1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học tại Chí Linh (Chililab) - Các kết quả cơ bản từ số liệu giai đoạn 7/2004 - 6/2005 potx

6 559 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống giám sát dân số dịch tễ tại Chí Linh (Chililab): Các kết quả cơ bản từ số liệu giai đoạn 7/2004 - 6/2005
Tác giả ThS. Lê Thị Vui, TS. Lê Cự Linh, TS. Phạm Việt Cường
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 218,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của hệ thống trên là cung cấp những bộ số liệu cơ bản về dân số học, kinh tế văn hoá xã hội và bệnh tật của cộng đồng và theo dõi định kỳ các thông tin cơ bản trên trong khoảng

Trang 1

Hệ thống giám sát dân số dịch tễ tại Chí Linh (Chililab): Các kết quả cơ bản từ số liệu

giai đoạn 7/2004 - 6/2005

ThS Lê Thị Vui, TS Lê Cự Linh,

TS Phạm Việt Cường

Hệ thống giám sát định kỳ dân số và dịch tễ học tại 7xã/thị trấn của huyện Chí Linh (CHILILAB) đã được triển khai từ tháng 7 năm 2004 đến nay Mục đích của hệ thống CHILILAB là cung cấp những bộ số liệu cơ bản về dân số và sức khỏe của cộng đồng làm nền tảng cho cho việc triển khai đánh giá tác động của các chương trình can thiệp Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn các hộ gia đình qua điều tra nền và điều tra quý Báo cáo đưa ra các kết quả điều tra trong vòng một năm, từ 1/7/2004 đến 30/6/2005 Kết quả phân tích cho thấy dân số ở CHILILAB có cấu trúc là dân số trẻ nhưng đang trong quá trình giảm sinh mạnh mẽ Nhìn chung, mức sinh tại CHILILAB đang ở mức thấp, đặc biệt là tỷ suất sinh thô (CBR=13,4%0) và tổng tỷ suất sinh (TFR=1,85 con) Mức chết của dân cư tại CHILILAB hiện tại cũng đang ở mức thấp so với số liệu chung của toàn quốc, đặc trưng nhất là tỷ suất chết thô thấp (CDR=4,3%0), chết trẻ sơ sinh và chết dưới 5 tuổi đều ở mức thấp Tuổi thọ bình quân của người dân cao (78 tuổi) Biến động dân số ở đây là đáng kể, tỷ suất di dân thuần túy cho thấy dân cư ở CHILILAB có xu hướng đi ra khỏi huyện để tìm kiếm việc làm và các cơ hội khác nhiều hơn, đây cũng là kết quả của quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa

The Demographic-Epidemiologic Surveillance System in 7 communes/towns of Chi Linh district (called CHILILAB) has been implemented since July 2004 The aim of CHILILAB was to provide a baseline data set on population and community health need assessments for the evaluation of inter-ventions Data was collected by using household questionnaire in baseline and quarterly surveys Results of one-year surveillance from July 1st 2004 to June 30th 2005, showed that population struc-ture in CHILILAB is young but was in a fast fertility status In general, birth rate in CHILILAB area was at a low level, particularly crude birth rate (CBR=13, 4%0) and total fertility rate (TFR=1, 85 children) The mortality rate at CHILILAB is also low compared to national figures, particularly crude death rate (CDR = 4, 3%0), infant mortality rate and mortality rate of children under five years old Average life expectancy is high (78 years old) The population migration is significant; the net migration rate showed that local people at CHILILAB are seeking for job and other opportunities outside of the district as the result of urbanization and economic development

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Trường Đại học Y tế công cộng là một cơ sở đào

tạo y tế công cộng đầu tiên của Việt Nam đã tiến

hành các hoạt động đào tạo Y tế công cộng (YTCC)

gắn liền với thực địa (1997) Với mục tiêu lâu dài,

việc gắn liền giảng dạy YTCC với thực địa không

chỉ dừng ở việc mô tả vấn đề sức khoẻ, cũng như

xác định các yếu tố liên quan hay nguy cơ của

những vấn đề sức khoẻ mà cần phải có những

chương trình can thiệp có cơ sở khoa học, chứng

minh được tính hiệu quả trong việc giải quyết những

vấn đề sức khoẻ đã được xác định

Tháng 6 năm 2003, Trường Đại học Y tế Công

cộng Hà Nội kết hợp với Uỷ ban Nhân dân Huyện

Chí Linh, trong đó đối tác chính là Trung tâm Y tế

Huyện, tiến hành xây dựng hệ thống thí nghiệm

thực địa điều tra nhân khẩu và dịch tễ, gọi tắt là

CHILILAB

Về bản chất đây là hệ thống giám sát định kỳ

dân số và dịch tễ học (Demographic-Epidemiologic

Surveillance System) tại cộng đồng Mục đích của

hệ thống trên là cung cấp những bộ số liệu cơ bản

về dân số học, kinh tế văn hoá xã hội và bệnh tật

của cộng đồng và theo dõi định kỳ các thông tin cơ

bản trên trong khoảng thời gian dài Dựa trên cơ sở

của một bộ số liệu được thu thập một cách xác thực,

dọc và kéo dài theo thời gian, chúng ta có thể xác

định được các biến động về kinh tế, văn hoá xã hội

và sức khoẻ của cộng đồng một cách hệ thống, các

yếu tố nguy cơ/căn nguyên ảnh hưởng đến tình

trạng sức khoẻ cộng đồng, làm cơ sở cho việc triển

khai, đánh giá các tác động của những chương trình

can thiệp

Trên thế giới có nhiều cơ sở thực địa giám sát

dân số học tương tự được hình thành và triển khai

trên 35 nước, chủ yếu ở châu Phi và châu Á Các cơ

sở này đã đóng góp vào việc tìm ra các cách thức

điều trị, can thiệp sức khoẻ cộng đồng và hình thành

chính sách YTCC CHILILAB là thành viên của Tổ

chức quốc tế về các thực địa này (viết tắt là

INDEPTH)

Mục tiêu chung của CHILILAB là giám sát tình

hình dân số, sức khoẻ, tiến hành các hoạt động

nghiên cứu, đào tạo y tế công cộng chuyên sâu và

làm nền tảng cho việc hình thành các chính sách

nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồng và uy tín quốc

tế của hệ thống YTCC Việt Nam Báo cáo này

nhằm mục tiêu: 1) Mô tả một số thông tin cơ bản về

qui mô, cấu trúc dân cư, điều kiện hộ gia đình tại địa bàn 2) Phân tích một số chỉ số cơ bản để đánh giá mức sinh ở địa bàn 3) Phân tích một số chỉ số

cơ bản về mức chết và tình hình biến động dân cư ở địa bàn

2 Phương pháp nghiên cứu Thiết kế tổng thể của cơ sở thực địa là một hệ thống giám sát dân số và dịch tễ định kỳ, dọc theo thời gian (surveillance system and follow-up study) Tháng 7 năm 2004 hệ thống CHILILAB đã được tiến hành trên địa bàn bao gồm 7 xã/thị trấn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Sao Đỏ, Phả Lại, Bến Tắm, An Lạc, Văn An, Lê Lợi, Hoàng Tiến) Các số liệu cơ bản về dân số học đã được thu thập vào tháng 7 năm 2004, và các điều tra nhắc lại đã được tiến hành 3 tháng một lần Đến thời điểm 31/12/2005, hệ thống CHILILAB đã tiến hành được

1 vòng điều tra cơ bản và 5 vòng điều tra quý trên địa bàn cả 7 xã /thị trấn

Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi có cấu trúc phỏng vấn các thông tin về hộ gia đình trong điều tra nền (baseline) và các biến động về dân cư (sinh, chết, di cư, hôn nhân, thai sản, v.v ) tại vòng điều tra quí 3 tháng 1 lần Toàn bộ các số liệu của hệ thống được rà soát và làm sạch trước khi nhập vào máy thông qua một chương trình quản lý số liệu riêng của CHILILAB Để có các tính toán, phiên giải số liệu theo các chu kỳ, báo cáo này đưa ra các kết quả điều tra trong vòng 1 năm, từ 1/7/2004 đến hết ngày 30/6/2005 với qui mô dân số được lấy tại thời điểm giữa chu kỳ 31/12/2004

Quá trình phân tích số liệu được tiến hành sau khi bộ số liệu đã được nhập toàn bộ, các phân tích dân số học (tính toán mức sinh, mức chết, lập bảng sống), và các thống kê mô tả được sử dụng để tính toán các chỉ số cơ bản Phương pháp phân tích PCA (Principle Component Analysis) được sử dụng để đo lường tình trạng kinh tế hộ gia đình thông qua các vật dụng lâu bền đang được các hộ gia đình sử dụng

3 Kết quả nghiên cứu 3.1 Thông tin chung của hộ gia đình và dân số Tổng số nhân khẩu hiện đang cư trú trong hệ thống giám sát là 57.161 người thuộc 16.689 hộ gia đình thuộc địa bàn 7 xã/thị trấn trong đó nam giới chiếm 48,8% Số thành viên trung bình trong mỗi hộ là 3,4 người

Trang 3

Hình tháp dân số cho thấy mô hình dân cư ở

CHILILAB đang trong thời kỳ cuối của quá trình

quá độ về dân số, cấu trúc dân cư vẫn là dân số trẻ

nhưng đang trong quá trình giảm sinh mạnh mẽ

Hình 1 Tháp dân số của quần thể dân cư tại

CHILILAB

Người dân ở địa bàn trong hệ thống CHILILAB

chủ yếu là dân tộc Kinh (99,6%) Các dân tộc thiểu

số khác như người Hoa, Tày, Thái, Khơ Me chiếm

một tỷ lệ rất nhỏ, dưới 1% Gần 100% số người

trong địa bàn CHILILAB không thuộc một tôn giáo

nào (99,9%)

Nghề nghiệp của quần thể dân số được phân

tích cho 37.278 đối tượng trong độ tuổi lao động (từ

15-60) cho kết quả là làm ruộng (nông dân) là lọai

hình lao động chiếm tỷ lệ cao nhất tại địa bàn

(36,51), sau đó là đến nghề buôn bán/kinh doanh

nhỏ (16,8%) Tỷ lệ thất nghiệp 0.8% là rất thấp so

với tỷ lệ chung của đồng bằng Sông Hồng (6,03%)

và toàn quốc (5,6%)

Toàn bộ các đối tượng tuổi từ 6 (tuổi đi học)

được phân tích theo trình độ học vấn cho thấy

khoảng 94% dân số trong địa bàn có trình độ cấp I

trở lên, trong đó có trình độ từ cấp III trở lên chiếm

khoảng 35% dân số Trên 3% dân số có trình độ đại

học, số đối tượng có trình độ sau đại học chiếm tỷ

lệ thấp (0,07%).Số đối tượng mù chữ, hoặc chỉ biết

đọc/viết còn chiếm tỷ lệ cao trên 2-4% trong đó tập

trung chủ yếu tại các xã An Lạc, Văn An , Lê Lợi

Tình trạng kinh tế của hộ gia đình được tính

toán dựa trên các vật dụng lâu bền, điều kiện nhà

ở, điều kiện sinh hoạt Chỉ số kinh tế hộ được phân

theo quintile (5 nhóm cân bằng, 20% trong một

nhóm) nhằm mục tiêu phân chia tình trạng kinh tế

thành 5 mức độ: nghèo, dưới trung bình, trung bình,

trên trung bình và giàu Các tình trạng kinh tế được

sử dụng để phân tích theo các tiêu chí khác nhau

Theo tiêu chí tính toán cho toàn bộ quần thể CHILILAB, số lượng hộ nghèo trong các xã, thị trấn rất khác nhau Trong khi ở Sao Đỏ chỉ có khoảng 5% số hộ lọai nghèo thì ở An Lạc và Lê Lợi tỷ lệ này là xấp xỉ 40%, nghĩa là gấp khoảng 10 lần Và sự chênh lệch trong số hộ giàu còn cao hơn, chênh lệnh khoảng 20 lần

3.2 Mức sinh Tỷ số giới tính khi sinh (số trẻ em trai được sinh

ra so với 100 trẻ em nữ) của địa bàn nghiên cứu ở mức thấp (100.5), trong khi tỷ số này thông thường là 105 Có sự khác nhau rất rõ nét của tỷ số giới tính khi sinh giữa các xã/thị trấn Xã An Lạc và Văn An có tỷ số giới tính khi sinh cao (156 và 150), tức là trung bình trong 5 trẻ em được sinh ra thì có tới 3 trẻ là bé trai Trong khi tỷ số giới tính của TT Phả Lại

ở mức rất thấp (85), cứ 100 bé gái được sinh ra thì chỉ có 85 bé trai được sinh ra

Tỷ suất sinh thô (CBR) biểu thị số trẻ em trung bình được sinh ra trong năm trên 1000 người dân Tại địa bàn trung bình trong năm có 13,4 trẻ được sinh ra trên 1000 dân (CBR=13,4%0), con số này cũng gần tương đồng với cả nước vào năm 2002 (15%0) Không có sự khác biệt rõ ràng về tỷ suất sinh thô giữa các xã/thị trấn, tỷ suất sinh thô dao động từ 12%0đến 15%0tại các xã/thị trấn

Tỷ suất sinh chung (GFR) biểu thị số sinh trong năm của 1000 phụ nữ trong độ tuổi 15-49 Như vậy trung bình trong năm có khoảng 47 trẻ được sinh ra trên 1000 phụ nữ tuổi 15-49 tại địa bàn Tỷ suất này thấp hơn so với toàn quốc vào năm 2002 (GFR=66%0)

Tỷ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi (Age Specific Ferterlity Rate -ASFR) cho ta biết số trẻ

Hình 2 Tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của

CHILILAB và toàn quốc

Trang 4

em sinh sống trung bình được sinh ra trên 1000 phụ

nữ ở nhóm tuổi nhất định

Tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi của địa

bàn năm nghiên cứu cao nhất ở nhóm tuổi 20-24

(140%0), tiếp đến là nhóm tuổi bà mẹ 25-29

(121%0), sau đó là giảm dần theo các nhóm tuổi

Hình 2 cho thấy tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm

tuổi của địa bàn CHILILAB cũng gần tương đồng

với xu hướng ASFR của toàn quốc vào năm 2002

và thấp hơn nhiều so với ASFR của toàn quốc vào

năm 1997

Tổng tỷ suất sinh (TFR) trên địa bàn năm 2004

là 1,85 con, nghĩa là trung bình mỗi bà mẹ ở địa bàn

này trong suốt cuộc đời sinh sản của mình sẽ có

1,85 con nếu bà ta sống qua được tuổi 50 và có các

tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm tuổi giống như đã

tính năm 2004

Xã Văn An có tổng tỷ suất sinh cao nhất (trung

bình mỗi người phụ nữ ở xã Văn An trong suốt cuộc

đời làm mẹ của mình sẽ có 2 con), tiếp đến là thị

trấn Sao Đỏ (1,97 con) Tổng tỷ suất sinh thấp nhất

là ở thị trấn Bến Tắm (1,65 con) và thị trấn Phả Lại

(1,70 con)

Khi phân tích sâu tổng tỷ suất sinh theo trình độ

học vấn của bà mẹ, chúng tôi thấy có sự khác biệt

tổng tỷ suất sinh theo trình độ học vấn của người

mẹ Bà mẹ ở địa bàn có trình độ học vấn càng cao

thì mức sinh càng giảm Bà mẹ với trình độ học vấn

tiểu học có mức sinh cao nhất (1,99 con), nhưng khi

bà mẹ có trình độ học vấn trung học phổ thông thì

tổng tỷ suất sinh chỉ còn 1,72 con và đến trình độ

học vấn từ trung cấp trở lên thì con số này là 1,71

con cho một phụ nữ

3.3 Tình hình tử vong

Tỷ suất chết thô (CDR) biểu thị số người chết

trung bình trong năm trên 1000 người dân Tỷ suất

chết thô tại CHILILAB trong giai đoạn 1 năm từ

7/2004 tới 6/2005 là 4,30%0 Tỷ suất này thấp hơn

CDR chung của Việt Nam trong giai đoạn này (5,8

phần 1000) Đồ thị mô tả tỷ suất chết đặc trưng theo

nhóm tuổi (ASDR) của dân số tại CHILILAB được

thể hiện trong Hình 3

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tại CHILILAB trong

năm qua, là 0,97%, thấp hơn so với tăng chung của

cả nước (1,17%)

Tỷ suất tử vong dưới một tuổi (còn gọi là tỷ suất

tử vong trẻ sơ sinh (IMR) tại CHILILAB được tính

theo phương pháp trực tiếp IMR tính được tại CHILILAB trong giai đoạn này là 12,7%0, hay nói khác, cứ 1000 trẻ sinh ra sống thì có gần 13 trẻ sẽ tử vong trong năm đầu tiên của cuộc đời Như vậy, IMR tại CHILILAB ở mức khá thấp so với số liệu chung của toàn quốc (hiện ở mức 21 phần 1000 theo số liệu năm 2003) và tương đối gần với IMR của vùng đồng bằng Sông Hồng nói chung (15 phần 1000) Tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi (U5MR) tính được là 16,5 phần 1000, và thấp hơn so với U5MR chung của toàn quốc hiện ở mức 32,9 phần 1000, cũng như của vùng Đồng bằng Sông Hồng (26,2 phần 1000)

Theo kết quả phân tích bảng sống cho thấy tuổi thọ bình quân của dân cư tại CHILILAB là khá cao (hơn 78 tuổi) Bảng sống cũng cho phép chúng ta ước tính triển vọng sống theo từng độ tuổi ở CHILILAB Chẳng hạn, tính bình quân, một người

ở CHILILAB nếu đang ở tuổi 20 sẽ có thể sống thêm được khoảng 60 năm nữa

3.4 Tình hình biến động dân cư Trong tổng số 57.161 người tại địa bàn CHILILAB tại thời điểm giữa kỳ nghiên cứu, chỉ có

1633 trường hợp di chuyển ra khỏi hộ và đến nơi ở mới tại căn nhà khác trong nội bộ địa bàn do kết quả của việc tách hộ gia đình (chiếm tỷ lệ 2,9%) Tuy vậy, số lượt người di chuyển ra khỏi địa bàn lớn hơn nhiều: 3.362 trường hợp (trong đó có 1.761 nam và 1.611 nữ) Số trường hợp di chuyển đến CHILILAB là 2.547 lượt người (bao gồm 1.337 nam và 1.210 nữ) Như vậy nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể giữa hai giới, thông tin riêng rẽ cho nam và nữ

vì thế không trình bày vì không có nhiều ý nghĩa Trong số 3.362 trường hợp chuyển đi, 87% là chuyển đến địa bàn trong nước, chỉ có 13% (430 trường hợp, bao gồm 131 nam và 299 nữ) là di chuyển ra nước ngoài Với những người đi nước

0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 100.0 120.0 140.0

0 1-4 5-9 10-14 15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50-54 55-59 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85+

nam n?

chung Nam Nữ Chung

Hình 3 Tỷ suất tử vong đặc trưng theo tuổi của

dân cư tại CHILILAB (phần 1000)

Trang 5

ngoài, có sự khác biệt về giới: ở nam giới 34% là đi

Nga, 24% đi Đài Loan, và 11% đi Hàn Quốc, số còn

lại là đi nhiều nước khác với tỷ lệ thấp Trong khi

đó Đài Loan là đích đến phổ biến nhất với nữ

(70%), tiếp theo là Nga (15%) Lý do di cư ra nước

ngoài chủ yếu là vì kinh tế (92,8% các trường hợp

chuyển ra nước ngoài)

Với 2.932 trường hợp chuyển khỏi CHILILAB

nhưng vẫn ở trong nước: 17,8% nêu lý do là do hôn

nhân/gia đình, 50,1% do lý do kinh tế và 26,4% là

cho mục đích giáo dục

4 Bàn luận

Hai xã An Lạc và Văn An có tỷ số giới tính khi

sinh trong khoảng thời gian nghiên cứu là cao (156

và 150) Tuy nhiên, do số liệu chúng tôi mới chỉ

phân tích trong khoảng thời gian ngắn (1 năm) và

số liệu trẻ em sinh ra tại các xã là không nhiều (An

Lạc: 64 trẻ; Văn An: 100 trẻ) nên chưa khẳng định

được rằng tỷ số giới tính trẻ sơ sinh tại hai xã là cao

và có tính quy luật Để khẳng định thêm về tỷ số

giới tính khi sinh cao, chúng tôi cần phân tích số liệu

trong khoảng thời gian dài hơn

TFR tại địa bàn Chililab có nghĩa là khi kết thúc

độ tuổi sinh đẻ, hoàn thành nhiệm vụ sinh nở, trung

bình một người phụ nữ ở địa bàn sẽ sinh khoảng trên

dưới 1,85 con (nếu tính theo ước lượng trong năm

2004) Như vậy so sánh TFR của CHILILAB năm

2004 (1,85) và toàn quốc qua số liệu DHS 2002

(1,87) thì cũng gần tương đương nhau TFR của Việt

nam theo kết quả của TĐTDS năm 1989 là 3,8 con;

DHS 1997 là 2,67 con, TĐTDS năm 1999 là 2,3 con

và DHS 2002 là 1,87 con Nội dung của công tác dân

số kế hoạch hoá gia đình ở CHILILAB cần có sự

phân bố theo từng xã/thị trấn Ví dụ ở Văn An với

TFR sinh còn cao thì nội dung tuyên truyền cần tập

trung cho công tác tiếp tục giảm sinh, còn ở Bến

Tắm có TFR thấp thị nội dung tuyên truyền nên

hướng vào các vấn đề chất lượng dân số

Tuổi thọ của người Việt Nam trong giai đoạn

2003-2004 (theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê)

ở mức khoảng 72 tuổi (70 cho nam và 73 cho nữ)

Theo kết quả phân tích ở đây tuổi thọ của nam giới

ở CHILILAB ở mức 72 và ở nữ là 84 Như vậy nếu

so với tuổi thọ bình quân của nam giới theo số liệu

quốc gia (70 tuổi), tuổi thọ của nam giới ở

CHILILAB ở mức 72 tuổi cũng tương đối hợp lý

Mặc dầu vậy, cũng tương tự với mức chết trẻ sơ sinh đã trình bày trên đây, số liệu về tử vong, đặc biệt là tử vong ở các độ tuổi nhỏ và người trẻ tuổi (dễ bị bỏ sót) vẫn có thể còn chưa đầy đủ và đòi hỏi nhóm nghiên cứu CHILILAB phải nâng cấp các mô đun nghiên cứu về tử vong

Địa bàn CHILILAB chỉ ở qui mô nhỏ, vì vậy chúng tôi đặt ra các câu hỏi về di cư nhằm đánh giá sự thay đổi: 1) hộ gia đình trong nội bộ địa bàn CHILILAB (tách hộ, ra nơi ở mới cũng như tách hộ nhưng vẫn sống chung trong một nơi ở), 2) vị trí sinh sống ra khỏi địa bàn CHILILAB hay không Những sự thay đổi thuộc nhóm 1 không nằm trong phạm vi được tính đếm là di dân mà chỉ đơn thuần là sự thay đổi cấu trúc một số hộ gia đình, có thể có sự thay đổi căn nhà nơi sinh sống trong phạm vi các cụm dân cư, và có thể coi là những sự di chuyển nội vùng (trong địa bàn) Trái lại, những di chuyển của người dân ra ngoài địa bàn được coi là di dân Số liệu di dân tại thời điểm này chưa cho phép nhóm nghiên cứu tách riêng một cách chi tiết những trường hợp đó, và do vậy chỉ trình bày những thông tin sơ bộ về vấn đề di dân

Tóm lại, do việc phân tích được tiến hành trong một thời gian ngắn, và mục tiêu của báo cáo mới chỉ dừng ở mức độ đưa ra kết quả nên chưa có được những phân tích nhận định chi tiết hơn về dân số, dịch tễ học Nhìn chung, các định hướng chiến lược của CHILILAB về việc lựa chọn chủ đề sức khỏe

vị thành niên và thanh niên để nghiên cứu chuyên sâu là một hướng đi thích hợp vì đây thực sự là một đối tượng đích quan trọng: chiếm tỷ trọng lớn trong dân số đích, đang có nhiều biến động cơ học trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở một cộng đồng có những đặc thù về dân số học đã hoàn thành quá trình quá độ dân số và đô thị hóa nhanh chóng

Lời cảm ơn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ủy ban dân dân huyện Chí Linh, Trung tâm Y tế huyện Chí Linh, Ban điều hành CHILILAB, đặc biệt là PGS.TS Lê Vũ Anh, TS Trần Hữu Bích đã tạo cơ hội cho nhóm tiếp cận và sử dụng số liệu cho báo cáo này Xin cảm ơn KS Phạm Việt Cường và CN Mạc Văn Huy đã hỗ trợ trong việc kết xuất dữ liệu phân tích

Trang 6

Tác giả

1 ThS Lê Thị Vui - Giảng viên Bộ môn Dân số, Trường

Đại học Y tế Công cộng Địa chỉ liên lạc: 138 Giảng Võ,

Ba Đình, Hà Nội Điện thoại: 04-2662331 Email:

ltv@hsph.edu.vn

2 TS Lê Cự Linh - Trưởng Phòng Đào tạo sau đại học,

Trưởng Bộ môn Dân số, Trường Đại học Y tế Công cộng.

Địa chỉ liên lạc: 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội Điện

thoại: 04-2662335 Email: lcl@hsph.edu.vn

3 TS Phạm Việt Cường - Phó Trưởng Bộ môn Thông kê,

Trường Đại học Y tế Công cộng Địa chỉ liên lạc: 138

Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội Điện thoại: 04-2662325.

Email: pvc1@hsph.edu.vn

Tài liệu tham khảo

1 Đặng Nguyên Anh (2005) Di dân trong nước: Vận hội và thách thức đối với công cuộc đổi mới và phát triển ở Việt Nam Nhà xuất bản Thế giới.

2 Lê Cự Linh, Lê Vũ Anh, Mike Linnan (2002) Đánh giá gánh nặng bệnh tật tại huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thông qua phân tích một số số liệu tử vong 1997 - 1998 Tạp chí Y học Thực hành, Việt Nam.

3 Lê Cự Linh; Đặng Nguyên Anh; Nguyễn Đình Cử; Phạm Đại Đồng; Phạm Thị Thiềng; Nguyễn Nam Phương; Nguyễn Kim Bình; Đỗ Xuân Sơn; Lê Thị Vui (2004) Giáo trình Dân số và Phát triển Trường Đại học Y tế Công cộng.

4 Tổng cục Thống kê (2001) Chuyên khảo về Di cư nội địa và Đô thị hóa ở Việt Nam Nhà xuất bản Thống kê

5 Uỷ ban Dân số Gia đình và Trẻ em (2005) Số liệu Dân số, Gia đình và Trẻ em Nhà xuất bản Thống kê.

Ngày đăng: 12/03/2014, 04:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tháp dân số cho thấy mô hình dân cư ở - Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học tại Chí Linh (Chililab) - Các kết quả cơ bản từ số liệu giai đoạn 7/2004 - 6/2005 potx
Hình th áp dân số cho thấy mô hình dân cư ở (Trang 3)
Hình 1. Tháp dân số của quần thể dân cư tại - Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học tại Chí Linh (Chililab) - Các kết quả cơ bản từ số liệu giai đoạn 7/2004 - 6/2005 potx
Hình 1. Tháp dân số của quần thể dân cư tại (Trang 3)
Hình 2 cho thấy tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm - Hệ thống giám sát dân số dịch tễ học tại Chí Linh (Chililab) - Các kết quả cơ bản từ số liệu giai đoạn 7/2004 - 6/2005 potx
Hình 2 cho thấy tỷ suất sinh đặc trưng theo nhóm (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w