Lê Minh Thi Đây là một nghiên cứu dân tộc học dùng phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn không chính thức và quan sát có tham gia 20 bà mẹ trong thời kỳ sau sinh, 6 người thân và 3 cán b
Trang 11 Đặt vấn đề
Thời kỳ sau sinh là giai đoạn quan trọng đối với
sản phụ và trẻ sơ sinh Với những phụ nữ sinh con
lần đầu, đó có thể là sự kiện làm thay đổi cuộc sống
và có ý nghĩa nhất trong đời1 Nó được đánh đấu bởi
những xúc cảm mạnh mẽ, những thay đổi sinh lý,
những quan hệ mới và phải thay đổi vai trò từ một
"người phụ nữ" sang một "người mẹ" về mặt xã hội2
Thời kỳ sau sinh còn là sự kiện có tính chất cá nhân
cũng như xã hội và có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so
với các sự kiện sinh lý thông thường
Tuy nhiên, ở cả các nước đang và đã phát triển, sức khoẻ của mẹ và con trong thời kỳ sau sinh chưa được quan tâm đầy đủ do tập trung hết sự quan tâm vào thời kỳ mang thai và khi sinh nở Sự lãng quên đó bỏ qua một thực tế là đa phần số ca tử vong và tàn tật ở mẹ xảy ra trong thời kỳ sau sinh và số tử vong ngay sau khi sinh vẫn còn cao Sự quan tâm không đầy đủ này tác động không nhỏ đến tình trạng của mẹ và con cũng như sức khoẻ của họ sau này Chăm sóc kém làm giảm cơ hội phục hồi sức khoẻ do không phát hiện được sớm và xử trí kịp
Tập quán chăm sóc sau sinh của phụ nữ và các yếu tố văn hóa - xã hội liên quan
tại huyện Ân Thi, Hưng Yên
ThS, BS Lê Minh Thi
Đây là một nghiên cứu dân tộc học dùng phương pháp phỏng vấn sâu, phỏng vấn không chính thức và quan sát có tham gia 20 bà mẹ trong thời kỳ sau sinh, 6 người thân và 3 cán bộ y tế nhằm tìm hiểu các tập quán chăm sóc sau sinh cho các bà mẹ cũng như các yếu tố văn hoá - xã hội ảnh hưởng đến các tập quán đó tại huyện Ân Thi, Hưng Yên Các tập quán về chăm sóc sau sinh còn tồn tại khá phổ biến trong cộng đồng nông thôn Những tập quán này chịu ảnh hưởng rõ rệt của các yếu tố văn hoá - xã hội Các niềm tin, tập quán và những người phụ nữ trong gia đình đóng vai trò quan trọng đối với các hành vi kể trên Khuyến nghị bao gồm thay đổi cách nhìn của các cán bộ y tế về văn hoá của bà mẹ chăm sóc sau sinh, quan tâm đến yếu tố văn hoá- xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cũng như khả năng cung cấp thông tin, giáo dục cho phụ nữ về vai trò của chăm sóc sau sinh kết hợp các hình thức hiện đại và cổ truyền
Từ khóa: Chăm sóc sau sinh, tập quán truyền thống, chăm sóc sau sinh hiện đại.
This is an ethnography research using in-depth interviews, informal interviews and participated observation approaches to explore the traditional practices of post-natal care among 20 postpartum mothers and to analyze how socio - cultural factors influencing these practices in An Thi district, HungYen province It is found that traditional postpartum practices are still dominant in contempo-rary Vietnamese cultures These practices are influenced by cultural and social factors Local beliefs, customs, and the lay referral significant female relatives play key roles in recommending these behaviors Recommendations include changing the views of health professionals toward clients' cul-tures, considering how biomedicine can complement traditional practices, providing information, and educating women about the benefits of contemporary postpartum care and helping them to inte-grate their beliefs and modern ways of care
Key words: postpartum care, traditional ???, contemporary postpartum care.
Trang 2thời Vì thế, chất lượng chăm sóc sau sinh là sự đầu
tư lâu dài cho sức khoẻ tương lai của người phụ nữ
và con của họ
Ở Việt Nam, mặc dù có khá nhiều chương trình
can thiệp về chăm sóc trước và trong khi sinh, song
chương trình chăm sóc sau sinh hầu như "bỏ trống"
và thời kỳ sau sinh được coi là thời kì "kiêng kị" cho
sản phụ Không có nhiều nghiên cứu về các niềm
tin văn hoá-xã hội và sự chăm sóc sau sinh ngoại trừ
một vài nghiên cứu về thực hành nuôi con bằng sữa
mẹ và thói quen ăn uống ở cộng đồng phụ nữ thiểu
số Vì những lý do này, chúng tôi đã thực hiện
nghiên cứu vê tập quán chăm sóc sau sinh ở phụ nữ
nông thôn tại huyện Ân Thi, Hưng Yên với mục
tiêu nghiên cứu là trả lời các câu hỏi về việc phụ nữ
tuân thủ những tập quán chăm sóc sau sinh nào tại
gia đình và các yếu tố văn hoá-xã hội có ảnh hưởng
như thế nào đối với những tập quán đó
2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp dân tộc học được áp dụng để thu
thập các nguồn thông tin về nhận thức và hành vi
của người dân Phỏng vấn sâu, phỏng vấn không
chính thức và quan sát có sự tham gia đã được thực
hiện với 20 bà mẹ mới sinh trong vòng 4 tháng
Ngoài ra, 6 thân nhân là phụ nữ của họ bao gồm mẹ
đẻ, mẹ chồng, chồng, chị em gái và 3 cán bộ y tế xã
cũng đã được phỏng vấn nhằm làm phong phú thêm
thông tin cũng như có vai trò kiểm chứng độ tin cậy
của các thông tin này Các kết quả được phân loại,
mã hoá và phân tích bằng phần mềm Open-code
3 Kết quả nghiên cứu
Thời kỳ sau sinh
Nhìn chung, giai đoạn sau sinh thường là 100
ngày Tục ngữ Việt nam có câu "3 tháng 10 ngày
chưa hết tuần chay gái đẻ" (1 tháng tính theo lịch
âm gồm 30 ngày) Thời kỳ sau sinh có rất nhiều thứ
phải kiêng cữ như chế độ ăn, vệ sinh và các hoạt
động, vv…Theo quan niệm dân gian, người phụ nữ
sau khi sinh phải ăn chế độ ăn đặc biệt, phải ở nhà
và phải tuân thủ hàng loạt các chỉ định cũng như
những điều cấm kị Thời gian ăn kiêng kéo dài từ
25-100 ngày, kiêng tắm gội từ 7-30 ngày, nghỉ ở
nhà từ 15-100 ngày và kiêng sinh hoat tình dục từ
2-6 tháng
Chỉ định và kiêng kị trong ăn uống
Sau khi sinh người phụ nữ phải hạn chế môt số
món ăn Người phụ nữ tin rằng một số loại thức ăn nhất định có thể để lại hậu quả không tốt cho cơ thể mẹ và con về mặt thể chất và tinh thần về lâu về dài Nếu ai đó không kiêng được, người đó sẽ có nguy cơ về sức khoẻ
Ăn cái gì và kiêng cái gì là cách phòng tránh bệnh tật Niềm tin này được "truyền miệng" từ thế hệ này sang thế hệ khác, chủ yếu từ mẹ đẻ sang con gái hoặc từ mẹ chồng sang con dâu Thói quen ăn uống mới trong thời kỳ sau sinh được các bà mẹ chấp nhận: các bà mẹ trẻ và các bà mẹ sinh con lần đầu tuân thủ nghiêm ngặt nhất vì họ bị coi là "chưa có kinh nghiệm" và họ cần lời khuyên từ các "cụ" Một trong những câu trả lời tôi thường được nghe nhất cho câu hỏi ai khuyên họ làm như vậy là "Các cụ bảo thế!"
Niềm tin văn hoá dựa trên thuyết cân bằng giữa
"âm" và "dương" hay "nóng" và "lạnh" (tương tự như Jin và Jang trong xã hội Trung Quốc) Người phụ nữ sau khi sinh được coi là mất cân bằng giữa
"âm" và "dương" Nói cách khác, người phụ nữ thiên về âm Trong trường hợp này, cơ thể họ đang trong giai đoạn "lạnh" do mất máu và sức lực trong khi sinh Như vậy, thức ăn chính là bài thuốc khôi phục sự cân bằng Sản phụ được chỉ định ăn những thức ăn "ấm" nhằm cung cấp hơi ấm, sinh huyết, phục hồi sức khoẻ, làm tan máu cục và cải thiện tuần hoàn
Tập quán chăm sóc sau sinh liên quan đến ăn uống khá phổ biến Tất cả mọi người trong số họ đều tuân thủ những tập quán này tuy thời gian và mức độ có khác nhau, dao động trong khoảng từ
25-100 ngày Bữa ăn điển hình của sản phụ sau sinh khá đơn giản, gồm: cơm, rau ngót luộc, thịt lợn và nước mắm Các loại thực phẩm đều được chế biến không dầu/mỡ Họ luộc nhiều rau để lấy nước đặc Đôi khi, họ thêm nghệ vào thịt lợn để ăn Mặc dù cơm nếp và thịt lợn nấu với nhiều nghệ rất khó ăn, song họ hầu như đều phải cố:
"Tôi phải cố hết sức mới ăn hết" (Trường hợp
1, 30 tuổi)
"Tôi không có lựa chọn nào khác Tôi phải cố hết sức vì mọi người nói món ăn đó tốt cho cả mẹ và con" (Trường hợp 18, 21 tuổi).
Thêm nữa, người phụ nữ phải tránh một số thức ăn "lạnh" và "độc" vì cơ thể người phụ nữ sau sinh được coi là "thay mới" hay "dạ mới" vì thế nó rất dễ
bị tổn thương So với những thức ăn được phép ăn,
Trang 3danh sánh thức ăn phải kiêng nhiều hơn.Thức ăn
phải kiêng gồm các loại rau, quả, cá, đồ biển và các
loại khác bị coi là có "mùi tanh", mỡ/dầu, thức ăn
cay nóng Mọi món ăn rán đều phải kiêng do thành
phần của chúng có dầu/mỡ Những người phụ nữ tin
các thức ăn trên là "độc" và "lạnh" dễ làm họ mắc
bệnh mãn tính và gây nhiều loại bệnh tật trong
tương lai gần và khi về già Nói cách khác, kiêng cữ
sẽ bảo vệ "cơ thể mới" khỏi bệnh tật cũng như
phòng tránh các vấn đề liên quan đến sức khoẻ
trong tương lai Nếu ai vi phạm, mẹ và con sẽ bị
nhiều loại bệnh "hậu sản" Thuật ngữ "hậu sản"
gồm nhiều triệu chứng bệnh như xuất huyết, tiêu
chảy, buồn nôn, đau đầu, cảm thấy yếu người, vv…
“Nếu sản phụ sau khi sinh ăn tôm và cá sớm dễ
bị "hậu sản", đi ngoài và khi về già có thể buồn nôn
và sợ tanh” (trường hợp 9, 38 tuổi).
Mẹ tôi nói tôi không nên ăn hoa quả, đặc biệt
là quả chua như cam, bưởi vì chúng hại cho tôi và
con Dạ của tôi vẫn còn chưa ổn định Ăn hoa quả
lạnh dễ bị đi tháo (trường hợp 4, 26 tuổi)
Về thức uống, các bà mẹ sau sinh uống nước
chín còn ấm song phải uống hết sức hạn chế số
lượng Có 10 bà mẹ dùng trà thảo dược và 4 bà dùng
thuốc đông y Các bà mẹ sống trong các gia đình có
hơn 2 thế hệ tuân thủ thói quen dùng thức uống khá
nghiêm ngặt Một nửa số người trả lời phỏng vấn
trong nghiên cứu này khi tuân thủ tập quán đó đã bị
khát khi trời nóng Các sản phụ này dường như tuân
thủ các tập quán là do gia đình họ muốn như vậy chứ
không phải bản thân họ muốn thế Một người đã bày
tỏ cảm xúc:
"Tôi rất khát nước nhưng không thể uống vì mẹ
(chồng) tôi bảo vì dạ mình là dạ mới, uống ít nước
cho nó chiết lòng" (trường hợp 18, 21 tuổi)
"Bình thường tôi ăn rất nhiều canh trong bữa ăn
nhưng bây giờ tôi phải hạn chế, chỉ ăn một bát nhỏ
rau ngót" (trường hợp 11, 36 tuổi)
Niềm tin văn hoá về việc hạn chế nước sẽ làm
chiết lòng (chặt dạ con sau đẻ) có thể phòng bệnh
đường niệu khi về già Lời khuyên mang tính kinh
nghiệm được nhắc: "uống nước nhiều dễ bị đái són,
về già chưa kịp vén quần đã bị són ra ngoài" (trường
hợp 7, 33 tuổi)
Kiêng tắm gội
Những sản phụ trong nghiên cứu này theo tập
quán kiêng tắm gội, chải đầu trong 7-30 ngày với
niềm tin có thể tránh được bệnh đau đầu về sau Thời gian kiêng khác nhau giữa các sản phụ Người đẻ con so kiêng lâu hơn người đẻ con dạ vì họ tin đẻ lần đầu cơ thể thay "mới", cần cẩn thận hơn Mọi hành vi đều nhằm đề phòng các loại bệnh
do "gió" gây ra Người ta tin gió có thể gây hại cho
cơ thể đang bị lạnh của người mẹ cả khi mới sinh lẫn sau này, dẫn đến một số bệnh mạn tính Nếu họ tắm gội sớm, "gió" sẽ thâm nhập vào cơ thể qua lỗ chân lông, gây nên hậu quả xấu như bị đau đầu, cảm lạnh, người yếu
"Gội đầu sớm dễ bị đau đầu, gió nó chui vào lỗ chân lông dễ làm cho mình bị đau đầu mãi" (trường
hợp 18, 21 tuổi)
"Các cụ nói, tắm non là không tốt, dễ bị hậu sản, còn về già dễ bị yếu, người ta chưa lạnh mình đã thấy ớn lạnh rồi" (trường hợp 12, 34 tuổi).
Nghỉ ngơi
Tương tự như các nền văn hoá khác, phụ nữ Việt Nam sau khi sinh con được khuyến khích nghỉ ngơi một thời gian dù sinh nở dưới hình thức nào Người
ta tin rằng làm việc nặng nhọc, vất vả trong thời kỳ này có thể dẫn đến đau lưng và sa dạ con về sau.Tuy nhiên, thời gian nghỉ ngơi của sản phụ còn tuỳ thuộc vào mùa màng Phụ nữ là lao động chính trong gia đình nếu chồng họ đi làm ăn xa Vào lúc "nông nhàn" họ có thể nghỉ ngơi nhiều Ngược lại, gặp khi bận việc, như gặt hái chẳng hạn, họ không thể nghỉ ngơi nhiều
"Chị phải đi gặt, nhiều việc lắm, chẳng có ai đỡ đần cả nên dù có muốn nghỉ thì cũng phải đi, nhà nghèo nên không thể thuê người làm được" (trường
hợp 17, 33 tuổi)
Kiêng sinh hoat tình dục
Nghỉ ngơi và bình phục sau khi sinh con cũng bao gồm tập tục kiêng sinh hoạt tình dục Sinh hoạt tình dục cũng là điều cấm kỵ trong thời gian này
"3 tháng mười ngày, tuần chay gái đẻ,, các cụ bảo rồi Làm việc vất vả và sinh hoạt sớm khiến người phụ nữ dễ bị sa dạ con" (trường hợp 1, 30
tuổi)
Tuy nhiên, một nửa số phụ nữ tiếp tục sinh hoạt tình dục sớm hơn tập quán.Về vấn đề này, hầu hết phụ nữ trong nghiên cứu tin rằng họ không thể mang thai do chưa có kinh nguyệt trở lại Một trong số
những người trả lời phỏng vấn cho biết: "Tôi chưa
Trang 4có kinh trở lại, tôi nghĩ rằng tôi không thể có thai
vào thời điểm này" Vì thế, họ không áp dụng biện
pháp tránh thai nào, kể cả biện pháp tự nhiên như
tính lịch hay xuất tinh ra ngoài Có tới 2 phụ nữ
trong nghiên cứu đã có thai trở lại ngay trong thời
kì hậu sản mà không hề biết, do con mới sinh còn
quá nhỏ nên họ đã quyết định phá thai khi có thai
khoảng 8-9 tuần
Các tập quán và niềm tin khác
Ngoài 3 tập quán chính như đã trình bày ở trên,
chúng tôi cũng đã thu thập được một số các tập quán
khác cho phụ nữ sau đẻ Chúng tôi cũng phân ra thành
2 loại: khuyến khích làm (buộc bụng, để dao dưới gối,
nút bông lỗ tai, mặc áo dài tay, đội mũ) và kiêng kị
(chải đầu, chạy, nhảy, cắt móng tay, móng chân)
Các yếu tố ảnh hưởng đến tập quán chăm
sóc sau sinh
Mọi sản phụ đều tuân thủ ít nhất là một hoặc
nhiều tập quán chăm sóc sau sinh Có sự khác biệt
đáng kể về sự tuân thủ các tập tục giữa bà mẹ sinh
con lần đầu với bà mẹ sinh con lần sau Thời gian
kiêng cữ của bà mẹ sinh con lần đầu là 3 tháng, lâu
hơn các bà mẹ sinh con lần sau Các bà mẹ trẻ, sinh
con lần đầu được coi là "thiếu kinh nghiệm", "kiến
thức" của họ cần được "trang bị thêm" Vì sinh con
lần đầu, họ nhận được nhiều lời khuyên mang tính
kinh nghiệm và tích luỹ truyền lại từ những phụ nữ
có tuổi đã từng sinh nở, được coi là "biết mọi điều"
Một phụ nữ đẻ con so nói:
"Gái đẻ lần đầu cái dạ nó mới nên phải kiêng
kỹ, các cụ nói rồi, 3 tháng 10 ngày chưa hết tuần
chay gái đẻ nên người đẻ con đầu phải kiêng cho đủ.
Mình đẻ con dạ rồi thì kiêng ngắn hơn, khoảng 1 đến
2 tháng thôi".
Đối với những người đã "có kinh nghiệm sinh
nở", họ không phải tuân thủ chặt chẽ như người mẹ
sinh con lần đầu Thời gian kiêng cữ trong khoảng
25-90 ngày, tuỳ từng loại
Một lý do nữa của việc rút ngắn thời gian kiêng
cữ là các bà mẹ sinh con từ thứ 2 trở lên đã ra ở riêng
sau vài năm chung sống với bố mẹ chồng, họ không
chịu ảnh hưởng của những lời khuyên, những gợi ý
từ gia đình nhà chồng Một bà mẹ sinh con dạ nói:
“Khi tôi đẻ đứa đầu, tôi ở với gia đình nhà
chồng Tôi nghe theo hết những gì mẹ (chồng) tôi
nói vì tôi chưa có kinh nghiệm gì cả Hồi đó tôi phải
ăn uống giữ gìn trong 3 tháng Lần này tôi sinh đứa thứ ba Tôi không chịu sự giám sát của mẹ tôi nữa Với tôi, không cần phải kiêng cữ lâu như tôi đã làm
6 năm trước đây” (trường hợp 16, 36 tuổi)
Phân loại tập quán chăm sóc sau sinh
Nếu mọi tập quán chăm sóc sau sinh đều có mục đích phòng bệnh, nhìn từ góc độ y học có thể chia những tập quán đó ra làm 3 nhóm: có lợi, không lợi không hại và có thể gây hại
Có lợi: Gồm những niềm tin và tập quán mang lại kết quả tích cực cho sức khoẻ của mẹ và con, như ăn thêm lượng thức ăn; tránh những đồ uống mạnh như rượu, bia; giữ ấm, nghỉ ngơi, tránh làm việc nặng hoặc tiếp xúc với hoá chất độc hại như phân bón và tránh tiếp tục quan hệ tình dục sớm Những tập quán này phù hợp với lời khuyên của cán bộ y tế cũng như các tài liệu làm mẹ an toàn chính thống Một số các loại thực phẩm đã được khoa học chứng minh là có lợi cho bà mẹ mới sinh như: nghệ vàng, rau ngót3
Không lợi không hại: Gồm những niềm tin và tập quán không mang lại lợi ích cũng như không gây hại đối với sức khoẻ của mẹ và con Ví dụ: Không chải đầu, không soi gương, không vọng, không đến nhà khác, nút bông vào lỗ tai, mặc áo dài tay, đi tất, không cắt móng tay, …
Có khả năng gây hại: Gồm những niềm tin và tập quán mang kết quả tiêu cực cho sức khoẻ của mẹ và con, như kiêng những thức ăn giàu dinh dưỡng: các loại thức ăn có dầu, hoa quả, cá, hải sản, thịt bò; hạn chế uống nước trong khi cơ thể mẹ và con cần; và niềm tin về việc không thể mang thai trong giai đoạn sau sinh nên không cần áp dụng các biện pháp tránh thai kể cả biện pháp tự nhiên có thể dẫn đến hậu quả mang thai ngoài ý muốn
4 Bàn luận
Trong bất cứ xã hội nào, việc sinh nở được coi là một phần của chu kỳ sống, được xã hội và nhiều tài liệu ghi lại Laderman (1983) đã chỉ ra rằng giai đoạn sau sinh là giai đoạn người phụ nữ nên tuân thủ hàng loạt các nghi thức và tập tục văn hoá
5 Ý này có thể vận dụng cho hàng loạt các điều cấm kị liên quan đến việc chăm sóc sau sinh ở cộng đồng Việt Nam, nơi các bà mẹ sau sinh phải tuân thủ hàng loạt các tập quán từ ăn uống, vệ sinh, phục hồi sức khoẻ, vv… cho tới khi thời kỳ
Trang 5được coi là nguy hiểm qua đi
Nét văn hoá ẩn chứa trong các niềm tin về các
tập quán chăm sóc sau sinh Tương tự như các nền
văn hoá khác, giai đoạn sau sinh được coi là một sự
kiện sống có ý nghĩa quan trọng, hoà hợp với các
nghi thức và phong tục đặc biệt Nét văn hoá ảnh
hưởng đến toàn bộ việc khuyến khích hay ngăn cản
các hoạt động chăm sóc ở giai đoạn sau sinh 2,4 Kết
quả của nghiên cứu này cũng ủng hộ quan điểm cho
rằng nghi thức văn hoá rất quan trọng trong giai
đoạn sau sinh nói riêng và trong suốt quá trình sinh
con nói chung Niềm tin văn hoá cho rằng 100 ngày
là khoảng thời gian các bà mẹ không chỉ kiêng cữ
mà còn tuân thủ một số tập quán truyền thống nhất
định phòng tránh bệnh tật cho cả mẹ và con sau này
Hầu như mọi tập quán chăm sóc sản phụ sau
sinh đều dựa trên thuyết cân bằng giữa âm và dương
(áp dụng với thực phẩm, nghỉ ngơi, tránh gió)
Người mẹ tin rằng máu mất đi trong quá trình sinh
nở khiến cho người mẹ mất cân bằng về âm (bị
lạnh) và cần có những chăm sóc nhất định để khôi
phục lại sự cân bằng âm-dương, giúp phục hồi sức
khoẻ và tạo sữa Niềm tin này tương tự như các
niềm tin khác ở khu vực châu Á4,6,7
Không như lúc còn mang thai và đẻ khi quan
hệ giữa sản phụ và cán bộ y tế còn gần gũi, ở thời
kỳ sau sinh, quan hệ này hầu như không còn Sau
khi sinh con ở cơ sở y tế, người mẹ trở về nhà và
tuân theo các tập quán chăm sóc sản phụ sau sinh
dưới sự tác động qua lại của gia đình và cộng đồng
Whittaker (1997) cũng nhận định: "khi sinh con và
trong thời kỳ hậu sản, người phụ nữ vừa ở bệnh viện
vừa ở nhà và giai đoạn hậu sản dao động giữa hai
giai đoạn: lúc đầu nghe cán bộ y tế hướng dẫn thì
thấy cũng phải, về sau khi nghe cộng đồng bảo thì
thấy cũng có lý" 7
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thành viên
trong gia đình đóng vai trò quan trọng đối với sức
khoẻ và quyết định của sản phụ về thực hành chăm
sóc sau sinh Sự chăm sóc sản phụ theo kiểu địa
phương không chỉ cho thấy sự ảnh hưởng và quyền lực của những phụ nữ cao tuổi mà còn tạo thành một kiểu chăm sóc sức khoẻ truyền thống Ngày nay xu hướng của các bà mẹ trẻ, sinh con lần đầu trong các gia đình đa thế hệ là không tuân thủ hoàn toàn các lời khuyên về chăm sóc sau sinh song họ "đánh giá lại và xem xét các lựa chọn văn hoá dưới ánh sáng của thực tế hiện đại 4,7 Bên cạnh đó, sự thay đổi của xã hội Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình gia đình đa thế hệ sang gia đình chỉ có 2 thế hệ Những người sống trong gia đình chỉ có 2 thế hệ tự do quyết định tự chăm sóc mình Họ không phải chịu sự giám sát của các thành viên khác trong gia đình về các hành vi của mình Sống trong gia đình chỉ có 2 thế hệ có nghĩa là họ độc lập khỏi cha mẹ chồng Tuy nhiên, sự thay đổi như vậy cũng có những mặt không tốt của nó, ví dụ: sản phụ không được nghỉ ngơi, thiếu sự hỗ trợ, vv trong thời kì thai nghén cũng như khi đang trong thời kỳ sau sinh
Tóm lại, tập quán chăm sóc sau sinh vẫn đang phổ biến trong văn hóa Việt hiện nay và được bảo tồn bởi những phụ nữ trong gia đình Những tập quán này bắt rễ nhờ các yếu tố văn hoá và xã hội Niềm tin của người dân địa phương, các phong tục, những người phụ nữ trong gia đình đóng vai trò then chốt trong việc sản phụ có tuân thủ các tập quán chăm sóc sau sinh này hay không Tuy nhiên, thời gian và chi tiết các tập quán đang có xu hướng rút ngắn lại tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, kiểu loại gia đình cũng như các yếu tố văn hoá-xã hội Cán bộ y tế cần ý thức rõ văn hoá của khách hàng và nên cân nhắc sao cho hợp lý giữa việc chăm sóc khách hàng mang tính khoa học và niềm tin truyền thống của họ.Cần giúp cho phụ nữ mới sinh và cả các thành viên trong gia đình họ biết mặt lợi của việc chăm sóc sau sinh theo kiểu truyền thống cũng như có chiến lược thay đổi những tập quán tiềm ẩn nguy cơ có thể để lại hậu quả xấu nhằm lồng ghép niềm tin và tập quán văn hóa với phương pháp chăm sóc sức khỏe hiện đại
Trang 6Tác giả: Ths BS Lê Minh Thi - Giảng viên Bộ môn Sức
khỏe sinh sản, Trường Đại học Y tế Công cộng Địa chỉ liên
lạc: 138 Giảng Võ, Ba Đình, Hà Nội Điện thoại: 04
2662331 Email: lmt@hsph.edu.vn.
Tài liệu tham khảo:
1 WHO 1998 Report from WHO consultation on the needs
of women and their newborns during postpartum period.
Reported by WHO, Geneva.
2 Helman, C Culture, health and illness 2001 4th edition.
Butter Worth Heineman published P.156-169.
3 Đ.T Lợi 1996 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
Nhà xuất bản Y học (tái bản lần thứ 5).
4 Holroyd E, Katie F K L., Lam S C, Sin W.H "Doing a
month": an exploration of postpartum practices among Chinese women Health care for women international, Vol.
18 issue 3, May/June 1997, p301-314.
5 Laderman C.Wives and midwives: Childbirth and nutri-tion in rural Malaysia 1983 University of California press, Berkeley
6 Kaewsarn P., Moyle W., Creedy D 2.2003 Traditional practices among Thai women Journal of advanced nursing, Vol 41, issue 4, p358
7 Whittaker, A.Birthing 1997 The postpartum and devel-opment: ideology and practice in northeast Thailand The Australian National University Press,1997.
8 Chu C M 1983 Reproductive health beliefs and practices
of Chinese and Australian women Taipei: Women's research program population studies center, National Taiwan university.