Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt từ trước tới nay, hư từ “đã” thường được các tác giả coi là một thành viên của nhóm các hư từ chỉ thời thể bao gồm: đã, đang, sẽ, sắp, vừa, m
Trang 1TIENG VIET VAVANHOA VIET NAM
CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀ
(KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC)
Trang 2MUC LUC
Trang
*
8
1 Dang Van Chi
Bước đầu tìm hiểu về đặc trưng văn hóa “duy tình" qua
ngôn ngữ giao tiếp của người Việt
Tìm hiểu về hư từ “đã” dưới góc nhìn cấu trúc chức năng
Cách tiếp nhận các từ gốc Pháp vào tiếng Việt giai đoạn
30 năm đầu thế kỷ XX
4 Nguyễn Minh Chính 32
So sánh: câu cầu khiến rút gọn tiếng Việt và tiếng Pháp
5 Bùi Duy Dân 42
Phương pháp dạy từ Hán Việt cho sinh viên nước ngoài
Đặc điểm ngôn ngữ, khó khăn, thuận lợi của người Việt
Nam khi học tiếng Nhật và của người Nhật Bản khi học
tiếng Việt
7 Trịnh Đức Hiển và Lam Thu Hương 56 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện trong thành ngữ
tiếng Việt có từ chỉ bộ phận cơ thể người
Trang 38 Nguyén Chi Hoa
Đôi điêu về nghĩa điêu kiện trong câu ghép tiếng Việt
9 Định Thanh Huệ
Về nhóm từ biểu đạt khái niệm vị trí không gian trong
tiếng Việt hiện đại
10 Đào Văn Hùng
Một khía cạnh ngữ nghĩa ngữ dụng của từ “Mới ”
11 Nguyễn Việt Hương
Tìm hiểu quan niệm nhân sinh của người xưa qua mỘi số
cặp chủ đề đối lập trong tục ngữ Việt Nam
12 Trần Thị Hường
Sử ca Nôm - một thể loại văn học giàn tính nhân dân về
phương thức biểu hiện
13 Phạm Tuấn Khoa
Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian truyền thống với
sáng tác của nhà văn
14 Trịnh Cẩm Lan
Những nhân tố ngôn ngữ, xã hội, văn hóa quy định việc
gọi tên của người Việt
15 Nguyễn Thiện Nam
Một vài suy nghĩ về khái niệm ngữ pháp trong giáo trình
tiếng Việt cho ngHỜi nƯỚc ngoài
16 Nguyễn Thị Nguyệt
Dạy môn Đọc - Hiểu, Nghe - Hiểu tiếng Việt và dạy văn
hóa Việt Nam qua truyện cổ dân gian Việt Nam
66
80
87
96
109
102
133
148
159
Trang 418 Hoang trong Phién
Cần có một “Từ điển ngôn ngữ văn hóa” để dạy tiếng
Việt cho người nước ngoài
19 Nguyễn Văn Phúc
Một vài suy nghĩ về bình điện ngữ âm học dạy tiếng
20 Bùi Phụng và Nguyễn Chí Hòa
Thử tìm hiểu những ý nghĩa so sánh đối chiếu động trong
tiếng Việt
21 Đỗ Thanh
Các sai lâm phổ biến trong khi dịch
22 Vii Van Thi
Các bình diện ngữ nghĩa - ngữ pháp của từ “phải” và
khuynh hướng ngữ pháp hóa của từ
23 Hồ Đình Thiện
Hình vị với việc so sánh đối chiếu lỗi của sinh viên
24 Lê Quang Thiêm
Đối chiếu câu - lời Việt - Anh cơ sở những bình diện
nghiên cứu
25 Nguyễn Văn Thông
Về hiện tượng “Nói ngược ” trong tục ngữ Việt và xú pha
xít Lào
26 Đỗ Thị Thu
Việc sử dụng một số phó từ biểu thị ý nghĩa thời gian của
người nước ngoài học tiếng Việt
165
171
178
194
202
209
217
241
248
Trang 527 Nguyễn Thị Hồng Thu 256
Kotowaza Nhật Bản với dạng kết cấu tính lược
28 Nguyễn Thị Thuận 261
Giới thiệu “phá băng ”- một thủ pháp khỏi động sự năng
động của lớp học trong tuần học thứ nhất
29 Phạm Phú Ty 272 Con người cùng định trong truyện hiện thực phê phán -
một cách tân về hình tượng người nông dân trong văn
học Việt Nam
Nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật
Một vài kinh nghiệm rút ra từ việc thị hành chính sách
ngôn ngữ ở Việt Nam
Trang 6TÌM HIEU VE HU TU “DA” DUGI GOC NHIN
CẤU TRÚC - CHỨC NĂNG
NGUYEN VAN CHiNH
1 Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt từ trước tới
nay, hư từ “đã” thường được các tác giả coi là một thành viên của
nhóm các hư từ chỉ thời thể bao gồm: đã, đang, sẽ, sắp, vừa, mới Trong nội bộ nhóm “đđ” lại được xếp với vừa, mới, mới vừa, vữa mới để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp chỉ thời quá khứ của động từ °° Nguyễn Anh Quế viết: “Nét nghĩa cơ bản của “đZ” là biểu thị một hành động xảy ra trong quá khứ Một hành động đã bát đầu
nhưng chưa kết thúc, hiện tại vẫn còn tiếp diễn vẫn có thể dùng đấ”(12; tr.106) Một cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là đặc trưng
cho lối tường giải của ngữ pháp - cấu trúc luận Khác với hướng nhìn nhận này, các từ điển “Việt Nam từ điển” (D, “Từ điển Việt Nam phổ thông” (ID và “Việt Nam tân từ điển” lại có cách giải thích khác: đã = xong rồi, trái với chưa (D; chỉ sự gì tới rồi, xong
' rồi, qua rồi (ID; “Tiếng thường dùng trước một động từ và dùng
trước nó để chỉ việc gì đã qua rồi, xong rồi” (HD)
2 Thực ra, theo sự quan sát và cảm nhận của chúng tôi, cả về _ mặt ngữ nghĩa lấn chức năng tạo lập phát ngôn, hư từ “đđ” có một
sự biểu hiện đa dạng và phức tạp hơn
2.1 Trước hết, với tư cách là một hư từ, đZ trong kết hợp phía trước P, dạng “đã + P/ đã P rồi”, cho biết cái sự tình (hành động,
(1) Xin xem Bùi Đức Tịnh, 1952, tr.i92-196; Trương Văn Chình,
1970, tr 372 - 373; Bưstrov I S.— Nguyễn Tài Cẩn - Stankievich N V
1975, tr 63
Trang 7trạng thái, quan hệ) trong câu đã hoàn thành trước một thời điểm
cụ thể Thời điểm ấy được coi là điểm mốc và được xác định một
cách ngầm ẩn trong tương quan với thời điểm phát ngôn hoặc được
đánh dấu một cách hiện thực thông qua các phương tiện ngôn ngữ
Vi du 1:
Sơn: Con ra sông tắm đây, giờ mà trầm mình dưới sông chắc
là mát lắm mẹ nhỉ?
Bà mẹ: Tối còn ra sông làm gì hả con, tấm tấp thì đợi đến
sáng mai
Sơn: (Ờ) Sáng hay tối với con có ý nghĩa gì đâu hả mẹ
Nhưng đã lâu rồi con không được tắm đêm Bến sông chỗ hồi nhỏ
con hay tắm rất đài mà con thuộc nó lắm rồi, có gì đâu mà sợ hả
me? {1}
- À, lúc còn trong quân đội, anh bị thương, có một mảnh đạn
ghim vào trong cổ Bác sĩ đã mồ lấy ra rồi Lính mà em, thương tật
hy sinh là chuyện không thể tránh được {1}
Ví dụ 3:
Mai tôi đã đi rồi (Mượn của GS Nguyễn Kim Thản, { 14,
365 })
Qua ba vi du vừa dẫn, ching ta déu có thé tri nhận được thời
điểm đưa ra làm mốc ở ví dụ 1 là trên cơ sở so sánh với thời điểm
phát ngôn (cảm giác “lâu” của chủ thể phát ngôn được xác định và
thể hiện thông qua thời điểm nói), ở ví dụ 2 và 3 thời điểm nói
được tri nhận trên cơ sở người nói dùng các phương tiện ngôn ngữ
để đánh dấu Điểm khác biệt giữa chúng là ở chỗ: một bên thời
điểm mốc được đánh dấu là thời điểm quá khứ (lúc còn trong quân
đội ), còn một bên là điểm mốc được đánh dấu trong tương lai
(Mai tôi đã đi rô}
ÿ6
15
Trang 8* Diéu ding luu ¥ 1a: chinh viéc ngudi néi lựa chọn một thời
điểm làm mốc để thể hiện cái sự tình sau “đZ” được coi như là xảy
ra rai ¿1i hoàn thành rồi; cho nên, một cách tự nhiên, trong đa số
cdc pid: ngôn chứa “đđ” sự tình P được cảm nhận như là có nét nghĩa guá khứ (trừ trường hợp 3)
* Việc các nhà ngữ pháp trước đây quá nhấn mạnh vào nét nghĩa chỉ thời quá khứ này đã dẫn đến tình hình là: Đôi khi các tác giả quên đi cái nét nghĩa chỉ sự hoàn thành “xong rồi” vốn là nét nghĩa cơ sở thống nhất trong mọi sự tình được đánh dấu bởi hư từ
“đđ” Theo chúng tôi, coi nét nghĩa thời quá khứ của “đá” như là một nết nghĩa thứ hai nảy sinh khi nét nghĩa chỉ sự hoàn thành
được đánh đấu sẽ cho chúng ta một cách nhìn nhận khách quan,
thống nhất hơn cho đa số các trường hợp có đang thite “dd + P”
Việc khẳng định nét nghĩa thể hiện thể hoàn thành của đở có thể
dé dang được Kiểm nghiệm khi áp dụng mệt số các theo tác của
_ phếp cải biến
Vị dụ: Khi lược bỏ “Mai tôi để đi rô” (1) thành “Mai tôi
đi”(2) thì ý nghĩa của phát ngên (2) chuyển từ việc khẳng định một sự tình được hoàn thành vào một thời điểm mốc sang thành một phát ngôn rhuần túy mang tính thông báo không hàm ý hoàn
thành hay chưa, (Đó là chưa kể người fa toàn toàn có thể hiểu
sang nét nghĩa tương lại thông qua sự thê hiện của yếu tố từ vựng
“mai”) Hoặc thay thế “dd” bang “sé” te 2c: “Mai tôi xế đi”, thì việc khẳng định thêng báo ở phát ngôn có “đã” hàm ý chỉ sự tình
“4ã được hoàn thành ” càng có cơ sở hơn
2.2 Bên cạnh nét nghĩa vừa nêu, kết cấu “đã + P” được sử dụng để cấu tạo các phát ngôn tường thuật và với các phát ngôn này, người nói muốn bộc lộ một nét nghĩa tình thái - tinh thdi đánh dấu nhận thức thực hữu Qua phát ngôn, người nói xác nhận cái sự tinh duoc dé cap sau “dd” là hiện thực So sánh:
+ “Anh chị đã có thêm một đứa con gái nữa” {2} với: - Anh
chị có thêm một đứa con gái nữa”
Trang 9Hoặc so sánh - “Chắc cũng sắp đến ngày sinh vi bung da to lắm, cao vượt mặt rồi” {2} với: - “Chác cũng sắp đến ngày sinh vì bụng to lắm, cao vượt mặt rồi”
Như vậy, cùng với việc lược bỏ “đZ” thì rõ ràng nét nghĩa
tình thái khẳng định cái sự tình (thêm một đứa con, bụng to lắm) không còn rõ ràng như có “đã”
‹ Có thể nói, hai nét nghĩa “chỉ thể hoàn thành của sự tình P”
và “khẳng định một tình thái nhận thức thực hiữu” là hai nét nghĩa luôn có mặt trong các phát ngôn tường thuật, trong đó “đã” có vị
trí trước P, kể cả trong các trường hợp sau:
- “Hôm anh chị về dọn nhà mới, tôi không có ở đây và tính ra
cũng đã trên chục năm rồi kể từ ngày ấy” {2}
Hoac “Tham thoát, Dung đế 14 tuổi” (Dẫn theo tác giả
Nguyễn Minh Thuyết)
2.3 Với các trường hợp “đế + số từ + danh từ” này, nhiều ý
kiến cho rằng “đđ” được người nói sử dụng để tạo lập các phát ngôn ngụ ý, số lượng đề cập ở danh từ là lớn và sự đạt tới số lượng
ấy là nhanh hơn bình thường Có thể ý kiến này là hơi chủ quan
Nếu dùng thủ pháp lược bỏ của phương pháp cải biến ta sẽ thấy: việc dùng “đđ” trong các cấu trúc kiểu này ít liên quan đến điều
khẳng định vừa nêu So sánh: “ tính ra cũng ( ) trên chục năm rồi kể từ ngày ấy” và nguyên văn “ tính ra cũng đã trên chục
năm rồi kể từ ngày ấy”; hoặc “- Tham thoat, Dung ( ) 14 tuổi
rồi” với '“Thấm thoát, Dung đã 14 tuổi rồi” thì chúng ta thấy hai sự tình: “trên chục năm” và “14 tuổi” không hàm nghĩa tình thái lớn hay nhỏ về số lượng hoặc nhanh hay chậm về thời gian Việc thể
hiện sự đánh giá “đạt tới số lượng ấy là nhanh hơn bình thường” ở trường hợp: “Dung đã 14 tuổi” là chức năng của trạng ngữ “thấm
thoát” hiện diện ở phần đầu phát ngôn Để biểu thị tình thái lớn
hay nhỏ (theo chủ quan của người phát ngôn) tiếng Việt thường
dùng hai cấu trúc điển hình: “- những + số fừ + danh từ” (để
gy
17
Trang 10khẳng định lượng nhiều) để đối lập với: “chỉ + số từ + danh từ”
(để chỉ số lượng ít)
Ví dụ: “Thiếu những 18 thằng kia à ?° (Nguyễn Công Hoan - TN), khẳng định 18 thằng là một số lượng lớn; khác với - Thiếu chỉ 18 thằng thôi à ?”, thì “18 thằng” ở đây là một lượng nhỏ
+ Trong cuốn “Thành phần câu tiếng Việt” xuất bản năm
1998, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã có một sự phát hiện rất tỉnh
tế về sự khác biệt ý nghĩa, chức năng của hai hư từ “đZ” và
“những” trong tỔ hợp “đã + số từ + danh từ” khi so sánh với tổ hợp những + số từ + danh từ” Theo tác giả: “Đã trong tổ hợp ngụ ý rằng số lượng được thể hiện sau nó còn có thể được tiếp tục phát triển chứ không dừng ở mức đã nêu Ngược lại, với từ
“những” thì số lượng đi kèm là số lượng đã “đóng băng” không
thể tiếp tục được nữa
So sánh: - Chuyên đề ấy thầy đZ dạy 30 tiết
Có thể cái biến thành: - Chuyên đề ấy thầy dạy đã 30 tiết rồi,
còn (tiếp) hai mươi tiết nữa (+)
Trong khi:- Chuyên đề ấy thầy dạy những ba mươi tiết
> - Chuyên đề ấy thầy day nhitng 30 tiét Con tiép 20
tiết nữa
2.4 Từ những điều vừa nói trên đây, chúng ta có thể khẳng định được: “đấ” trong tổ hợp “đZ + P” là một hư từ để khẳng định
SỰ Xảy ra của sự tình cũng như khẳng định sự nhận thức chủ quan của người phát ngôn về cái sự tình được nêu là thực hữu Đây chính là cơ sở ngữ nghĩa cho phép “đ” đóng một vai trò khá quan trọng trong việc tạo lập các phái ngôn tường thuật, “nn gia Va đồng thời, các nét nghĩa ấy cũng là tiền dé cho phép “4” tham gia kết hợp với các hư từ khác để tạo thành những tổ hợp mới nhằm chuyển tải những mục đích nói năng khác nhau Khẳng định điều này, trước hết có thể giúp cho việc lý giải các tổ hợp “đã đang + P” mà trước đây, theo các đánh giá có tính lôgic là khó có thể
Trang 11chấp nhận được Ví dụ: “Ngày mai, lúc 9 giờ thì tôi đã đang giảng
bài rồi” - với kết hợp này “2” vẫn hàm nghĩa vào một thời điểm mốc (9 giờ) thì hành động “giảng bài” đã xảy ra rồi - nhưng chưa đánh dấu sự kết thúc
2.5 Không đơn thuần như vậy, hư từ “4đ” có thể hiện diện
trong khá nhiều tổ hợp khác nhau mà tại đó “đZ” phối hợp cùng
với các hư từ khác để tạo thành những phát ngôn hàm chứa các nội
dung rất đa dạng:
« Kết hợp với hư từ “chưa” trong tổ hợp “ dd P chua 7” dé
tạo lập các phát ngôn nghỉ vấn khảo nghiệm Ví dụ:
- Đích đã về rồi đấy, chú đã biết chưa ? {Dẫn theo Nguyễn Minh Thuyết}
- Cậu đã nhận được áo đan chưa?
Những phát ngôn được kiến tạo kiểu này cũng khác với các phát ngôn nghỉ vấn - khảo nghiệm có dạng “có + P không?” ở chỗ: với phát ngôn “đã + P chưa ?”, người nói muốn biết cho đến lúc hỏi thì sự tình P đã xảy ra rồi hay chưa được thực hiện; trong khi
phát ngôn khảo nghiệm “có P không ?” chỉ nhằm mục đích nhận biết rằng: có tần tại hay không có sự tình P mà thôi
2.6 “Để? cũng có thể tham gia hình thành một phát ngôn có
ý nghĩa tăng tiến khi kết hợp với hư từ “/z?” kiểu “đã A lại B” Chúng ta hãy cùng xem xét đoạn hội thoại sau:
Bà mẹ: Ở xóm ngoài chỉ có con Nhành, con nhà chú Tứ
không hiểu bỏ nhà đi đã mấy ngày nay rồi đấy
Sơn: Sao hả mẹ? Tại sao lại bỏ đi?
Bà mẹ: Ôi giời ơi! Ở với bà dì ghẻ sao nổi, hả con? Ờ, tội
nghiệp con bé Nhành, đã mồ côi me Iai cén bị mù chữ nữa
chứ { 1}
Nét nghĩa này có thể tương đương với nét ngữ nghĩa của tổ
hợp “không những! không chi A ma con B”, nhưng về mặt thông
4b
19