* Đinh Điền - Xây dựng và khai thác từ điển nghĩa của chủ đề và tiêu điểm trong cấu trúc ý niệm tiếng Việt 38 — nghĩa của câu 114 * Vũ Thị Hải Hà - Phổ cập toàn dân học chữ -* Phan Mậu
Trang 1NGỮ HỌC TR€ 2002
DIEN DAN HOC TAP Va NGHIEN cứu
Trang 2
động từ) làm định ngữ
»3
* lê Xuân Mậu - Để dạy tốt từ
, Hán - Việt 74
MUC LUC * Hà Quang Năng - Vũ Thị Thu Huyền -
a a Buttc dau kh&o sat d&c điển định danh và
ngữ nghĩa của tổ hợp nói + x 79
* Trần Đại Nghĩa - “Một”, “hai” trong câu thd
* Hải Phòng trước mùa phượng nở 3 “Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai” 88
* Nguyễn Thị Thanh Nga - Thử khảo sát
nhỏm hư từ đồng nghĩa chỉ quan hệ điều kiện
* Dương Thị Nụ - Từn hiểu cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng
* Nguyễn Thị Thu - Sự chuyển nghĩa của từ
* Phạm Thị Kim Anh - Máy ý ý kiến về việc ~ “tay” trong tiếng Việt 99
thay đổi chữ viết 9 * Huỳnh Công Tín - Hiện trạng nói tắt, viết
* Vũ Thị Ân - Trương Thị Thu Vân - Lỗi tắt trong giao tiếp 101
dùng từ của sinh viên ngành Giáo dục tiểu * Trương Thị Thu Vân - Góp thêm ý kiến về :
học: thực trạng và giải pháp 12 cách dạy chính tả ở trường tiểu học 105
* Nguyễn Ngọc Ấn - Xác định từ xưng gọi
* Bùi Đăng Bình - Thực trạng hiện tượng | -
mì trong tiếng Việt 22
* Hoàng Trọng Canh - Các yếu tố chỉ mức
độ cao đặc tinh su vật trong phương ngữ
Nghệ Tĩnh 24 * Chu Thị Thuỷ An - Các phụ từ “đừng”,
* Nguyễn Chiến - Ẩn dự và phúng dụ trong “chó” trong câu cầu khiến tiếng Việt 109
ngữ nghĩa của điển cố 28 * Hé Kim Anh - Bàn thêm về câu phức (hành
* Trương Thị Diễm - Khảo sát các từ xưng phần trạng ngữ 112
hô thân tộc "thím, mợ, dượng” 33 * Dương Hữu Biên - Về sự biểu hiện ngữ
* Đinh Điền - Xây dựng và khai thác từ điển nghĩa của chủ đề và tiêu điểm trong cấu trúc
ý niệm tiếng Việt 38 — nghĩa của câu 114
* Vũ Thị Hải Hà - Phổ cập toàn dân học chữ -* Phan Mậu Cảnh - Tin hiểu cách thức tổ
Quốc ngữ - một phương tiện đưa chức năng chức văn bản đạt đích tuyên truyền giáo dục
xã hội của tiếng Việt vào giáo dục 44 trong một số tác phẩm của Bác 126
* Võ Xuân Hảo - Chức năng liên kết của các * Nguyễn Văn Chính - Khảo sát ngữ nghĩa
đơn vị ngữ âm đoạn tính trong cấu trúc từláy 49 — ngữ dụng của hai tử vừa và mới trong tiếng
* Phạm Thị Hoà - Hiện tượng nhiều nghĩa Viật hiện đại 130
của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong * Thi Thảo Dung - Đặc điểm ngữ nghĩa - cú
tiếng Việt : 56 pháp của kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ 135
* Trần Văn Hoà - Trường vị từ biểu thị tác * Đào Ngọc Đệ -Tiếng Việt thực hành - Môn
động làm sự vật biến đổi từ trạng thái toàn học thiết thực cho sinh viên 148
vẹn đến không toàn vẹn và từ không toàn = ` * Đoàn Thị Thu Hà - Quán ngữ đánh dấu vẹn đến toàn vẹn - 58 tình thái nhận thức không thực hữu trong câu
* Nguyễn Thị Ly Kha - Dạy từ Hán Việt d tiếng Việt 145 trường phổ thông 64 * Nguyễn Khánh Hà - Bước đầu tìm hiểu về
* Trịnh Cẩm Lan - Từ khái niệm "Ngôn ngữ câu điều kiện trong tiếng Việt theo hướng ngữ
thành phố" thử nhin nhận khái niệm "Tiếng pháp nhận thức 150
* Đỗ Thị Ngọc Mai - Một số tiêu chí phân Hán - Việt mới trong tiếng Việt 157
biệt cụm chủ vị và danh ngữ có động từ (ngữ * Nguyễn Chí Hoà - Đề - chủ ngữ - vai ngữ
Ý2 _ nghĩa trong câu tiếng Việt 163
Trang 3130
số đặc trưng thuộc về cách thức tổ chức van
bản để đạt đích tuyên truyền giáo dục, chúng ta
thấy một đặc điểm rất rõ ràng: Bác nói hay viết,
phong cách chính luận, báo chí hay nghệ thuật
cũng đều có chung mội lối diễn đạt trong sáng,
dễ hiểu, dễ nhớ Kết quả đó không phải do xuất
phát từ một kĩ thuật thuật đơn thuần, mà bao
trùm trong tất cả là một tấm lòng, một ý thức
phụng sự dân tộc, suốt đời vì dân vì nước của
Người
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập
2) Bài nói tại Đại hội thứ hai những người
viết báo VN, 4/1989
3) Nâng cao hơn nữa chất lượng báo chí
(Báo Nhân dân 09/9/1962)
4) Sửa đổi lề lối làm việc - Nxb Sự thật -
1959 :
5, 6) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,
Tập (V, tr 29
7) Tuyển tập Hỗ Chí Minh - Tap |, tr 38
8) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập
IV, tr 25
9) Sửa đổi lề lối làm việc, tr 36
10) Tuyển tập Hồ Chí Minh, tập 1, tr 371
11, 12) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,
Tập 2, tr 113
13) Báo Văn nghệ, Số 23, 5/1950,
14) Tuyển tập Hồ Chí Minh Tập II, tr 59
15) Sửa đổi lề lối làm việc, tr 8
16) Báo Nhân dân, năm 1954
17) Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr,
18) Tuyển tập Hồ Chí Minh, Tập II, tr 265:
19) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,
Tập V, tr 281
°3
NGỮ HỌC TRẺ 2002
HHẢO SắT NGỮ NGHĨA NGỮ DỤNG CUA HAI TU "vA" VA "Mor" TRONG TIENG VIET HIEN DAI
NGUYEN VAN CHINH®
1 Cho đến nay, đa số các tác giả ngữ
pháp đều đã xem xét hai từ này dưới góc độ cấu trúc học Mọi người thường thống nhất cho
rằng hai hư từ này được dùng để đánh đấu về
mặt thời gian và xếp nó vào nhóm hư từ chỉ thời
- thể cùng với các hư từ đã, đang, sẽ, sắp (Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Anh Quế
Nguyễn Minh Thuyết viết: "Trong chức năng
tiền phó từ, cả vừa lẫn mới đều cho biết hành
động, trạng thái nêu ở vị từ được hoàn thành
trước thời điểm mốc không lâu Giữa hai phó từ
vừa và mới không cô sự khác biệt nào về nghĩa,
do đó chúng có thể tự do thay thế cho nhau"
Một nhận xét như vậy là hoàn toàn chính xác
đối với các phát ngôn tường thuật có nội dung
thông báo về một sự tình xảy ra chưa lâu so với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm
được sử dụng làm mốc so sánh (ví dụ: "Anh ấy mới đến", “Anh ấy vừa đến".) hoặc trong các
phát ngôn hồi đáp khi người nói trả lời cho một
phát ngôn nghỉ vấn, tại đó, người hỏi muốn biết
rõ cái thời điểm mà sự tình xây ra đã lâu chưa
_ Anh đến đã lâu chưa?
- Dạ chưa, anh ấy vừa/mớivừa mới đến (thôi ạ)
2 Theo sự quan sát tư liệu của chúng tôi, ở
trong hai dạng phát ngôn vừa nêu, nét nghĩa
của "vừa" và "mới" là trùng khít, vì vậy mà
chúng có thể thay thế cho nhau hoặc kết hợp với nhau để trở thành một cấu trúc kẹp đôi "vừa
mới": "mới vừa": Ví dụ:
—¬>>————
©-TS, Trudng BH KH XH & NV - ĐHQGHN.
Trang 4TIENG VIET VA CHU VIET (Cau và văn bản) “41341
Khải: (cười) Xin lỗi, còn ông năm nay bao
nhiêu tuổi nhỉ?
Minh Tuấn: Dạ, thưa ông, ‘nam nay tôi vừa
tròn bốn tư tuổi ạ [1]
hoặc: "Ông vừa mới mua con mèo tam thể
Nói khác đi, với nét nghĩa thời - thể thì hai
hư từ "vừa, mới" có chức năng chủ yếu là kiến
tạo các phát ngôn trong đó sự tình được nói đến
được đánh dấu về mặt thời gian so với một thời
điểm mốc những người tham gia hội thoại cùng
xác định Nét nghĩa này rất dễ được phát hiện
và công nhận khi chúng ta dùng phép cải biến
dé kiểm tra Chẳng hạn, khi lược bỏ
vừa/mớivửa mới thì các phát ngôn kiểu này
cũng sẽ mất hẳn phần ý nghĩa thông báo về
thời gian So sánh:
Anh ấy vừa mới đến (phát ngôn được đánh
# Anh ấy đến (phát ngôn không đánh dấu
về thời gian - phát ngôn này mang tính chất
thông báo một sự tình), hoặc: "Ông vừa mới:
mua được con mèo tam thể." (phát ngôn được
đánh đấu về thời thông qua "vừa mới" và về kết
quả của hành động thông qua hư từ "được" phía
sau động từ) Nếu lược bỏ "vừa mới" thành:
"Ông mua được con mèo tam thể" thì phát ngôn
mất nét nghĩa thông báo về thời; nét nghĩa kết
quả hành động trùm lên toàn bộ phát ngôn như
một chủ đích mà người nói định bộc lộ
3 Xét về mặt ngữ nghĩa, có thể thấy được
hai hư từ "vừa, mới" có nguồn gốc vị từ, cụ thể
là tính từ (gần đây các nhà Việt ngữ học đã
công nhận rằng: đa số các hư từ tiếng Việt đều
cô chung một xuất phát điểm như vậy) Trong
Từ điển tiếng Việt giải thích - Hoàng Phê chủ
biên thì "vừa" được giải thích là "khớp, đúng,
hợp với, về mặt kích thước, khả năng, thời
gian ": còn "mới" được giải thích là: "vừa được
làm ra, hay là chưa dùng hoặc dùng chưa lâu
vừa có hay vừa xuất hiện chưa lau." Qua cách
giải thích như vậy của từ điển, chúng ta có thể
cảm nhận được hai hư từ 'vừa, mới" rất tương
- đồng với nhau ở nét nghĩa "vừa có hay vừa xuất
hiện chưa lâu" Chính sự gần gũi về mặt ý nghĩa nay là cơ sở chỏ việc sử dụng cả hai từ này vào
cùng một chức năng: phụ nghĩa thời gian cho sự tình ở các phát ngôn tường thuật hoặc hồi đáp
Điều đáng lưu ý ở đây là: mức độ lâu/mau (dài/ ngắn) của thời điểm sự tình xảy ra tương quan
với thời điểm mốc được đánh giá, thẩm định
hoàn toàn qua lăng kính chủ quan của người
phát ngôn Nói khác đi, ở đây không có một tiêu
chuẩn khách quan bắt buộc về mặt thời gian để
người phát ngôn phải tuân theo, việc dùng
"mới/vừa" được hay không là do người nói tự xác định và người nói sử dụng chúng một cách
chủ quan với ngụ ý bộc lộ cho người nghe biết được sự đánh giá chủ quan của mình
Ví dụ: - Anh ấy vừa/mớivừa mới ởi (lúc
nay) -
- Gớm, sao con người mới uống nước máy
chẩy ngược bằng vòi có vài ba tháng mã đã có
được cái giọng đặc phố (Tô Hoài)
- * Chị ấy mới lấy chồng được hai năm nay
- 4, Nét nghĩa biểu thị một sự tình xảy ra chưa lấu (theo nhận định chủ quan cửa người nói) trên cơ sở so với thời điểm mốc của "vừa, mới" cũng được dùng để thể hiện thái độ đánh giá về một thời điểm mà người nói xem đó là khung thời gian để một sự tỉnh xây ra
Ví dụ:
- Tôi biết ông ấy thích đánh bạc, và mới đây, ông ấy lại có một cô nhân tình non
hoặc: - Mới mấy hôm trước, tôi còn trông
thấy y hút thuốc : :
- Vừa mới ở hai ngày anh ấy đã đòi về
- Mới tối mà đã buồn ngủ rồi [dẫn theo
Nguyễn Anh Qué}
5, Đến đây, chúng ta có thể khẳng định, với
ý nghĩa là một hư từ chi thời "vừa" và "mới"
trùng khít nhau ở hai cương vị ngữ pháp:
+ Đánh dấu vị ngữ: "vừa/mới + P”
+ Đánh dấu khung thời gian: "vừữalmới + danh từ/đại từ chỉ thời gian"
Trang 5132 NGU HOG TRE 2002
Nét nghĩa đã mô tả trên đây của "vừa/mới"
cũng được thể hiện rất rõ trong việc tạo ra các
phát ngôn có cấu trúc "vừa/mới A mà đã B"
Ví dụ:
"vừa mới đọc xong câu niệm, chưa kịp
phán ra lời nào cho thân chủ, đã vội chạy ra
sau bếp rồi xem nổi cá kho hay vào nhà cầu lấy
cái bô cho con nó ï".[2]
Hoặc: - "Gớm, sao con người mới uống
nước máy chảy ngược vòi có vài ba tháng mà
đã có được cái giọng đặc phố" (Tô Hoài - Dẫn
theo Nguyễn Minh Thuyết [117])
Trong hai ví dụ vừa dẫn, "vừa/mới" mang ý
nghĩa biểu thị sự đánh giá chủ quan của người
phát ngôn về cái sự tình (“đọc xong câu niệm"'
hoặc "uống nước máy chảy ngược") xảy ra
trong thời gian chưa thể được coi là lâu thì sự
tình kế tiếp đã xảy ra rồi Sự đánh giá ở đây vẫn
là sự đánh giá chủ quan theo quan niệm của
người nói Điều cần lưu ý là chức năng tạo lập
các phát ngôn đặc thù với ý nghĩa đánh giá thứ
‘tu cia su tinh, trong khi sự tình 1 xảy ra chưa
lâu, sự tình 2 đã xuất hiện kế tiếp là chức năng
của riêng hai hư từ "vừa/mới" trong kết hợp với
đã Nói như vậy có nghĩa là: trong phát ngôn
đánh giá có mô hình "vừa/mới A đã B" thì các
hư từ "vỪa/mới" là khéng thể thiếu vắng hoặc bị
thay thế Bất kì một sự vi phạm nào cũng làm
cho phát ngôn biến dạng về mặt ý nghĩa cũng
như chức năng So sánh: `
- "Vvừa/mới” đọc xong câu niệm đã vội
chạy ra sau bếp (phát ngôn thể hiện sự đánh
giá của người nói về: sự tình A xảy ra chưa lâu
thi sự tình B đã xảy ra rồi, ngụ ý, sự vội vã, sự
eo hẹp về mặt thời-gian của chủ thể hành động)
khác "( ) đọc xong câu niệm đã vội chạy ra
sau bếp" (phát ngôn thiếu hụt sự đánh giá về
thời gian mà sự tình A xảy ra là chưa lâu) Một
phát ngôn có kết cấu "vừa mới A đã B" trong
tiếng Việt hiện đại luôn luôn là phát ngôn có ý
nghĩa đối lập với phát ngôn có cấu trúc "đã A
lâu rồi mới B" mà chúng tôi sẽ lí giải sau
- 6, Trên đây, chúng tôi đã có một sự lí giải
61
khá cơ bản về sự tương đồng cả về ý nghĩa lẫn
chức năng của hai từ "vừa, mới" trong tiếng
Việt Tuy nhiên, đó không phải hoàn toàn là những nét nghĩa mà hai hư từ ấy hàm chứa ` Trên thực tế, ngoài những điểm chung, hai hư từ này cũng có những đặc điểm riêng biệt rất cần
bàn
6.1 Đối với hư từ "vừa": Ngoài việc tham gia 'đánh dấu P bằng nét nghĩa tương đương với
"mới", có lẽ xuất phát từ nghĩa "khớp, đúng về
mặt thời gian" mà 'vừa" còn có thể tham gia biểu thị tính đồng thời tổn tại của hái sự tỉnh (hành động, đặc điểm, tính chất) ở cùng một
chủ thể Nét nghĩa thông báo này được đánh dấu bằng dạng thức "vừa A (lại) vừa B": Ví dụ" /
"Chúng tôi vừa nhẹ nhàng :bơi thuyền vừa
bì bõm tung chài kéo lưới như một cặp vợ chồng
ngư dân thực thụ để tiến dần đến trụ cầu thứ
hai" {1} `
.- Chị ấy vừa xinh vừa đảm
Thực chất, vừa với nét nghĩa là hư từ đánh dấu sự tổn tại đồng thời của hai sự tình ở cùng
một chủ thể Nó mang chức năng của một kết
tử (conecteur) được dùng với mục đích nối kết hai sự tình luận cứ Kiểu nối kết này hàm ý: vai
trò của hai sự tình được kết nối trong phát ngôn
là ngang bằng nhau, có tầm quan trọng như
nhau trong việc hướng tới một kết luận (r) nào
đó Ví dụ có thể nói: "Cô ấy vừa xinh vừa đảm
nên ai cũng yêu cô ấy" hoặc: "Anh tất tả đi theo công an, vừa đi vừa cài chiếc áo" - "Anh tất tả đi
theo công an, vừa cài chiếc áo vừa đi (+) Sự
thay đổi vị trí giữa hai sự tình A và B như ở các
ví dụ vừa dẫn mà không làm thay đổi ngữ nghĩa thông báo của phát ngôn chính là cơ sở để coi
vừa vừa là kết tử nối kết các sự tình đồng
6.2 Cũng tương tự như tình hình của hư từ vừa thì mới ngoài chức năng là một tác tử tạo
lập P, bố sung ngữ nghĩa chỉ thời cho P, nó còn
đồng thời thực hiện hàng loạt chức năng khác
và ở mỗi một chức nắng nó thể hiện một kiểu ý nghĩa ngữ pháp Để thấy rõ diện mạo của hư từ '
Trang 6TIẾNG VIỆT VÀ CHỮ VIỆT (Câu và văn ban) 133
"mới" chúng †a hãy xem xét các ví dụ sau đây:
a) " Tiền quả nào, đút ngay vào tủ quả
đấy, thì đã chẳng việc gì Đằng này, anh bảo,
cứ dồn lại đến cuối cùng hãy lấy, mới hên, mới
có khách nhiều, mới vô mánh đậm Cứ cất tiền
lẹt xẹt thế, xui bỏ mẹ."[2]
b) - Tuần trước chị ấy mới về
- Tuần sau chị ấy mới về (Học nói tiếng
Việt - Northen illinois Universiti, tr.96)
- "Sau khi vòng sợi đây cột chặt chiếc ghe
vào trục cầu, tôi bình tĩnh kiểm tra lại khối thuốc
nổ lần cuối cùng, văn lại kim hẹn giờ, tất cả đã
an toàn chắc chắn, lúc ấy tôi mới ra hiệu rời
c) - Bây giờ mới là tám giờ (thôi)
*
- Cô bé Chình mới mười ba (thôi)
Nguyễn Tuân - T.ký, tr.17 - Dẫn theo
Nguyễn Minh Thuyết)
- Mới hết 10.000 đồng thôi
d) - "Không được! Không thể như jthế được
Nếu cần tôi mới chính là người Thôi! Đồng chí
nghe lệnh tôi Rời thuyền!".[1]
- Trường hợp (a): "mới" có tư cách là một
kết tử với chức năng nối kết hai vẽ của một lập
luận có quan hệ điều kiện - kết quả, kiểu "có A
mới B"; "nếu A mới B"; "phải mới B" Trong
quan hệ này A là điều kiện bắt buộc để dẫn tới
B Nói khác đi, nếu không có điều kiện được thể
hiện bằng sự tình A thì tất sẽ không có kết quả
- Có học mới biết
- Giờ được nghe ông kể lại tôi mới hiểu
thêm về cô ấy
- Nếu chị ấy có mời tôi mới đến
Trong các trường hợp này, điểm đáng lưu ý
là lực ngữ nghĩa của "mới" mạnh đến mức có
thể lược bỏ các hư từ "nếu", "có" trong kết cấu
mà phát ngôn vẫn hoản toàn có thể hiểu được
Ví dụ: " cứ đồn lại đến cuối cùng hãy lấy (có _
thế) mới hên, mới có khách nhiều, mới vô mánh
đậm " hoặc"chị ấy mời thi tôi mới đến”; "ngon
thì tôi mới ăn:
- Trường hợp (b): Xét về mặt biểu
hiện,"mới” cũng có vị trí ngay trước vị từ P Điểm khác biệt duy nhất về hình thức giữa hư từ
"mới" trong trường hợp này "mới" trong chức
năng biểu thị thời điểm mà sự tình xảy ra chưa
lâu là ở chỗ: ở trường hợp này, trong kết cấu có
một bộ phận chỉ thời điểm được nêu ra ở đầu phát ngôn, trong trường hợp này, trong khi ở chức năng cùng với "vừa" bộ phận chỉ thời điểm
nây thường có vị trí ở cuối phát ngôn So sánh;
- Tuần trước chị ấy "mới" về
và - Chị ấy "mới" về tuần trước
Về nội dung: "mới" trong trường hợp này là mang chức năng đánh dấu một tình thái nhận: thức chủ quan Cái tình thái khẳng định rằng: sự
tình P không thể và chưa có khả năng xảy ra trước thời điểm được coi là mốc Thời điểm ấy
hoàn toàn có thể là thời điểm đánh dấu quá khứ hoặc tương lai Ví dụ:
- Tuan trước chị ấy "mới" về (mốc quá khứ)
- Lúc đó tôi "mới" ra hiệu rời ghe (mốc quá
~ Tuần sau chị ấy "mới" về (mốc tương lai)
- Trường hợp (c): "mới" ở đây đánh dấu một
sự nhận thức, đánh giá hoàn toàn chủ quan của
người tạo lập phát ngôn về sự tình được thể
hiện trong mô hình "mới thôi” Xen giữa cặp
hư từ "mới thôi" có thể là một sự tình chỉ thời điểm hoặc số lượng Ví dụ:
- Bây giờ "mới" tám giờ thôi
- Cô bé Chỉnh "mới" mười ba tuổi
- "Mới" hết mười nghìn đồng thôi
Ở các trường hợp này, tác tử "mới" là một
tác tử đánh dấu một tiềm năng hướng lập luận
về một kiểu kết luận nào đấy Trong trường hợp
"Bây giờ "mới" là tám giờ thôi" tuy thông tin
miêu tả không có gì khác với "Bây giờ là tám giỏ" nhưng với "mới thôi" phát ngôn hướng về các kết luận (R) nhắc nhở "chủ thể" của hành
động hãy cứ từ từ, chẳng có lí do gì để vội vã
Trang 7"134 NGU HOC TRE 2002
Nét nghĩa: đối lập với "mới thôi” trong trường
hợp này " đã rồi" (Bây giờ đã là tám giờ rồi)
Các trường hợp "mới + số lượng + thôi" cũng có
một tác dụng ngữ nghĩa kiểu vậy-Nó hướng đến
một kết luận (R) nhằm khuyên bảo chủ thể
hành động có một thải độ tích cực Ví dụ:
- Con bé Chỉnh "mới" mười ba tuổi thôi -
(R) - Không thể coi là già được hoặc chưa thể
làm được việc này
hoặc: - "Mới" hết có mười nghìn đồng thôi -
(R) - cứ tiếp tục tiêu thoải mái đi hoặc:
- còn tiêu tha hồ
Đổi lập lại cũng vẫn là các phát ngôn với
kết cấu "đã + số lượng + rồi"
Ví dụ:
- Cụ ấy đã 90 tuổi rồi - yếu lắm
- Đã hết mười nghìn đồng rồi đấy - liệu mà
tiêu
- Trường hợp (d): "mới" hàm nghĩa khẳng
định, đánh dấu một tình thái nhận thức, thể hiện
thái độ coi sự tình P là điều hiển nhiên, không
nên bàn cãi
_ Ví dụ:
- Tôi "mới" là người
lệnh tôi Rời thuyền!
thôi! Đồng chí nghe
- Anh ấy "mới" giỏi
- Màu xanh "mới" là đẹp
Với ý nghĩa này, "mới" tham gia vào việc
tạo lập các phát ngôn đánh giá khẳng định,
ngầm ý khuyên bảo chấm đứt sự nghỉ ngờ,
tranh cãi Dùng biện pháp cải biên, nếu lược bỏ
mới" trong các phát ngôn kiểu này cũng có
nghĩa bỏ mất ý nghĩa khẳng định chủ quan của
người nói với cái sự tỉnh được đánh dấu So
sánh:
- Anh ấy "mới" giỏi (phát ngôn đánh giá,
'nhận xét)
và - Anh ấy giỏi (phát ngôn tường thuật
miêu tả khách quan)
- Tóm lại: Một sự tìm hiểu, miêu tả như trên
đối với hai hư từ "vừa" và "mới" trong tiếng Việt
có thể chưa phải là đã hoàn-toàn đầy đủ, nhưng qua đó, chúng ta cũng đã có thể thấy được diện mạo của hai hư từ này Chúng phần giống như
các nhà ngữ pháp xưa nay đã công nhận nhưng
lại cũng có những sự khác nhau rất cơ bản, mỗi
từ lại có một bản sắc riêng của nó, từ đó tạo
cho chúng cái lí do hợp pháp để có thể cùng
song song tồn tại trong hệ thống hư từ tiếng Việt
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Chính - Vai frò của hư từ tiếng Việt trong việc hình thành thông báo phát
ngôn, Luận án tiến sĩ Hà Nội,2000
- 2 Đỗ Hữu Châu - Từ vựng, ngữ nghĩa học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
3 Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán - Đại
cương ngôn ngữ học, tập 2 Nxb Giáo dục,
H.1993
4 Nguyễn Đức Dân - Nghĩa các hư từ, tạp chí Ngôn ngữ số 2 và 4/1984
5 Điịnh Văn Đức - Ngữ pháp tiếng Việt (từ
loại, Nxb.ĐH và THCN,H1886
6 Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt (Sơ thảo ngữ
pháp chức năng), Quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, H.1991
7 Nguyễn Lai, Nguyễn Văn Chính - Một vải
suy nghĩ về hư từ từ góc nhìn- dụng học, Tạp chí Ngôn ngữ 5/1999
8 Nguyễn Long, Nguyễn Bích Thuận -
Marybeth Clark: Học nói tiếng Việt, Northern
Iiinois Universiti
9 Nguyễn Anh Quế - Hư tử trong tiếng Việt
hiện đại, Nxb.Khoa học xã hội, H.1988
10 Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp: Thành phần câu tiếng Việt, H 1998
NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
1 Tìm về lai lịch một chiếc khăn, Kịch
65
Trang 8
truyền thanh của Nguyễn Ba Doanh, Chương
trình văn nghệ quân đội ngày 12/4/1998
2 Bộ bài, Truyện ngắn của Nguyễn Mỹ Nữ,
Báo Văn nghệ số 16, ngay 17/4/1999
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - cU PHAP
_ CUA KET CAU CHUYEN TÁC
TRONG NGON NGU
TH! THAO DUNG”
1 Mở đầu
Tính chuyển tác (fransffivif) là một nét phổ
quát của ngôn ngữ nhân loại và là một khái
niệm ngữ nghĩa cực kì quan trọng của nghĩa học
về câu Trong ngôn ngữ, đặc biệt là ở cấp độ cú
pháp, tính chuyển tác được biểu hiện và được
hiện thực hoá thông qua các kết cấu chuyến tác
(transitive constructions)
Cho đến nay, chưa có một tác giả nào phủ
nhận vai trò của tính chuyển tác cũng như của
các kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ vi tầm
quan trọng về công dụng cũng như tính tiêu
biểu của chúng trên bình diện ngữ học và cả
trên bình điện logic học
Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, tính
chuyển tác và kết cấu chuyển tác là một trong
những tâm điểm của chú ý ngôn ngữ học Ở
ngoài nước, có thể kể đến những khảo cứu hữu
quan của các tác giả có tên tuổi như Hopper &
Thompson (1980, 1982), Givón (1984, 1990,
ˆ_ 1995), Wierzbicka (1988, 1996), ‘
Halliday (1985), Palmer (1994), Comrie
(1991), Chierchia & McConnell-Ginet (1992), ?
(1984), Downing & Locke (1992), Smith
(1997) ở trong nước, người đầu tiên xem xét
những khái niệm này một cách có hệ thống là
Cao Xuân Hạo (1991), tiếp đó là Nguyễn Thị
£! Trường ĐH Đà Lạt
Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu cơ chế cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa - cú pháp đặc
thủ của kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ nới
.chung và tiếng Việt nói riêng với hi vọng chỉ ra
được một cách nhìn đẩy đủ hơn, chính xác hơn
về bản chất của dạng kết cấu quan trọng này
2 Cơ chế cấu tạo và đặc điểm ngữ
nghĩa - cú pháp của kết cấu chuyển tác Theo Hopper & Thompson (1980), sự phân
biệt giữa các kết cấu vô tác (intransitive
constructions) véi các kết cấu chuyển tác
(intransitive constructions), tuy không có những phương tiện xác định và phân giới rõ ràng,
nhưng là một sự phân biệt đóng một vai trò nền
tảng trong hầu hết ngôn ngữ của nhân loại Tri thức và sự hiểu biết gần đây của ngôn ngữ học
về những cách thức khác nhau nhờ đó sự phần biệt này có thể được biểu hiện trong những ngôn ngữ khác nháu cho phép đề xuất một cơ
chế cấu tạo cho các kết cấu chuyển tác nguyên
thuỷ, hoặc cái mà Wierzbicka (1996: 420) gọi là
"kịch bản tiền mẫu cơ bản" (certain prototipical transitive event) Theo Givén, ca ché cau tao của mội kết cấu chuyển tác tiền mẫu bao gồm
"ba kích chiều ngữ nghĩa mang tính trung tâm
đối với việc xác định ngữ nghĩa về tính chuyển tác Mỗi một kích chiểu tương ứng với một -_ phương điện trung tâm của biến cố chuyển tác
tiền mẫu, và mỗi kích chiều đó cũng tương ứng
với một thuộc tính trung tâm của mệnh để
chuyển tác tiền mẫu" Trong các công trình của mình, Givón (1990: 565-6; 1995: 76) đã xác
định ba "kích chiều" đó như sau:
(a) Tác nhân (Agenj): Mệnh đề chuyển tác tiền mẫu liên quan đến một tác nhân chủ động,
tích cực, tự nguyện, cố chủ ý, có tính khởi xướng, một tác nhân chịu trách nhiệm đối với
biến cố, nghĩa là nguyên nhân nổi bat (salient
cause) của nó
(b) Thu nhan (Patient): Bién cé chuyén tác
tiền mẫu liên quan đến một thụ nhân bị: động,
tiêu cực, không tự nguyện, không chủ ý, một thụ,
nhân khai báo những sự thay đổi trạng thái