1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Khảo sát ngữ nghĩa ngữ dụng của hai từ "vừa" và "mới" trong tiếng Việt hiện đại" pptx

8 589 5
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 369,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Đinh Điền - Xây dựng và khai thác từ điển nghĩa của chủ đề và tiêu điểm trong cấu trúc ý niệm tiếng Việt 38 — nghĩa của câu 114 * Vũ Thị Hải Hà - Phổ cập toàn dân học chữ -* Phan Mậu

Trang 1

NGỮ HỌC TR€ 2002

DIEN DAN HOC TAP Va NGHIEN cứu

Trang 2

động từ) làm định ngữ

»3

* lê Xuân Mậu - Để dạy tốt từ

, Hán - Việt 74

MUC LUC * Hà Quang Năng - Vũ Thị Thu Huyền -

a a Buttc dau kh&o sat d&c điển định danh và

ngữ nghĩa của tổ hợp nói + x 79

* Trần Đại Nghĩa - “Một”, “hai” trong câu thd

* Hải Phòng trước mùa phượng nở 3 “Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai” 88

* Nguyễn Thị Thanh Nga - Thử khảo sát

nhỏm hư từ đồng nghĩa chỉ quan hệ điều kiện

* Dương Thị Nụ - Từn hiểu cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng

* Nguyễn Thị Thu - Sự chuyển nghĩa của từ

* Phạm Thị Kim Anh - Máy ý ý kiến về việc ~ “tay” trong tiếng Việt 99

thay đổi chữ viết 9 * Huỳnh Công Tín - Hiện trạng nói tắt, viết

* Vũ Thị Ân - Trương Thị Thu Vân - Lỗi tắt trong giao tiếp 101

dùng từ của sinh viên ngành Giáo dục tiểu * Trương Thị Thu Vân - Góp thêm ý kiến về :

học: thực trạng và giải pháp 12 cách dạy chính tả ở trường tiểu học 105

* Nguyễn Ngọc Ấn - Xác định từ xưng gọi

* Bùi Đăng Bình - Thực trạng hiện tượng | -

mì trong tiếng Việt 22

* Hoàng Trọng Canh - Các yếu tố chỉ mức

độ cao đặc tinh su vật trong phương ngữ

Nghệ Tĩnh 24 * Chu Thị Thuỷ An - Các phụ từ “đừng”,

* Nguyễn Chiến - Ẩn dự và phúng dụ trong “chó” trong câu cầu khiến tiếng Việt 109

ngữ nghĩa của điển cố 28 * Hé Kim Anh - Bàn thêm về câu phức (hành

* Trương Thị Diễm - Khảo sát các từ xưng phần trạng ngữ 112

hô thân tộc "thím, mợ, dượng” 33 * Dương Hữu Biên - Về sự biểu hiện ngữ

* Đinh Điền - Xây dựng và khai thác từ điển nghĩa của chủ đề và tiêu điểm trong cấu trúc

ý niệm tiếng Việt 38 — nghĩa của câu 114

* Vũ Thị Hải Hà - Phổ cập toàn dân học chữ -* Phan Mậu Cảnh - Tin hiểu cách thức tổ

Quốc ngữ - một phương tiện đưa chức năng chức văn bản đạt đích tuyên truyền giáo dục

xã hội của tiếng Việt vào giáo dục 44 trong một số tác phẩm của Bác 126

* Võ Xuân Hảo - Chức năng liên kết của các * Nguyễn Văn Chính - Khảo sát ngữ nghĩa

đơn vị ngữ âm đoạn tính trong cấu trúc từláy 49 — ngữ dụng của hai tử vừa và mới trong tiếng

* Phạm Thị Hoà - Hiện tượng nhiều nghĩa Viật hiện đại 130

của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong * Thi Thảo Dung - Đặc điểm ngữ nghĩa - cú

tiếng Việt : 56 pháp của kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ 135

* Trần Văn Hoà - Trường vị từ biểu thị tác * Đào Ngọc Đệ -Tiếng Việt thực hành - Môn

động làm sự vật biến đổi từ trạng thái toàn học thiết thực cho sinh viên 148

vẹn đến không toàn vẹn và từ không toàn = ` * Đoàn Thị Thu Hà - Quán ngữ đánh dấu vẹn đến toàn vẹn - 58 tình thái nhận thức không thực hữu trong câu

* Nguyễn Thị Ly Kha - Dạy từ Hán Việt d tiếng Việt 145 trường phổ thông 64 * Nguyễn Khánh Hà - Bước đầu tìm hiểu về

* Trịnh Cẩm Lan - Từ khái niệm "Ngôn ngữ câu điều kiện trong tiếng Việt theo hướng ngữ

thành phố" thử nhin nhận khái niệm "Tiếng pháp nhận thức 150

* Đỗ Thị Ngọc Mai - Một số tiêu chí phân Hán - Việt mới trong tiếng Việt 157

biệt cụm chủ vị và danh ngữ có động từ (ngữ * Nguyễn Chí Hoà - Đề - chủ ngữ - vai ngữ

Ý2 _ nghĩa trong câu tiếng Việt 163

Trang 3

130

số đặc trưng thuộc về cách thức tổ chức van

bản để đạt đích tuyên truyền giáo dục, chúng ta

thấy một đặc điểm rất rõ ràng: Bác nói hay viết,

phong cách chính luận, báo chí hay nghệ thuật

cũng đều có chung mội lối diễn đạt trong sáng,

dễ hiểu, dễ nhớ Kết quả đó không phải do xuất

phát từ một kĩ thuật thuật đơn thuần, mà bao

trùm trong tất cả là một tấm lòng, một ý thức

phụng sự dân tộc, suốt đời vì dân vì nước của

Người

CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU TRÍCH DẪN

1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập

2) Bài nói tại Đại hội thứ hai những người

viết báo VN, 4/1989

3) Nâng cao hơn nữa chất lượng báo chí

(Báo Nhân dân 09/9/1962)

4) Sửa đổi lề lối làm việc - Nxb Sự thật -

1959 :

5, 6) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,

Tập (V, tr 29

7) Tuyển tập Hỗ Chí Minh - Tap |, tr 38

8) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, Tập

IV, tr 25

9) Sửa đổi lề lối làm việc, tr 36

10) Tuyển tập Hồ Chí Minh, tập 1, tr 371

11, 12) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,

Tập 2, tr 113

13) Báo Văn nghệ, Số 23, 5/1950,

14) Tuyển tập Hồ Chí Minh Tập II, tr 59

15) Sửa đổi lề lối làm việc, tr 8

16) Báo Nhân dân, năm 1954

17) Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tr,

18) Tuyển tập Hồ Chí Minh, Tập II, tr 265:

19) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch,

Tập V, tr 281

°3

NGỮ HỌC TRẺ 2002

HHẢO SắT NGỮ NGHĨA NGỮ DỤNG CUA HAI TU "vA" VA "Mor" TRONG TIENG VIET HIEN DAI

NGUYEN VAN CHINH®

1 Cho đến nay, đa số các tác giả ngữ

pháp đều đã xem xét hai từ này dưới góc độ cấu trúc học Mọi người thường thống nhất cho

rằng hai hư từ này được dùng để đánh đấu về

mặt thời gian và xếp nó vào nhóm hư từ chỉ thời

- thể cùng với các hư từ đã, đang, sẽ, sắp (Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Anh Quế

Nguyễn Minh Thuyết viết: "Trong chức năng

tiền phó từ, cả vừa lẫn mới đều cho biết hành

động, trạng thái nêu ở vị từ được hoàn thành

trước thời điểm mốc không lâu Giữa hai phó từ

vừa và mới không cô sự khác biệt nào về nghĩa,

do đó chúng có thể tự do thay thế cho nhau"

Một nhận xét như vậy là hoàn toàn chính xác

đối với các phát ngôn tường thuật có nội dung

thông báo về một sự tình xảy ra chưa lâu so với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm

được sử dụng làm mốc so sánh (ví dụ: "Anh ấy mới đến", “Anh ấy vừa đến".) hoặc trong các

phát ngôn hồi đáp khi người nói trả lời cho một

phát ngôn nghỉ vấn, tại đó, người hỏi muốn biết

rõ cái thời điểm mà sự tình xây ra đã lâu chưa

_ Anh đến đã lâu chưa?

- Dạ chưa, anh ấy vừa/mớivừa mới đến (thôi ạ)

2 Theo sự quan sát tư liệu của chúng tôi, ở

trong hai dạng phát ngôn vừa nêu, nét nghĩa

của "vừa" và "mới" là trùng khít, vì vậy mà

chúng có thể thay thế cho nhau hoặc kết hợp với nhau để trở thành một cấu trúc kẹp đôi "vừa

mới": "mới vừa": Ví dụ:

—¬>>————

©-TS, Trudng BH KH XH & NV - ĐHQGHN.

Trang 4

TIENG VIET VA CHU VIET (Cau và văn bản) “41341

Khải: (cười) Xin lỗi, còn ông năm nay bao

nhiêu tuổi nhỉ?

Minh Tuấn: Dạ, thưa ông, ‘nam nay tôi vừa

tròn bốn tư tuổi ạ [1]

hoặc: "Ông vừa mới mua con mèo tam thể

Nói khác đi, với nét nghĩa thời - thể thì hai

hư từ "vừa, mới" có chức năng chủ yếu là kiến

tạo các phát ngôn trong đó sự tình được nói đến

được đánh dấu về mặt thời gian so với một thời

điểm mốc những người tham gia hội thoại cùng

xác định Nét nghĩa này rất dễ được phát hiện

và công nhận khi chúng ta dùng phép cải biến

dé kiểm tra Chẳng hạn, khi lược bỏ

vừa/mớivửa mới thì các phát ngôn kiểu này

cũng sẽ mất hẳn phần ý nghĩa thông báo về

thời gian So sánh:

Anh ấy vừa mới đến (phát ngôn được đánh

# Anh ấy đến (phát ngôn không đánh dấu

về thời gian - phát ngôn này mang tính chất

thông báo một sự tình), hoặc: "Ông vừa mới:

mua được con mèo tam thể." (phát ngôn được

đánh đấu về thời thông qua "vừa mới" và về kết

quả của hành động thông qua hư từ "được" phía

sau động từ) Nếu lược bỏ "vừa mới" thành:

"Ông mua được con mèo tam thể" thì phát ngôn

mất nét nghĩa thông báo về thời; nét nghĩa kết

quả hành động trùm lên toàn bộ phát ngôn như

một chủ đích mà người nói định bộc lộ

3 Xét về mặt ngữ nghĩa, có thể thấy được

hai hư từ "vừa, mới" có nguồn gốc vị từ, cụ thể

là tính từ (gần đây các nhà Việt ngữ học đã

công nhận rằng: đa số các hư từ tiếng Việt đều

cô chung một xuất phát điểm như vậy) Trong

Từ điển tiếng Việt giải thích - Hoàng Phê chủ

biên thì "vừa" được giải thích là "khớp, đúng,

hợp với, về mặt kích thước, khả năng, thời

gian ": còn "mới" được giải thích là: "vừa được

làm ra, hay là chưa dùng hoặc dùng chưa lâu

vừa có hay vừa xuất hiện chưa lau." Qua cách

giải thích như vậy của từ điển, chúng ta có thể

cảm nhận được hai hư từ 'vừa, mới" rất tương

- đồng với nhau ở nét nghĩa "vừa có hay vừa xuất

hiện chưa lâu" Chính sự gần gũi về mặt ý nghĩa nay là cơ sở chỏ việc sử dụng cả hai từ này vào

cùng một chức năng: phụ nghĩa thời gian cho sự tình ở các phát ngôn tường thuật hoặc hồi đáp

Điều đáng lưu ý ở đây là: mức độ lâu/mau (dài/ ngắn) của thời điểm sự tình xảy ra tương quan

với thời điểm mốc được đánh giá, thẩm định

hoàn toàn qua lăng kính chủ quan của người

phát ngôn Nói khác đi, ở đây không có một tiêu

chuẩn khách quan bắt buộc về mặt thời gian để

người phát ngôn phải tuân theo, việc dùng

"mới/vừa" được hay không là do người nói tự xác định và người nói sử dụng chúng một cách

chủ quan với ngụ ý bộc lộ cho người nghe biết được sự đánh giá chủ quan của mình

Ví dụ: - Anh ấy vừa/mớivừa mới ởi (lúc

nay) -

- Gớm, sao con người mới uống nước máy

chẩy ngược bằng vòi có vài ba tháng mã đã có

được cái giọng đặc phố (Tô Hoài)

- * Chị ấy mới lấy chồng được hai năm nay

- 4, Nét nghĩa biểu thị một sự tình xảy ra chưa lấu (theo nhận định chủ quan cửa người nói) trên cơ sở so với thời điểm mốc của "vừa, mới" cũng được dùng để thể hiện thái độ đánh giá về một thời điểm mà người nói xem đó là khung thời gian để một sự tỉnh xây ra

Ví dụ:

- Tôi biết ông ấy thích đánh bạc, và mới đây, ông ấy lại có một cô nhân tình non

hoặc: - Mới mấy hôm trước, tôi còn trông

thấy y hút thuốc : :

- Vừa mới ở hai ngày anh ấy đã đòi về

- Mới tối mà đã buồn ngủ rồi [dẫn theo

Nguyễn Anh Qué}

5, Đến đây, chúng ta có thể khẳng định, với

ý nghĩa là một hư từ chi thời "vừa" và "mới"

trùng khít nhau ở hai cương vị ngữ pháp:

+ Đánh dấu vị ngữ: "vừa/mới + P”

+ Đánh dấu khung thời gian: "vừữalmới + danh từ/đại từ chỉ thời gian"

Trang 5

132 NGU HOG TRE 2002

Nét nghĩa đã mô tả trên đây của "vừa/mới"

cũng được thể hiện rất rõ trong việc tạo ra các

phát ngôn có cấu trúc "vừa/mới A mà đã B"

Ví dụ:

"vừa mới đọc xong câu niệm, chưa kịp

phán ra lời nào cho thân chủ, đã vội chạy ra

sau bếp rồi xem nổi cá kho hay vào nhà cầu lấy

cái bô cho con nó ï".[2]

Hoặc: - "Gớm, sao con người mới uống

nước máy chảy ngược vòi có vài ba tháng mà

đã có được cái giọng đặc phố" (Tô Hoài - Dẫn

theo Nguyễn Minh Thuyết [117])

Trong hai ví dụ vừa dẫn, "vừa/mới" mang ý

nghĩa biểu thị sự đánh giá chủ quan của người

phát ngôn về cái sự tình (“đọc xong câu niệm"'

hoặc "uống nước máy chảy ngược") xảy ra

trong thời gian chưa thể được coi là lâu thì sự

tình kế tiếp đã xảy ra rồi Sự đánh giá ở đây vẫn

là sự đánh giá chủ quan theo quan niệm của

người nói Điều cần lưu ý là chức năng tạo lập

các phát ngôn đặc thù với ý nghĩa đánh giá thứ

‘tu cia su tinh, trong khi sự tình 1 xảy ra chưa

lâu, sự tình 2 đã xuất hiện kế tiếp là chức năng

của riêng hai hư từ "vừa/mới" trong kết hợp với

đã Nói như vậy có nghĩa là: trong phát ngôn

đánh giá có mô hình "vừa/mới A đã B" thì các

hư từ "vỪa/mới" là khéng thể thiếu vắng hoặc bị

thay thế Bất kì một sự vi phạm nào cũng làm

cho phát ngôn biến dạng về mặt ý nghĩa cũng

như chức năng So sánh: `

- "Vvừa/mới” đọc xong câu niệm đã vội

chạy ra sau bếp (phát ngôn thể hiện sự đánh

giá của người nói về: sự tình A xảy ra chưa lâu

thi sự tình B đã xảy ra rồi, ngụ ý, sự vội vã, sự

eo hẹp về mặt thời-gian của chủ thể hành động)

khác "( ) đọc xong câu niệm đã vội chạy ra

sau bếp" (phát ngôn thiếu hụt sự đánh giá về

thời gian mà sự tình A xảy ra là chưa lâu) Một

phát ngôn có kết cấu "vừa mới A đã B" trong

tiếng Việt hiện đại luôn luôn là phát ngôn có ý

nghĩa đối lập với phát ngôn có cấu trúc "đã A

lâu rồi mới B" mà chúng tôi sẽ lí giải sau

- 6, Trên đây, chúng tôi đã có một sự lí giải

61

khá cơ bản về sự tương đồng cả về ý nghĩa lẫn

chức năng của hai từ "vừa, mới" trong tiếng

Việt Tuy nhiên, đó không phải hoàn toàn là những nét nghĩa mà hai hư từ ấy hàm chứa ` Trên thực tế, ngoài những điểm chung, hai hư từ này cũng có những đặc điểm riêng biệt rất cần

bàn

6.1 Đối với hư từ "vừa": Ngoài việc tham gia 'đánh dấu P bằng nét nghĩa tương đương với

"mới", có lẽ xuất phát từ nghĩa "khớp, đúng về

mặt thời gian" mà 'vừa" còn có thể tham gia biểu thị tính đồng thời tổn tại của hái sự tỉnh (hành động, đặc điểm, tính chất) ở cùng một

chủ thể Nét nghĩa thông báo này được đánh dấu bằng dạng thức "vừa A (lại) vừa B": Ví dụ" /

"Chúng tôi vừa nhẹ nhàng :bơi thuyền vừa

bì bõm tung chài kéo lưới như một cặp vợ chồng

ngư dân thực thụ để tiến dần đến trụ cầu thứ

hai" {1} `

.- Chị ấy vừa xinh vừa đảm

Thực chất, vừa với nét nghĩa là hư từ đánh dấu sự tổn tại đồng thời của hai sự tình ở cùng

một chủ thể Nó mang chức năng của một kết

tử (conecteur) được dùng với mục đích nối kết hai sự tình luận cứ Kiểu nối kết này hàm ý: vai

trò của hai sự tình được kết nối trong phát ngôn

là ngang bằng nhau, có tầm quan trọng như

nhau trong việc hướng tới một kết luận (r) nào

đó Ví dụ có thể nói: "Cô ấy vừa xinh vừa đảm

nên ai cũng yêu cô ấy" hoặc: "Anh tất tả đi theo công an, vừa đi vừa cài chiếc áo" - "Anh tất tả đi

theo công an, vừa cài chiếc áo vừa đi (+) Sự

thay đổi vị trí giữa hai sự tình A và B như ở các

ví dụ vừa dẫn mà không làm thay đổi ngữ nghĩa thông báo của phát ngôn chính là cơ sở để coi

vừa vừa là kết tử nối kết các sự tình đồng

6.2 Cũng tương tự như tình hình của hư từ vừa thì mới ngoài chức năng là một tác tử tạo

lập P, bố sung ngữ nghĩa chỉ thời cho P, nó còn

đồng thời thực hiện hàng loạt chức năng khác

và ở mỗi một chức nắng nó thể hiện một kiểu ý nghĩa ngữ pháp Để thấy rõ diện mạo của hư từ '

Trang 6

TIẾNG VIỆT VÀ CHỮ VIỆT (Câu và văn ban) 133

"mới" chúng †a hãy xem xét các ví dụ sau đây:

a) " Tiền quả nào, đút ngay vào tủ quả

đấy, thì đã chẳng việc gì Đằng này, anh bảo,

cứ dồn lại đến cuối cùng hãy lấy, mới hên, mới

có khách nhiều, mới vô mánh đậm Cứ cất tiền

lẹt xẹt thế, xui bỏ mẹ."[2]

b) - Tuần trước chị ấy mới về

- Tuần sau chị ấy mới về (Học nói tiếng

Việt - Northen illinois Universiti, tr.96)

- "Sau khi vòng sợi đây cột chặt chiếc ghe

vào trục cầu, tôi bình tĩnh kiểm tra lại khối thuốc

nổ lần cuối cùng, văn lại kim hẹn giờ, tất cả đã

an toàn chắc chắn, lúc ấy tôi mới ra hiệu rời

c) - Bây giờ mới là tám giờ (thôi)

*

- Cô bé Chình mới mười ba (thôi)

Nguyễn Tuân - T.ký, tr.17 - Dẫn theo

Nguyễn Minh Thuyết)

- Mới hết 10.000 đồng thôi

d) - "Không được! Không thể như jthế được

Nếu cần tôi mới chính là người Thôi! Đồng chí

nghe lệnh tôi Rời thuyền!".[1]

- Trường hợp (a): "mới" có tư cách là một

kết tử với chức năng nối kết hai vẽ của một lập

luận có quan hệ điều kiện - kết quả, kiểu "có A

mới B"; "nếu A mới B"; "phải mới B" Trong

quan hệ này A là điều kiện bắt buộc để dẫn tới

B Nói khác đi, nếu không có điều kiện được thể

hiện bằng sự tình A thì tất sẽ không có kết quả

- Có học mới biết

- Giờ được nghe ông kể lại tôi mới hiểu

thêm về cô ấy

- Nếu chị ấy có mời tôi mới đến

Trong các trường hợp này, điểm đáng lưu ý

là lực ngữ nghĩa của "mới" mạnh đến mức có

thể lược bỏ các hư từ "nếu", "có" trong kết cấu

mà phát ngôn vẫn hoản toàn có thể hiểu được

Ví dụ: " cứ đồn lại đến cuối cùng hãy lấy (có _

thế) mới hên, mới có khách nhiều, mới vô mánh

đậm " hoặc"chị ấy mời thi tôi mới đến”; "ngon

thì tôi mới ăn:

- Trường hợp (b): Xét về mặt biểu

hiện,"mới” cũng có vị trí ngay trước vị từ P Điểm khác biệt duy nhất về hình thức giữa hư từ

"mới" trong trường hợp này "mới" trong chức

năng biểu thị thời điểm mà sự tình xảy ra chưa

lâu là ở chỗ: ở trường hợp này, trong kết cấu có

một bộ phận chỉ thời điểm được nêu ra ở đầu phát ngôn, trong trường hợp này, trong khi ở chức năng cùng với "vừa" bộ phận chỉ thời điểm

nây thường có vị trí ở cuối phát ngôn So sánh;

- Tuần trước chị ấy "mới" về

và - Chị ấy "mới" về tuần trước

Về nội dung: "mới" trong trường hợp này là mang chức năng đánh dấu một tình thái nhận: thức chủ quan Cái tình thái khẳng định rằng: sự

tình P không thể và chưa có khả năng xảy ra trước thời điểm được coi là mốc Thời điểm ấy

hoàn toàn có thể là thời điểm đánh dấu quá khứ hoặc tương lai Ví dụ:

- Tuan trước chị ấy "mới" về (mốc quá khứ)

- Lúc đó tôi "mới" ra hiệu rời ghe (mốc quá

~ Tuần sau chị ấy "mới" về (mốc tương lai)

- Trường hợp (c): "mới" ở đây đánh dấu một

sự nhận thức, đánh giá hoàn toàn chủ quan của

người tạo lập phát ngôn về sự tình được thể

hiện trong mô hình "mới thôi” Xen giữa cặp

hư từ "mới thôi" có thể là một sự tình chỉ thời điểm hoặc số lượng Ví dụ:

- Bây giờ "mới" tám giờ thôi

- Cô bé Chỉnh "mới" mười ba tuổi

- "Mới" hết mười nghìn đồng thôi

Ở các trường hợp này, tác tử "mới" là một

tác tử đánh dấu một tiềm năng hướng lập luận

về một kiểu kết luận nào đấy Trong trường hợp

"Bây giờ "mới" là tám giờ thôi" tuy thông tin

miêu tả không có gì khác với "Bây giờ là tám giỏ" nhưng với "mới thôi" phát ngôn hướng về các kết luận (R) nhắc nhở "chủ thể" của hành

động hãy cứ từ từ, chẳng có lí do gì để vội vã

Trang 7

"134 NGU HOC TRE 2002

Nét nghĩa: đối lập với "mới thôi” trong trường

hợp này " đã rồi" (Bây giờ đã là tám giờ rồi)

Các trường hợp "mới + số lượng + thôi" cũng có

một tác dụng ngữ nghĩa kiểu vậy-Nó hướng đến

một kết luận (R) nhằm khuyên bảo chủ thể

hành động có một thải độ tích cực Ví dụ:

- Con bé Chỉnh "mới" mười ba tuổi thôi -

(R) - Không thể coi là già được hoặc chưa thể

làm được việc này

hoặc: - "Mới" hết có mười nghìn đồng thôi -

(R) - cứ tiếp tục tiêu thoải mái đi hoặc:

- còn tiêu tha hồ

Đổi lập lại cũng vẫn là các phát ngôn với

kết cấu "đã + số lượng + rồi"

Ví dụ:

- Cụ ấy đã 90 tuổi rồi - yếu lắm

- Đã hết mười nghìn đồng rồi đấy - liệu mà

tiêu

- Trường hợp (d): "mới" hàm nghĩa khẳng

định, đánh dấu một tình thái nhận thức, thể hiện

thái độ coi sự tình P là điều hiển nhiên, không

nên bàn cãi

_ Ví dụ:

- Tôi "mới" là người

lệnh tôi Rời thuyền!

thôi! Đồng chí nghe

- Anh ấy "mới" giỏi

- Màu xanh "mới" là đẹp

Với ý nghĩa này, "mới" tham gia vào việc

tạo lập các phát ngôn đánh giá khẳng định,

ngầm ý khuyên bảo chấm đứt sự nghỉ ngờ,

tranh cãi Dùng biện pháp cải biên, nếu lược bỏ

mới" trong các phát ngôn kiểu này cũng có

nghĩa bỏ mất ý nghĩa khẳng định chủ quan của

người nói với cái sự tỉnh được đánh dấu So

sánh:

- Anh ấy "mới" giỏi (phát ngôn đánh giá,

'nhận xét)

và - Anh ấy giỏi (phát ngôn tường thuật

miêu tả khách quan)

- Tóm lại: Một sự tìm hiểu, miêu tả như trên

đối với hai hư từ "vừa" và "mới" trong tiếng Việt

có thể chưa phải là đã hoàn-toàn đầy đủ, nhưng qua đó, chúng ta cũng đã có thể thấy được diện mạo của hai hư từ này Chúng phần giống như

các nhà ngữ pháp xưa nay đã công nhận nhưng

lại cũng có những sự khác nhau rất cơ bản, mỗi

từ lại có một bản sắc riêng của nó, từ đó tạo

cho chúng cái lí do hợp pháp để có thể cùng

song song tồn tại trong hệ thống hư từ tiếng Việt

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Chính - Vai frò của hư từ tiếng Việt trong việc hình thành thông báo phát

ngôn, Luận án tiến sĩ Hà Nội,2000

- 2 Đỗ Hữu Châu - Từ vựng, ngữ nghĩa học, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội

3 Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán - Đại

cương ngôn ngữ học, tập 2 Nxb Giáo dục,

H.1993

4 Nguyễn Đức Dân - Nghĩa các hư từ, tạp chí Ngôn ngữ số 2 và 4/1984

5 Điịnh Văn Đức - Ngữ pháp tiếng Việt (từ

loại, Nxb.ĐH và THCN,H1886

6 Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt (Sơ thảo ngữ

pháp chức năng), Quyển 1, Nxb Khoa học xã hội, H.1991

7 Nguyễn Lai, Nguyễn Văn Chính - Một vải

suy nghĩ về hư từ từ góc nhìn- dụng học, Tạp chí Ngôn ngữ 5/1999

8 Nguyễn Long, Nguyễn Bích Thuận -

Marybeth Clark: Học nói tiếng Việt, Northern

Iiinois Universiti

9 Nguyễn Anh Quế - Hư tử trong tiếng Việt

hiện đại, Nxb.Khoa học xã hội, H.1988

10 Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp: Thành phần câu tiếng Việt, H 1998

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN

1 Tìm về lai lịch một chiếc khăn, Kịch

65

Trang 8

truyền thanh của Nguyễn Ba Doanh, Chương

trình văn nghệ quân đội ngày 12/4/1998

2 Bộ bài, Truyện ngắn của Nguyễn Mỹ Nữ,

Báo Văn nghệ số 16, ngay 17/4/1999

ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - cU PHAP

_ CUA KET CAU CHUYEN TÁC

TRONG NGON NGU

TH! THAO DUNG”

1 Mở đầu

Tính chuyển tác (fransffivif) là một nét phổ

quát của ngôn ngữ nhân loại và là một khái

niệm ngữ nghĩa cực kì quan trọng của nghĩa học

về câu Trong ngôn ngữ, đặc biệt là ở cấp độ cú

pháp, tính chuyển tác được biểu hiện và được

hiện thực hoá thông qua các kết cấu chuyến tác

(transitive constructions)

Cho đến nay, chưa có một tác giả nào phủ

nhận vai trò của tính chuyển tác cũng như của

các kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ vi tầm

quan trọng về công dụng cũng như tính tiêu

biểu của chúng trên bình diện ngữ học và cả

trên bình điện logic học

Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, tính

chuyển tác và kết cấu chuyển tác là một trong

những tâm điểm của chú ý ngôn ngữ học Ở

ngoài nước, có thể kể đến những khảo cứu hữu

quan của các tác giả có tên tuổi như Hopper &

Thompson (1980, 1982), Givón (1984, 1990,

ˆ_ 1995), Wierzbicka (1988, 1996), ‘

Halliday (1985), Palmer (1994), Comrie

(1991), Chierchia & McConnell-Ginet (1992), ?

(1984), Downing & Locke (1992), Smith

(1997) ở trong nước, người đầu tiên xem xét

những khái niệm này một cách có hệ thống là

Cao Xuân Hạo (1991), tiếp đó là Nguyễn Thị

£! Trường ĐH Đà Lạt

Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu cơ chế cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa - cú pháp đặc

thủ của kết cấu chuyển tác trong ngôn ngữ nới

.chung và tiếng Việt nói riêng với hi vọng chỉ ra

được một cách nhìn đẩy đủ hơn, chính xác hơn

về bản chất của dạng kết cấu quan trọng này

2 Cơ chế cấu tạo và đặc điểm ngữ

nghĩa - cú pháp của kết cấu chuyển tác Theo Hopper & Thompson (1980), sự phân

biệt giữa các kết cấu vô tác (intransitive

constructions) véi các kết cấu chuyển tác

(intransitive constructions), tuy không có những phương tiện xác định và phân giới rõ ràng,

nhưng là một sự phân biệt đóng một vai trò nền

tảng trong hầu hết ngôn ngữ của nhân loại Tri thức và sự hiểu biết gần đây của ngôn ngữ học

về những cách thức khác nhau nhờ đó sự phần biệt này có thể được biểu hiện trong những ngôn ngữ khác nháu cho phép đề xuất một cơ

chế cấu tạo cho các kết cấu chuyển tác nguyên

thuỷ, hoặc cái mà Wierzbicka (1996: 420) gọi là

"kịch bản tiền mẫu cơ bản" (certain prototipical transitive event) Theo Givén, ca ché cau tao của mội kết cấu chuyển tác tiền mẫu bao gồm

"ba kích chiều ngữ nghĩa mang tính trung tâm

đối với việc xác định ngữ nghĩa về tính chuyển tác Mỗi một kích chiểu tương ứng với một -_ phương điện trung tâm của biến cố chuyển tác

tiền mẫu, và mỗi kích chiều đó cũng tương ứng

với một thuộc tính trung tâm của mệnh để

chuyển tác tiền mẫu" Trong các công trình của mình, Givón (1990: 565-6; 1995: 76) đã xác

định ba "kích chiều" đó như sau:

(a) Tác nhân (Agenj): Mệnh đề chuyển tác tiền mẫu liên quan đến một tác nhân chủ động,

tích cực, tự nguyện, cố chủ ý, có tính khởi xướng, một tác nhân chịu trách nhiệm đối với

biến cố, nghĩa là nguyên nhân nổi bat (salient

cause) của nó

(b) Thu nhan (Patient): Bién cé chuyén tác

tiền mẫu liên quan đến một thụ nhân bị: động,

tiêu cực, không tự nguyện, không chủ ý, một thụ,

nhân khai báo những sự thay đổi trạng thái

Ngày đăng: 12/03/2014, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w