1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VĂN CHIỀU ký DUYỆT văn 9 HK i (1)

68 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Tập Lí Thuyết Văn Thuyết Minh
Trường học Trường THCS
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Giáo Án
Năm xuất bản 2020 - 2021
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 478 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vùng biên ải của Tổ quốc nơi quê hương của hoa thơm, trái ngọt và nhữnglàn điệudân ca đặc sắc: Then, Sli, Lượn của các dân tộc Tày, Nùng, Dao.+ Viết phần thân bài: Phần này thường gồm m

Trang 1

Tuần 1 ÔN TẬP LÍ THUYẾT VĂN THUYẾT MINH

Ngày soạn: 12/08/2018

Ngày dạy:

I Mục tiêu cần đạt:

- HS củng cố lại kiến thức về văn thuyết minh

- Các phương pháp làm bài văn thuyết minh

- HS luyện một số dạng đề

II Chuẩn bi:

GV: Soan giáo án

HS: Chuẩn bị SGK- vở ghi

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

* Ổn định tổ chức

* Bài mới: GV nêu nội dung bài học

I Tóm tắt kiến thức cơ bản:

1 Khái niệm: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời sống nhằm

cung cấp tri thức về: đặc điểm, tính chất, nguyên nhân…của các sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích

2 Yêu cầu:

- Tri thức trong văn bản thuyết minh phải khách quan, xác thực, hữu ích chomọi người

- Văn thuyết minh cần trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn

3 Sự khác nhau giữa văn miêu tả và văn thuyết minh:

+ Có hư cấu tưởng tượng, không nhất

thiết phải trung thành với sự vật, đối

tượng…

+ Dùng nhiều so sánh, liên tưởng

+ Mang nhiều cảm xúc chủ quan của

người viết

+ ít dùng số liệu cụ thể

VD: “Những đám mây trắng như bông

đang tô vẽ cho nền trời bằng những hình

thù lạ mắt Nắng trong vắt như pha lê

Nắng xiên qua cây gỗ tếch ở vườn hoa

phố Nguyễn Cao, rọi xuống và chạy lung

tung quanh cái bàn ăn trưa của bốn cụ

* Trong văn bản thuyết minh có thể kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả, biện pháp nghệthuật làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, hấp dẫn

4 Phương pháp thuyết minh:

1 Phương pháp nêu định nghĩa:

Trang 2

VD: Giun đất là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất

ẩm

2 Phương pháp liệt kê:

VD: Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lálàm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống,

để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm…

3 Phương pháp nêu ví dụ:

VD: Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người

vi phạm (ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500

đô la) 4.Phương pháp dùng số liệu:

VD: Một tượng phật ở Nhạc Sơn, Tứ Xuyên, Trung Quốc, cao 71m, vai rộng 24m,trên mu bàn chân tượng có thể đỗ 20 chiếc xe con”

5 Phương pháp so sánh:

VD: Biển Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn bằng ba đại dương khác cộng lại

và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất

6 Phương pháp phân loại, phân tích:

VD: Muốn thuyết minh về một thành phố, có thể đi từng mặt: vị trí địa lý, khí hậu,dân số, lịch sử, con người, sản vật…

5 Cách làm bài văn thuyết minh:

- Bước 1: + Xác định đối tượng thuyết minh.

+ Sưu tầm, ghi chép và lựa chọn các tư liệu cho bài viết

+ Lựa chọn phương pháp thuyết minh phù hợp

+ Sử dụng ngôn từ chính xác, dễ hiểu để thuyết minh làm nổi bật các đặc điểm cơ bản của đối tượng

- Bước 2: Lập dàn ý

- Bước 3: Viết bài văn thuyết minh

+ Viết phần mở bài:

Mở bài có nhiều phương pháp, nhưng có thể quy vào hai phương pháp chủ yếu

là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp

Ví dụ 1: Mở bài trực tiếp.

Ví dụ 2: Mở bài gián tiếp.

Là người Việt Nam ai cũng đã một lần nghe câu ca dao:

Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Từ Hà Nội đi theo quốc lộ 1A, du khách ngồi trên xe ô tô khoảng 2 tiếng đồng

hồ là đến địa phận Lạng Sơn Qua dãy núi Kai Kinh rồi đến ải Chi Lăng thâmnghiêm hùng vĩ, những kì tích đó đã làm cho bao kẻ thù xưa nay khiếp sợ Đường1A trườn dài theo những triền núi ngút ngàn thông reo Từng đoàn xe lớn nhỏ hối hả

về xứ Lạng ẩn mình trong sương sớm Qua khỏi đèo Sài Hồ là đến thị xã Lạng Sơn,

Trang 3

vùng biên ải của Tổ quốc nơi quê hương của hoa thơm, trái ngọt và nhữnglàn điệudân ca đặc sắc: Then, Sli, Lượn của các dân tộc Tày, Nùng, Dao.

+ Viết phần thân bài:

Phần này thường gồm một số đoạn văn được liên kết với nhau thành một hệ thống nhằm giải đáp một số yêu cầu của đề bài

Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh nên tuân thủ theo thứ tự cấu tạo của sựvật, theo thứ tự nhận thức ( từ tổng thể đến bộ phận, từ ngoài vào trong, từ xa đếngần), theo thứ tự diễn biến sự việc trong một thời gian trước- sau; hay theo thứ tựchính phụ: cái chính nói trước, cái phụ nói sau

sử Kim Bình Chúng ta sẽ thấy Chiêm Hoá đẹp biết nhường nào

II Các dạng đề:

Đề: Thuyết minh về danh lam thắng cảnh ở quê hương em.( Núi Non Nước- Núi Dục Thúy)

MB: Về với quê hương Ninh Bình - quê hương chúng tôi, các bạn sẽ có dịp được

chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú gắn liền với những mốc son lịch sử quan trọng củamột vùng đất địa linh nhân kiệt, một vùng đất thiên nhiên hữu tình Bên cạnh câyChò ngàn năm nơi rừng quốc gia nguyên sinh Cúc Phương với động người xưa,bên đề vua Đinh, vua Lê - Kinh đô xưa một thời, bên Tam Cốc - Bích Động nênthơ trữ tình, bên Tràng An, di sản thiên nhiên văn hóa thế giới, các bạn sẽ đượcđắm mình trong vẻ đẹp huyền diệu mà đậm dấu ấn sử thi của núi Thúy

TB: Chẳng biết núi Thúy - sông Vân có tự bao giờ, có thể là từ buổi khai thiên lập

địa của loài người Cũng có thể cùng với thời gian, biển lùi xa xuống phía Đông.Núi trồi lên và sự sống ở đây bắt đầu sinh sôi nảy nở Trải qua bao nhiêu thăngtrầm của lịch sử, thời gian Núi Thúy - Sông Vân vẫn giao hòa quấn quýt bên nhautạo nên một vẻ đẹp non nước hữu tình cho Ninh Bình nói chung và đặc biệt làthành phố trẻ nói riêng

Các bạn ạ! Núi Thúy còn có tên là Dục Thúy Sơn - Băng Sơn,còn người dân NinhBình chúng tôi thường gọi là núi Non Nước hoặc núi Thúy đã hấp dẫn du kháchbốn phương, mọi thời Núi nằm ở phía Đông Bắc thành phố Ninh Bình, từ quốc lộ1A theo đường Lê Hồng Phong 500m bạn sẽ tới quần thể núi Thúy Trời ban chonúi Thúy một thế đứng tuyệt đẹp, núi có hình một con chim chả xanh đangnghiêng mình xuống dòng sông Vân Có người đã ví “núi Thúy như một thiếu nữđang nghiêng mình làm duyên” Thế núi ấy không chỉ hấp dẫn du khách bởi vẻđẹp mà còn bởi những chiến tích, những giá trị văn hóa to lớn

Trang 4

Núi Thúy cao khoảng hơn 100m, để lên được đỉnh núi bạn phải vượt qua 5 cấp vớigần 72 bậc đá Mùa hè bạn đặt chân lên phiến đá mát lạnh tâm hồn, bạn sẽ cảmthấy thư thái vô cùng Dọc lối lên là những hàng cây xanh mát rợp bóng lối đi.Núi Thúy vừa là di tích lịch sử vừa là danh lam thắng cảnh Một ngọn núi nhỏnhưng giá trị tinh thần thì không hề nhỏ Trước hết núi này gắn với dấu ấn liêndoanh hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp Đứng giữa đỉnhcủa ngọn núi này bạn sẽ thấy được bao nhiêu dấu tích khiến ngọn núi lưu danhtrong tâm trí mọi người Ở hướng Tây của ngọn núi là một lô cốt bằng xi măng cốtthép kiên cố Đó là minh chứng cho sự thất bại thảm hại của thực dân Pháp cáchđây hơn nửa thế kỷ Ở hướng Đông là sắc đỏ của lá cờ tổ quốc được cắm trên mộtkhối đá lớn Lá cờ ấy gợi nhớ tới người anh hùng Lương Văn Tụy vào rạng sángngày 07/11/1929 anh đã vượt qua sự canh gác nghiêm ngặt của kẻ thù cắm lá cờbúa liềm ở vị trí cao nhất rồi anh bị thực dân Pháp bắt và đày ra nhà tù Côn Đảo.Cũng ở trên ngọn núi này Thượng tá Giáp Văn Khương đã liều mình ngảy xuốngsông Đáy để trốn thoát khỏi sự truy bắt của quân Pháp trong chiến dịch QuangTrung của quân đội nhân dân Việt Nam năm 1951 và cũng tại nơi đây, cách chúng

ta hơn 10 thế kỷ Đinh Bộ Lĩnh đã dựa vào thế núi để dẹp loạn 12 xứ quân

Không chỉ gắn với những di tích lịch sử mà núi Thúy còn lưu dấu bút của nhiều thinhân với nhiều tác phẩm bất hủ Trương Hán Siêu là người có công phát hiện ra vẻđẹp của núi, cũng là người đầu tiên lưu bút tích vào núi mở đầu cho truyền thốngkhắc thơ trên vách núi Ở đây có khoảng 46 bài thơ của các thi sỹ từ Trương HánSiêu, Phạm Sư Mạnh, Lê Thánh Tông, Tự Đức, Hồ Xuân Hương, Tản Đà

Núi Thúy còn là một thắng cảnh, là điểm dừng chân của du khách Chính giữangọn núi nay là “Nghênh Phong Các”, nơi đây là nơi nghỉ mát lý tưởng Tại đâynhìn ra bốn phương với trời mây non nước hữu tình, bạn sẽ nhìn thấy ngọn núiNgọc Mỹ Nhân (núi Cánh Diều) duyên dáng, nhìn thấy cả thành phố trẻ Ninh Bìnhvới những ngôi nhà, đường phố, cây xanh tràn đầy sức sống đang thay da đổi thịttừng giờ

Dưới chân núi là đền thờ danh sỹ Trương Hán Siêu, chùa Non Nước, công viênThúy Sơn Phóng tầm mắt ra xa là chiếc cầu Non Nước vừa mới được xây dựng lại

to đẹp hơn Tất cả đã tạo nên khu quần thể du lịch nên thơ, thu hút khách thamquan Chính vì những giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử, thẩm mỹ như thế nên năm

1962 Dục Thúy Sơn được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia NuisThuys là địa danh có giá trị văn hóa, lịch sử vô giá của thành phố Ninh Bìnhnói riêng và của tỉnh nói chung Đến với núi Thúy là đến với những trầm tích lắngđọng của mọi thời Vì những ý nghãi to lớn ấy, mỗi người dân Ninh Bình chúng ta,đặc biệt là học sinh cần phải trân trọng, giữ gìn, bảo tồn để nơi đây mãi là điểmsinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân và du khách bốn phương

KB: Về với Ninh Bình là bạn về với vùng đất sơn thủy hữu tình, một vùng đất văn

hóa, lịch sử, một vùng đất mà du lịch đang trở thành thế mạnh cho sự phát triểnbền vững của tỉnh nhà Các bạn hãy nhớ đến với núi Thúy sông Vân, ngọn núi,dòng sông thơ mộng đúng như cái tên của nó để hiểu và cảm nhận được vẻ đẹpcũng như giá trị to lớn của những địa danh nơi đây

1 Dạng đề 1

Nhận biết yếu tố thuyết minh trong bài ca dao sau:

Trang 5

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàngNhị vàng, bông trắng, lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

 Gợi ý : Yếu tố thuyết minh:

Cấu tạo của hoa sen “Lá xanh, bông trắng, nhị vàng”

- Nêu nguồn gốc, đặc điểm của con trâu

VD: Trâu là động vật thuộc phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn,lớp thú có vú

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy.Lông màu xám, xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, mông dốc, bầu vúnhỏ, sừng hình lưỡi liềm Có 2 đai màu trắng: dưới cổ và chỗ đầu xương ức Trâucái nặng trung bình 350-400 kg, trâu đực 400- 500 kg…

- Vai trò, lợi ích của con trâu:

 Trong đời sống vật chất:

+ Là tài sản lớn của người nông dân

+ Là công cụ lao động quan trọng

+Là nguồn cung cấp thực phẩm, đồ mĩ nghệ, phân bón…

 Trong đời sống tinh thần:

+ Con trâu gắn bó với người nông dân như người bạn thân thiết, gắn bó với tuổithơ

+ Con trâu có vai trò quan trọng trong lễ hội, đình đám ( hội chọi trâu ở Đồ Sơn(Hải Phòng), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang)…, hội đâm trâu (TâyNguyên)…)

* Kết bài:

Khẳng định lại vai trò của con trâu trong đời sống hiện nay

III Bài tập về nhà:

Viết bài văn hoàn chỉnh từ đề bài: Con trâu ở làng quê Việt Nam

Gợi ý : ( theo dàn ý chi tiết đã xây dựng tại lớp)

* Dặn dò: Học bài và hoàn thiện các bài tập trên

Trang 6

ÔN TẬP: Văn bản: PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

- Một số biểu hiện của phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống và trong sinh hoạt

- Ý nghĩa của phong cách Hồ Chí Minh trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

- HS luyện một số dạng đề

II Chuẩn bi:

GV: Soan giáo án

HS: Chuẩn bị SGK- vở ghi

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

a Xuất xứ : Phong cách Hồ Chí Minh là một phần bài viết Phong cách Hồ Chí Minh

cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn Hồ Chí Minh vàvăn hóa Việt Nam (Viện Văn hóa xuất bản, Hà Nội 1990)

b Nội dung :

- Bài Phong cách Hồ Chí Minh chủ yếu nói về phong cách làm việc, phong cáchsống của Người Cốt lõi của phong cách Hồ Chí Minh là vẻ đẹp văn hóa với sự kếthợp hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại

- Bài thuộc chủ đề về sự hội nhập với thế giới và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.Tuy nhiên nó không chỉ mang ý nghĩa cập nhật mà còn có ý nghĩa lâu dài Bởi lẽ họctập, rèn luyện theo phong cách Hồ Chí Minh là việc làm thiết thực, thường xuyên củacác thế hệ người Việt Nam, nhất là lớp trẻ

- Văn bản nói về hai nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh :

+ Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộng tinh hoavăn hóa thế giới :

-> Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa thế giới bằng nhiều con đường (đinhiều nơi, làm nhiều nghề, học hỏi nhiều thứ tiếng )

-> Người tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài (khôngchịu ảnh hưởng một cách thụ động, tiếp thu mọi cái hay cái đẹp, phê phán những hạnchế tiêu cực, trên nền tảng văn hóa dân tộc mà tiếp thu ảnh hưởng quốc tế)

+ Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao Đó là “Một lốisống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rấthiện đại”:

-> Ở cương vị lãnh đạo cao nhất Hồ Chí Minh có lối sống vô cùng giản dị (nơi ở,nơi làm việc đơn sơ, trang phục hết sức giản dị, ăn uống đạm bạc)

Trang 7

-> Cách sống giản dị, đạm bạc của Hồ Chí Minh lại vô cùng thanh cao, sangtrọng (không phải là lối sống khắc khổ của những con người tự vui trong nghèo khó,không phải là tự thần thánh hóa cho khác đời, hơn đời, mà là cách sống có văn hóavới quan niệm : cái đẹp là sự giản dị tự nhiên).

-> Nét đẹp của lối sống dân tộc của Hồ Chí Minh gợi nhớ tới cách sống của các vịhiền triết (Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi)

c Nghệ thuật

- Kết hợp giữa kể và bình luận Đan xen giữa lời kể là lời bình luận một cách tựnhiên (có thể nói ít có vị lãnh tụ nào cổ tích)

- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu (dẫn chứng trong văn bản)

- Đan xen thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc sự gầngũi giữa Bác với các bậc hiền triết dân tộc

- Sử dụng nghệ thuật đối lập : vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọinền văn hóa nhân loại mà hết sức Việt Nam

* Các dạng đề

Đề 1:Văn bản có tựa đề Phong cách Hồ Chí Minh Tác giả không giải thích “phong

cách” là gì nhưng qua nội dung văn bản, em hiểu từ “phong cách” trong trường hợpnày có ý nghĩa như thế nào ?Nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh được Lê AnhTrà nêu trong bài viết là gì ?

Gợi ý :

- Từ “phong cách” có nhiều nghĩa Ở văn bản này “phong cách” được hiểu làđặc điểm có tính ổn định trong lối sống, sinh hoạt, làm việc của một người tạo nênnét riêng của người đó

- Nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh

+ Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộng tinhhoa văn hóa thế giới :

+ Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao Đó là “Một lốisống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rấthiện đại”

Đề 2 :Vì sao có thể nói lối sống giản dị của Bác Hồ là một “lối sống thanh cao” và

“có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác” ?

Gợi ý :

- Lối sống giản dị của Bác thể hiện một quan niệm sống đẹp, văn minh, một quanniệm thẩm mĩ sâu sắc Đó là sự coi trọng các giá trị tinh thần, là cách sống không lệthuộc vào điều kiện vật chất, không coi mục đích sống chỉ là hưởng thụ vật chất Đócũng là cách sống coi trọng và luôn tạo được sự hài hòa giữa con người và thiênnhiên, đem lại niềm vui, sự khỏe khoắn và thanh cao cho tâm hồn thể xác Chẳng hạnngôi nhà sàn của Bác dù ở giữa chốn đô thị vẫn có sự hài hòa với thiên nhiên vườncây, ao cá như những ngôi nhà sàn giản dị ở làng quê

- Lối sống giản dị và thanh cao của Bác là sự kế tục truyền thống của các bậchiền triết phương Đông Cách sống ấy thể hiện quan niệm thẩm mĩ : cái đẹp là sựgiản dị

Đề 3 : Nêu và phân tích những biện pháp nghệ thuật làm nổi bật vẻ đẹp trong phong

cách Hồ Chí Minh qua văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” của Lê Anh Trà

Gợi ý : Yêu cầu viết thành bài văn, đảm bảo các ý chính sau :

Trang 8

- Kết hợp giữa kể và bình luận Đan xen giữa lời kể là lời bình luận một cách tựnhiên (dẫn chứng)

- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu (dẫn chứng)

- Đan xen thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc sự gầngũi giữa Bác với các bậc hiền triết dân tộc (dẫn chứng)

- Sử dụng nghệ thuật đối lập : vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọinền văn hóa nhân loại mà hết sức Việt Nam (dẫn chứng)

Đề 4 :

Trong tình hình đất nước ta đang mở cửa hội nhập với thế giới như hiện nay, việchọc tập phong cách Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào ?Từ ý nghĩa đó em cần họctập và rèn luyện như thế nào ?

vụ to lớn và không dễ dàng Phong cách Hồ Chí Minh là một tấm gương về phươngdiện này Vì thế việc học tập phong cách Hồ Chí Minh sẽ giúp cho mọi người, đặcbiệt là thế hệ trẻ, có được một bài học sinh động về việc kết hợp tinh hoa văn hóa thếgiới với bản sắc văn hóa dân tộc

- Em nhận thức được thế nào là lối sống có văn hóa, thế nào là “mốt”, là hiện đạitrong ăn mặc nói năng

* Dặn dò: Học bài và hoàn thiện các bài tập trên

* Rút kinh nghiệm:

………

………

………

Trang 9

ÔN TẬP LÍ THUYẾT VĂN THUYẾT MINH

A Tóm tắt kiến thức cơ bản:

1 Khái niệm: Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong đời

sống nhằm cung cấp tri thức về: đặc điểm, tính chất, nguyên nhân…của các sự vật,hiện tượng trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích

2 Yêu cầu:

- Tri thức trong văn bản thuyết minh phải khách quan, xác thực, hữu ích chomọi người

- Văn thuyết minh cần trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, hấp dẫn

3 Sự khác nhau giữa văn miêu tả và văn thuyết minh:

+ Có hư cấu tưởng tượng, không nhất

thiết phải trung thành với sự vật, đối

tượng…

+ Dùng nhiều so sánh, liên tưởng

+ Mang nhiều cảm xúc chủ quan của

người viết

+ ít dùng số liệu cụ thể

VD: “Những đám mây trắng như bông

đang tô vẽ cho nền trời bằng những hình

thù lạ mắt Nắng trong vắt như pha lê

Nắng xiên qua cây gỗ tếch ở vườn hoa

phố Nguyễn Cao, rọi xuống và chạy lung

tung quanh cái bàn ăn trưa của bốn cụ

* Trong văn bản thuyết minh có thể kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả, biện pháp nghệthuật làm cho đối tượng thuyết minh được nổi bật, hấp dẫn

4 Phương pháp thuyết minh:

a Phương pháp nêu định nghĩa:

VD: Giun đất là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất

ẩm

b Phương pháp liệt kê:

VD: Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lálàm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống,

để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm…

c Phương pháp nêu ví dụ:

Trang 10

VD: Người ta cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, phạt nặng những người

vi phạm (ở Bỉ, từ năm 1987, vi phạm lần thứ nhất phạt 40 đô la, tái phạm phạt 500

VD: Biển Thái Bình Dương chiếm một diện tích lớn bằng ba đại dương khác cộng lại

và lớn gấp 14 lần diện tích biển Bắc Băng Dương là đại dương bé nhất

f Phương pháp phân loại, phân tích:

VD: Muốn thuyết minh về một thành phố, có thể đi từng mặt: vị trí địa lý, khí hậu,dân số, lịch sử, con người, sản vật…

5 Cách làm bài văn thuyết minh:

- Bước 1: + Xác định đối tượng thuyết minh.

+ Sưu tầm, ghi chép và lựa chọn các tư liệu cho bài viết

+ Lựa chọn phương pháp thuyết minh phù hợp

+ Sử dụng ngôn từ chính xác, dễ hiểu để thuyết minh làm nổi bật các đặc điểm cơ bản của đối tượng

- Bước 2: Lập dàn ý

- Bước 3: Viết bài văn thuyết minh

+ Viết phần mở bài:

Mở bài có nhiều phương pháp, nhưng có thể quy vào hai phương pháp chủ yếu

là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp

Ví dụ 1: Mở bài trực tiếp

Chiêm Hoá, một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang là nơi cư trú của nhiềudân tộc anh em như: Kinh, Tày, Dao, H’Mông, Sán Dìu…Tuy phong tục, tập quán

Trang 11

khác nhau nhưng chung sống rất hoà thuận cùng nhau xây dựng quê hương ngàythêm tươi đẹp.

Ví dụ 2: Mở bài gián tiếp.

Là người Việt Nam ai cũng đã một lần nghe câu ca dao:

Đồng Đăng có phố Kì Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Từ Hà Nội đi theo quốc lộ 1A, du khách ngồi trên xe ô tô khoảng 2 tiếng đồng

hồ là đến địa phận Lạng Sơn Qua dãy núi Kai Kinh rồi đến ải Chi Lăng thâmnghiêm hùng vĩ, những kì tích đó đã làm cho bao kẻ thù xưa nay khiếp sợ Đường1A trườn dài theo những triền núi ngút ngàn thông reo Từng đoàn xe lớn nhỏ hối hả

về xứ Lạng ẩn mình trong sương sớm Qua khỏi đèo Sài Hồ là đến thị xã Lạng Sơn,vùng biên ải của Tổ quốc nơi quê hương của hoa thơm, trái ngọt và nhữnglàn điệudân ca đặc sắc: Then, Sli, Lượn của các dân tộc Tày, Nùng, Dao

+ Viết phần thân bài:

Phần này thường gồm một số đoạn văn được liên kết với nhau thành một hệ thống nhằm giải đáp một số yêu cầu của đề bài

Viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh nên tuân thủ theo thứ tự cấu tạo của sựvật, theo thứ tự nhận thức ( từ tổng thể đến bộ phận, từ ngoài vào trong, từ xa đếngần), theo thứ tự diễn biến sự việc trong một thời gian trước- sau; hay theo thứ tựchính phụ: cái chính nói trước, cái phụ nói sau

sử Kim Bình Chúng ta sẽ thấy Chiêm Hoá đẹp biết nhường nào

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

 Gợi ý : Yếu tố thuyết minh:

Cấu tạo của hoa sen “Lá xanh, bông trắng, nhị vàng”

Trang 12

* Thân bài:

- Nêu nguồn gốc, đặc điểm của con trâu

VD: Trâu là động vật thuộc phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn,lớp thú có vú

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy.Lông màu xám, xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, mông dốc, bầu vúnhỏ, sừng hình lưỡi liềm Có 2 đai màu trắng: dưới cổ và chỗ đầu xương ức Trâucái nặng trung bình 350-400 kg, trâu đực 400- 500 kg…

- Vai trò, lợi ích của con trâu:

 Trong đời sống vật chất:

+ Là tài sản lớn của người nông dân

+ Là công cụ lao động quan trọng

+Là nguồn cung cấp thực phẩm, đồ mĩ nghệ, phân bón…

 Trong đời sống tinh thần:

+ Con trâu gắn bó với người nông dân như người bạn thân thiết, gắn bó với tuổithơ

+ Con trâu có vai trò quan trọng trong lễ hội, đình đám ( hội chọi trâu ở Đồ Sơn(Hải Phòng), Hàm Yên, Chiêm Hoá (Tuyên Quang)…, hội đâm trâu (TâyNguyên)…)

* Kết bài:

Khẳng định lại vai trò của con trâu trong đời sống hiện nay

C Bài tập về nhà: (Dạng đề 5 hoặc 7 điểm)

Viết bài văn hoàn chỉnh từ đề bài: Con trâu ở làng quê Việt Nam

Gợi ý : ( theo dàn ý chi tiết đã xây dựng tại lớp)

Trang 13

Tuần 6 ÔN THI 8 TUẦN- VĂN TỰ SỰ

Ngày soạn: 20/09/2018

Ngày dạy:

I Mục tiêu cần đạt:

- HS củng cố lại kiến thức về văn tự sự

- Các phương pháp làm bài văn tự sự đóng vai nhân vật kể lại truyện

- HS luyện một số dạng đề

II Chuẩn bi:

GV: Soạn giáo án

HS: Chuẩn bị SGK- vở ghi

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

3.Dạng bài kể chuyện t/ tượng( Đóng vai nhân vật kể lại truyện)

* Những lưu ý quan trọng khi làm kiểu bài đóng vai kể lại

Khi đóng vai nhân vật kể lại câu chuyện theo cách của bạn, bạn có thể tung hoành trí tưởng tượng, sáng tác, thêm thắt, đưa chính kiến riêng khác với tác giả, khác với người khác nhưng không thể biến Lão Hạc thành lão Gô ri ô, hay biến chị Dậu thành

Bà Triệu đánh Đông, dẹp Bắc được Có những điều bạn cần lưu ý kĩ:

-Về ngôi kể: Đây là vấn đề rất hiển nhiên, nhưng không phải không có người nhầm

Khi đóng vai một nhân vật kể lại, bạn luôn luôn kể bằng ngôi thứ nhất Một cách khéo léo bạn có thể bắt ngay vào câu chuyện mà không cần phải lăn tăn việc người đọc có biết bạn là ai không Danh tính của nhân vật có thể hiện dần ra trong mối quan

hệ với các nhân vật khác và trong những điều nhân vật kể thế nên đừng lo lắng quá

mà phải giới thiệu luôn kiểu con nít phát biểu trước lớp thế này: “Tôi là ABC,

XYZ đây, sau đây tôi xin kể câu chuyện bla bla bla…”

-Về giọng điệu kể: Khi lựa chọn điểm nhìn của một nhân vật cụ thể, bạn cần xác

định được đặc điểm tính cách của nhân vật, những lời nói, giọng điệu, cử chỉ, hành động phù hợp với tính cách của nhân vật đó Khi bạn kể lại câu chuyện hãy kể lại theo cá tính và quan điểm của nhân vật, đừng chỉ nên kể một cách chung chung, khái quát như liệt kê sự việc mà thôi

-Về những sự kiện được kể: Điều làm cho câu chuyện hay chính bài văn của bạn

thuyết phục hơn chính là sự lô gic Hãy kể lại những sự việc mà nhân vật của bạn có thể biết thôi, và nếu muốn kể những sự việc nhân vật không trực tiếp chứng kiến, hãytìm ra một sự liên kết hợp lí cho chúng Kiểu như nếu bạn là con trai lão Hạc thì bạn không thể ngồi ở đồn điền cao su kể vanh vách chuyện xảy ra ở nhà được, bạn chỉ biết khi đặt chân về đến làng và được ông giáo kể lại cho nghe, hoặc nếu bạn chưa về thì được gặp ai đó, nhận được thư từ ai đó Tương tự, Vũ Nương cũng không thể kể rằng “tại ông chồng Trương Sinh của tôi hay ghen, nghe lời con nói về một người cha

Trang 14

khác mà không hỏi cho rõ, đã nghĩ rằng đó là tình nhân của tôi trong khi thực ra nó chỉ là chiếc bóng nên bây giờ tôi oan ức quá, tôi

* Bài văn đóng vai nhân vật kể lại có thể không cần dài, có thể không cần cực kì

chi tiết mà cốt yếu chỉ cần sao cho bộc lộ được những nét đặc trưng nhất của nhân vật

và sự kiện mà thôi Nếu bạn đã có một ý tưởng trong đầu rồi thì đây chính là kiểu bài

dễ dàng nhất

Túm lại, cách làm kiểu bài này chính là thực hiện bước sau:

-Xác định nhân vật

-Xác định sự kiện mà nhân vật được chứng kiến hoặc được nghe kể lại

-Kể các sự kiện theo trình tự phù hợp Lời văn cần rõ ràng, mạch lạc Giọng điệu phù hợp

- Trương Sinh giới thiệu về bản thân mìn mình (tên, gia cảnh, tính cách)

- Trương Sinh dẫn dắt vào câu chuyện (Có một câu chuyện làm tôi ân hận suốt đời,

dù có chết tôi cũng không tha thứ cho bản thân)

* Thân bài

1 Quá trình kết hôn và chung sống với Vũ Nương

- Vợ tôi là Vũ Nương, xinh đẹp, đảm đang, khéo léo

- Chúng tôi chung sống với nhau rất hòa thuận, hạnh phúc, háo hức chờ đốn đứa conđầu lòng

- Đang trong thời gian mặn nồng, hạnh phúc, chiến tranh phi nghĩa xảy đến, tôi phải

từ biệt mẹ già, vợ trẻ để đi chiến đấu

- Chia tay vợ trong niềm lưu luyến, nhớ thương Tôi xúc động nhất khoảnh khắc vợrót chén rượu đưa tiễn tôi và nói nàng không cần vinh hoa phú quý, chỉ cần tôi đượcbình yên

2 Thời gian xa nhà (Được nghe những người hàng xóm kể lại)

- Tôi đi được một tuần thì vợ sinh con trai đặt tên là Đản

- Mẹ tôi ở nhà vì quá thương nhớ tôi nên sinh bệnh

- Vợ tôi ở nhà chăm nom mẹ tôi ân cần, chu đáo, ai ai cũng phải công nhận sự hiềnthảo đó

- Khi mẹ mất, vợ tôi khóc thương và lo liệu cho mẹ tôi được mồ yên mả đẹp

- Tôi thầm tự hào và biết ơn vợ, tự nhủ với lòng sẽ yêu thương và trân trọng nàngsuốt đời

3 Trương Sinh trở về và nghi oan cho vợ.

- Ba năm sau tôi trở về, trước sự ra đi của mẹ tôi đau đớn, xót xa vô cùng

- Tôi định bế con trai ra mộ để cùng thắp nén hương cho mẹ, nhưng nó khóc lóc,không chịu nhận tôi, nói cha nó chỉ nín thin thít, đêm nào cũng đến

- Tính tôi đa nghi lại vội vàng nên vô cùng giận giữ, không để cho vợ thanh minh màngay lập tức đuổi đi

4 Vũ Nương thanh minh, được giải oan và sự hối hận của chàng Trương.

Trang 15

- Trước cơn thịnh nộ của tôi, Vũ Nương hết lời giải thích, thanh minh, nàng hỏi tôichuyện kia nhưng tôi cố tình không nói, tôi vẫn mắng nhiếc thậm tệ và đuổi đi mặccho hàng xóm can ngăn

- Sau đó, vợ tôi tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang tự tử để chứng minh lòngthành Dù vẫn còn rất giận nhưng biết tin nàng tự tử tôi cũng động lòng thương, vớtxác lên nhưng không thấy

- Một đêm, nằm cùng bé Đản, bé chỉ tay lên chiếc bóng trên vách tường và nói đó làcha mình Tôi bàng hoàng nhận ra nỗi oan tày đình của vợ Tôi đau đớn, dằn vặt tựtrách mình

- Cạnh bến sông có người tên Phan Lang, vì được Linh phi dưới thủy cung đền ơncứu mạng nên đã được cứu vớt trong một lần chạy giặc Minh

- Ở dưới thủy cung, ông ta gặp lại vợ tôi Nàng đã nhờ Phan Lang chuyển lời vàchuyển kỉ vật đến tôi Ban đầu không tin nhưng khi nhìn thấy vật cũ của vợ mới hốthoảng tin theo

- Hôm sau, tôi nghe theo lời dặn, lập đàn giải oan cho vợ, Vũ Nương hiện về đẹplung linh Tôi xúc động, nghẹn ngào gọi vợ, nàng chỉ thấp thoáng giữa nói vọng vàolời từ biệt tôi

- Tôi đau đớn, ân hận, giày vò, giẵng xé vì những cơn nghen mù quáng của mình

* Kết bài

- Trương Sinh tự rút ra cho mình bài học: Vợ chồng phải biết yêu thương tôn trọng

và đặt niềm tin ở nhau mới có hạnh phúc bền lâu

- Trương Sinh tự hứa với lòng sẽ ở vậy, chăm con thật tốt, bù đắp sai lầm

* HS viết MB- KB

- HS đọc bài HS nhận xét và gv chốt kiến thức

III Bài tập về nhà:

Viết bài văn hoàn chỉnh từ đề bài trên

Gợi ý : ( theo dàn ý chi tiết đã xây dựng tại lớp)

* Dặn dò: Học bài và lập dàn ý cho đề văn sau:

Đề: Thay lời Vũ Nương kể lại chuyện “Chuyện người con gái Nam Xương".

* Rút kinh nghiệm:

………

………

………

Trang 16

Tuần 7 ÔN VĂN TỰ SỰ

Ngày soạn: 28/09/2018

Ngày dạy:

I Mục tiêu cần đạt:

- HS củng cố lại kiến thức về văn tự sự

- Các phương pháp làm bài văn tự sự đóng vai nhân vật kể lại truyện

- HS luyện một số dạng đề trong SGK

II Chuẩn bi:

GV: Soạn giáo án

HS: Chuẩn bị SGK- vở ghi

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

* Ổn định tổ chức

* Bài mới: GV nêu nội dung bài học

Đề 1: Tưởng tượng 20 năm sau, vào một ngày hè, em về thăm lại trường xưa Hãy viết thư cho một bạn học hồi ấy kể về buổi thăm trường đầy xúc động đó.

* Tìm hiểu đề:

1 Dạng đề: Kể chuyện tưởng tượng và viết thư

2 Nội dung: Viết thư cho bạn kể lại buổi thăm trường đầy xúc động sau 20 năm.Ngôi kể: Thứ nhất

* Dàn ý

1.Mở bài: Ninh Bình, ngày tháng …năm…

Bạn…thân mến!

2.Thân bài:

a Những lí do thăm hỏi đầu thư

- Lí do viết thư ( tưởng tượng: VD: Soạn vỡ thấy tấm hình lớp chụp chung….)

b Nội dung thư:

- Giới thiệu tên trường? (Tưởng tượng đến trường vào thời điểm nào? Lí do đến trường)

- Miêu tả con đường đến trường ( so sánh lúc trước và bây giờ? Thay đổi như thế nào? Cảm xúc?)

Miêu tả các phòng lớp ( Phòng vi tính? Phòng TN? _Dụng cụ, thiết bị đổi khác ra sao? ) Các dãy phòng : phòng giám hiệu, phòng bộ môn, phòng đoàn đội…(So sánh)

- Miêu tả khoảng sân trường? (so sánh xưa và nay)? Những băng ghế ? gốc bàng, hàng phượng ( Còn như xưa ? đã già hay đã trồng cây khác?)

Miêu tả những hình ảnh, sự vật gắn với kỉ niệm thời xưa? Nêu cảm xúc? Thầy cô? Bạn bè?

- Gặp lại thầy cô? Thầy cô cũ còn không? Thầy cô mới như thế nào? ( Vui vẻ?) Thầy hiệu trưởng về hưu hay đã mất?

- Găp lại thầy cô chủ nhiệm lớp 9A…? Cô thay đổi ra sao? Nhưng vẫn còn những nétgì? ( Giọng nói? Ánh mắt? Khuông mặt lộ vẻ xúc động?)

- Cô trò nhắc lại kỉ niệm cách đây 20 năm:

+ Trò hỏi thăm các thầy cô cũ? Báo cho cô biết tình hình một số bạn học? Về công việc của mình?

Trang 17

+ Tâm trạng cô ra sao?

Đó là vào một buổi chiều muộn, vẫn là con đường ngày xưa có nhiều hoa và cỏnhưng cảm giác của mình thật lạ: hồi hộp, xao xuyến như cô học trò nhỏ ngày nàomỗi sớm mai đến lớp Từ xa mình đã trông thấy trường: nhà cao tầng, lợp tôn đỏ, nổibật trên nền trời ngày hè xanh trong Bước những bước chân chậm rãi đến gần ngôitrường xưa yêu dấu, mình cảm nhận rõ ràng cảm giác thân quen gần gũi khi nhìn thấytấm biển: “Trường THCS Ninh Khánh" Sơn Ca còn nhớ lời cô đã nói: “Bước quacánh cổng này là một thế giới kỳ diệu sẽ mở ra" Đúng là như vậy Ngôi trường củachúng ta giờ đã thay đổi khá nhiều: to đẹp hơn, khang trang hơn, có tường bao, vườnthực vật và rất nhiều cây cảnh Chỉ có những hàng cây trên sân trường là vẫn thế:xanh biếc đến nao lòng Cuối sân trường, hàng phượng vĩ vẫn nở hoa đỏ rực như mùathi chỉ vừa mới qua thôi… Mình bước chầm chậm lên hành lang tầng hai, giật mìnhkhi trông thấy bác bảo vệ Có lẽ nhìn cái vẻ bần thần của mình bác ấy cũng đoán ra làhọc sinh cũ về thăm trường nên chỉ cười mà không hỏi gì cả Lòng bồi hồi bước đếnbên lớp cũ, nhìn qua cửa sổ, cảm thấy mình vẫn là cô học trò nhỏ ngày nào Trong

“ngôi nhà chung" ấm cúng này, bốn mươi thành viên của lớp đã học tập, vui chơi,cùng chia sẻ với nhau những niềm vui, nỗi buồn, những tâm tư tình cảm của tuổi họctrò hồn nhiên trong sáng Những dãy bàn, những giờ học hăng say, dường như cònthoảng đâu đây cả lời cô giáo giảng… Sơn Ca còn nhớ chỗ ngồi của bọn mình ngàyxưa không? Bàn thứ hai, bên trái, chỗ ngồi đã gắn bó với chúng mình trong suốt cảnăm học lớp 9 Có lần cô giáo cho làm bài tập, cả lớp cắm cúi làm còn An cúi mặtxuống bàn làm một giấc Thấy An ngủ ngon lành quá, mình vẽ lên mũi cậu ấy mộtchấm tròn to y như mũi con mèo Một lát cô giáo trông thấy, gọi An đứng dậy Nhìn

An, cô giáo bật cười còn cả lớp được một phen nghiêng ngả Ngày ấy chúng mìnhquý nhất cô Mai Với cả lớp, cô như người chị cả, vừa nghiêm nghị vừa gần gũi, yêuthương Giọng cô nhỏ và trong, những bài cô dạy, những câu chuyện cô kể dườngnhư bao giờ cũng hấp dẫn hơn nhiều lần… Tất cả như mới vừa đây thôi, vẫn vẹnnguyên trong ký ức, giờ ào ạt ùa về khiến nỗi nhớ trở nên cồn cào, cháy bỏng Gióchiều mát dịu, mang theo cả hương thơm của lúa non ngoài cánh đồng thôi vào khiếnmái trường thêm thân thuộc biết bao!

Mỗi chúng ta giờ đều đã khôn lớn trưởng thành Những ước mơ xưa giờ đãthành hiện thực Nỗi lo toan của cuộc sống khiến ta đôi lúc lãng quên nhiều thứ Chỉriêng ở nơi này, những kỷ niệm của chúng mình vẫn vẹn nguyên chờ đợi những họctrò xưa…

Trang 18

Chiều muộn, mình trở về Đã bước chân ra khỏi ngôi trường lưu giữ nhữngtháng năm học trò hồn nhiên và đẹp như một câu chuyện cổ tích mà thấy lòng mìnhvẫn xao xuyến bâng khuâng, ước gì mình được trở lại như xưa, lại được hồn nhiêncắp sách tới trường, ước gì thời gian có thể quay trở lại…

Sơn ca! Thư cũng đã dài, mình dừng bút nhé Hẹn gặp nhau một ngày gần nhấtkhi chúng mình cùng trở lại trường xưa!

Bạn

Thảo Nguyên

Đề 2: Kể về một giấc mơ trong đó em gặp người thân đã cách xa lâu ngày.

Gợi ý: Đặt ra giả định: Người thân đi xa (đi công tác? chuyển chổ tới nơi khác? Đã

mất?)

- Người thân: Người có kỉ niệm gắn bó sâu nặng quen thuộc và thân thiết

- Hình thức kể: Một giấc mơ, trong giấc mơ gặp lại ai? Quan hệ như thế nào vớimình? Người đó hiện đang ở đâu? làm gì? Khi gặp lại: Hình dáng? cử chỉ? nét mặt?động tác? lời nói ra sao? (Tả người và hành động)

+ Kết thúc buổi găp gỡ như thế nào?

Dàn ý

1 Mở bài:

- Em đi vào giấc mơ như thế nào? Lúc đó tâm trạng em như thế nào?

- Em gặp lại người thân là ai? Quan hệ với em như thế nào? Cách xa bao lâu? Lí do

gì xa cách em lâu thế? Cảm xúc của em khi gặp lại người thân?

2 Thân bài:

- Giới thiệu chung về người thân: Người thân bây giờ ở đâu? Làm gì? Tình huốngnào em gặp lại người thân?

- Khi gặp lại quan sát thấy người thân như thế nào? Diện mạo? Hình dáng? Y phục?

Cử chỉ? Nét mặt? Động tác? Lời nói (Chủ yếu tả người và hành động)

- Người thân có những nét gì khác so với lúc trước khi xa không? ( So sánh từ hìnhdáng bên ngoài với tính cách bên trong trước đó và bây giờ?)

- Nhận xét và suy nghĩ của em

- Nhớ và kể lại những kỉ niệm gắn bó với người thân

- Em và người thân đã trò chuyện như thế nào? Nói với nhau những gì? (Kể lại sinhđộng và lồng vào cảm xúc)

- Cuối buổi gặp gỡ những việc gì xảy ra? Cảm xúc của em?

- Cái gì đã đánh thức em dậy? Tâm trạng em như thế nào? Cảm xúc lâu lắng?

3 Kết bài:

- Giấc mơ tan biến trở về hiện thực ấn tượng sâu sắc nhất của em và người thân là gì?

- Cảm xúc của em ra sao, khi nhớ lại cuộc gặp gỡ này?

- Em có cảm nghĩ gì? Sẽ làm gì để người thân vui lòng?

Gợi ý bổ sung:

- Có thể người thân đã qua đời: (Ông, bà, cô )

- Nhắc nhở em: Sống tốt, phấn đấu có tương lại sáng lạng hơn

- Là anh (hoặc chị) chết sớm (do lầm lỗi hoặc tai nạn ) nhắc nhở em biết suy nghĩchính chắn để có hành động đúng để người thân vui lòng ở cõi hư không

* HS viết mở bài

* Viết đoạn phần thân bài: - Đoạn 1: Em gặp n/ thân trong hoàn cảnh nào?

Trang 19

* Viết kết bài

Bài làm:

Đã bao giờ bạn tin rằng sau một giấc mơ những điều bạn hằng mong ước bấylâu sẽ trở thành sự thật? Đã có lúc tôi rất tin vào điều đó và luôn nhớ khoảnh khắc kỳdiệu mà giấc mơ đã đem đến cho tôi

Hôm ấy là một buổi tối cuối tuần, trời đầy sao và gió thì dịu nhẹ Tôi nằm trêntrần nhà mơ mộng đếm những vì sao và ngủ thiếp đi lúc nào không biết Trong giấc

mơ, bỗng nhiên tôi mơ thấy cả không gian như bừng sáng Trong vầng hào quang lấplánh, ông tôi cười hiền từ bước về phía tôi Tôi sung sướng đến nghẹt thở ngắm nhìngương mặt phúc hậu, hồng hào và mái tóc bạc phơ của người ông yêu quý Ông tôivẫn thế: dáng người cao đậm, bộ quân phục giản dị và cái nhìn trìu mến! Tôi bên ông,tay nắm bàn tay của ông, tận hưởng niềm vui được nâng niu như thuở còn bé… Tôimuốn hỏi những ngày qua ông sống như thế nào? Ông ở đâu? Ông có nhớ đến giađình không… Tôi muốn hỏi nhiều chuyện nhưng chẳng biết bắt đầu từ đâu cả

Ông kể cho tôi nghe những câu chuyện cổ tích mà ngày xưa ông vẫn kể Giọngông vẫn thế: rủ rỉ, trầm và ấm Ông hỏi tôi chuyện học hành, kiểm tra sách vở của tôi.Đôi mày ông nhíu lại khi thấy tôi viết những trang vở cẩu thả Ông không trách màchỉ ân cần khuyên nhủ tôi cố gắng học tập chăm chỉ hơn Ông nhìn tôi rất lâu bằngcái nhìn bao dung và khích lệ Ông còn bảo những khát vọng mà ông làm dang dở,cháu hãy giúp ông biến nó thành hiện thực Những khát vọng ấy ông ghi lại cả trongtrang giấy này Muốn làm được điều ấy chỉ có con đường học tập mà thôi…

Ông dẫn tôi đi trên con đường làng đầy hoa thơm và cỏ lạ Hai ông cháu vừa đivừa nói chuyện thật vui Ông bảo đến chợ hoa xuân, ông muốn đem cả mùa xuân vềnhà của cháu Ông chọn một cành đào, cành khẳng khiu nâu mốc nhưng hoa thì tuyệtđẹp: màu phấn hồng, mềm, mịn và e ấp như đang e lệ trước gió xuân Nụ hoa chi chít,cánh hoa thấp thoáng như những đốm sao Tôi tung tăng đi bên ông, lòng sung sướngnhư trẻ nhỏ Ông cầm cành đào trên tay Có lẽ mùa xuân đang nấp cả trong những nụđào e ấp ấy Xung quanh ông cháu tôi, kẻ mua người bán ồn ào và náo nhiệt Họ cũngđang chuẩn bị đón xuân về

Tôi đang bám vào tay ông, ríu rít trò chuyện về những ngày xuân mới sắp đến,chợt nghe tiếng mẹ gọi rất to Tôi giật mình tỉnh dậy, thấy mình vẫn đang nằm trêntrần nhà Lòng luyến tiếc nhận ra tất cả chỉ là một giấc mơ mà thôi…

Giấc mơ chỉ là khoảnh khắc kỳ diệu giải toả niềm mong nhớ của tôi Tôi nuốitiếc song cũng thấy lòng hạnh phúc và ấm áp bởi vì qua giấc mơ tôi đã gặp được ông,được ông truyền cho niềm tin và sự nỗ lực cố gắng thực hiện những ước mơ củachính mình

* Bài tập về nhà:

Viết bài văn hoàn chỉnh đề bài trên

Gợi ý : ( theo dàn ý chi tiết đã xây dựng tại lớp)

* Dặn dò: Học bài và hoàn thiện các bài tập trên

* Rút kinh nghiệm:

………

………

………

Trang 20

Tuần 7 ÔN TẬP VĂN HỌC

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

2 Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trêntrái đất, cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điềukiện về phát triển, để loại trừ nạn đói, nạn thất học và khắc phục nhiều bệnh tật chohàng trăm triệu con người, đấu tranh cho hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơchiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của toàn thể loài người

Bài viết của Mát - két đã đề cập vấn đề cấp thiết nói trên với sức thuyết phụccao bởi lập luận chặt chẽ, chứng cứ phong phú, xác thực, cụ thể và còn bởi nhiệt tìnhcủa tác giả

3 Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em

Báo cáo quyền lợi, chăm lo đến sự nghiệp phát triển của trẻ em là một trongnhững vấn đề quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa toàn cầu Bản “Tuyên bố của hội nghịcấp cao thế giới về trẻ em” ngày 30/9/1990 đã khẳng định điều ấy và cam kết thựchiện những nhiệm vụ có tính toàn diện vì sự sống còn phát triển của trẻ em, vì tươnglai của toàn nhân loại

4 Chuyện người con gái Nam Xương

1 Tác giả:

- Nguyễn Dữ( Có sách phiên âm là Nguyễn Tự) sống ở khoảng đầu thế kỉ XVI.( Thời

kỳ nhà Lê bắt đầu khủng hoảng Lê Mạc Trịnh tranh giành quyền binh gây ra nội chiến

Là thời kì mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của xã hội nước ta thời phong kiến)

- Quê: Huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương

- Là người học rộng tài cao, nhưng ông làm quan có 1 năm rồi cáo quan về ở ẩn nuôi mẹgià (Nguyễn Dữ lui về ẩn cư ở vùng núi Thanh Hoá.)

2.Tác phẩm:

a “Truyền kì mạn lục”:

- Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền

- Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời )

- Gồm 20 truyện, đề tài phong phú

Trang 21

- Nhân vật:

+ Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sốngyên bình , hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệtngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất

+ Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bất mãnvới thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ được cốt cách thanh cao

b Văn bản:

- “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyền thứ 16, có nguồn gốc từ một truyện

cổ tích Việt Nam có tên là “Vợ chàng Trương”

- So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương” phức tạp hơn về tình tiết và sâu sắc hơn về cảm hứng nhân văn

c Nội dung, nghệ thuật:

Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của ngườiphụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ tình

3 Ý nghĩa chi tiết cái bóng

Cái bóng x/hiện trước hết trong trò đùa của VN với con hành đêm khi chồng ra

trận: Lấy cái bóng để dạy con đó là cha nó Ý nghĩa

- Một trong những thành công tạo nên sức hấp dẫn trong chuyện “Người Con Gái

Nam Xương” của Nguyễn Dữ là việc sáng tạo riêng một hình ảnh xuất thần độc

đáo, Hình ảnh “cái bóng” Hình ảnh này mang ý nghĩa cả về nội dung lẫn nghệ thuật.

Về nội dụng trước hết “cái bóng” giúp thắt nút câu chuyện, đẩy câu chuyện đến caotrào kịch tính khi Trương Sinh trở về Chàng nghe lời nói của con trẻ về chuyện cáibóng đã đẩy nàng đến cái chết oan nghiệt

- Rồi hình ảnh cái bóng cũng là lời nói ngây thơ của bé Đản xuất hiện hai lần giúp

mở nút câu chuyện Từ đó Trương Sinh nhận ra lỗi của mình và Vũ Nương đã đượcgiải oan Không chỉ vậy hình ảnh” cái bóng” góp phần bộc lộ rõ tính cách của nhân

vật Đối với Vũ Nương là biểu hiện của tình yêu thương, lòng chung thủy với

chồng con Với Trương Sinh là người hay ghen, độc đoán khi đổ oan cho vợ con và

ân hận khi chàng nhận ra lỗi lầm Còn với bé Đản là một đứa trẻ ngây thơ, trong sáng,chuyện người con gái Nam Xương

- Bên cạnh giá trị nghệ thuật “cái bóng” còn làm sâu sắc hơn cả giá trị nội

dung của tác phẩm Hình ảnh “cái bóng” còn khăc sâu cái chết của Vũ Nương thêm

oan ức và tố cáo xã hội phong kiến nam quyền bất công với người phụ nữ Đồng thờikhẳng định thân phận của người phụ nữ rất mong manh

4 Để dẫn đến nỗi oan của Vũ Nương theo bạn có những nguyên nhân nào? Trong chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, để dẫn đến nỗi oan cuả

Vũ Nương có ba nguyên nhân chính Trước hết là do lời nói ngây thơ của bé Đản cùng chi tiết cái bóng đã làm cho sự ghen tuông mù quáng trong Trương Sinh nổi dậy đến cao trào, đây là hai nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Vũ

Nương Nhưng nguyên nhân sâu xa là do cuộc chiến tranh phi nghĩa đã đẩy đôi

vợ chồng trẻ phải xa nhau Nên chỉ cần một lý do hết sức mập mờ, không rõ ràng,

Trang 22

thơ dại của con trẻ, đã tạo cơ hội cho ngọn lửa ghen tuông đã nghi ở Trương Sinhbùng cháy Từ đó Trương Sinh có thể mắng nhiếc và đánh đuổi nàng đi, chàng bỏngoài tay mọi lời phân trần của Vũ Nương Đây cũng chính là nguyên nhân tạo nên bikịch của người phụ nữ Việt Nam Đồng thời cũng làm nên giá trị hiện thực của tácphẩm

5 Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

“Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” phản ánh đời sống xa hoa của vua chúa và

sự nhũng nhiễu của bọn quan lại thời Lê - Trịnh bằng một lối văn ghi chép sự việc cụthể, chân thực, sinh động

6 Hoàng Lê nhất thống chí

Với quan điểm lịch sử đúng đắn và niềm tự hào dân tộc, các tác giả “Hoàng Lênhất thống chí” đã tái hiện chân thực hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệqua chiến công thần tốc đại phá quân Thanh, sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh

và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống

? Cảm nhận về vẻ đẹp của người anh hùng Nguyễn Huệ

- Một con người có hành động mạnh mẽ và quyết đoán: từ đầu đến cuối đoạn trích , Nguyễn Huệ luôn luôn là người hành động một cách xông xáo mạnh mẽ, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết nghe tin giặc đã chiếm thành Thăng Long, mất cả một vùng đất đai mà ông không hề nao núng, “ định thân chinh cầm quân đi ngay” Rồi trong vòng chỉ một tháng, Nguyễn Huệ đã làm bao nhiêu việc lớn: “ tế cáo trời đất”, “lên ngôi hoàng đế”, “ đốc suất đại binh’’ ra Bắc gặp gỡ “người cống sĩ

ở huyện La Sơn”, tuyển mộ quân lính và mở các cuộc duyệt binh lớn ở Nghệ An, phủ

dụ tướng sĩ, định kế hoạch hành quân, đánh giặc và kế hoạch đối phó với nhà Thanh sau chiến thắng

- Hơn thế nữa ông còn có một trí tuệ sáng suốt, nhạy bén:

Sáng suốt trong việc phân tích tình hình thời cuộc và thế tương quan chiến lược giữa ta và địch Đưa ra lời phủ dụ có thể coi như bài hịch ngắn mà ý tứ thật phong phú, sâu xa, có tác động kích thích lòng người yêu nước và truyền thống quật cường của đân tộc

Sáng suốt nhạy bén trong việc xét đoán và dùng người, thể hiện qua cách xử tri vớicác tướng sĩ tại Tam Điệp, khi Sở và Lân mang gươm trên lưng chịu tội ông rất hiểu

sở trường sở đoản của các tướng sĩ, khen chê đều đúng người đúng việc,

Cùng với ý trí quyết thắng và tầm nhìn xa trông rộng Quang Trung đã làm lên trang lịch sử hào hùng cho dân tộc chỉ mới khởi binh đánh giặc chưa dành lại được tấc đất nào, vậy mà mà Quang Trung đã nói chắc như đinh đóng cột “ phương lược tiến đánh đã có tính sẵn”, lại còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao sau khi chiến thắng nước lớn gấp 10 lần nước mình, để có thể dẹp chuyện binh đao, cho nước nhà yên ổn

mà nuôi dưỡng lương thực

- Tài dùng binh như thần: cuộc hành binh thần tốc do vua Quang Trung chỉ huy đến nay vẫn còn làm chúng ta kinh ngạc ngày 25 tháng chạp bắt đầu xuất binh ở phú xuân( Huế), một tuần lễ sau đã ra tận Tam Điệp cách Huế 500km vậy mà đến đêm 30tháng chạp hành quân ra Bắc vừa đi vừa đánh giặc vậy mà ông hoạch định là mồng 7 tháng giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long, trong thực tế đã vượt mức hai ngày Hành quân xa và đầy gian khổ như vậy nhưng cờ nào đội ấy vẫn chỉnh tề, răm rắp nghe theo chỉ huy

Trang 23

- Hình ảnh Quang Trung lẫm liệt trong chiến trận: Hoàng đế Quang Trung thân chinh cầm quân đánh giặc không phải chỉ trên danh nghĩa Ông là một tổng chỉ huy chiến dịch thật sự hoạch định phương lược tiến đánh, tổ chức quân sĩ, tự mình thống lĩnh mũi tên tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha trước hòn tên mũi đạn, bày mưu tính kế…Đội quân của vua Quang Trung không phải là đội quân thiện chiến, lại vừa trải qua những ngày hành quân cấp tốc, không có thì giờ nghỉ ngơi, vậy mà dưới

sự lãnh đạo tài tinhfcuar vị chỉ huy này đã đánh những trận thật đẹp, thắng áp đảo kẻ thù ( bắt sống hết quân do thám của địch ở phú Xuyên, giữ được bí mật để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hạ Hồi…) trận đánh Ngọc Hồi cho ta thấy rõ tài trí về chiến lược phong thái lẫm liệt của vua Quang Trung

(khói tỏa mù trời cách gang tấc không thấy gì mà chỉ nổi bật hinh ảnh của vua Quang Trung có sách ghi chép lại áo bào đỏ của ông sạm đen khói súng )

Từ những đoạn trích trên ta thấy hiện về trong lịch sử một nhân vật xuất chúng: lẫm liệt oai phong, văn võ song toàn đã ghi vào trang lịch sử vẻ vang của dân tộc, làmsáng ngời truyền thống dân tộc, ngàn đời sau vẫn nhắc tên người anh hùng áo vải Quang Trung

* Bài tập về nhà:

? Tìm hiểu về Truyện Kiều của ND

* Dặn dò: Học bài và hoàn thiện các bài tập trên

* Rút kinh nghiệm:

………

………

………

Trang 24

TUẦN 9 ÔN TẬP TIẾNG VIỆT

Soạn bài theo câu hỏi đã giao

III Tiến trình lên lớp

* Ổn định tổ chức

* Bài mới: GV nêu nội dung bài học

1 Phương châm hội thoại.

A Có 5 phương châm hội thoại.

1 Phương châm về lượng: khi giao tiếp cần nói có nội dung, nội dung lời nói phảiđáp ứng đúng yêu cầu giao tiếp không thiếu, không thừa

VD: - Én là loài chim có 2 cánh.-> Vi phạm phương châm về lượng vì thừa thông tin.Thừa cụm từ “ Có 2 cánh” vì đã là chim thì phải có 2 cánh

2 Phương châm về chất: Khi giao tiếp không nói những điều mình tin là không đúnghay không có An nói:

VD:Quả bí to như cái nhà.=> Thông tin An đưa ra vi phạm phương châm về chất vì

đã nói những điều mình không tin và không thể có

-Tớ ăn cơm rồi.=> Câu trả lời của Ba không đáp ứng điều An muốn biết là Ba

có đi học chiều nay không chứ không phải là Ba đã ăn cơm chưa

VD: ÔNg nói gà, bà nói vịt

4 Phương châm cách thức: Khi giao tiếp cần chú ý nói ngắn gọn, rành mạch, tránhcách nói mơ hồ

VD: Một đứa trẻ mới 5 tuổi đang đi tìm quả bóng Ông bố thấy thế liền nói: Quảbóng nằm ngay dưới cuốn “ tuyển tập truyện ngắn Nam Cao” kia kìa

=>Câu nói vi phạm phương châm cách thức vì một đứa trẻ 5 tuổi chưa biết chữ

mà nói quả bóng để ngay dưới quyển tuyển tập Nam Cao là một điều mơ hồ

5 Phương châm lịch sự: Khi giao tiếp cần chú ý đến sự tế nhị và tôn trọng ngườikhác

VD: Cái áo của bạn xấu quá

=> Câu nói vi phạm phương châm lịch sự không đảm bảo sự tế nhị

B Quan hệ giữa P/C hội thoại và tình huống giao tiếp.

- Để tuân thủ các phương châm hội thoại, người nói phải nắm được đặc điểmcủa tình huống giao tiếp: Nói với ai? Nói khi nào? Nói ở đâu? Nói để làm gì?

C Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại.

Trang 25

- Việc không tuân thủ các phương châm hội thoại có thể bắt nguồn từ nhữngnguyên nhân sau:

+ Người nói vô ý vụng về, thiếu văn hoá giao tiếp

+ Người nói phải ưu tiên cho một phương châm hội thoại hoặc một yêu cầukhác quan trọng hơn

+ người nói muốn gây một sự chú ý, để người nghe hiểu câu nói theo một hàm

ý nào đó

D Từ ngữ xưng hô trong hội thoại

Tiếng Việt cũng như một số ngôn ngữ phương Đông khác có hệ thống từ ngữxưng hô hết sức đa dạng bà phong phú Ví dụ: Ngôi thứ nhất trong tiếng Việt có thể

sử dụng hàng loạt từ đồng nghĩa như: tôi, tao, tớ, mình, ta, ông, em, bác, anh, trongkhi tiếng Anh chủ yếu dùng từ I, tiếng Pháp dùng từ Je Chính sự đa dạng và phngphú trong hệ thống từ ngữ xưng hô của tiếng Việt cho phép bắt buộc người giao tiếpphải dựa vào ngữ cảnh để lựa chọn từ ngữ xưng hô cho thích hợp nhằm tạo ra nhữngsắc thái biểu cảm trong sử dụng

E Việc sử dụng từ ngữ xưng hô trong hội thoại

Trong hội thoại, do những tình huống giao tiếp khác, và do mối quan hệ khácnhau của mỗi người, người ta có thể lựa chọn từ ngữ xưng hô thích hợp để đạt đượchiệu quả giao tiếp tối ưu

Cùng giao tiếp với một người nhưng ở những tình huống giao tiếp khác nhau ta

sử dụng những từ ngữ xưng hô khác nhau Ví dụ: Chú ruột đồng thời cũng là thầygiáo của em có thể nói với chú rằng:

Thưa thầy, bài toán này em chưa giải được

Trong hội thoại, tùy theo mối quan hệ giữa những người trong giao tiếp mà có cáchxưng hô khác nhau

2 Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp.

* Có hai cách phát triển từ vựng tiếng Việt:

+ Biến đổi và phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của chúng:

• Nghĩa ban đầu gọi là nghĩa gốc Nghĩa mới nảy sinh gọi là nghĩa chuyển

• Hai phương thức chủ yếu phát triển nghĩa của từ ngữ là ẩn dụ và hoán dụ

Cần phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng (phương thức phát triển nghĩa của từ ngữ) với

ẩn dụ, hoán dụ tu từ Chúng giống nhau ở cơ chế chuyển nghĩa (đều gọi tên sự vật,

Trang 26

hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng hoặc có quan hệ tương cận) Điểm khác nhau cơ bản là ẩn dụ, hoán dụ tu từ chỉ làm xuất hiện nghĩa lâm thời của từ ngữ; còn ẩn dụ, hoán dụ từ vựng làm cho từ ngữ có thêm nghĩa

chuyển, nghĩa chuyển này được đông đảo người bản ngữ thừa nhận, vì thế có thể giải thích được trong từ điển (nghĩa ổn định)

VD: (1) Mặt trời xuống biển như hòn lửa

(Huy Cận)

(2) Những ngày không gặp nhau

Biển đục ngầu thương nhớ

+ Từ biển trong câu (1) được dùng với nghĩa gốc

+ Từ biển trong câu (2), (3) được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.– Không phải trường hợp chuyển nghĩa nào cũng làm cho từ trở thành từ nhiều nghĩa:+ Từ biển trong câu (2) là ẩn dụ tu từ Tác giả dùng biển để chỉ nhân vật trữ tình em, dựa trên mối quan hệ tương đồng giữa biển và em theo cảm nhận của nhà thơ, nhằm thể hiện tình yêu rộng lớn, nỗi nhớ mênh mông, cồn cào khi xa cách thuyền – anh Đây không phải hiện tượng phát triển nghĩa của từ bởi sự chuyển nghĩa đó chỉ có tínhchất lâm thời, gắn với hoàn cảnh sử dụng cụ thể nhằm mục đích tu từ; nó không làm cho từ có thêm nghĩa mới

+ Từ biển trong câu (3) là ẩn dụ từ vựng, tạo ra nghĩa khá ổn định, gắn với từ, biểu thị

ý khối lượng nhiều, đông đảo, ví như biển Đây là hiện tượng phát triển nghĩa của từ.+ Phát triển số lượng các từ ngữ:

• Tạo thêm từ ngữ mới để cho vốn từ ngữ tăng lên

VD: Điện thoại di đông, cầu truyền hình, đường vành đai…

• Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài Bộ phận từ mượn quan trọng nhất trong tiếng Việt là từ mượn tiếng Hán

VD: In-tơ-net, com-pu-tơ, Ma-ket-tinh…

b Đặc điểm của thuật ngữ

Đặc điểm nổi bật nhất của thuật ngữ là tính chính xác, tính hệ thống

a) Tính chính xác

Trang 27

Do thuật ngữ phản ánh bản chất bên trong của sự vật, vì thế thuật ngữ biểu thị khái niệm chính xác khoa học nào đó

Thuật ngữ không có hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, không có tính biểu cảm.b) Tính hệ thống

Mỗi ngành khoa học, kĩ thuật đều có một hệ thống thuật ngữ nhất định Mỗi thuật ngữ biểu thị một khái niệm trong hệ thống nào đó

Ngoài những đặc điểm trên thuật ngữ còn có tính quốc tế

5 Có 2 cách trau dồi vốn từ

- Rèn luyện để nắm bắt được đầy đủvà chính xác nghĩa của từ và cách dùng từ

- Rèn luyện để biết thêm những từ chưa biết , làm tăng vốn từ

BÀI TẬP

Bài 1: Đọc hai câu thơ sau

“Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng!”

( Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Từ hoa trong thềm hoa, lệ hoa được dùng theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển?

Có thể coi đây là hiện tượng chuyển nghĩa làm xuất hiện từ nhiều nghĩa được không?

Vì sao?

Bài 2:Trong các từ ngữ: nói móc, nói ra đầu ra đũa, nói leo, nói hớt, nói nhăng nói

cuội, nói lóng, hãy chọn một từ ngữ thích hợp điền voà mỗi chỗ trống sau:

Nói nhằm châm chọc điều không hay của người khác một cách cố ý là

Nói nhảm nhí, vu vơ là

Cho biết mỗi từ ngữ vừa chọn chỉ cách nói liên quan đến phương châm hộithoại nào?

Bài 3: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu của đề:

Vừa lúc ấy, tôi đó đến gần anh Với lòng mong nhớ của anh, chắc anh nghĩrằng, con anh sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh Anh vừa bước, vừakhom người đưa tay đón chờ con Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn Nó ngơngác, lạ lùng Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)a) Chỉ ra câu văn có chứa thành phần khởi ngữ

b) Xác định những từ láy được dùng trong đoạn trích

c) Hãy cho biết câu thứ nhất và câu thứ hai của đoạn trích được liên kết vớinhau bằng phép liên kết nào?

d) Từ “tròn” trong câu “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn.” đó đượcdùng như từ thuộc từ loại nào?

Bài 21:

Cho các từ sau: hoa hồng, ngân hàng, bàn tay

a) Nhận xét sự thay đổi về nét nghĩa của các từ: hoa hồng, ngân hàng, khi kếthợp với các từ mới: bạch, đề thi

b) Nghĩa của của từ “trắng” trong câu: “Sau bao năm bươn chải nơi đất kháchquê người, cuối cùng lóo lại trở về với hai bàn tay trắng”

* Dặn dò: Học bài và hoàn thiện các bài tập trên

* Rút kinh nghiệm:

Trang 28

………

………

Trang 29

TUẦN 10 Văn bản: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG

Ngày soạn: 18/10/2018

Ngày dạy:

I Mục tiờu cần đạt:

- HS nắm được cốt truyện, nhõn vật, sự kiện trong tỏc phẩm truyện truyền kỡ

- Hiện thực về số phận của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ cũ và vẻ đệp truyện thống của họ

- Cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật độc đỏo trong tỏc phẩm tự sự của nguồngốc dõn gian

- Thấy rừ được số phõn oan trỏi của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến từ đú liờn

hệ với xó hội đương thời biết bờnh vực kẻ yếu và phụ nữ

- HS làm bài tập

II Chuẩn bị:

GV: Soạn giỏo ỏn

HS: Chuẩn bị SGK- vở ghi

Soạn bài theo cõu hỏi đó giao

III Tiến trỡnh lờn lớp

* Ổn định tổ chức

* Bài mới: GV nờu nội dung bài học

I.Tỏc giả, tỏc phẩm

1 Tỏc giả:

- Nguyễn Dữ( Cú sỏch phiờn õm là Nguyễn Tự) sống ở khoảng đầu thế kỉ XVI.( Thời

kỳ nhà Lờ bắt đầu khủng hoảng Lờ Mạc Trịnh tranh giành quyền binh gõy ra nội chiến

Là thời kỡ mở đầu cho một chặng dài lịch sử tối tăm của xó hội nước ta thời phong kiến)

- Quờ: Huyện Trường Tõn, nay là huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương

- Là người học rộng tài cao, nhưng ụng làm quan cú 1 năm rồi cỏo quan về ở ẩn nuụi mẹgià (Nguyễn Dữ lui về ẩn cư ở vựng nỳi Thanh Hoỏ.)

2.Tỏc phẩm:

“ Truyền kỡ mạn lục”là tỏc phẩm duy nhất cũn lại của ụng Đõy được coi là ỏng

ô thiờn cổ kỡ bỳt” với 20 truyện được viết theo thể truyền kỡ

Truyền kỳ: là những truyện thần kỳ với cỏc yếu tố tiờn phật, ma quỷ vốn được lưu

truyền rộng rói trong dõn gian

Mạn lục: Ghi chộp tản mạn.

Truyền kỳ cũn là một thể loại viết bằng chữ Hỏn (văn xuụi tự sự) hỡnh thành sớm ởTrung Quốc, được cỏc nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trờn những chuyện cú thực vềnhững con người thật, mang đậm giỏ trị nhõn bản, thể hiện ước mơ khỏt vọng củanhõn dõn về một xó hội tốt đẹp

1.Chuyện người con gỏi Nam Xương kể về cuộc đời và nỗi oan khuất của người

phụ nữ Vũ Nương, là một trong số 11 truyện viết về phụ nữ

- Truyện cú nguồn gốc từ truyện cổ dõn gian “Vợ chàng Trương” tại huyện NamXương (Lý Nhõn - Hà Nam ngày nay)

-Người con gái Nam Xương là một trong 20 truyện của tập sách, đợc xây dựng trêncơ sở truyện cổ tích có h cấu thêm các yếu tố kì ảo

Trang 30

2 Chủ đề: ca ngợi vẻ đẹp của đức hạnh, lòng vị tha, thể hiện số phận bi kich của

ngời phụ nữ xa trong xh tao loạn, đồng thời thể hiện khát vọng vĩnh hằng của conngời : cái thiện phải thắng cái ác

3 Túm tắt Chuyện người con gỏi Nam Xương của Nguyễn Dữ

Truyện kể về người con gỏi Nam Xương, cú tờn là Vũ Thị Thiết Nàng là người cúdung hạnh vẹn toàn, chồng là Trương Sinh tớnh tỡnh hay ghen, Vũ Nương sắp đến kỡsinh nở thỡ chồng bị gọi đi lớnh

Ở nhà Vũ Nương sinh con và chăm nom mẹ chồng rất mực chu đỏo, vỡ nhớ thươngcon mẹ chồng nàng ngày càng ốm nặng rồi mất, nàng lo tang ma chu đỏo như với cha

mẹ đẻ mỡnh Để đỡ nhớ chồng, nàng hay đựa với con bằng cỏch chỉ cỏi búng củamỡnh lờn vỏch và núi với con đú là cha Đản

Từ chiến trường trở về, Trương Sinh đau buồn ra thăm mộ mẹ, bế Đản theo, ra đếnđồng đứa trẻ quấy khúc vỡ đứa bộ bảo Trương khụng phải là cha Đản, cha Đản đờmnào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bếĐản cả Khụng cần hỏi cho rừ ngọn ngành, Trương đó nổi cơn ghen tam bành đỏnhđuổi Vũ Nương đi, khụng ai cú thể khuyờn can được Khụng thể thanh minh được,

Vũ Nương đành nhảy xuống sụng tự tận, lấy cỏi chết để minh oan cho mỡnh Nàngđược Linh Phi vợ vua Nam Hải cứu

Trương Sinh tuy giận nhưng vẫn thương xút Một buổi tối Đản chỉ vào cỏi búng trờntường và núi "Đấy cha Đản lại đến kia kỡa" Trương Sinh õn hận vụ cựng nhưng việc

đó rồi

Dưới động rựa, Vũ Nương đó gặp lại Phan Lang người cựng làng, nàng gửi chiếc hoavàng cựng lời nhắn Trương lập đàn giải oan cho mỡnh Trương bốn lập đàn giải oancho nàng, quả thấy Vũ Nương ngồi trờn kiệu hoa ở giữa dũng với cờ tỏn vừng lọngrực rỡ cả bến sụng thoắt ẩn thoắt hiện Nàng từ biệt và khụng trở về dương gian đượcnữa

5 Về nội dung truyện: Qua cõu chuyện về cuộc đời và cỏi chết thương tõm của Vũ

Nương, Chuyện người con gỏi Nam Xương thể hiện niềm cảm thương đối với số phậnoan nghiệt cua người của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thờikhẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ

*Về nghệ thuật

- Kết cấu độc đỏo, sỏng tạo

- Nhõn vật: diễn biến tõm lý nhõn vật được khắc hoạ rừ nột

- Xõy dựng tỡnh huống truyện đặc sắc kết hợp tự sự + trữ tỡnh + kịch

- Yếu tố truyền kỳ: Kỳ ảo, hoang đường

- Nghệ thuật viết truyện điờu luyện

6 Phõn tớch:

6.1 Nhõn vật Vũ Nương:

a Vẻ đẹp phẩm chất:

Trang 31

- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đã thuỳ

mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoàn hảo

- Sau đó ông đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong các mối quan hệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau

* Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng:

- Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn

“giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui.Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực!

- Hạnh phúc êm ấm tưởng bền lâu, không ngờ đấtnước xảy ra binh biến, Trương Sinhphải đầu quân ra trận ở biên ải xaxôi Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng nhữnglời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dámmong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày

về mang theo đượchai chữ bình yên, thế là đủ rồi” Ước mong của nàng thật bình dị, lời lẽ dịudàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thường mọi côngdanh phù phiếm Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng

sẽ phảichịu đựng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩnlút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì,khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.”.Qua lời nói dịu dàng,nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lạisửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâmtình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồngbay bổng” Đúng là lời nói, cách nói của một người vợ hết mực thùy mị, dịudàng Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biếtđợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao!

- Khi xa chồng, VũNương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòng thủychung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưahề bén gót” Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầyvườn,mây che kín núi,thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn

được”.Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngàyphải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của VũNương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạcxưa nay:

"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằngtrời

Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu

Nỗi nhớ chàng đau đáu nàoxong…"

“Thiếp vốn conkẻ khó được nương tựa nhà giàu cáchbiệt ba năm giữ gìn một

Trang 32

tiết ” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó chothấy thái độ trân trọng chồng, trântrọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của VũNương.

- Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sungsướng nàng vẫn khôngnguôi nỗi thương nhớ chồng con Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã ứa nước mắt xót thương Mặc dù đã nặnglời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng controng giây lát để nói lời

đa tạ tấm lòng chồng Rõ ràng trong trái tim ngườiphụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha

* Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo vớimẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thương con.

- Trong ba nămchồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ

- Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo.Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéođể khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớthương con Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọnghệt như với cha mẹ đẻ của mình Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất chonên trước lúc chết người mẹ già

ấy đã trăng trối những lời yêu thương, độngviên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xétlòng lành, ban cho phúc đức giốngdòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đãchẳng phụ mẹ"

- Với con thơ nànghết sức yêu thương, chăm chút Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, mộtmình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việccon cái Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ : để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha

=> Nguyễn Dữ đãdành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đókhắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp.

* Là nạn nhân củachiến tranh phi nghĩa:

- Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân củachế độ phụ quyền phong kiến mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến , củacuộc nội chiến huynh

đệ tương tàn Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúc,cuộc sống vợ chồng kéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mìnhVũ Nương với mẹ già và đứa con còn chưa ra đời Suốt ba năm, nàng phải gánh váctrọng trách gia đình, thay chồngphụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, phảisống trong nỗi nhớ chồng triền miên theo năm tháng

Trang 33

- Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầmtrở thành nguyên nhân gây bất hạnh Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đanghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của VũNương.

* Đỉnh điểm của bikịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái chết.

- Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan vàđối xử bất công, tàn nhẫn

- Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinhđã nghi oan chovợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàng xóm

- Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị,bôi bẩn bởi chính người chồng mà mình yêu thương

- Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oanức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt

* Cái kết thúctưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Nương.

- Lược thuật lại kết thúc tác phẩm

- Phân tích:

+ Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khaomột cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác

+ Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tínhchất bi kịch của tác phẩm

Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sựhiển linh trong thoáng chốc, là

ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi Sau giây phút đónàng vẫn phải về chốn làng mây cung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôingả Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà

ấy là được sum họp bên chồng bên concuối cùng vẫn không đạt được Sự trở về trongthoáng chốc và lời từ biệt củanàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau nàykhông có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lạichốn nhân gian được nữa”

=> Tuy có nhữngphẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số

phận cay đắng,oan nghiệt Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bấtcông phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người

=> Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý củangười phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho

số phận bấthạnh của họvà cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi

lí chàđạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cầnkhai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo

củangòi bút Nguyễn Dữ

6.2 Nhân vật Trương Sinh: Điển hình cho quyền lực và tính cách của người chồng

trong chế độ phong kiến nam quyền: Gia trưởng, độc đoán, coi thường nhân phẩmthậm chí coi thường cả mạng sống của vợ Ngoài ra, Trương Sinh còn là kẻ vô học,ghen tuông mù quáng, vô lối

6.3 Lời nói của Đản: “Ô hay! Thế ra ông cũng là cho tôi ư? Ông lại biết nói, chứ

không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít… Trước đây, thường có một người đànông, đêm nào cũng đến…”

Trang 34

- Câu nói phản ánh đúng ý nghĩ ngây thơ của trẻ em: nín thin thít, đi cũng đi, ngồicũng ngồi (đúng như sự thực, giống như một câu đố giấu đi lời giải Người cha nghingờ, người đọc cũng không đoán được).

- Tài kể chuyện (khéo thắt nút mở nút) khiến câu chuyện đột ngột, căng thẳng, mâuthuẫn xuất hiện

- Trương Sinh giấu không kể lời con nói: khéo léo kể chuyện, cách thắt nút câuchuyện làm phát triển mâu thuẫn

-Ngay trong lời nói của Đản đã có ý mở ra để giải quyết mâu thuẫn: “Người gì mà lạvậy, chỉ nín thin thít”

Bài tập

1 Chỉ ra các chi tiết kì ảo:

a Những chi tiết kì ảo:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

- Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế

- Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan chonàng ở bến Hoàng Giang

b Ý nghĩa:

- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phongphú

- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, mộtngười dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổtiên, khao khát được phục hồidanh dự

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngànđời của nhân dân ta về

sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oankhuất, cuối cùng sẽ được minh oan

- Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảmcủa người phụ nữ trong

xã hội phong kiến

2 Ý nghĩa chi tiếtcái bóng:

- Trương Sinh hồ đồ, đa nghi

- Vũ Nương yêu thương chồng con

c Cái bóng góp phầntố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sứcmong manh.

3 Những lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?

=> Gợi ý:

- Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hếtlà lời nói ngây thơ của con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông của ngườichồng đa nghi vũ phu Lời con trẻ thì ngây thơ vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vin theo đểhăt hủi, ruồng rẫy cho hả dạ ( Trực tiếp )

Ngày đăng: 13/10/2022, 23:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w