Trong quá trình thành lập Sơ đồ địa mạo bờ Biển Đông tỉ lệ 1/7.000.000 chúng tôi đã sử dụng bảng phân loại này làm cơ sở xây dựng chú giải vì nó có những ưu điểm là: bao gồm được tất cả
Trang 2HOI NGHI DIA CHAT BIEN VIỆT NAM LÀN THỨ NHÁT
Co quan tổ chức:
VIEN KHOA HOC VA CONG NGHE VIET NAM
VIEN DIA CHAT VA DIA VAT LY BIEN
CHỦ TỊCH HỘI NGHỊ
GS.TS: Châu Văn Minh
GS.TSKH: Nguyễn Khoa Sơn
BAN TỎ CHỨC (ORGANIZING COMMITTEE)
TS Nguyễn Thế Tiệp (Trưởng Ban); PGS-TS Phạm Huy Tiến (Phó Trưởng ban); TS Phùng Văn Phách; TS Đỗ Chiến Thắng; TS Bùi Hồng Long; TS Trần Trọng Huệ;
TS Nguyễn Đình Công, Hoàng Ngọc Đang, TS Đào Mạnh Tiến, TS Phan Tiến Viễn,
TS Nguyễn Thành Vạn, TS Trần Lê Đông, TS Nguyễn Đức Cự
` BAN BIÊN TẬP (EDITORIAL BOARD)
PGS-TS Phạm Huy Tiến (Trưởng Ban); TS Nguyễn Thế Tiệp; TS Phùng Văn Phách; GS-TS Trần Văn Trị; KSCC Nguyễn Tứ Dần, TS Nguyễn Biểu;
TS Nguyễn Văn Lương; GS-TSKH Đặng Văn Bát, PGS-TS Phan Trọng Trịnh,
TS Nguyễn Đức Thắng, GS-TS.Trần Nghi
BAN THƯ KÝ (SECRETARIAT)
TS Phùng Văn Phách (Trưởng ban), TS Nguyễn Hồng Lân; KSCC Nguyễn Tứ Dần,
CN Phạm Tuấn Huy; Đinh Thị Hồng (phụ trách tài chính)
CƠ QUAN PHÓI HỢP VÀ TÀI TRỢ HỘI NGHỊ (CO-ORGANIZERS AND SPONSORS) Tập đoàn Dầu khí Việt Nam; Tổng Công ty Thăm dò và khai thác dầu khí; Viện Dầu
khí Việt Nam; Liên đoàn Địa chất Biển (Cục Địa chất Việt Nam); Viện Địa chất, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, các đề tài KC09.06/06-10, KC09.11/06-10,
KC09.21/06-10, KC09.23/06-10
HẠ LONG NGÀY 9-10 THÁNG 10 NĂM
Trang 3
21
22
| 23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
- Phan Văn Quýnh, Hồng Hữu Hiệp Địa động lực Biển Đơng và cơ chế hình
thành các bồn trầm tích chứa dầu khí Kainozoi
¡ Văn Thơm, Nguyễn Huy Thịnh Đặc điểm hoạt động tân kiến tạo vùng
ven biên Hà Tiên và lân cận
Phan „Trọng Trịnh, Bùi Văn Thơm, Hồng Quang Vinh, Ngơ Văn Liêm,
Nguyễn Văn Hướng, Mai Thành Tân, Nguyễn Đăng Túc, Nguyễn Hồng
Phương Vai trị của hoạt động kiến tạo trẻ và kiến tạo hiện đại tới tai biến địa
chất miền Trung và vùng biển lân cận
, Hồng Văn Vượng, Trần Văn Khá Cấu trúc địa chất sâu và bề dày trầm tích
kainozoi khu vực Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở xử lý tài liệu trọng lực
Bùi Việt Dũng, Kart Stattegger, Phùng Văn Phách Late pleistocene -
Holocene seimic stratigraphy on the South East Vietnam shelf:
Dương Quốc Hưng Một số biểu hiện hoạt động kiến tạo trẻ khu vực ven biển
và thềm lục địa Đơng Nam Việt Nam theo tài liệu địa chấn nơng phân giải cao
Mai Thanh Tan, Lé Van Dung, Lé Dinh Thing Hình thái cấu trúc địa chat
Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn
Nguyễn Biểu, Nguyễn Thị Hồng Liễu, Nguyễn Quốc Hưng Sequen địa tầng
phân giải cao trâm tích Pliocen - Đệ tứ biển Nam Trung Bộ
Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu Cử Địa tầng hệ thống đảo ven bờ thềm lục địa
Việt Nam
Nguyễn Tiến Hải, Nguyễn Huy Phúc Đặc điểm và phân bố các tướng trầm
tích cuối Pleistocen muộn — Holocen ở thềm lục địa Vũng Tàu — Bình Thuận
Nguyễn Thị Hồng Liễu, Tiến hố trầm tích Holocen đới trung tâm châu thổ
Sơng Hồng
Nguyễn Thế Tiệp, Nguyễn Biểu, Phùng Văn Phách, Trần Xuân Lợi, Lê
Đình Nam Đặc điểm địa mạo và cấu trúc địa chất Trường Sa - Tư Chính —
Vũng Mây
Nguyễn Thanh Sơn, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Đỉnh Văn Huy, Bùi
Văn Vượng Phân loại các kiểu bờ ở Biển Đơng theo nguyên tắc nguơn gốc -
hinh thai
Lê Triều Việt, Lê Thanh Hà Sự phát triển địa hình rìa Tây Biển Đơng trong
Kainozoi
Đỗ Minh Tiệp, Trần Văn Bình Địa mạo thềm biển Binh Lap
Nguyễn Đình Đàn, Trịnh Thế Hiếu, Đỗ Minh Tiệp, Phạm Bá Trung, Tơn
Nữ Mỹ Dư, Trần Văn Bình Đặc điểm địa hình - địa mạo thềm biển ven bờ
Bình Lập, Cam Lập, Cam Ranh, Khánh Hồ
Nguyễn Dich Dy, Dỗn Đình Lâm, Vũ Văn Hà Các cửa sơng và vùng châu
thổ Sơng Cửu Long, vị thế và dự báo xu hướng phát triển
KyanHuw P.I H3YHEHHE PEWHbIX TIAJIEOJO/INH B HETBEPTMHHBIX OTJIOKEHHAX
BEPEFOBOH 3OHbI BbETHAMA METO/IOM 2/IEKTPHECKỌÍ TOMOTPA®HH
Tạ Thị Kim Oanh, Nguyễn Văn Lập Quá trình phát triển đồng bằng Sơng Cửu
Long trong thời Holocen
Đặng Văn Bát, Chu Phương Long, Nguyễn Khắc Đức, Cù Minh Hồng,
Nguyễn Thi Anh Tho, Trần Mỹ Bình Ứng dụng cơng nghệ thơng tin nghiên
cứu cơ địa hình trong Kainozoi ở bồn trũng Nam Cơn Sơn
Trang
135
144
154
165
172
181
188
199
210
222
230
242
250
259
267
275
284
288
297 302
Trang 4Nguyễn Thanh Sơn và cs., 250-258 Si ¬
Tuyến tập báo cáo Hội nghị Toàn quốc lần I: Địa Chất Biển Việt Nam & Phát Triển Bền Vững, 9-10/10/2008, TP Hạ Long
PHAN LOẠI CÁC KIỂU BO Ở BIẾN ĐÔNG THEO NGUYEN TAC NGUON GOC - HiNH THÁI
Nguyén Thanh Son® Trần Đức Thạnh °, Nguyén Hitu Cir’, Dinh Văn Huy °, Bùi Văn Vượng °
* Hội Địa lý Việt Nam tại Hải Phòng
° Viện Tài nguyên và Môi trường biển - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
DAT VAN DE
Bién Đông có diện tích lớn thứ 2 ở Thai Binh Dương và thứ 4 thể” giới Bao quanh Biển
Đông là 12 quốc gia và vùng lãnh thé đang được coi là những thế lực kinh tế mới nổi ở Châu
Á - Thái Bình Dương Dọc bờ Biển Đông tập trung hàng loạt các đô thị và trung tâm kinh tế quan trọng như: Hồng Kông, Quảng Châu, Ma Cao, Hải Khẩu, Hồ Chí Minh, Băng Cốc, Xingapo, Manila, Cao Hùng Việc điều tra tổng hợp và nghiên cứu đặc điểm tự nhiên đới bờ
và vùng biển nông đã được hầu hết các quốc gia trong khu vực quan tâm, nhưng đến nay vẫn chưa có các công trình đi sâu nghiên cứu đặc điểm địa mạo bờ biển trên phạm vi thống nhất toàn bộ chiều dài đường bờ
Trong quá trình triển khai Dự án số 14: “Điều ra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế,
kỳ quan sinh thái, địa chất vùng biển và các đảo Việt Nam " thuộc “Đề án tổng thể về điều tra
cơ bản và quản lý tài nguyên - môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020°, đề
phục vụ cho công tác điều tra cơ bản và đánh giá tài nguyên vị thế và kỳ quan địa chất vùng
biển và hải đảo được toàn diện, chúng tôi đã tiến hành thu thập các tài liệu về đặc điểm địa chất - địa mạo vùng biển và các đảo chẳng những của Việt nam mà còn ở các khu vực trong
phạm vi Biển Đông và Thái Bình Dương
Trên cơ sở các tài liệu thu 1 thap được từ các chuyến thực địa trong nước, kết hợp với việc phân tích bản đồ và ảnh viễn thám, phân tích điều kiện địa chất - địa mạo lục địa ven biển và thềm lục địa, các điều kiện khí hậu - thủy văn và động lực khối nước, cũng | như tham
khảo các tài liệu được ( công bố, chúng tôi đã xúc tiến thành lập Sơ đồ địa mạo bờ Biển Đông tỉ
lệ 1/7.000.000 Các kết quả ban đầu cho phép tác giả tiến hành phân loại và giới thiệu một số nét chính về đặc điểm địa mạo của các kiểu bờ ở Biển Đông
1 NGUYEN TAC PHAN LOAI BO BIEN
Hiện nay trên thế giới có đến hàng chục bảng phân loại bờ biển khác nhau Có thể gộp
chúng thành 4 nhóm chính: Nhóm phân loại theo hình thái, nhóm phân lcại theo tương quan với cấu trúc địa chất, nhóm phân loại theo động lực và nhóm phân loại theo nguồn gốc phát sinh Ưu khuyết điểm của từng nhóm, cũng như từng bảng phân loại đã được phân tích chỉ tiết
trong các bài báo và công trình của tác giả nước ngoài Có thể khẳng định các bảng, phân loại mang tính chất mô tả (như thuần túy dựa vào các tiêu chuẩn hình thái, cấu trúc địa chất) có nhiều hạn chế, các bảng phân loại theo nguyên tắc nguồn gốc phát sinh (động lực, nguồn gốc,
nguồn gốc - hình thái) ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn Tuy nhiên tât cả các bảng phân loại hiện có vẫn chưa có một bảng nào hoàn thiện và thực sự thuận tiện cho việc thành lập bản
đồ địa mạo bờ biển Theo đánh giá của nhiều tác giả [7], [12] thì Bảng phân loại theo nguyên tắc nguồn gốc - hình thái, dựa vào tổng thể các dấu hiệu nguồn gốc, hình thái, mức độ thay
đổi do quá trình biển và khuynh hướng động lực bờ hiện nay của Viện Hải dương học thuộc
Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ) đưa ra lần đầu vào năm 1961 [6] là có nhiều ưu việt Trong quá trình thành lập Sơ đồ địa mạo bờ Biển Đông tỉ lệ 1/7.000.000 chúng tôi đã sử dụng bảng phân loại này làm cơ sở xây dựng chú giải vì nó có những ưu điểm là: bao gồm được tất cả các kiểu bờ trong Biển Đông, chỉ ra được nguồn gốc phát sinh và các quá trình tạo địa hình bờ cơ bản, chỉ ra được các giai đoạn phát triển và động lực bờ hiện nay, phản ánh được hình thái nghĩa là tính chất chia cắt của đường bờ
250
Trang 5-Nguyen Thanh Son et al 250 - 258
PROCEEDINGS OF FIRST SYMPOSIUM: MARINE GEOLOGY & SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIET NAM, OCT 90,2008 HA LONG CITY
2 CAC KIEU BO 6 BIEN DONG
2.1 Nhóm bờ biễn thành tạo do quá trình lục địa và kiến tạo, ít bị thay đổi do quá trình biển Phụ nhóm bờ biển chia cắt nguyên sinh
2.1.1 Kiểu bờ chia cắt kiến tạo
Ở Biển Đông, có mặt phụ kiểu dalmatian Day la kiểu bờ vũng vịnh, thành tạo do quá trình chia cặt kiên tạo của miễn núi thấp có những nếp uôn trẻ bị biển làm ngập trong thời gian biên tiên sau băng chà Bờ dalmatian phân bố từ đảo Vĩnh Thực tới đảo Hạ Mai (thuộc Việt Nam), trên vùng biên có chiều dài 120 km ;
Bờ biển khúc khuyu, nhiéu dao, nhiều vịnh Các đảo tạo thành một tập hợp dạng vòng
cung, có nơi tới 8 dãy, ôm lây khôi nâng dạng địa luỹ Đông Triều - Yên Tử là yếu tố kiến tạo
cơ bản trên lục địa Các vịnh nguyên là các vũng trũng giữa núi trước kia, các đảo là đỉnh các
day nui bj lam ngập Dạng "tràng hoa" thể hiện rất rõ, tỉ lệ giữa chiều dài và rộng của các đảo
và vịnh lên tới hàng chục lần
2.1.2 Kiểu bờ chia cắt xâm thực
Ở Biển Đông, có mặt phụ kiểu liman Đây là kiểu bờ vũng vịnh, thành tạo do quá trình
chia căt xâm thực của hệ thống sông ở các miễn đông băng câu tạo bằng các đá kém bền vững, bị biên làm ngập trong thời gian biên tiến sau băng hà
lừ Điện Bạch tới mũi Gô Pai (400 km, thuộc Trung Quốc) bờ biển thấp, cấu tạo chủ
yêu băng các trâm tích proluvi và aluvi bở xốp, bị chia cắt mạnh bởi nhiều liman cửa rộng
năm kẹp giữa các đảo
Từ Hải Khẩu tới Pantang (250 km, ở đảo Hải Nam, thuộc Trung Quốc) bờ biển cũng bị
chia chia căt bởi các liman nhưng không điển hình như ở đoạn bờ nói trên
2.1.3 Kiểu bờ chia cắt kiến tạo - xâm thực (ria eoast)
Đây là kiểu bờ vũng vịnh, được thành tạo do quá trình kiến tạo - xâm thực khi biển tiền
vào vùng núi có các thung lũng sông chạy thắng góc hoặc hơi xiên với hướng chung đường
bờ Ở Biên Đông, kiêu bờ này xuât hiện ở 4 nơi: từ Hạ Môn tới Quảng Châu (1300 km, thuộc
Trung Quốc), từ Điên Đâu tới Điện Bạch (300 km, thuộc Trung Quôc), từ mũi Gô Pai tới Bắc Hải (500 km, thuộc Trung Quốc) và từ mũi Quan Dinh tới Hải Khẩu (250 km, ở đảo Hải
Nam, thuộc Trung Quốc)
Từ Hạ Môn tới Quảng Châu là kiểu bờ ria điển hình Đường bờ chung có dạng vòng
cung, phương đông bắc - tây nam, men theo rìa đông của khối nền Hoa Nam Bờ biên doc, khúc khuỷu, nhiều đảo, nhiêu vịnh Các đảo có độ cao khoảng, vài trăm mét là phân kéo dài của các mũi ăn ngang ra biên từ các dãy núi ven bờ Các vịnh phân lớn có dạng hình phễu loe
về phía biên, chiêu rộng ở cửa thường là 10 - 30 km, chính là phân kê tiếp của các thung lũng
sông trên lục địa Tỉ lệ giữa chiều dài của vịnh và chiêu ngang ở cửa vịnh trung bình là 4 - 5
lan Day vịnh tương đối nông, chỉ ở một sô eo biển hẹp kẹp giữa các đảo, độ sâu mới đạt trên 50m do xâm thực của dong triệu Ở đỉnh vịnh thường có các bãi triều rộng, nhưng sườn và cửa vịnh ít có các bãi biên lớn thành tạo do sóng
Ở các nơi còn lại bờ biển có hình thái tương tự, nhưng độ đốc và độ chia cắt kém hơn
2.2 nhóm bờ biển thành tạo chủ yếu do các yếu tố không phải là sóng
3.2.1 Phụ nhóm bờ biễn thành tạo chủ yếu do sông
2.2.1.1 Kiểu bờ đồng bằng tam giác châu (delta)
Kiểu bờ này xuất hiện ở 3 nơi:
Từ Đồ Sơn đến cửa Lạch Trường (150 km, thuộc Việt Nam), bờ biển có phương đông bắc
- tây nam men theo rìa cung lôi dạng mỏ của tan giác châu sông Hồng Đặc điểm nỗi bật là bờ
biên thâp, mật độ chia cắt ngang cao, thực vật ngập mặn phát triên mạnh Với lượng phù sa
251
Trang 6-Nguyễn Thanh Sơn và cs 250 - 258
Tuyến tập báo cáo Hội nghị Toàn quốc lẳn I: Địa Chất Biển Việt Nam & Phát Triển Bền Vững, 9- 10/10/2008, TP Hạ Long
trung bình 125 triệu tắn bùn cát và 70 tấn vật liệu hòa tan/năm, tam giác châu sông Hồng mỗi
năm tiến ra biển với tốc độ 25 - 30m, cực đại đạt được ở khu vực cửa Ba Lạt là 80 - 100m
Từ cửa Tiểu đến Rạch Giá (670 km, thuộc Việt Nam) bờ biển men theo rìa tam giác châu sông Mê Kông Đây là tam giác châu lớn nhất ở Đông Nam Á Một khối lượng dòng răn rat lớn, tới 160 triệu tấn mỗi năm, ưu thé 1a vat liệu bùn [10] đã được dòng chảy tiệp tục đưa
về phía tây tạo nên một mũi nhô khổng lồ lắn biển với tốc độ trung bình 40 - 50 m/nam, cic đại là 100 - 150 m/năm ở khu vực Đất Mũi, Cà Mau [4] Bờ biển thấp và có nhiều bãi triều rộng với nhiều thực vật ngập mặn kích thước lớn che phủ
Từ mũi Ba Ram tới Beaufort (380km, ở đảo Borneo, thuộc Brunây và Malaixia) bờ biển
chạy dọc rìa tam giác châu sông Batang Bôran và Batang Terusan Do lượng mưa rất lớn (trung bình hơn 4000 mm/năm) và hiện tượng phong hóa xảy ra mạnh nên quá trình rửa trôi
hạ thấp bề mặt địa hình khu vực đổi núi ở phần phía bắc đảo Borneo diễn ra với tốc độ rất
nhanh, trung bình tới 3 mm /năm [12] tạo điêu kiện cho các tam giác châu tiền nhanh về phía
biển Tuy nhiên do sườn bờ ngầm có độ sâu lớn nên phù sa chỉ được tích tụ ở phía trước cửa sông tạo nên các châu thổ một nhánh điển hình
2.2.1.2 Kiểu bờ đồng bằng aluvi (đồng bằng bôi tích sông)
Đây là kiểu bờ tích tụ, được tạo thành ở những nơi có nhiều sông nhỏ mang ra biển một
khối lượng khá lớn bồi tích nhưng không có một con sông nào lớn đến độ có thể tạo nên một
châu thô đáng kẻ Ở Biển Đông, kiểu bờ này xuất hiện ở 6 nơi:
Từ Pantang đến mũi Quan Dinh (650km, ở đảo Hải Nam thuộc Trung Quốc), các sông ngắn nhỏ bắt nguồn từ vùng núi có độ cao lên tới 1800m, cấu tạo bằng các đá granit và cát kết
bị phong hóa mạnh đã tải ra biển một khối lượng lớn bùn cát tạo nên một dải đồng bằng aluvi
hẹp viền quanh đảo Sóng đã tham gia vào quá trình vận chuyển và gia công vật liệu, tạo
thành các dạng tích tụ, lấp đầy các chỗ lõm nguyên thủy Ở một số nơi gió đã đưa cát ở bãi
vào bờ tạo các đụn phong thành cao 10 - 20m
Từ cửa Lạch Trường đến cửa Hội (170km, thuộc Việt Nam), bờ biển có phương kinh tuyến, men theo rìa đồng bằng aluvi của sông Mã, sông Cả Các mũi nhô bị mài mòn yêu, các
cung lõm được phù sa sông lap day Vai tro của sóng đã được thể hiện ở sự có mặt một số
dạng tích tụ cầu tạo bằng cát lẫn xác sinh vat s sò Ốc năm ở ven biển hoặc khá sâu trong lục địa,
nhưng quá trình lấp đầy vũng vịnh chủ yếu vẫn thuộc về yếu tố sông
Từ Sattahip tới Hua Hin (350km, thuộc Thái Lan) bờ biển ven theo rìa đồng bằng aluvi
sông Mê Nam và một số sông nhỏ đồ vào đỉnh vịnh Thái Lan Với tổng lượng dòng rắn trung
bình 12, 5 triệu tần/năm, sông Mê Nam chỉ đưa đồng bằng aluvi của mình tiến ra biển chừng 5m/năm [12] chưa tạo được bờ biển kiéu delta
Tir Kota Baharu dén Mersing (500km, thuộc Malaixia) bờ biển có phương tây bắc - đông nam sau chuyển thành phương kinh tuyến ven theo rìa đồng bằng aluvi của các sông ngắn bắt nguồn từ sườn đông núi Takhan cao tới 2190m Từ mũi Api đến Oya (550km, & dao Borneo, thuộc Malaixia) bờ biển có phương tây bắc - đông nam, sau chuyển thành đông bắc -
tay nam ven theo ria déng bằng aluvi của sông Bada Sri Aman và Rajang Từ Đài Trung đến Cao Hùng (300 km, thuộc Đài Loan) bờ biển có phương đông bắc - tây nam, sau chuyển
thành tây bắc - đông nam men theo rìa hệ thống đồng bằng aluvi thành tạo do các sông ngắn
bắt nguồn từ vùng núi uốn nếp Đệ tam cao tới 3997m Ở đây vai trò của sóng tăng lên, thể
hiện ở việc thành tạo một số doi chắn, phía sau là các lagoon hẹp
3.2.2 Phụ nhóm bờ biển thành tạo do thủy triều
Kiểu bờ tích tụ với các bãi triều rộng cấu tạo bằng bùn, cát
Bờ biển tích tụ thành tạo chủ yếu do hoạt động của thủy triều phân bố ở 4 nơi trong
Biển Đông, thuộc địa phận Trung Quốc, Việt Nam, Malaixia và Xingapo Từ Quảng Châu tới
Điền Đầu (250km, thuộc Trung Quốc), bờ biển có phương kinh tuyên sau chuyển thành đông bắc - tây nam ven theo rìa châu thổ hợp nhất của các sông Tây Giang, Tầm Giang và Đông
252
Trang 7-Nguyen Thanh Son et al., 250 - 258
PROCEEDINGS OF FIRST SYMPOSIUM: MARINE GEOLOGY & SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIET NAM, OCT 9-10, 2008 HA LONG CITY
Giang 66 tên la Pearl River Estuary Mặc dù có tổng lượng nước trung bình là 3.3x10!'m'/năm, tổng lượng dong ran trung bình là 7, 1x10’tan/nam [3] nhung chau thd nay chi là loại lắp đầy Thủy triều ở đây là loại bán nhật triều không đều, triều sai từ 2, 5 đến 4,0m, nên vật liệu từ sông đưa ra được dòng triều mạnh tiếp tục đưa vào trong biển tạo nên các bãi triều rong, cau tạo bằng bùn, cát, bị thực vật ngập mặn che phủ
Từ Bắc Hải tới Đồ Sơn (550km, thuộc Trung Quốc và Việt Nam), thuỷ triều thuộc loại nhật triều, triều sai tới 4 - 4, 5m Bờ biển có phương tây bắc - đông nam, sau chuyển thành đông bắc - tây nam Đặc điểm nổi bật là trong đới bờ có nhiều bãi triều rộng bị thực vật ngập
mặn che phủ Phía tây Bắc Hải các bãi triệu chủ yếu cấu tạo bằng bùn Bờ bắc vịnh Tiên Yên
- Hà Cối các bãi triều chủ yếu cấu tạo bằng cát Ở khu vực cửa sông Bạch Đằng các bãi triều bùn có diện tích rộng, dòng triều xuống còn xâm thực mở rộng các cửa sông tạo ra dạng hình phễu điển hình
Từ Vũng Tàu đến cửa Tiểu (120km, thuộc Việt Nam), bờ biển ven theo rìa châu thd hợp
nhất của các sông Sài Gòn, Đồng Nai và Sông Bé Hoạt động của thuỷ triều đã tạo nên các bãi triều bùn rộng có nhiều thực vật ngập mặn kích thước lớn che phủ
Từ Mersing đến Xingapo (200 km, thuộc Malaixia và Xingapo) thủy triều thuộc loại bán nhật triêu không đều, triều sai 3,3 - 5, 2m Bờ biển cũng thuộc loại thành tạo do thủy triều
với đặc trưng là bãi triều bùn rộng và nhiều thực vật ngập mặn phát triển
2.2.3 Phụ nhóm bờ biển thành tạo do sinh vật
2.2.3.1 Kiểu bờ san hô (coral reef coast)
Bờ san hô phát triển xung quanh các đảo nhỏ ven bờ Malaixia, Indonexia cũng như các đảo ngoài khơi thuộc quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa và Trường Sa
Ở quần đảo Natuna, Linga, Bangka, Badas, Tambelan (Indonexia) và Anambas (Malaixia) phổ biến các ám tiêu dạng viền bờ có chiều dài tổng cộng lên tới 500 km Ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa san hô thường tạo nên các ám tiêu vòng (Atoll reef) cao không quá 1m so với mực nước triều lên, giữa chúng là các lagoon diện tích từ vài km đến hàng trăm
kmỶ, điển hình nhất là khu vực đảo Sinh Tồn, T¡ Da, Loại Ta, Song Tử (Trường Sa) và Lưỡi Liém, Đá Lối, Đá Bông Bay, Đá Bắc (Hoàng Sa)
2.2.3.2 Kiểu bờ sú vẹt (mangrove coast)
Ria bac đảo Xumatra, từ Selatpanjang tới mũi Saranylayang (950km, thuộc Indonexia),
cũng như rìa nam các đảo Bangka, Belitung (500km, thuộc Indonexia) và rìa tây đảo Borneo,
từ mũi Samba đến mũi Api (1000km, thuộc Indonexia) là vùng đầm lầy bao la có nhiều thực
vật ngập mặn tạo nên kiểu bờ sú vẹt điển hình Ở đây có tới 22 loài thực vật ngập mặn khác nhau Các cây riêng biệt có thể cao tới 30m như Chrysodium va Aeristichum Sự phát triển hết
sức mạnh mẽ của thực vật ngập mặn đã tạo điều kiện lắng đọng bùn với tốc độ cao, có nơi đạt
4cm/năm làm cho bờ tiến nhanh về phía biển [12]
2.2.4 Phụ nhóm bờ biển thành tạo do các quá trình ăn mòn sinh hóa
Kiểu bờ ăn mòn sinh hóa ở vùng nhiệt đới (karst ngập mặn nhiệt đới)
Đây là một kiểu bờ hết sức độc đáo xuất hiện ở khu vực Cát Bà, Lan Hạ, Hạ Long và
Bái Tử Long (Việt Nam) Trên vùng biển có chiều dài hơn 100 km và diện tích gần 1000 km?
từ cửa Mô đến cửa Lạch Huyện có tới trên 2000 hòn đảo lớn nhỏ cấu tạo bằng đá vôi tuổi Cổ sinh Đảo lớn nhất là Cát Bà, diện tích khoảng 150 km” Có một vài hòn đảo diện tích trên I0 km’, còn lại hầu hết là các đảo nhỏ, diện tích dưới 2 km’, Nét đặc trưng nhất về mặt hình thái
là các đảo đều có vách dốc đứng, hình dạng kỳ dị, bề mặt lởm chởm tai mèo và nhiều hang
động Vòng quanh chân đảo là các hàm ếch sâu, nhiều nơi cắt qua cả khối đá vôi tạo nên các hang xuyên thủng Vì trong vùng đảo đá vôi sóng yếu, nên sự thành tạo hàm ếch chủ yếu liên quan đến quá trình ăn mòn đá vôi của nước biển trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, triều sai Ion, dong triéu mạnh và hoạt động tích cực của thế giới sinh vật
Trang 8
-253-Nguyén Thanh Son va ¢s., 250 - 258
Tuyên tập bảo cáo Hội nghị Toàn quốc lần I: Địa Chất Biển Việt Nam & Phat Trién Bén Vimng, 9-10/10/2008, TP Ha Long
Ở nước ta, cho đến nay vẫn chưa có các công trình đi sâu nghiên cứu cơ chế ăn mòn đá vôi trong điều kiện ngập mặn, cũng như chưa có những kết luận chính xác è động lực nội tại của quá trình ăn mòn này, nhưng rõ ràng đây là một kiêu bờ đặc sắc đã xuất hiện ở Việt Nam
Vì vậy mặc dù trong Bảng phân loại các kiểu bờ theo nguyên tắc nguồn góc - hình thái của lonin Kaplin và Medvedev chưa đề cập nhưng ngay từ năm 1977 - 1979 [9| chúng tôi đã tách ra thành một kiểu bờ độc lập, năm tương dương với vị trí của kiểu bờ mài mòn nhiệt, thuộc nhóm bờ biên thành tạo chủ yếu do các quá trình không phải là sóng
2.3 Nhóm bờ biển thành tạo chủ yếu do quá trình sóng
2.3.1 Phụ nhóm bờ biển đang bị san bằng
Kiểu bờ này phân bố từ mũi Santa Ana tới mũi Balabac, bao chiếm toàn bé ria tây các dao Ludon, Mindoro, Busuanga va Palaoan (2350km, thuộc Philippin) Bờ bién cao, déc, bi chia cắt mạnh dạng răng cưa Quá trình mài mòn do sóng diễn ra mạnh, tạo nên kiểu bờ vũng vịnh mài mòn điền hình
Đối với bờ quần đảo Philippin nét đặc trưng nhất là sự vắng mặt hầu như hoàn toàn các
dang tich tụ bình thường Ở đây cũng không có nguồn dự trữ bồi tích lớn trên sườn bờ ngầm Đáng lẽ ra trong điều kiện mài mòn mạnh, đới bờ phải có nguồn bồi tích dồi dào gia nhập từ các vật liệu phá hủy các vách đứng và chúng sẽ được đưa vào đỉnh hay sườn vịnh thành tạo
các dạng tích tụ Nhưng thực tê lại không như vậy Nguyên nhân là do mức độ cận sâu lớn của
bờ biển Độ dốc đáy của vùng biển ven bờ trong đường đẳng sâu 100m là 0,05 - 0, 1 Phía
ngoài, độ dốc vẫn tiếp tục tăng lên Vật liệu giải phóng ra do mài mon bj roi tum xuống vùng nước sâu và tiếp tục lăn, trượt xuống phía dưới, không có điều kiện di chuyển vào phía trong
thành tạo các dạng tích tụ
2.3.1.2 Kiểu bờ vũng vịnh tích tụ - mài mòn
Ở Biển Đông, kiểu bờ này phát triển ở 4 nơi: từ Quy Nhơn đến Vũng Tàu (850km,
thuộc Việt Nam), từ Rạch Giá đến Sattahip (1010km, thuộc Việt Nam, Campuchia và Thái
Lan), từ Beaufort tới mũi Kudat (220km, ở đảo Borneo, thuộc Malaixia) và từ mũi Ô Loan tới Cao Hùng (120km, thuộc Đài Loan)
Về tiến hóa, bờ biển vũng vịnh tích tụ - mài mòn là g giai đoạn kế tiếp của bờ biển vũng
vịnh mài mòn Vai trò của sóng trong quá trình san bằng đường bờ gốc thé hiện rõ hơn không chỉ ở việc đầy lùi các mũi nhô, chúng còn tham g gia vào quá trình di chuyển bồi tích thành tạo
các dạng tích tụ ở đỉnh, sườn vịnh hoặc khoảng nôi giữa các đảo
Từ Quy Nhơn đến mũi Cà Ná, bờ biển đốc, khúc khuỷu, nhiều mũi đá gốc nhô ra biển,
giữa chúng là các vũng vịnh Do tác dụng của sóng các mũi nhô đá gốc như Phước Mai, Cù Mông, Vụng Trích, Mô Ô, Lưỡi Cay, Ma Cao, Bién, Baimalieng, Đại Lãnh, Hòn Gốm, Bình
Cang Bàn Thang, Rach Trang, Mun, Nai, Cam Ranh, Da Vach, Ca Na bi cắt dần Vật liệu giải phóng ra do mài mòn, cùng với các vật liêu nguồn gốc aluvi cổ và mới cũng như vật liệu khác được sóng gia công tạo nên các dạng tích tụ lớn dạng, liền kề, tự do, nối đảo ở Quy Nhơn,
Củ Mông, Sông Cầu, Ô Loan, hòn Gốm, hòn Khói, Nha Trang, Cam Ranh Phía sau chúng là
các vịnh hẹp kéo đài (lagoon) Cát ở các dạng tích tụ được gió tiếp tục đưa vào phía trong tạo
các đụn cao 20 - 30m, có khi cát trắng phủ lên cả các sườn đồi cao tới 100m Do hợp lực của
sóng lệch về đông bắc nên phần lớn các dòng bồi tích có hướng di chuyển về phía nam
Từ Cà Ná tới Vũng Tàu, bờ biển có phương đông bắc - tây nam, hình thái tương đối đơn giản và cấu tạo khá đồng nhất Các nhánh của khối núi cực nam Trung Bộ ăn ra biển dưới
dạng các đồi núi thấp bị sóng mài mòn rất mạnh, giữa chúng là các cung tích tụ rộng Cát ở
dạng tích tụ được gió đưa vào đất liền tạo các đụn cao tới 40m
Các đoạn bờ ở rìa đông bắc vịnh Thái Lan, đông bắc đảo Borneo và phía tây nam đảo
Đài Loan cũng được xếp vào kiểu bờ vũng vịnh tích tụ - mài mòn nhưng động lực và hình thái không điển hình như các đoạn bờ ở miền Trung Việt Nam vừa nói trên
25
Trang 9-Neuyen Thanh Son et al., 250 - 258
PROCEEDINGS OF FIRST SYMPOSIUM: MARINE GEOLOGY & SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIET NAM, OCT 9-10, 2008 HA LONG CITY
2.3.2 Phụ nhóm bờ biển đã bị san bằng
2.3.2.1 Kiểu bờ tích tụ - mài mòn bằng phẳng
Từ mũi Ròn đến Quy Nhơn (750km, thuộc Việt Nam), kẹp giữa các nhánh núi ăn ngang của dãy Trường Sơn và của cao nguyên Kon Ha Nùng là các thung lũng sông nhỏ Biển tiến sau băng hà lần cuối tràn vào lục địa có địa hình chia cắt kiến tạo - xâm thực tạo nên bờ biển chia cắt nguyên sinh kiểu ria, sau đó đưới tác động mạnh mẽ của sóng biển hở và nguồn vật liệu đồi dào gia nhập vào đới bờ nên bờ biển bị thay đổi sâu sắc cả về hình thái và cấu tạo, nhanh chóng đi qua cae giai doan ving vinh mai mòn, vũng vịnh tích tụ - mài mòn bước vào giai đoạn già nhất của quá trình tiến hóa ở bờ Biển Đông hiện nay là giai đoạn tích tụ - mài mòn bằng phẳng
Đoạn phía bắc, từ mũi Ròn đến Da Nẵng, các cung tích tụ - mài mòn rất rộng Giữa các
mũi nhô bị mài mòn như mũi Ròn, mũi Lạy, Chân Mây là các dạng tích tụ lớn, đường bờ thang kéo dài hàng trăm cây số, Doan phía nam, từ Đà Nẵng tới Quy Nhơn, các sông có lượng
dòng rắn tương đối lớn do lượng mưa nhiều hơn các nơi khác ở miễn Trung Cùng với các vật liệu gia nhập vào đới bờ do mài mòn, các vật liệu aluvi cổ và mới bị sóng gia công tạo các thế
hệ dạng tích tụ kiểu liền kề, tự do và đóng kín kích thước lớn, đường bờ thẳng, điển hình ở phía đông Hòa Vang, Tam Kỳ, Bình Sơn, Mộ Đức, Đức Phổ, Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát, Phước Mai Hợp lực của sóng lệch về đông bắc nên hầu hết các dạng tích tụ tự do và nối đảo
đều phát triển theo phương thức di chuyển bồi tích từ bắc xuống nam Quá trình tích tụ - mài mòn xảy ra với tốc độ cao làm đường bờ chóng trở nên bằng phẳng Các vịnh cỏ như Hội An,
Tam Kỳ, Mộ Đức, Đức Phổ, Tam Quan, Trà Ô, Vĩnh Lợi, Thị Nại bị lùi vào lục địa thành tạo các đầm nước lợ, nước ngọt, thậm chí hoàn toàn bị lắp đầy trở thành các cánh đồng lúa và nơi tập trung đân cư [4]
Từ Hua Hin tới đảo Xa Mui (350 km, thuộc Thái Lan) có hàng loạt cung tích tụ nhỏ bị
phân cách bởi các mũi nhô đá gốc đã bị sóng day Lui, đường bờ trở nên bằng phẳng và đới bờ
trở nên thoải hơn Bờ biển cũng được xếp vào kiểu bờ tích tụ - mài mòn bằng phẳng nhưng
không được điển hình như ở Việt Nam
2.3.2.2 Kiểu bờ tích tụ bằng phẳng
Ề Từ đảo Xa Mui tới Kota Baharu (550km, thuộc Thái Lan và Malaixia) bờ biển có thể
xếp vào phụ kiểu tích tụ lagoon Ở đây có 3 cung tích tụ lớn được sắp xếp theo dạng cánh gà Cung thứ nhất từ Khanom tới Nakhon Sỉ Thamarat, bờ thẳng, kéo dài theo phương kinh tuyến, là liên hợp của một số dạng tích tụ kiểu liền kề Cung thứ hai tir Nakhon Si Thamarat t6i Pattani 1a một bar rộng kéo dài hàng trăm cây số theo hướng tây bắc - đông nam, phía sau
là lagoon Tongle Xap và Sai Khao có chiều rộng 10 - 25km Cung thứ ba từ Pattani tới Kota
Baharu đường bờ có phương tây bắc - đông nam, hướng dòng bồi tích di chuyển về tây bắc xác nhận vai trò của sóng truyền từ hướng cửa vịnh Thái Lan vào phía trong
Từ Oya tới mũi Baran (350km, ở đảo Borneo, thuộc Malaixia) bờ biển thấp, bằng phẳng thành tạo do quá trình ích tụ của sóng cũng được xếp vào kiểu bờ này
2.3.2.3 Kiểu bờ tích tụ hỗn hợp biển - đồng bằng aluvi bằng phẳng
Từ Cửa Hội đến mũi Ròn (130km, thuộc Việt Nam) bờ biển thẳng, phương tây bắc - đông nam dọc theo rìa đông đồng bằng aluvi của sông Cả và các sông nhỏ thuộc địa phận tỉnh
Hà Tĩnh (Hạ Vàng, Gia Hới, Cầu Trí) Do sườn bờ ngầm thoải, nước nông, đường đẳng sâu 20m chạy cách bờ 8 - 12km, nên ở đây có điều kiện phát triển các dạng tích tụ dạng bar thành
tạo đo quá trình di chuyển ngang bồi tích từ đáy lên bờ Cát ở các đạng tích tụ được gió tiếp tục đưa vào đất liền thành tạo các đụn phong thành có nơi cao tới 10 - 15m, vai trò tích tụ của sóng đã thể hiện rõ hơn, và đạt được cân bằng hơi trội so với vai trò của sông Đây là một
kiểu bờ có mặt ở một số nơi thuộc Đại Tây Dương và Án Độ Dương, nhưng chưa phát hiện ở
Thái Bình Dương
Trang 10
-255-‘Nauyén Thasth Son va es 290-258 Si ca
Se Tap ho Cao WG AGH Gan quoe Wan) ya CHA Bien VG Nam & Phan Then Ben V ‘Tg, 9-10) 10/2008, TP Ha Long
KET LUAN
1 Ở Biển Đông có mặt 14/29 kiểu (nguồn gốc - hình thái) bờ biển, chiếm 48,28% tổng
số lượng các kiểu (nguồn gốc - hình thái) bờ trên toàn cầu Như vậy, Biển Đông chang những đứng dau các biển trong phạm vi Thái Bình Dương mà còn đứng đầu toàn bộ các biển trên thể giới về số lượng các kiểu bờ biển (Biển Ả Rập có 13 kiểu, Berinh - 11, Ôkhot - 11, Nhật Bản -9, Hắc Hải - 9, Gia Va - 8, Caribe - 8, Đông Trung Hoa - 7, San Hô - 7, Tacmania - 6, Biển
Bắc - 6, Philipine - 6 )
Và quá trình tiễn hóa, ở Biển Đông có mặt các kiểu bờ từ trẻ đến già, từ bờ nguyên sinh
ít bị thay đổi do quá trình biển (giai đoạn sinh: điển hình là các kiểu, dalmatian, liman, ria), đến bờ bắt đầu thay đổi tương đối rõ do quá trình sóng (giai đoạn hóa hay phát triển: điển hình là kiểu bờ vũng vịnh mài mòn), tiếp tục đến bờ thay đổi mạnh do quá trình sóng (giai đoạn thu hay trưởng thành: điển hình là kiểu bờ vũng vịnh tích tụ - mài mòn) và kết thúc là hoàn toàn thay đổi do quá trình sóng (giai đoạn tàng hay già cỗi: điển hình là kiểu bờ tích tụ- mài mòn bằng phẳng, tích tụ bằng phẳng, tích tụ hỗn hợp biển - đồng bằng aluvi bằng phẳng)
Điều đó xác nhận tính đa dạng cao của các kiểu bờ trong Biển Đông
2 Ở Biển Đông, có mặt một số kiểu bờ rất độc đáo Điển hình là kiểu bờ ăn mòn sinh hóa ở vùng nhiệt đới, trong phạm vi Thái Bình Dương chỉ thấy ở Việt Nam, trong phạm vỉ thế giới có thay xuất hiện ở vùng Phu Kẹt thuộc An Độ Dương, nhưng không điển hình như ở nước ta Kiểu bờ tích tụ hỗn hợp biển - đồng bằng aluvi bằng phẳng cũng chưa thấy xuất hiện
ở nơi nào khác thuộc Thái Bình Dương
3 Chiều dài lớn của các kiểu bờ thành tạo chủ yếu do tác động của yếu tố không không phải là sóng (chiếm 44,15% tổng chiều dài đường bờ của Biển Đông trong khi chiều đài đường bờ của các kiểu bờ thành tạo do sóng chỉ đạt 38,39%) xác nhận vai trò hàng đầu trong việc thành tạo bờ Biển Đông không thuộc về các yếu tố sóng biển Tỉ lệ khá lớn giữa chiều dài đường bờ của các kiểu bờ mang tính địa đới như đo sông (20,82%), do sinh vật (16,51%),
do ăn mòn sinh hóa ở vùng nhiệt đới (0,56%) trên tổng chiều dài đường bờ của Biển Đông
xác nhận vai trò to lớn của các yêu tố địa đới trong quá trình thành tạo bờ biển ở đới nóng
4 Tỉ lệ chiều dài đường bờ của các kiểu thuần túy tích tụ trên tổng số chiều dài dường
bờ Biển Đông là 49,36%, tỷ lệ chiều dài đường bờ tương ứng của các kiểu thuần túy mài mòn
là 13,71%, cũng như tỉ lệ chiều dai đường bờ của các kiểu bờ thuần túy tích tụ so với thuần túy mài mòn là 360% cho thấy xu thế chung của động lực bờ hiện nay là tích tụ, đường bờ
tiến về phía biển ( )
€) Theo ý kiến của Lê Đức An (người phản biện): Kết luận 4 là không chính xác Xu thế chung hiện nay là bờ
biển bị phá hủy, mài mòn tăng lên