Khoá luận Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường được hoàn thành với mục tiêu nhằm khảo sát về một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường, khóa luận mong muốn giúp người đọc phần nào hiểu rõ hơn về các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường cũng như sự đóng góp của ngôn từ trong sáng tác văn chương nghệ thuật.
Trang 1TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ NGỌC THUẬN
MỘT SỐ ẨN DỤ TIÊU BIỂU TRONG THƠ ĐƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP (ĐATN) CHUYÊN NGÀNH: SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 21.2 Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ
1.2.1 Phương pháp phân loại ẩn dụ
1.2.2 Các kiểu ẩn dụ
Chương 2 – Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường
2.1 Vài nét về thơ Đường
2.1.1 Một số nét khái quát về thơ Đường
2.1.2 Một số nhà thơ tiêu biểu
2.2 Ẩn dụ trong thơ Đường
2.2.1 Phương pháp phân loại ẩn dụ
2.2.2 Các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường
Trang 32.2.1.1 Ẩn dụ ý tường
2.2.1.2 Ẩn dụ theo quy ước
2.2.3 Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Ngọc Thuận - Sư phạm Ngữ văn C2016
Trong quá trình thực hiện đề tài này, em xin chân thành cảm ơn Thầy Lê Thời Tân đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để em hoàn thành khóa luận của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song có lẽ đề tài nghiên cứu của em vẫn mắc vài thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ, góp ý và phê bình của quý Thầy Cô và các bạn để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài, em đã thu được một số những kết quả nhất định Em xin cam đoan những kết quả mà em thu được trong đề tài này không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trang 5Tác phẩm văn học là nghệ thuật của ngôn từ bởi mỗi một tác phẩn văn học
là bức tranh phản ánh cuộc sống, thế giới khách quan; nhưng đây không phải là sự sao chép đơn thuần mà nó được tạo nên từ những điều tinh túy nhất Thông qua tác phẩm văn học, người nghệ sĩ muốn bộc lộ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của mình trước cuộc đời, trước thế giới vạn vật
Sức mạnh mà mỗi tác phẩm văn chương đem lại chính là việc vận dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tài hoa của các thi sĩ Tuy nhiên, lớp vỏ ngôn từ thì hữu hạn mà lời nói lại vô hạn Để giải quyết vấn đề đó, người nghệ sĩ đã chắt chiu, gạn lọc những từ ngữ, hình ảnh giàu sắc thái ý nghĩa và có tính biểu tượng, biểu cảm cao để thể hiện nội dung tư tưởng mà mình muốn truyền tải, biểu đạt
Văn chương nghệ thuật bao giờ cũng ý tại ngôn ngoại, người nghệ sĩ không
bộc lộ trực tiếp suy tư, tình cảm của bản thân mà bao giờ cũng bộc lộ một cách kín đáo, tế nhị song vẫn đạt được những hiệu quả nhất định Đó là nhờ sử dụng các biện pháp tu từ từ vựng
Ẩn dụ là biện pháp tu từ được sử dụng nhiều trong sáng tác văn chương nghệ thuật Đây là phép chuyển nghĩa dựa trên sự tương đồng giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác cùng loại hay khác loại Thông qua việc sử dụng biện pháp tu từ này, các thi nhân đã gửi gắm tâm sự, tư tưởng của mình một cách sâu sắc, độc đáo và tế nhị qua ngôn từ, hình ảnh được chắt chiu, chọn lọc Và, cũng thông qua đó, tác giả cũng tạo cho bạn đọc có cơ hội đồng sáng tạo với mình Những cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Trung Quốc, đặc biệt là trong thơ Đường, dù chúng đã biểu thị ý nghĩa nhưng cũng không phải là mục đích tự thân Bằng cách phá vỡ ngôn ngữ thông thường và đưa vào đó những hình thức đối lập khác, những cấu trúc đó dường như hướng tới một cấp độ cao hơn; đó chính là
ẩn dụ Chọn đề tài Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường, khóa luận mong muốn
Trang 6làm rõ thế giới nghệ thuật độc đáo qua cách sử dụng phép ẩn dụ của một số nhà thơ đời Đường
2 Lịch sử vấn đề
Kho tàng văn chương Trung Quốc là một kho tàng đồ sộ, phong phú; đặc biệt là thơ ca dưới đời Đường Các sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường
được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường thi gồm 48900 bài Đã có rất nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu về thơ ca đời Đường của các tác giả, các nhà nghiên cứu, ta
có thể điểm qua một số bài nghiên cứu, phân tích sau:
Trong bài Cảnh và tình trong Đường thi, Tạp chí Khoa học Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh (số 26 năm 2011), tác giả Đinh Phan Cẩm Vân
nhận định: “Thành tựu của thơ Đường căn bản là sáng tạo hệ thống hình ảnh giàu
giá trị thẩm mĩ được kết hợp từ khả năng quan sát, cảm xúc và độ sâu tư tưởng Một bài thơ bao giờ cũng gồm hai phương diện: cảnh và tình Tác động của thơ đến với người đọc cũng là tác động từ tình và cảnh Thi nhân có xu hướng khai thác tính chất của cảnh để gửi gắm những tâm tình tương hợp”
Trong bài Sự tinh diệu trong nghệ thuật thơ Đường, tác giả Đào Thái Sơn nhận định: “Thơ Đường là thể loại thơ mà có thể nói sống đúng nghĩa với hai chữ
Trang 7trong việc khảo cứu thơ ca Đường thi Cho đến nay, trong số các công trình nghiên cứu mà tôi thu thập được, chưa có một chuyên luận nào nghiên cứu sâu về ẩn dụ trong thơ Đường Trên cơ sở của những tác giả, những nhà nghiên cứu trước, tôi tiến hành khảo sát, phân loại và phân tích tác dụng nghệ thuật của một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường một cách có hệ thống và chuyên sâu hơn
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ở khóa luận này, tôi tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường và tiến hành khảo sát, phân loại và phân tích tác dụng nghệ thuật của một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát về một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường, khóa luận mong muốn giúp người đọc phần nào hiểu rõ hơn về các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường cũng như sự đóng góp của ngôn từ trong sáng tác văn chương nghệ thuật
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tập hợp những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu và tiến hành khảo sát, phân loại và phân tích tác dụng nghệ thuật của một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường; từ đó rút ra những kết luận cần thiết
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc
- Phương pháp loại hình
Trang 8- Phương pháp so sánh – đối chiếu
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
5 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tiến hành khảo sát các tác phẩm của những tác giả sau:
- Trương Cửu Linh: Tự quân chi xuất hĩ
- Đỗ Phủ: Nguyệt dạ, Xuân dạ hỉ vũ, Văn quan quân thu Hà Nam, Hà Bắc
- Vương Duy: Y hồ
- Đỗ Mục: Khiển hoài
- Vương Xương Linh: Khuê oán
- Lý Hạ: Bài dẫn về đàn Không hầu
- Lý Thương Ẩn: Vô đề, Cẩm sắt
- Lý Bạch: Tĩnh dạ tứ, Ngọc giai oán
6 Cấu trúc của khóa luận
Khóa luận cấu trúc ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường
Chương 3: Kết quả
7 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận:
Trang 9Kết quả nghiên cứu về một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường sẽ góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong thơ Đường, đồng thời khẳng định giá trị của phương thức ẩn dụ trong việc xây dựng văn bản nghệ thuật
- Về mặt thực tiễn:
Khóa luận giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm ở cấp độ từ ngữ Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khóa luận còn mở ra một hướng phân tích mới cho việc tìm hiểu, học tập và giảng dạy thơ Đường trong nhà trường
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm ẩn dụ
1.1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu ẩn dụ
Ẩn dụ là một hiện tượng đã được nghiên cứu từ thời cổ đại Ẩn là bí mật, là giấu giếm; dụ là tương tự, ví von Hiểu theo cách đơn giản, ẩn dụ có nghĩa là so sánh ngầm
Trang 10Ẩn dụ, tiếng Anh là metaphor, xuất phát từ métaphore – một tiếng Pháp cổ thế kỉ thứ XVI; và từ này lại xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ metaphora, có nghĩa là
dịch chuyển (transfer) Ẩn dụ là sự dịch chuyển ý nghĩa từ hạn từ này sang hạn từ khác, dựa trên một yếu tố tương tự nào đó Đó là một cách nói bóng bẩy, trong đó,
một điều được ví von với một điều khác bằng cách nói “cái này là cái kia”
Từ rất sớm trong tư tưởng Hy Lạp, ẩn dụ đã phát triển rực rỡ qua huyền thoại và thi ca Aristotle được xem như là người đầu tiên trong lịch sử đề cập đến
ẩn dụ, ông cho rằng triết lý cần ẩn dụ để tăng cường thêm cho luận cứ và nhằm thuyết phục người khác
Vào thời Trung Cổ, quan điểm về ẩn dụ có hai khía cạnh: ẩn dụ là tốt khi dùng trong Thánh Kinh và xấu khi lạm dụng để ngụy trang những điều phản chân
lý
Thời hiện đại cũng xuất hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học về ẩn dụ Thomas Hobbes (1588 - 1679) là người đầu tiên mở ra cuộc tấn công trực diện vào ẩn dụ Sau Thomas Hobbes, ta có thể kể đến John Locke, Richard Whately, George Campbell, Hegel, Về cấu trúc của ẩn dụ, theo
Ivor Armstrong Richards trong cuốn The Philosophy of Rhetoric (Tu từ học) (1936), bao gồm hai phần: “ “ý nghĩa” và “phương tiện biểu lộ” Ý nghĩa là điều ẩn
chứa bên trong chủ thể còn phương tiện là thứ mà chủ thể dùng để truyền tải ý nghĩa”
Trong các công trình nghiên cứu của các học giả Trung Hoa cổ đại thì ẩn dụ được thể hiện qua cách chỉ sự ví von và thường ẩn chứa trong lời khởi đầu của các bài ca dao dân ca
Trang 11Ở Việt Nam, ẩn dụ đã được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều Ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú,
Hiểu theo cách đơn giản thì đây là một hình thái trong văn nói hay một cụm
từ được dùng để thể hiện một cụm từ khác có cùng hoặc gần sắc thái nghĩa Lối ẩn
dụ này được sử dụng thường xuyên trong văn học – đặc biệt là thơ – một bài viết
có ít từ vựng, nơi mà cảm xúc và những ý tứ trong nó lại được dùng để liên tưởng đến những vật hay đặc tính trong bài khác Nó so sánh hai sự vật mà không dùng
những cụm từ hoặc từ “như”, “như là”, “giống như” Khác với lối so sánh, lối ẩn
dụ đạt tới một mức độ cao hơn Thay vì yêu cầu chúng ta mô tả một sự vật, hiện tượng một cách thông thường, lối ẩn dụ yêu cầu ta mô tả một sự vật, hiện tượng mà lại lấy hình ảnh của một sự vật, hiện tượng khác
1.1.2 Một số quan niệm về phép ẩn dụ
Từ thời cổ đại, Aristotle đã thảo luận về ẩn dụ trong hai tác phẩm The
Poetics (Thi pháp học) và The Rhetoric (Tu từ học) Ông cho rằng: “Ẩn dụ có nghĩa là quy cho sự vật nào đó một cái tên mà tên này thuộc về một sự vật khác, sự dịch chuyển có thể hoặc là giống (genus) thay cho loại (species), hoặc loại thay cho giống, hoặc là loại thay cho loại, hoặc dựa trên nền tảng của sự tương tự” Ẩn
dụ trong Aristotle đứng giữa hai lĩnh vực: tu từ học và thơ
Cũng như Aristotle, Cicero bàn về ẩn dụ theo văn phong hơn là theo diễn
ngôn có ý nghĩa Ông xem ẩn dụ là “một hình thức rút gọn của so sánh, cô đọng
vào trong một chữ; chữ này được đặt vào một vị trí không thuộc về nó y như thể đó
là vị trí riêng của nó và nếu nó được thừa nhận là mang lại điều khoái trá nhưng nếu nó không chứa đựng sự tương tự thì nó bị bác bỏ”
Trang 12Ở Việt Nam, khái niệm ẩn dụ được các nhà nghiên cứu trình bày theo nhiều cách khác nhau:
Trong cuốn Phong cách học tiếng Việt của Cù Đình Tú - Lê Anh Hiền - Nguyễn Thái Hoà – Võ Bình (1982) khái niệm được định nghĩa: “Ẩn dụ là cách
lấy tên gọi của đối tượng này để lâm thời biểu thị một đối tượng khác trên cơ sở thừa nhận ngầm một nét giống nhau nào đấy giữa hai đối tượng”
Trong cuốn 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng dựa trên sự
tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A”
Trên cơ sở những quan điểm về ẩn dụ nêu trên, ta có thể hiểu như sau: Ẩn dụ
là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có nét tương đồng hay giống nhau Bản chất của ẩn dụ là sự thay thế tên gọi dựa trên sự đồng nhất hoá các sự vật, hiện tượng, tính chất khi tư duy liên tưởng của con người phát hiện ra ở chúng ít nhất có cùng một nét hay một đặc điểm nào đó
1.2 Phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ
1.2.1 Phương pháp phân loại ẩn dụ
1.2.1.1 Cách phân loại thứ nhất: dùng truyện ngụ ngôn: là cách sử dụng các câu truyện để truyền đạt ý nghĩa
1.2.1.2 Cách phân loại thứ hai: dùng cách nói lái: là cách pha trộn các lối ẩn dụ do
tự nghĩ ra hoặc tình cờ dùng sai phép tu từ
1.2.1.3 Cách phân loại thứ ba: dùng tục ngữ: là một lối dùng tu từ khá nâng cao, bằng cách dùng một số câu thơ, vè, để dạy hoặc truyền đạt một bài học ý nghĩa 1.2.2 Các kiểu ẩn dụ
Trang 131.2.2.1 Các hình thức ẩn dụ theo Pierre Fontanier
Theo Pierre Fontanier, ẩn dụ là: “Trình bày một ý tưởng dưới kí hiệu của một
ý tưởng khác sinh động hơn hay được biết nhiều hơn, mà ý tưởng này lại chẳng có một liên hệ nào với ý tưởng đầu tiên ngoài liên hệ của một sự giống nhau hay tương tự nào đó” Pierre Fontanier rút gọn thành năm loại ẩn dụ:
1 Loại ẩn dụ thứ nhất: Trình bày một sự vật sinh động bằng một sự vật sinh động khác; nghĩa là chuyển đến một sự vật sinh động cái vốn là đặc điểm của một sự vật sinh động khác
Ví dụ: Cô ấy là một con mèo
→ Chuyển ý nghĩa (hiền lành) của con mèo (một sự vật sinh động) đến cho con người (một sự vật sinh động khác); ý nói “cô ấy” hiền lành như “con mèo”
2 Loại ẩn dụ thứ hai: Trình bày một sự vật trừu tượng bằng một sự vật lý không sinh động
Ví dụ: Những bông hoa của cuộc sống
→ Chuyển ý nghĩa “con người tốt đẹp” chứa đựng trong “những bông hoa”
là sự vật vật lý không sinh động đến “cuộc sống” là một sự vật không sinh động có
tính cách trừu tượng
3 Loại ẩn dụ thứ ba: Trình bày một sự vật sinh động bằng một sự vật không sinh động
Ví dụ: Cậu bé này là mầm non của đất nước
→ Dùng “mầm non” là sự vật không sinh động để chỉ “cậu bé” - một con
người là sự vật sinh động
Trang 144 Loại ẩn dụ thứ tư: Trình bày một sự vật vật lý không sinh động bằng một sự vật vật lý sinh động Là loại ẩn dụ qua đó, người ta nói về một sự vật không sinh động
có tính cách vật lý bằng một cái thường để chỉ một sự vật sinh động
Ví dụ: Dày vò bởi lòng hối hận
→ Dùng “lòng hối hận” là những điều bất động có tính cách vật lý được trình bày như sự vật sinh động: “dày vò” Vì cả hai đều thuộc về thế giới vật lý, Pierre Fontanier gọi đây là “ẩn dụ vật lý”
5 Loại ẩn dụ thứ năm: Trình bày một sự vật trừu tượng bằng một sự vật sinh động
Là loại ẩn dụ qua đó, người ta nói về một sự vật không sinh động có tính cách tinh thần bằng một cái vốn được dùng để nói về sự vật sinh động, có tính cách trí tuệ và
tự do
Ví dụ: Kinh nghiệm là bậc thầy của nghệ thuật
→ “Bậc thầy” là sự vật sinh động (có tính cách tinh thần) để chỉ sự vật trừu tượng là “kinh nghiệm” Vì cả hai yếu tố đều có tính cách trừu tượng, thuộc về tinh thần nên Pierre Fontaniet gọi đây là những “ẩn dụ tinh thần”
1.2.2.2 Các kiểu ẩn dụ theo Nguyễn Thiện Giáp
Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đưa ra tám
kiểu ẩn dụ như sau:
1 Ẩn dụ hình thức: là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các
Trang 15Ví dụ:
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
3 Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó
Ví dụ:
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm
(Đêm nay Bác không ngủ - Minh Huệ)
Sự giống nhau về phẩm chất là Người Cha, đang ẩn dụ cho Bác Hồ Bác đang chăm lo cho giấc ngủ của các chiến sĩ như người cha ruột đang chăm lo cho các đứa con của mình
4 Ẩn dụ chức năng
Ví dụ: bến trong bến xe, bến đò, bến sông → tất cả các từ này đều thể hiện
chức năng giống nhau là đầu mối giao thông
5 Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài
Ví dụ: Người phụ nữ đẹp được gọi là Tây Thi
6 Ẩn dụ màu sắc
Ví dụ: màu cánh sen – màu hồng như màu của cánh sen
7 Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người
Ví dụ: cún con của mẹ, cún con của cha
Trang 168 Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng
Ví dụ: hạt nhãn là cái cụ thể để chỉ phần bên trong của quả được dùng để chỉ
trung tâm quan trọng nhất của vấn đề
Trên đây là cách phân loại ẩn dụ của một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Quan niệm và cách phân loại về ẩn dụ tu từ của các nhà ngôn ngữ học được trình bày theo những cách khác nhau nhưng không hề mâu thuẫn, đối lập mà chúng bổ sung cho nhau, đem lại những cách hiểu thống nhất và đầy đủ nhất về phép ẩn dụ
tu từ từ vựng
Trong khóa luận này, tôi tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp phân loại ẩn dụ, các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường và tiến hành khảo sát, phân loại và phân tích tác dụng nghệ thuật của một số ẩn dụ tiêu biểu trong thơ Đường
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ẨN DỤ TIÊU BIỂU TRONG THƠ ĐƯỜNG 2.1 Vài nét về thơ Đường
2.1.1 Một số nét khái quát về thơ Đường
Thơ Đường hay Đường thi là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà thơ Trung Hoa sáng tác từ khi Đường Cao Tổ Lý Uyên dựng triều đại cho đến khi nhà Đường mất; ròng rã mấy trăm năm trong khoảng từ thế kỉ 7 đến thế kỉ 10 (618 –
907) Các sáng tác của các nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn
Trang 17Đường thi gồm 48900 bài Nhiều bài thơ hay đã được lưu truyền hàng ngàn năm
Thơ Đường có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn hóa Trung Hoa
Thơ Đường rất trọng âm nhạc, hình ảnh, sâu sắc về nội dung, đẹp về hình thức; yếu tố hiện thực và lãng mạn trong thơ Đường đều đạt tới đỉnh cao
Thơ Đường được chia làm hai loại: thơ cổ thể và thơ tân thể (luật) Trong thơ cổ thể lại có bài ngũ ngôn (năm chữ) và bài thất ngôn (bảy chữ) Trong thơ tân thể (luật) lại có loại tuyệt cú (bốn câu) và bát cú (tám câu) Mỗi phần trong bài bát
cú đều có quy tắc cụ thể để thành một quy định về cấu trúc (phá, thừa, thực, luận, kết) Ngoài ra còn có luật bằng trắc để tạo thành âm điệu và vần, làm phong phú cho bài thơ
Thơ Đường có thể chia ra làm bốn giai đoạn: Sơ Đường (618 – 713), Thịnh Đường (714 – 766), Trung Đường (766 – 835) và Vãn Đường (835 – 907)
Thời Sơ Đường (618- 713), trong gần một trăm năm của thời kì này, Trung Quốc sống trong cảnh thái bình, an lạc Vì vậy, thơ làm trong thời kì này phần nhiều là ca tụng cảnh đất nước thanh bình, tán dương thịnh đức của triều đại, có
văn từ hoa mỹ diễm lệ Nổi trội nhất có các nhà thơ được mệnh danh là “Sơ Đường
Tứ kiệt” bao gồm: Dương Quýnh, Lư Chiểu Lân, Lạc Tân Vương và Vương Bột
Thời Thịnh Đường (713 – 766) được chia làm hai giai đoạn: thái bình và tán loạn do cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn năm 755 Trước loạn An Lộc Sơn là thời của những bài thơ chứa đầy tình, nhạc và rượu Từ cuộc loạn ấy về sau, thi ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ Thơ thời Thịnh Đường có thể chia ra làm ba phái chính: phái Biên tái, phái Điền viên và phái Xã hội Các nhà thơ tiêu biểu cho thời Thịnh Đường có thể kể đến Vương Hàn, Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Đỗ Phủ,
Trang 18Thời Trung Đường (766 – 835), đây là gian đoạn thời Đường bị ngoại bang quấy nhiễu, triều đình thối nát, quan lại lộng quyền, xã hội bất an, nhân dân cực khổ Tình trạng thi ca kém hẳn thời trước, các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm
vi cũ Trong thời Đại Lịch (776 – 779), có mười thi sĩ được gọi là “Đại Lịch thập
tài tử” bao gồm Lư Luân, Cát Trung Phu, Hán Hoằng, Tiền Khởi, Tư Không Thự,
Miêu Phát, Thôi Đồng, Cảnh Vi, Hạ Hầu Thẩm và Lý Đoan
Thời Vãn Đường (836 – 907) là giai đoạn tình trạng chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng suy đồi, quan lại tham nhũng, thuế má nặng nề đã dẫn đến loạn Vương Tiên Chi và loạn Hoàng Sào làm sụp đổ nhà Đường Ba nhà thơ nổi trội nhất thời này là Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục và Ôn Đình Quân
2.1.2 Một số nhà thơ tiêu biểu thời Đường
Vương Duy
Trang 19Vương Duy (701 – 761), tự Ma Cật, hiệu Ma Cật cư sĩ Ông là một trong những nghệ sĩ tài năng nhất của thời Thịnh Đường Thơ ca, âm nhạc, hội họa ông đều rất giỏi Thi sĩ trứ danh Tô Đông Pha đời Tống khi viết về Vương Duy có câu:
“Thưởng thức thơ của Ma Cật, trong thơ có họa đồ; ngắm họa đồ của Ma Cật,
trong họa đồ có thơ” Năm 721, ông đỗ Tiến sĩ đời Đường Huyền Tông nhưng sau
phạm phải triều cấm nên bị phạt đến Tế Châu Loạn An Lộc Sơn xảy ra, ông bị buộc phải phục vụ quân phản loạn, điều đó khiến cho lúc hòa bình được lập lại, ông đã bị giam trong một thời gian ngắn Là tín đồ của Thiền Tông, ông là một người trầm tư mặc tưởng tinh tế Ông đã đưa hội họa và thơ ca với cách nhìn từ bên trong đạt tới một đỉnh cao Tại biệt thự Võng Xuyên dưới chân núi Chung Nam, ông trải qua những năm tháng cuối đời bằng hoạt động sáng tác thơ ca Ông chuyên tâm nghiên cứu Phật giáo và thi ca của ông phản ánh tính Phật nên hậu bối
tôn xưng ông là “Thi Phật”
Trang 20Lý Bạch
Lý Bạch (701- 762), tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ Lý Bạch và Đỗ Phủ được coi là hai nhà thơ lớn nhất của Trung Quốc Nhà thơ Hạ Tri Chương lần
đầu gặp ông đã gọi ông là “trích tiên nhân” – tiên bị đày xuống trần gian Nghiện
rượu, hấp thụ tinh thần hiệp sĩ, là một tín đồ của Đạo giáo, Lý Bạch khước từ con đường tìm kiếm quan chức bình thường mà chủ yếu là sống một cuộc đời phóng lãng và lang thang Năm hai mươi lăm tuổi, ông từ giã quê hương Tứ Xuyên để đi ngao du ở một số tỉnh phía Bắc và phía Nam Năm 742, Lý Bạch được tiến cử vào triều và được hưởng những ân huệ chưa từng thấy; nhưng sự ghen ghét của những
kẻ đối địch đã nhanh chóng làm giảm uy tín và vinh dự của ông Trong cuộc biến loạn An Lộc Sơn, vì dính líu đến sự kiện hoàng tử Lý Lân, ông bị kết án đi đày ở
Dạ Lang thuộc tỉnh Vân Nam nhưng giữa đường thì được ân xá Theo truyền thuyết, vào một đêm uống rượu say, ông đã chết đuối do muốn vồ bắt ánh trăng trên dòng sông Dương Tử Nhờ sự lỗi lạc của mình, ông đã được hậu bối tôn xưng
là “Thi Tiên”
Trang 21Đỗ Phủ
Đỗ Phủ (712 – 770), tự Tử Mỹ, hiệu Thiếu Lăng dã lão Ông cùng với Lý Bạch được khẳng định là hai nhà thơ lớn nhất của Trung Quốc Họ đã có cơ hội gặp nhau năm 744 – 745 và đã thắt nối một tình bạn mà suốt đời Đỗ Phủ luôn quý trọng Đỗ Phủ nghiêm trang, ưu tư và tha thiết nhập thế theo lý tưởng của Nho giáo
Đỗ Phủ là bậc thầy không thể chối cãi của luật thi; ở đó, ông đã đẩy nghệ thuật ngôn từ và sự tìm kiếm những hình thức nghệ thuật đạt tới mức độ hiếm thấy Trong nhiều năm tháng, ông đã hoài công vô ích tìm cách vượt qua con đường thi
cử Trong loạn An Lộc Sơn, ông phải nếm mùi cay đắng của việc di tản, cầm tù và đói khổ Do nhu cầu nuôi sống gia đình thôi thúc, ông phải sống một cuộc sống lang thang rồi chết một cách cô độc trong một chiếc thuyền nhỏ trên sông Dương
Tử Với tài năng tuyệt vời và đức độ cao thượng của mình, ông được hậu bối tôn
xưng là “Thi Thánh”
Trang 22Lý Hạ
Lý Hạ (790 – 816), tự Trường Cát, hiệu Lũng Tây Trường Cát Ông là một nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường Lý Hạ thuộc dòng dõi tôn thất dưới thời nhà Đường Thuở nhỏ, ông cực kì thông minh, lên bảy tuổi đã biết làm thơ, từng đem
thi ca chấn động cả kinh sư Đỗ Mục từng nhận định: “Đối với thơ ca Lý Hạ thì vẻ
rực rỡ của mùa xuân không đủ để nói lên sự hài hòa, sự thanh khiết của mùa thu không đủ để nói lên phong cách; quan tài bằng ngói, đỉnh khắc chữ triện không đủ
để nói lên vẻ cổ kính; vườn hoang điện phế, cỏ cây đồi lũng không đủ nói lên nỗi niềm tình oán bi sầu; ma trâu, thần rắn không đủ để nói lên vẻ hoang lương quái đản mà kì ảo” Vào năm hai mươi tuổi, Lý Hạ đăng kí khoa cử với mong muốn dấn
thân vào con đường hoạn lộ nhưng lại bị cấm thi vì húy kị tên cha là Lý Tấn Túc,
vì từ Tấn đồng âm với từ Tiến trong Tiến sĩ Qua một lối viết có phong cách thần
chú và chất đầy những hình ảnh vô cùng phong phú, ông đã biểu hiện những ảo
Trang 23tượng mà chưa nhà thơ Trung Hoa nào trước đó có Mất năm hai mươi bảy tuổi, ông đã để lại một sự nghiệp nổi bật lên với tính chất kì dị và giọng điệu nổi loạn
nên được hậu bối tôn xưng là “Thi Quỷ”
Thi Thánh Đỗ Phủ, Thi Tiên Lý Bạch, Thi Phật Vương Duy và Thi Quỷ Lý
Hạ đã tạo nên hiện tượng Thánh – Tiên – Phật - Quỷ cùng hội tụ trong một thời đại cực thịnh của thi ca Trung Quốc – Đường thi
2.2 Ẩn dụ trong thơ Đường
2.2.1 Phương pháp phân loại ẩn dụ trong thơ Đường
Những cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ thơ ca Trung Quốc, dù tự chúng đã biểu thị ý nghĩa nhưng cũng không phải là mục đích tự thân Bằng cách phá vỡ ngôn ngữ thông thường và đưa vào đó những hình thức đối lập khác, những cấu trúc đó dường như hướng tới một cấp độ cao hơn (hoặc sâu hơn) cấp độ những ý tượng và sự tổ chức những ý tượng đó
“Ý tượng” có hàm nghĩa sâu rộng hơn nhiều so với các khái niệm, thuật ngữ
hình tượng, ẩn dụ, hoán dụ tượng trưng, mặc dù có những khía cạnh tương thông Người xưa không chỉ đã nhận thức được rằng sự vật, hiện tượng cảm tính có khả
năng làm cho con người dễ lí giải, tiếp thu và cảm thụ hơn là các “ý” trừu tượng;
mà còn cảm thấy cái “tượng” mang tính chất trực quan là có tính đa chiều, không
gian hàm chứa rộng lớn mà các khái niệm không thể khoanh lại được Tuy nhiên,
phải đến Lưu Hiệp, trong chương Thần tứ của công trình nổi tiếng Văn tâm điêu
long mới đề xuất được khái niệm “ý tượng” và nâng lên thành một phạm trù của thi
học Chính những ý tượng tượng trưng chứa đựng những nội dung có tính chất chủ quan đã cho phép bỏ một vài yếu tố của sự kết hợp hoặc tự thuật trong một câu thơ
và do đó có được cả một sự tiết kiệm về cấu trúc
Trang 24Vương Phu Chi (1619 – 1692), trong cuốn Tịch đường vĩnh nhật tự luận nội
biên, đã nhận định: “Tình và cảnh tuy có tên khác nhau song thực ra không thể tách biệt Ở những bài thơ đạt đến độ thần diệu, chúng cộng sinh, không một vết rạn nứt Trong những bài thơ hay nhất, người ta còn có thể chỉ ra ở đâu là cảnh trong tình và ở đâu là tình trong cảnh Vô luận là thơ hay bài văn dài, đều phải lấy ý (tư tưởng, ý định, cách nhìn, điều tưởng tượng) làm chủ Ý cũng như tướng soái, quân không tướng soái, gọi là ô hợp Lý Bạch, Đỗ Phủ sở dĩ được xem là đại gia vì những bài không có ý chỉ chiếm một, hai phần mười Từ khói mây suối đá, hoa chim rêu rừng cho đến nệm vàng màn gấm, cứ có ý gửi vào là sẽ có linh hồn”
Theo Vương Phu Chi, tình, cũng trải dần ra như một bức tranh phong cảnh; và cảnh, cũng phải do sức xung động của cuộc sống lay chuyển, mới xác thực là có tình Từ đó, không mệt mỏi, người ta đã dựa vào những ví dụ cụ thể, ra sức tìm
mọi cách xem xét một cách tỉ mỉ những cách thức mà “tình” và “cảnh” đã khêu gợi
cho nhau, đã phối hợp với nhau, đã bổ sung cho nhau và đã thay thế cho nhau như thế nào
Vương Quốc Duy (1877 – 1927), người cuối cùng thuộc truyền thống này;
trong cuốn Nhân gian từ thoại đã đưa ra những nhận xét sau đây: “Từ lấy cảnh giới
làm tiêu chuẩn tối cao (nghĩa là cao hơn cả “tình cảnh” do Vương Phu Chi đề
xuất) Ở cấp độ này, “Có cái cảnh có tôi, có cái cảnh không có tôi” (“Hữu hữu ngã
chi cảnh, hữu vô ngã chi cảnh”) “Khả kham cô quán bế xuân hàn; Đỗ quyên thanh
lí tà dương mộ” (Sao chịu được cảnh chiếc quán cô đơn nhốt chặt cái rét của mùa
xuân; Trong tiếng kêu của chim đỗ quyên, ánh tà dương sắp tắt) là loại cảnh có tôi
Một trạng thái khác, ít hơn, ở đó cái tôi không có mặt nữa, dường như bị hòa tan trong cái nhìn đã được trải nghiệm hoặc được chiêm ngưỡng mà nhà thơ chỉ có thể
đạt được trong trạng thái yên tĩnh vốn có: “Thái cúc đông li hạ, Du nhiên kiến Nam
Trang 25Sơn” – Đào Uyên Minh, Ẩm tửu (Hái cúc dưới hàng rào phía đông, Núi Nam Sơn
hiện lên vô tư) là loại cảnh không có tôi”
“Tình”, “cảnh”, “có tôi”, “không có tôi”, tất cả những khái niệm ấy, trong
khi tổ hợp với nhau bằng nhiều sắc thái, đã hình thành một chiếc quạt xếp lớn ghi lại những câu thơ điển hình Và có bao nhiêu câu như vậy thì có chừng ấy thủ pháp
tu từ của thơ Hai thủ pháp cơ bản của phong cách học Trung Quốc mở đầu cho tất
cả những thủ pháp khác đó là “tỉ” và “hứng” Đây cũng là hai phương pháp phân
loại ẩn dụ trong thơ Đường
2.2.1.1 Cách phân loại thứ nhất: Ẩn dụ theo phép “tỉ”
“Tỉ” (so sánh) được nhà thơ sử dụng khi cần dùng một ý tượng (thông
thường là từ thế giới tự nhiên) để hình dung một ý niệm hoặc một tình cảm muốn
biểu đạt Cái tỉ thể hiện quá trình chủ thể → khách thể, tức là quá trình đi từ con người đến tự nhiên Về dẫn chứng cho việc dùng “tỉ”, xin dẫn bài Tự quân chi xuất
hĩ của Trương Cửu Linh:
Phiên âm:
Tự quân chi xuất hĩ
Bất phục lí tàn ki
Tư quân như mãn nguyệt,
Dạ dạ giảm thanh huy
Dịch nghĩa:
Từ khi chàng ra đi, (Thiếp) không còn mó đến khung cửi đã tàn
Nhớ chàng như vầng trăng đầy,
Trang 26Đêm đêm hao dần vành sáng
Bài tuyệt cú Tự quân chi xuất hĩ của Trương Cửu Linh lấy mặt trăng làm ý
tượng trung tâm Xuất phát từ sự thật thiên nhiên: mặt trăng tròn đầy và sáng khiến
ta liên tưởng tới sự đầy đủ, viên mãn, trọn vẹn, sung túc trong cuộc sống hàng ngày Mặt khác, những ngày trăng khuyết lại gợi về những gì không trọn vẹn và sự chia
ly cách trở nghìn trùng Do sự liên tưởng trên nên trăng được chọn để tượng trưng
cho sự đoàn tụ sau những ngày xa cách và hạnh phúc tràn đầy, viên mãn của chàng
và thiếp, cũng là của tình cảm lứa đôi
Theo định nghĩa truyền thống, dựa trên sự tương tự, ẩn dụ được tạo nên nhằm sử dụng một hình ảnh tượng trưng để biểu hiện một tư tưởng hoặc tình cảm
Theo nghĩa ấy, ẩn dụ gần với phép “tỉ” Trong thơ Trung Quốc, cái “tỉ” được lồng
vào trong một hệ thống có tính chất phổ biến
2.2.1.2 Cách phân loại thứ hai: Ẩn dụ theo phép “hứng”
“Hứng” (khích lệ) khi một yếu tố của thế giới cảm tính, một phong cảnh,
một cảnh tượng khơi gợi một kỉ niệm, một tình cảm thầm kín hay một ý niệm chưa
từng được bày tỏ Khác với phép “tỉ” thể hiện quá trình chủ thể → khách thể; phép
“hứng” lại đưa tới một quá trình ngược lại từ khách thể → chủ thể, tức là quá trình
Trang 27từ tự nhiên trở lại với con người Về dẫn chứng phép “hứng”, xin dẫn bài Tĩnh dạ
tứ của Lý Bạch:
Phiên âm:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
Dịch nghĩa:
Ánh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương trên mặt đất
Ngẩng đầu ngắm vầng trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê cũ
Dịch thơ:
Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương
(Tương Như dịch) Mặt trăng là sự vật vượt lên trên cả không gian và thời gian Mà con người lại cách xa nhau do cự li và thời đại chi phối Tuy nhiên, từ mặt đất ngắm trăng, qua thể thống nhất nguyên sơ này, con người lại có thể đồng thời nghĩ về nhau Vì
vậy, chính hình ảnh ánh trăng sáng kết hợp với hình ảnh sương trên mặt đất đã
Trang 28cho phép nhà thơ không chỉ nghĩ tới cố hương mà còn có ấn tượng như thực sự được trở về với quê cũ Cảm xúc trong bài được vận động rất nhanh Nhân vật trữ tình trong đêm khuya nhìn thấy ánh trăng lọt qua khe cửa ngỡ như là sương vương trên mặt đất và ngẩng đầu lên như một hành động xác nhận Chính khoảnh khắc ngẩng đầu này đã đem đến cho nhà thơ tình cảm nhớ quê hương và như được trở
về lại quê nhà thân yêu
Theo định nghĩa truyền thống, hoán dụ được tạo nên dựa trên sự kế cận; và được kết hợp với những tư tưởng hay hình ảnh có một mối quan hệ gần gũi Như
vậy, ta có thể thấy, hoán dụ gần với phép “hứng”
Phép “tỉ” và “hứng” đều được sử dụng rộng rãi trong thơ Đường Hai thủ
pháp này thể hiện mối quan hệ luôn luôn được biến đổi giữa con người tự nhiên và
thế giới khách quan Chúng không chỉ là thủ pháp “nghệ thuật của lời nói” mà còn
gợi lên trong ngôn từ một chuyển động vòng nối liền giữa chủ thể và khách thể (trong thực tế, khách thể cũng được nhìn nhận như là chủ thể
Thơ đã cung cấp cho ngôn ngữ những hình ảnh ẩn dụ trong lúc tổ chức chúng thành một chỉnh thể rộng lớn của những biểu tượng được cấu trúc hóa Nhờ
đó, một bộ phận lớn của giới tự nhiên có thể nói đã được thống kê, đầu tư khai thác, thuần hóa Xuyên qua mạng lưới các biểu trưng, nhà thơ đã tìm cách phá vỡ vòng kín Sa/Se (cái biểu đạt/ cái được biểu đạt) và dựng lên một quan hệ khác giữa những
kí hiệu và sự vật bởi trò chơi dựa trên sự tương đồng và mối liên hệ nội tại
Bằng những xảo thuật, các ẩn dụ sẵn có theo kiểu hoán dụ nhằm gợi nên các
ẩn dụ khác có thể nói là ở tầng cao hơn – kiểu ẩn dụ của ẩn dụ, và qua đó, những nghĩa bất ngờ và đã được đổi mới
2.2.2 Các kiểu ẩn dụ trong thơ Đường
2.2.2.1 Ẩn dụ ý tượng