có biểu hiện trầm cảm, 2,6% dân số có biểu hiện

lo âu, và rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên chiếm

0,9% dân số Phân tích sâu hơn của nghiên cứu này

cũng cho thấy tỉ lệ trầm cảm ở nữ cao gấp 3 lần so

với nam và lo âu ở nữ cũng gấp khoảng 2,5 lần so

với nam [1]

Năm 1996, nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật của thế giới của Đại học Harvard, WHO và Ngân hàng thế giới cho biết gánh nặng toàn cầu của các rối loạn tâm thần chiếm 10,5% gánh nặng bệnh tật, tuy nhiên vẫn được cho là thấp hơn so với thực tế Cũng trong nghiên cứu này, ước tính gánh nặng bệnh tật do bệnh tâm thần và thần kinh sẽ tăng lên với tốc độ cao hơn so với bệnh tim mạch và chiếm khoảng 15% vào năm 2020 [4]

Sức khỏe tâm thần của vị thành niên là một vấn đề đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các cán bộ quản lý, cán bộ y tế và cộng đồng Sức khỏe tâm thần được đánh giá là một cấu phần quan trọng trong sức khỏe tổng thể của thế hệ trẻ Những vấn đề về sức khỏe tâm thần trong thời kỳ vị thành niên

name for collecting data from 972 school children from grade 6 to grade 8 Multivariable linear regression models and General linear models were employed to control confounding variables The results show that adolescents in suburban school have better mental health than their counterparts

in inner city school (p<0.05) There are various factors associated with depression and anxiety School connectedness, appropriate mother and farther care are protective factors Bullying, overprotection of both mother and father are risk factors of depression and anxiety The study results are consistent with findings from previous studies and show the urgent need of developing and implementing intervention programs at schools to improve school connectedness, reduce school bullying, and support parents to take care their children appropriately, and thus to contribute to promoting mental wellbeing of young generation.

Key words: Depression, anxiety, adolescent, risk factors, protective factors.

Các tác giả:

- Nguyễn Thanh Hương - Tiến sĩ, Phó Trưởng khoa các Khoa học xã hội

- Trương Quang Tiến - Thạc sĩ, Phó Trưởng Bộ môn Giáo dục sức khỏe

- Hoàng Khánh Chi - Thạc sĩ, Giảng viên Bộ môn Chính sách và Pháp luật Y tế

- Nguyễn Hoàng Phương - Cử nhân, Trợ giảng bộ môn Giáo dục sức khỏe

(**) Trần Bích Phượng - Thạc sĩ, Tổ chức Atlantic Philanthropies

(***) Micheal P Dunne - Giáo sư, Tiến sĩ, Đại học Công nghệ Queensland, Úc.

Trang 3

có mối liên quan chặt chẽ với rất nhiều hành vi

nguy cơ như tự tử, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma

túy…, có thể gây ảnh hưởng tức thì hoặc lâu dài tới

sức khỏe thể chất cũng như tâm thần khi trưởng

thành Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ

lệ vị thành niên có biểu hiện rối loạn tâm thần tại

một số nước phát triển như Úc, Mỹ, Đức, Thụy Sỹ,

Tây Ban Nha đều trên 20% [21] Tại Việt Nam, kết

quả nghiên bước đầu của một nghiên cứu dọc tại

cộng đồng (thực hiện từ năm 2000 đến 2015) ở 5

tỉnh cho thấy tỷ lệ trẻ 8 tuổi có triệu chứng rối loạn

hành vi cũng vào khoảng 20% [19]

Nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần chỉ ra

rằng trầm cảm (depression), lo âu (anxiety

disorder) là những biểu hiện thường gặp của các

vấn đề sức khoẻ tâm thần ở vị thành niên [7] Rối

loạn lo âu thường xảy ra cùng với các suy nhược về

thể chất và tâm thần Lo âu có những triệu chứng

khác nhau, nhưng tất cả các biểu hiện đều xoay

quanh sự sợ hãi, lo lắng quá mức hay không có căn

cứ Ở vị thành niên rối loạn trầm cảm biểu hiện là

những thay đổi về cảm xúc như cảm thấy buồn,

khóc, vô vọng; không quan tâm đến những hoạt

động vui chơi, giải trí hay suy giảm các hoạt động

học tập tại trường; có thể biểu hiện ăn không ngon

miệng hay thay đổi giấc ngủ hay có những khó chịu

trong cơ thể một cách mơ hồ; ngoài ra trẻ còn nghĩ

rằng không thể làm được việc gì đúng hoặc cảm

thấy cuộc sống không có ý nghĩa hoặc vô vọng [11]

Nghiên cứu về một số yếu tố ảnh hưởng đến sức

khỏe tâm thần của học sinh ở một số trường trung

học cơ sở của một số thành phố ở Việt Nam của Lê

Thị Kim Dung và cộng sự (2007) có những phát

hiện đáng chú ý về tình trạng lo âu và trầm cảm ở

học sinh Tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 12,3%

và trầm cảm là 8,4% [2]

Trong khuôn khổ của bài báo này này chúng tôi

tập trung vào 2 vấn đề sức khỏe tâm thần là trầm

cảm và lo âu Đây là những vấn đề thường gặp trong

các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm

thần của trẻ em Trong đó, những yếu tố tác động

tích cực làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực, tăng

cường sức khỏe tâm thần được gọi là yếu tố bảo vệ

Bên cạnh đó có những yếu tố có tác động tiêu cực,

làm tăng khả năng xuất hiện các các vấn đề sức

khoẻ tâm thần được gọi là yếu tố nguy cơ Việc xác

định rõ các yếu tố này giúp chúng ta xây dựng giải

pháp can thiệp thích hợp để cải thiện vấn đề sức

khỏe tâm thần Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ có thể thuộc các lĩnh vực: sinh học, tâm lí và xã hội bao gồm các yếu tố về gia đình (sự quan tâm của cha mẹ, mối quan hệ của các thành viên trong gia đình…), trường học (sự gắn kết với nhà trường, vấn đề bạo lực tại trường học…), và cộng đồng (mối gắn kết với cộng đồng, các dịch vụ giải trí, các dịch vụ

tư vấn của xã hội…) [22]

Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở trẻ em, đặc biệt là trầm cảm, lo âu nếu không được quan tâm phòng ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại hậu quả cho cả cá nhân trẻ và gia đình chúng Một trong những hậu quả nghiêm trọng của vấn đề là trẻ có thể có ý định tự tử và thực hiện hành vi tự tử Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, với bạn bè, ảnh hưởng đến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũng như sự phát triển cá nhân nói chung

Vì vậy việc nhận thức đúng đắn, xác định rõ ràng vấn đề sức khoẻ tâm thần và phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sức khoẻ tâm thần cho trẻ em và vị thành niên có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn Nghiên cứu này nhằm xác định một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với trầm cảm và lo âu tập trung vào một số yếu tố về gia đình và nhà trường của học sinh 2 trường trung học cơ sở ở Hà Nội, trên cơ sở đó gợi

ý cho việc xây dựng và triển khai chương trình can thiệp phù hợp với đối tượng vị thành niên học sinh

2 Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế: Đây là điều tra ban đầu của một

nghiên cứu can thiệp so sánh (trước sau không có nhóm chứng) được tiến hành từ 6/2007 - 6/2008 tác động vào một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với sức khỏe tâm thần cụ thể là trầm cảm, lo âu và một số hành vi nguy cơ đối với sức khỏe của vị thành niên Kết quả của nghiên cứu can thiệp sẽ được trình bày trong một bài báo khác

Đối tượng: Học sinh từ lớp 6 đến lớp 8 Địa điểm: Hai trường trung học cơ sở, 1 trường

ở quận Ba Đình và 1 trường ở huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Mẫu nghiên cứu: Mỗi trường lựa chọn ngẫu

nhiên 10 lớp (từ lớp 6-8) tham gia vào nghiên cứu, tổng số 974 em học sinh tham gia

Bộ câu hỏi thu thập số liệu bao gồm 4 phần chính đó là các thông tin chung, môi trường gia đình, môi trường trường học và vấn đề sức khỏe tâm thần

Trang 4

bao gồm trầm cảm, lo âu và một số hành vi nguy cơ

đối với sức khỏe

Thang đo được sử dụng trong bộ câu hỏi:

Thang đo trầm cảm: Sử dụng thang đo CES-D

(The Centre for Epidemiological

Studies-Depression Scale) gồm 20 tiểu mục [16] Thang đo

này đã được đánh giá về tính giá trị và độ tin cây

đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam (với α

= 0,87) [8] Trong nghiên cứu này α = 0,82)

Thang đo lo âu: Sử dụng thang đo gồm 13 tiểu

mục đã bước đầu được đánh giá tính giá trị và độ tin

cậy đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam (với

α = 0,82) [8] Trong nghiên cứu này α = 0,81)

Thang đo mức độ bị trêu ghẹo/bắt nạt tại trường

học: Nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên tham

khảo kỹ lưỡng các tài liệu trong và ngoài nước

Thang đo gồm 5 tiểu mục với lựa chọn trả lời ở 3

mức (không bao giờ, thỉnh thoảng, thường xuyên)

để đo lường mức độ bị bắt nạt tại trường học trong

vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra Thang đo có

độ tin cậy cao (α = 0,79)

Thang đo mối quan hệ/ gắn kết với cha và mẹ:

Sử dụng thang đo của Parker và cộng sự (Parental

Bonding Scale) [14], đây là thang đo được sử dụng

rộng rãi trong nhiều nghiên cứu ở nước ngoài, có độ

tin cậy và tính giá trị cao (α = 0.83 cho thang đo với

mẹ và α = 0.84 cho thang đo với cha) Thang đo

gồm có 25 tiểu mục tách riêng cho cha và mẹ, và

đánh giá 2 khía cạnh là chăm sóc (care) và bảo vệ

quá mức (overprotection)

Thang đo sự gắn kết với nhà trường: Sử dụng

thang đo tham khảo của nước ngoài (School

Connectedness Scale) với 7 tiểu mục [5] (trong

nghiên cứu này α = 0.83)

Thu thập số liệu

Nghiên cứu được sự cho phép của Ban giám

hiệu của 2 trường được mời tham gia Số liệu thu

thập bằng phương pháp sử dụng bộ câu hỏi tự điền

khuyết danh Các em học sinh tự nguyện tham gia

nghiên cứu trả lời các câu hỏi tại lớp học với sự có

mặt của một cán bộ nghiên cứu Thời gian để các

em trả lời xong bộ câu hỏi khoảng 25-30 phút

Trước khi tiến hành nghiên cứu, bộ câu hỏi đã

được chỉnh sửa thông qua thử nghiệm với đối tượng

học sinh để các em trao đổi và góp ý về sự trong

sáng, rõ ràng, dễ hiểu của ngôn ngữ và cách thiết

kế bộ câu hỏi

Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 13 để phân tích số liệu Để phân tích các yếu tố liên quan với trầm cảm và lo âu, cần kiểm soát một số yếu tố nhiễu như các biến về dân số học, đặc điểm gia đình…) Bước thứ nhất trong phân tích chúng tôi sử dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến (Multivariable linear regression models) để xác định các hợp biến (covariates) có ý nghĩa thống kê Bước thứ 2 sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát (General linear Models - GLM) để xác định các yếu tố liên quan Phân tích được tách riêng cho nhóm học sinh nam và nữ

3 Kết quả nghiên cứu

3.1 Một số thông tin chung

Tỷ lệ học sinh giữa trường ngoại thành và nội thành (51,7% và 48,3%), giữa nam và nữ (51,3% và 48,7%) và giữa 3 khối lớp 6, 7 và 8 (33,3%, 36,0% và 30,7%) là khá tương đồng Chỉ có gần 2% em báo cáo có lực học kém trong học kỳ trước Về tình trạng kinh tế của gia đình có 12,3% được đánh giá là khá và giàu (gia đình có ô tô), 74,1% là trung bình (gia đình có xe máy) và 13,6% là nghèo (gia đình chỉ có

xe đạp) Gần 3% các em có bố mẹ bỏ nhau và 2,5% mồ côi cha/mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ Có khoảng 25% các em không biết trình độ học vấn của cha/mẹ Khi được hỏi về mối quan hệ trong gia đình, trên 50% các em đã chứng kiến cha mẹ cãi nhau trong đó gần 15% ở mức độ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên Gần 20% các em đã chứng kiến cha mẹ đánh nhau trong đó gần 5% chứng kiến ở mức độ thỉnh thoảng và thường xuyên Khi cần có sự giúp đỡ về tình cảm tới gần 40% các em chia sẻ với bạn bè sau đó mới đến mẹ (20,0%), anh/chị em (14,9%) và với cha chỉ có 4,9% và có tới trên 15% các em không chia sẻ với bất cứ ai

3.2 So sánh mức độ trầm cảm và lo âu theo giới, địa bàn trường học và khối lớp

Bảng 1 cho thấy học sinh nữ có mức độ lo âu cao hơn nam trong khi đó không có sự khác biệt giữa 2 giới về mức độ trầm cảm Các em học sinh

ở nội thành có mức độ trầm cảm và lo âu cao hơn các em ở khu vực ngoại thành Không có sự khác biệt về mức độ trầm cảm và lo âu khi so sánh giữa

3 khối lớp

Trang 5

3.3 Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ

3.3.1 Các yếu tố liên quan với trầm cảm

Bảng 2 cho thấy các biến có liên quan với trầm

cảm cho nam và nữ học sinh và bảng 3 chỉ ra mối

liên quan của các phân nhóm trong mỗi biến với

trầm cảm

Với học sinh nam: Bị trêu ghẹo/bắt nạt ở trường

và người cha bảo vệ quá mức có thể là yếu tố nguy

cơ đối với trầm cảm ở học sinh nam Ngược lại sự

gắn kết với nhà trường và sự chăm sóc của cha là

yếu tố bảo vệ Số lượng anh/chị em, hiện tại sống

với ai, nghề nghiệp của mẹ và chứng kiến cha mẹ

cãi nhau cũng có mối liên quan với trầm cảm ở học

sinh nam (Bảng 2) Nam học sinh không có anh/chị

em có điểm trầm cảm cao hơn nhóm có anh/chị em

Tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ trầm

cảm giữa nhóm có 1 anh/chị em với nhóm có từ 2

anh/chị em trở lên Nam học sinh sống với cha

và/hoặc mẹ có điểm trầm cảm thấp hơn một cách

có ý nghĩa thống kế với điểm của nam học sinh

không sống với cha, mẹ đẻ Nam học sinh có mẹ là

cán bộ nhà nước cũng có điểm trầm cảm thấp hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm nam học sinh có

mẹ là các nghề khác Các em nam chứng kiến

cha/mẹ cái nhau ở mức độ thỉnh thoảng và thường

xuyên có mức độ trầm cảm cao hơn so với nhóm còn

lại (Bảng 3).

Với học sinh nữ: Bị trêu ghẹo/bắt nạt ở trường

là yếu tố nguy cơ trong khi đó gắn kết với nhà

trường, chăm sóc của mẹ là yếu tố bảo vệ Địa bàn

trường học và kết quả học tập có liên quan với trầm

cảm của học sinh nữ Nữ sinh ở nội thành có mức độ

trầm cảm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ sinh

ở ngoại thành (điểm trầm cảm trung bình là 18.259

so với 14.736) Nữ sinh có mức học trung bình và

kém có mức độ trầm cảm cao hơn các em có lực học

khá và giỏi

3.3.2 Các yếu tố liên quan đến lo âu

Bảng 4 cho thấy các biến có liên quan với lo âu

cho nam và nữ học sinh và bảng 5 chỉ ra mối liên

quan của các phân nhóm trong mỗi biến với lo âu

Với học sinh nam: Bị trêu ghẹo/bắt nạt ở trường

và mẹ bảo vệ quá mức là yếu tố nguy cơ đối với lo

âu ở học sinh nam Thêm nữa các em không có ai

để chia sẻ khi có vấn đề có mức độ lo âu cao hơn

các em khác

Với học sinh nữ: Bị trêu ghẹo/bắt nạt ở trường

và mẹ bảo vệ quá mức cũng là yếu tố nguy cơ đối với lo âu ở học sinh nữ Ngược lại gắn kết với nhà trường lại là yếu tố bảo vệ Những em sống với cả cha lẫn mẹ có mức độ lo âu thấp hơn so với các em không sống với cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ sống với cha hoặc mẹ đẻ Các em chưa bao giờ chứng kiến cha mẹ cãi nhau hoặc không có mâu thuẫn với anh/chị

em có mức độ lo âu thấp hơn so với các em khác

Giới Địa điểm trường học Lớp

Thang đo Nam (n = 488) Nữ (n = 464) T-test (p-value)

Học sinh ngoại (n=469)

Học sinh nội thành (n=503) (p-value) T-test (n = 324) Lớp 6 (n = 350) Lớp 7 (n =298 ) Lớp 8 (p value) ANOVA

Mean(SD) Mean(SD) Mean(SD) Mean(SD) Mean(SD) Mean(SD) Mean(SD)

Trầm cảm

14.85 (9.93) 14.92 (9.87)

.913 13.93 (9.23) 15.60 (10.25)

.008 14.07 (9.52) 15.30 (10.42) 14.98 (9.65)

.251

Lo âu 19.21

(4.50) 21.13 (4.47)

.001 19.70 (4.28) 20.46 (4.86)

.001 19.74 (4.39) 20.26 (4.85) 20.27 (4.50)

.250

Bảng 1 Điểm trầm cảm và lo âu theo giới, địa điểm

trường học và khối lớp

Các biến

Gắn kết với nhà trường -4.769 001* -5.114 001*

Bị trêu ghẹo/bắt nạt 5.925 001* 3.578 001*

Chăm sóc của cha -3.351 001*

Bảo vệ quá mức của cha 2.902 .004*

Địa điểm của trường .323 570 5.085 025*

Tình trạng kinh tế 073 787 1.181 278

Hiện đang sống với ai 3.256 040* .199 819 Tình trạng hôn nhân của cha, mẹ 2.486 116 911 341 Trình độ học vấn của mẹ .315 814 166 919 Trình độ học vấn của cha .191 902 183 908 Nghề ghiệp của cha 1.060 366 613 607 Nghề nghiệp của mẹ 3.352 019* .500 683 Tình trạng sử dụng rượu của cha, mẹ .644 423 2.249 135 Tình trạng sử dụng ma túy của cha, mẹ 160 690 982 322 Tìm sự hỗ trợ tình cảm 1.494 203 322 863 Cha mẹ cãi nhau 4.001 019* 2.036 132

Mâu thuẫn với anh chị em 1.599 189 1.164 323 Kết quả học tập .858 425 3.027 050*

Bảng 2 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan với

trầm cảm (cho nam và nữ học sinh)

* Có ý nghĩa thống kê (p<0.05)

Trang 6

4 Bàn luận

Với truyền thống và văn hóa của đất nước, trẻ

em Việt Nam luôn được quan tâm chăm sóc của cha mẹ và của xã hội Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, nhìn chung trẻ em Việt Nam hiện nay đang được hưởng một cuộc sống với các điều kiện vật chất tốt hơn trước nhưng đồng thời các em cũng đang phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe tâm thần Nghiên cứu này góp phần cung cấp một số bằng chứng về các yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu - hai vấn đề thường được đề cập khi nói đến sức khỏe tâm thần không chỉ của trẻ em mà của cả người trưởng thành, nhưng lại chưa được nghiên cứu nhiều ở qui mô cộng đồng tại Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng một số thang đo đã được đánh giá tính giá trị và độ tin cậy Đây là một trong những yếu tố đảm bảo

Các biến

Mean SE Mean SE Địa điểm của trường

Ngoại thành 14.736 3.462 Nội thành 18.259 3.272

Số anh chị em

Không có 21.542 2.945 Có một 17.643ª 2.626 Có từ 2 trở lên 17.350ª 2.649

Hiện đang sống với ai

Với cả cha và mẹ đẻ 16.933ª 2.313

Với cha hoặc mẹ đẻ 12.693ª 4.134

Không sống với cha mẹ đẻ 26.909 4.476

Nghề nghiệp của mẹ

Cán bộ nhà nước 15.703 2.917

Làm ghề tự do 18.719ª 2.746 Nông dân 21.764ª 2.738 Thất nghiệp/nội trợ 19.194ª 2.671

Chứng kiến bố mẹ cãi nhau

Chưa bao giờ 17.217 2.719 Hiếm khi 18.031 2.663 Thỉnh thoảng/thường xuyên 21.288 2.725

Kết quả học tập

Giỏi 15.058ª 3.320 Khá 15.903ª 3.297 Trung bình và kém 18.532 3.451

Bảng 3 Các nhóm có liên quan với trầm cảm (với

điểm trung bình và SE) (với cả nam và nữ

học sinh)

Ghi chú: a - sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0.05)

Các biến

Gắn kết với nhà trường -.683 495 -2.138 033*

Bị trêu ghẹo/bắt nạt 9.046 001* 3.238 001*

Chăm sóc của mẹ

Bảo vệ quá mức của mẹ 2.870 004* 2.530 012*

Chăm sóc của cha

Bảo vệ quá mức của cha

Địa điểm của trường .022 822 3.131 078

Tình trạng kinh tế .111 739 3.294 070

Hiện đang sống với ai .457 634 8.352 001*

Tình trạng hôn nhân của cha, mẹ .001 985 5.184 023*

Trình độ học vấn của mẹ 1.350 258 330 803

Trình độ học vấn của cha .806 491 932 425

Nghề ghiệp của cha 2.632 050* .089 966

Nghề nghiệp của mẹ .346 792 458 712

Tình trạng sử dụng rượu của cha, mẹ .002 967 2.374 124

Tình trạng sử dụng ma túy của cha, mẹ 2.246 135 004 948

Tìm sự hỗ trợ tình cảm 2.756 028* .773 543

Cha mẹ cãi nhau .787 456 3.682 026*

Mâu thuẫn với anh chị em 2.437 064 3.703 012*

Kết quả học tập .711 492 159 853

Bảng 4 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan với

lo âu (cho nam và nữ học sinh)

* Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05)

Các biến

Hiện đang sống với ai

Với cả cha và mẹ đẻ 20.932ª 1.509 Với cha hoặc mẹ đẻ 24.491ª 1.846 Không sống với cha mẹ đẻ 25.375 2.151

Tình trạng hôn nhân của cha mẹ

Sống với nhau 24.610 1.742 Không sống với nhau 22.589 1.650

Nghề nghiệp của cha

Cán bộ nhà nước 19.345 1.290 Nghề tự do 20.285 1.205 Nông dân 18.598 1.338 Thất nghiệp/Nội trợ 19.164 1.296

Tìm sự hỗ trợ về tình cảm

Cha/mẹ 19.631ª 1.286 Anh chị em ruột 19.344ª 1.269 Bạn bè 19.741ª 1.279 Họ hàng và những người khác 19.912 ª 1.272

Không ai cả 18.112 1.248

Chứng kiến bố mẹ cãi nhau

Chưa bao giờ 22.661 1.700

Thỉnh hoảng/thường xuyên 24.339ª 1.665

Mâu thuẫn với anh chị em

Chưa bao giờ 22.430 1.628

Thỉnh thoảng 23.769ª 1.648 Thường xuyên 24.171ª 1.852

Bảng 5 Các nhóm có liên quan với lo âu (với điểm

trung bình và SE) (với cả nam và nữ học sinh)

Ghi chú: a - Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p >0.05)

Trang 7

được chất lượng của nghiên cứu và tạo điều kiện

cho việc so sánh kết quả với các nghiên cứu khác

trong lĩnh vực này

Nghiên cứu cũng cho thấy có nhiều yếu tố liên

quan với trầm cảm và lo âu của cả nam và nữ học

sinh Một số yếu tố có ảnh hưởng tích cực (yếu tố

bảo vệ) và một số có ảnh hưởng tiêu cực (yếu tố

nguy cơ) Sự gắn kết với nhà trường và mối quan

tâm chăm sóc của cha, mẹ là yếu tố bảo vệ làm

giảm sự trầm cảm và lo âu của học sinh vị thành

niên Điều quan trọng là sự quan tâm của cha có ảnh

hưởng tới sức khỏe tâm thần của các em nam còn

sự quan tâm của mẹ có ảnh hưởng tới các em nữ

Kết quả này là nhất quán với công bố của một số

nghiên cứu ở nước ngoài Rigby, Slee và Martin

(2007) nghiên cứu trên 1.432 học sinh trung học cơ

sở tuổi 12-16 tại thành phố Adelaide của Úc cho

thấy sức khỏe tâm thần kém có liên quan với sự

thiếu chăm sóc của cha và mẹ [17]

Bên cạnh sự tác động của các yếu tố về mối

quan hệ của cha mẹ và đặc điểm gia đình lên sức

khỏe tâm thần của vị thành niên học sinh, môi

trường trường học cũng đóng vai trò rất quan trọng

Giống với kết quả của nghiên cứu này, Cho (2005)

và McNeely (2002) thấy rằng học sinh có mối gắn

kết tốt với trường học có sức khỏe tốt hơn [6;9] Khi

các em học sinh thấy được mọi người ở trường chăm

sóc, chia sẻ và thân thiện các em cảm thấy mình gắn

bó, hòa nhập với trường học và khi đó các em ít có

nguy cơ sử dụng các chất gây nghiện, tham gia đánh

nhau hoặc có quan hệ tình dục Nghiên cứu này

cũng cho thấy các học sinh có mối quan hệ gắn kết

với nhà trường có sức khỏe tâm thần tốt hơn

Về các yếu tố nguy cơ đối với trầm cảm và lo

âu, nghiên cứu này cho thấy kết quả rõ ràng là việc

trêu ghẹo/bắt nạt có liên quan tới sức khỏe tâm thần

của trẻ Tình trạng bảo vệ quá mức của mẹ cũng là

yếu tố nguy cơ đối với cả trầm cảm và lo âu của vị

thành niên Sự bảo vệ quá mức của người cha cũng

có tác động tiêu cực tới tình trạng trầm cảm ở nam

vị thành niên Kết quả này tương tự với công bố của

Rigby và cộng sự (2007) nghiên cứu với vị thành

niên ở Adelaide, Úc Các tác giả thấy rằng sự bảo

vệ quá mức của cha và mẹ có mối liên quan với tình

trạng mất ngủ, lo âu và trầm cảm [17]

Nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan

có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng sử dụng rượu,

ma túy của cha/mẹ và việc cha mẹ ly hôn với sức

khỏe tâm thần của trẻ Kết quả này là rất khác với

các nghiên cứu tương tự ở các nước phương Tây Các nghiên cứu này đều cho thấy việc bố/mẹ nghiện rượu, sử dụng ma túy, cha mẹ đánh/cãi nhau hoặc ly dị/ly thân có ảnh hưởng rất lớn, làm tăng triệu chứng của trầm cảm và lo âu ở trẻ vị thành niên [13;18;20] Sự khác biệt giữa kết quả của nghiên cứu này với nghiên cứu của các quốc gia phát triển có thể là do sự khác biệt về văn hóa, với bối cảnh văn hóa Việt Nam tỷ lệ ly hôn, nghiện ma túy và nghiện rượu ở khu vực các trường triển khai nghiên cứu này là khá thấp Tỷ lệ vị thành niên sống cùng cha và mẹ trong nghiên cứu này là trên 90% và tỷ lệ có cha/mẹ sử dụng ma túy là dưới 1% Tuy vậy, trong tương lai mô hình này có thể thay đối cùng với những tác động tiêu cực của sự phát triển trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối liên quan giữa nghèo đói và sức khỏe tâm thần của người lớn và vị thành niên, đặc biệt là với nữ giới [12;15] Tuy nhiên, nghiên cứu này lại không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kinh tế gia đình và trầm cảm, lo âu của vị thành niên Điều này có thể là do việc phân loại tình trạng kinh tế gia đình trong nghiên cứu này dựa trên câu hỏi trung gian về sở hữu ô tô, xe máy hay xe đạp là chưa đủ độ nhạy để đánh giá mức độ kinh tế của hộ gia đình Nghiên cứu này cho thấy mối liên quan giữa địa bàn của trường học (nội thành và ngoại thành) với trầm cảm và lo âu của học sinh, đặc biệt là với nữ sinh Vị thành niên ở trường nội thành có sức khỏe tâm thần kém hơn so với học sinh ngoại thành Có thể có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này chứ không chỉ là các yếu tố về gia đình và nhân khẩu học như đã được kiểm soát trong mô hình phân tích đa biến của nghiên cứu này Để giải thích cho mối liên quan của địa bàn trường học với sức khỏe tâm thần của học sinh chúng ta cần phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nữa, trong đó có sự khác biệt về điều kiện kinh tế và xã hội giữa khu vực nội và ngoại thành Đặc biệt gần đây có ý kiến bàn luận đặc biệt là trên phương tiện thông tin đại chúng về một hiện tượng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của trẻ, đó là (áp lực giáo dục-education pressure) của cha/mẹ và nhà trường cùng bạn bè lên các em học sinh [10] Áp lực này có thể là nặng nề hơn ở khu vực nội thành so với ngoại thành Trong tương lai các nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn để cung cấp bằng chứng cho giả thuyết này và tác động của "áp

Trang 8

lực giáo dục" lên sức khỏe tâm thần của học sinh là

rất cần thiết

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi quỹ Ford trong dự án "Nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu cho trường Đại học Y tế Công cộng trong lĩnh vực khoa học xã hội và sức khỏe sinh sản" Chúng tôi xin gửi lời cảm

ơn đến lãnh đạo trường Đại học Y tế Công Cộng và hai trường Trung học cơ sở ở Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện và tham gia vào quá trình nghiên cứu

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1 Trần Văn Cường (2002), Điều tra dịch tễ học lâm sàng

một số bệnh tâm thần thường gặp ở các vùng kinh tế xã hội

khác nhau của nước ta hiện nay (Báo cáo đề tài cấp Bộ).

2 Lê Thị Kim Dung (2007), Bước đầu tìm hiểu một số yếu

tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở một số

trường trung học cơ sở thuộc một số thành phố (Đề tài nghiên

cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mã số B2003-49-61).

3 Nguyễn Viết Thiêm (2002), Sức khỏe tâm thần cộng đồng

- Tài liệu đào tạo sau đại học., Đại học Y Hà Nội.

4 WHO (1998), Ủng hộ các chính phủ và các nhà hoạch định

chính sách (tài liệu dịch từ nguyên bản tiếng Anh).

Tiếng Anh

5 California Department of Education (2004), California

Healthy Kids Survey, California Safe and Healthy Kids

Program Office.

6 Cho, H., Hallfors, D D., and Sanches, V., (2005),

"Evaluation of a High School Peer Group Intervention for

At-Risk Youth " Journal of Abnormal Child Psychology,

33, No.3 (June 2005)pp 363-374.

7 Forero R, M L., Rissel C, Bauman A (1999), " Bullying

behaviour and psychosocial health among school students in

New South Wales, Australia: cross sectional survey." British

Medical Journal, pp 344-349.

8 Huong N T., A L V., M P Dunne, (2006), "Validating

measures of depression and anxiety in a community-based

sample of adolescents." Vietnam Journal of Public Health.,

No 7pp 26-31.

9 McNeely, C A., Nonnemaker, J M & Blum, R W.

(2002), "Promoting school connectedness: evidence from

the National Longitudinal Study of Adolescent Health", J

Sch Health, 72(4), pp 138-46.

10 Michaelson, R (2004), Child Abuse in Viet Nam:

Summary report of the concept nature and extent of child

abuse in Viet Nam.

11 National Health Institute of USA (1999), "Depression".

12 National Statistics UK (2004), The health of Children

and Young People.

13 Palmer, S B (1998), "The role of risk for insecure early attachment in explaining the behavioural adjustment of foster children " The Sciences and Engineering, 58(8-B)(February 1998)pp 4493.

14 Parker, G., Tupling, H., and Brown, L.B (1979), Parental Bonding Instrument

15 Patel, V., Araya, R., De Lima, M., Ludermir, A., & Tood, C (1999), "Women poverty and common mental disorders in four restructuring societies." Social Science and Medicine, 49pp 1461-1471.

16 Radloff, L S (1977), "The CES-D Scale: A self-report depression scale for research in the general population Applied Psychological Measurement 1977." 1(3)pp 385-401.

17 Rigby, K., Slee, P T., Martin, G., (2007), "Implications

of inadequate paretal bonding and peer victimization for adolescent mental health." Journal of Adolescence, 30pp 801-812.

18 Spence, S., Najman, J., Bor, W., O'Callaghan, M., & Williams, G., (2002), "Maternal anxiety and depression, poverty and marital relationship factors during early childhood as predictors of anxiety and depressive symptoms

in adolescence." Journal of Child psychology and psychiatry, 43(4)pp 457-469.

19 Tran T., P L., & Harpham T., (2003), Young Lives Premilinary Country Report: Viet Nam An International Study of Childhood Poverty.

20 Videon, T M (2002), "The Effects of Parent-Adolescent Relationships and Parental Separation on Adolescent Well-Being " Journal of Marriage and Family, 64(May 2002)pp 489-503.

21 WHO (2001), The World Health report 2001 - Mental Health: New Understanding, New Hope.

22 WHO (2005), Mental Health policy and Service Guidance Package - Child and Adolescent Mental Health Policies and Plans Nguồn: http://www.who.int/mental_health/policy/en/Child%20%20 Ado%20Mental%20Health_final.pdf (truy cập ngày 12/04/2007).

Ngày đăng: 12/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Điểm trầm cảm và lo âu theo giới, địa điểm - Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx
Bảng 1. Điểm trầm cảm và lo âu theo giới, địa điểm (Trang 5)
Bảng 4 cho thấy các biến có liên quan với lo âu - Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx
Bảng 4 cho thấy các biến có liên quan với lo âu (Trang 5)
Bảng 3.  Các nhóm có liên quan với trầm cảm (với - Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx
Bảng 3. Các nhóm có liên quan với trầm cảm (với (Trang 6)
Bảng 4.  Phân tích đa biến các yếu tố liên quan với - Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx
Bảng 4. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan với (Trang 6)
Bảng 5.   Các nhóm có liên quan với lo âu (với điểm - Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung học cơ sở, thành phố Hà Nội potx
Bảng 5. Các nhóm có liên quan với lo âu (với điểm (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w