1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp Sư phạm Ngữ Văn: Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học

78 45 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Mô Hình Vòng Tròn Thảo Luận Văn Chương Trong Dạy Học Văn Nghị Luận Văn Học
Tác giả Hoàng Thị Thanh Tâm
Người hướng dẫn Th.s Nguyễn Thị Mai Anh
Trường học Trường Đại Học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận nghiên cứu về Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học để thấy được tầm quan trọng của việc đổi mới dạy học ngữ văn chương trình phổ thông. Đồng thời củng cố những phương pháp, mô hình của dạy học tập làm văn giúp cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ THANH TÂM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH VÒNG TRÒN THẢO LUẬN VĂN CHƯƠNG TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

TRONG CHƯƠNG TRÌNH THCS

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành : Sư phạm Ngữ Văn

Hà Nội, tháng 05 năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ THANH TÂM

ÁP DỤNG MÔ HÌNH VÒNG TRÒN THẢO LUẬN VĂN CHƯƠNG TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Hoàng Thị Thanh Tâm

Sinh viên lớp: Sư phạm Ngữ Văn K42

Niên khoá: 2016 - 2019

Theo điều kiện và tiêu chí xét duyệt đào tạo của nhà trường, tôi được làm khóa luận thay thế tốt nghiệp Tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận và tôi xin cam đoan những điều sau:

1 Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn trực tiếp của Thạc sĩ Nguyễn Thị Mai Anh

2 Mọi tham khảo dùng trong luận văn này đều được trích rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Tác giả khoá luận

Hoàng Thị Thanh Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, lời đầu tiên em xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc tới giảng viên Nguyễn Thị Mai Anh đã tận tình hướng dẫn em từ những bước đi đầu tiên trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài, giúp em hoàn thành đúng tiến độ và thời gian quy định

Em xin chân thành cảm ơn thầy cô trong khoa Khoa học Xã hội, cùng thầy

cô trong trường Đại học Thủ Đô Hà Nội đã tận tình chỉ bảo, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp Sư phạm Ngữ Văn C2016 đã quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu

Trong khóa luận này em có sử dụng và tham khảo các tài liệu của các giáo tiến sĩ đầu ngành Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố

Quá trình thực hiện khóa luận này chắc chắn em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế rất mong nhận được sự góp ý kiến quý báu của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để em hoàn thiện hơn nữa

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019

Người thực hiện

Hoàng Thị Thanh Tâm

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

01 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

02 PGS.TS Phó giáo sư Tiến sĩ

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các chữ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

1.1 Định hướng đổi mới dạy học ngữ văn chương trình phổ thông 1

1.2 Dạy học ngữ văn theo định hướng giáo dục phát triển mới cần áp dụng các mô hình dạy học mới 1

1.3 Dạy học làm văn theo hướng thực hành sáng tạo 2

2 Lịch sử nghiên cứu 2

2.1 Các mô hình dạy học ngữ văn 2

2.1.1 Các mô hình dạy học môn ngữ văn ở Việt Nam: 2

2.1.1.1 Mô hình Giảng văn 2

2.1.1.2 Mô hình Phân tích 3

2.1.1.3 Mô hình Công nghệ dạy văn 4

2.1.1.4 Mô hình Đọc hiểu văn bản 4

2.2 Những nghiên cứu về văn nghị luận và phương pháp dạy văn nghị luận 5

2.3 Lí thuyết về mô hình vòng tròn thảo luận văn chương 6

2.3.1 Mô hình vòng tròn thảo luận văn chương được áp dụng ở Mỹ và Úc 6

2.3.2 Mô hình vòng tròn thảo luận văn chương được áp dụng ở Việt Nam 7

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Cấu trúc khoá luận 8

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lí luận 9

1 Các phương pháp đặc thù của dạy học tập làm văn 9

1.1 Phương pháp dạy lí thuyết 9

1.1.1 Truyền đạt trực tiếp các khái niệm, các vấn đề lí thuyết (phương pháp diễn dịch, phân tích khái niệm) 9

1.1.2 Phân tích mẫu 9

1.1.3 Phương pháp dạy học theo tình huống giao tiếp 10

1.1.4 Phương pháp củng cố khắc sâu khái niệm bằng sơ đồ, biểu bảng, câu hỏi, bài tập luyện tập 11

1.2 Phương pháp dạy thực hành 11

1.3 Phương pháp ra đề tập làm văn 12

1.4 Phương pháp chấm và trả bài tập làm văn 13

1.4.1 Chấm bài 13

1.4.2 Trả bài 14

2 Các mô hình dạy học có thể áp dụng để sử dụng các phương pháp dạy học tập làm văn 14

2.1 Mô hình Hội thảo đọc 14

2.1.1 Khái niệm 14

2.1.2 Tiến trình tổ chức “Hội thảo đọc” 14

2.1.3 Đặc điểm của Hội thảo đọc 15

2.2 Mô hình Câu lạc bộ sách 15

2.2.1 Khái niệm 15

2.2.2 Tiến trình thực hiện 16

2.2.3 Đặc điểm của Câu lạc bộ sách 16

2.3 Vòng tròn thảo luận văn chương 17

2.3.1 Khái niệm 17

Trang 8

2.3.2 Hoạt động xây dựng mô hình phân vai trong “Vòng tròn thảo luận văn

chương” 17

2.3.3 Tiến trình tổ chức “Vòng tròn thảo luận văn chương” 18

2.3.4 Đặc điểm của “Vòng tròn thảo luận văn chương” 19

3 Khái niệm về văn nghị luận 21

4 Văn nghị luận văn học 21

5 Đặc điểm của văn bản nghị luận 22

5.1 Các thao tác lập luận và sự kết hợp của chúng trong văn bản nghị luận văn học 22

5.2 Luận điểm của bài văn nghị luận văn học 22

5.3 Lập luận cho bài văn nghị luận văn học 23

6 Khái quát về cách ra đề, cách làm bài văn nghị luận văn học 24

6.1 Cách ra đề văn nghị luận văn học 24

6.1.1 Đề văn trong các kì thi khoa bảng, thời kì phong kiến Việt Nam 24

6.1.2 Đề thi hiện hành theo chương trình giáo dục cải cách năm 2003 đến nay 25

6.1.2.1 Đề kiểm tra các tác phẩm có trong sách giáo khoa 25

6.1.2.2 Đề kiểm tra đọc hiểu văn bản không có trong sách giáo khoa 26

6.1.2.3 Đề kiểm tra nghị luận văn học đa phương thức 27

6.2 Cách làm bài văn nghị luận văn học 28

6.2.1 Nhận thức đúng vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu làm sáng tỏ 28

6.2.2 Hình thành được hệ thống ý làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm 28

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29

Chương 2: Cách thức triển khai mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học 30

1 Tiến trình tổ chức “vòng tròn thảo luận văn chương” 30

Trang 9

1.1 Quy trình dạy học dành cho những học sinh chưa có kinh nghiệm làm việc hợp

tác 30

1.2 Quy trình dạy học dành cho những học sinh đã quen với cách làm việc hợp tác 30

2 Những định hướng thiết kế bài học có sử dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương 31

2.1 Sử dụng quy trình bảy bước trong mô hình vòng tròn thảo luận văn chương 32

2.2 Thiết kế phiếu bài tập 32

2.3 Phối hợp các phương pháp dạy học đặc thù tập làm văn 36

2.3.1 Sử dụng phương pháp diễn dịch và quy nạp để dạy lí thuyết 36

2.3.2 Sử dụng phương pháp tình huống giao tiếp để dạy lí thuyết – thực hành 37

2.3.3 Sử dụng phương pháp đọc hiểu để phát tích đề, lập dàn ý 37

2.3.4 Sử dụng phương pháp dạy thực hành bằng các bài tập hội thoại luyện nói 38

2.3.5 Sử dụng phương pháp dạy thực hành bằng các bài tập hội thoại luyện viết 39

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 40

Chương 3: Thiết kế các tiết dạy văn nghị luận văn học có áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương 41

1 Thiết kế giáo án 41

1.1 Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học nghị luận văn học để dạy học bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm (Ngữ văn 8, tập 2) 41

1.2 Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong tiết “Luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm” (Ngữ Văn 8, tập hai) 50

2 Thực nghiệm 54

2.1 Mục đích thực nghiệm 54

2.2 Đối tượng, địa điểm, thời gian và nội dung thực nghiệm 55

2.2.1 Đối tượng thực nghiệm 55

Trang 10

2.2.2 Địa điểm thực nghiệm 55

2.2.3 Thời gian thực nghiệm 55

2.2.4 Nội dung thực nghiệm 55

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 59

PHẦN KẾT LUẬN 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà trường THCS, hình thành những ý thức tự tu dưỡng biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật Những năm gần đây đã có sự thay đổi mạnh mẽ trong dạy học ngữ văn chương trình phổ thông dựa trên nhiều cơ sở khoa học và thực tiễn của việc phát triển chương trình nói chung, nhưng về cơ bản vẫn chưa khai phá hết được năng lực sáng tạo, chủ động của học sinh, chưa theo kịp các chương trình môn học của các nước phát triển

1.1 Định hướng đổi mới dạy học ngữ văn chương trình phổ thông

GD&ĐT đã thay đổi một số điểm chính: tên môn học, mục tiêu môn học, cấu trúc, phạm vi nội dung môn học, phương pháp dạy học, kiểm tra và đánh giá môn học Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đòi hỏi ngành giáo dục chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực người học và nâng cao phẩm chất Qúa trình dạy học cần coi trọng đồng thời cả hoạt động dạy học và hoạt động trải nghiệm để hình thành và phát triển ở người học năng lực hợp tác, năng lực giải quyết các vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực tự quản lý, năng lực sử dụng công nghệ thông tin, ngôn ngữ, năng lực tính toán để giải quyết các vấn

đề trong học tập và cuộc sống

1.2 Dạy học ngữ văn theo định hướng giáo dục phát triển mới cần áp dụng các

mô hình dạy học mới

Giống như nhiều môn học khác, hoạt động dạy học ngữ văn ở trường phổ thông đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ nhằm đáp ứng mục tiêu đổi mới “căn bản, toàn diện” giáo dục phát triển Tuy đã có nhiều cải tiến trong hoạt động dạy học của GV và HS trong thời gian vừa qua nhưng nhìn chung vẫn chưa có bước đột phá lớn, chủ yếu vẫn là những đổi mới nhỏ lẻ, mang tính thao tác Một

Trang 12

trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là thiếu một mô hình dạy học mới, có thể hiện thực hóa một cách hiệu quả tư tưởng đổi mới dạy học ngữ văn Căn

cứ vào các hoạt động và đặc trưng của hoạt động dạy chúng tôi đề xuất các hoạt động dạy học như sau: mở rộng, trải nghiệm, thực hành sáng tạo Bản chất của việc vận dụng mô hình dạy học mới nhằm thúc đẩy hoạt động dạy học ngữ văn theo hướng tích cực hóa, phát huy năng lực của HS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đặc trưng của môn học

1.3 Dạy học làm văn theo hướng thực hành sáng tạo

Dạy học theo hướng thực hành sáng tạo là xu hướng nhất thiết phải có theo hướng đổi mới Tổ chức tốt hoạt động dạy học làm văn theo hướng thực hành sáng tạo giúp đạt được các mục tiêu dạy học như: hình thành cho học sinh kiến thức, phát triển năng lực, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh Hoạt động này giúp cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân Vì vậy

chúng tôi lựa chọn “Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy

học văn nghị luận văn học” cho đề tài nghiên cứu này

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Các mô hình dạy học ngữ văn

Việc xác lập các mô hình về dạy học VB phải được dựa trên hai cơ sở lý thuyết, đó là lý thuyết về hoạt động học VB hay còn gọi là lý thuyết tiếp nhận và lý thuyết về dạy học Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số mô hình dạy học VB ở Việt Nam

2.1.1 Các mô hình dạy học môn ngữ văn ở Việt Nam:

2.1.1.1 Mô hình Giảng văn

Dương Quảng Hàm là người đầu tiên dùng tên gọi giảng văn và đề xuất mô hình giảng văn, khác với lối dạy của nhà trường phong kiến Mô hình giảng văn

được trình bày trong cuốn Quốc văn trích diễm ra đời từ năm 1925 là một mô hình

chịu ảnh hưởng từ giáo dục phương Tây, mô hình gồm các bước: giới thiệu tiểu sử

Trang 13

của tác giả, nêu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, giới thiệu xuất xứ, đại ý, giảng nghĩa ý tưởng cùng lời văn của tác phẩm

Hạn chế của mô hình là tách riêng nội dung và nghệ thuật, chú trọng vai trò của người thầy, chỉ đề cập tới loại VB văn học mà chưa quan tâm đến các loại VB khác Mô hình giảng văn của Dương Quảng Hàm tác giả nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất giữa các yếu tố tạo nên giá trị tác phẩm nội dung và hình thức,

tư tưởng và nghệ thuật Ông khẳng định “không thể tách rẽ hẳn hai phương diện hình thức và nội dung” [53,65] Tương tự như Hà Như Chi, các soạn giả SGK ở miền nam giai đoạn 1954 - 1975 cũng kế thừa mô hình giảng văn của Dương Quảng Hàm và có một số cải biên Dù có thêm bớt các phần, hoặc đảo lộn thứ tự vài phần nhưng về cơ bản trong các cuốn SGK ở miền Nam việc giảng văn cũng gồm các bước cơ bản như: xuất xứ, đại ý, bố cục, phê bình, giảng nghĩa về ý tưởng nội dung

và lời văn hình thức

Ví dụ, cuốn “Giảng văn lớp 10” của Đỗ Văn Tú chia tiến trình giảng văn

thành ba phần như sau:

- Phần giải thích gồm : Văn thể, xuất xứ, tác giả và tác phẩm

- Phần phân tích gồm: giải nghĩa từ khó, bố cục, đại ý và chủ đích

- Phần nhận xét và phê bình gồm: nội dung, hình thức

Dù chương trình đã có sự thay đổi lớn trong việc chọn lựa, đưa các VB có giá trị nghệ thuật cao vào nhưng các VB được giảng dạy vẫn chủ yếu là VB văn chương, chưa chú ý đến các loại VB khác

2.1.1.2 Mô hình Phân tích

Điểm mới trong công trình này là tác giả đã chú ý đến những đặc điểm của hoạt động đọc là từ tri giác ngôn ngữ đến liên tưởng, tưởng tượng, phân tích tổng hợp, phân biệt giữa ý nghĩa khách quan của tác phẩm với ý nghĩa cụ thể mà tác phẩm mang lại cho mỗi cá nhân HS Ưu điểm của mô hình là các tác giả đã nhận ra vai trò chủ thể của người học – HS, những cá nhân với những kinh nghiệm, hoàn cảnh sống, vốn văn hóa đa dạng, giờ dạy cần có sự “nối mạch giữa cá tính nhà văn

Trang 14

và từng cá tính bạn đọc” và việc HS tiếp xúc với nhà văn thông qua tác phẩm phải được coi là một nguyên tắc quan trọng của việc dạy văn

Các tác giả đã ý thức được tính mục đích của việc dạy văn trong nhà trường

“Tuyệt đối không phải là sự cảm thụ cá nhân riêng lẻ mà là một quá trình giáo dục bằng tác phẩm văn chương, chú trọng đến tính định hướng sư phạm, tính tập thể của cảm thụ” [53,71] Những hạn chế của mô hình Phân tích là nhầm lẫn giữa phân tích – một trong những thao tác tư duy nhằm chia tách VB thành nhiều phần để xem xét – với phương phâp dạy học, nhầm lẫn các giai đoạn của hoạt động đọc với thao tác

tư duy và chưa quan tâm đến VB thông tin

2.1.1.3 Mô hình Công nghệ dạy văn

Trong những năm 1980, cách dạy môn Văn của Việt Nam đã có những thử nghiệm theo mô hình Công nghệ giáo dục Năm 2006, những thử nghiệm này trong lĩnh vực dạy Văn được Phạm Toàn (2006) trình bày trong công trình Công nghệ dạy văn Công nghệ dạy học được xây dựng dựa trên ba quan điểm: quan điểm phát triển về sự phát triển của trẻ em qua các giai đoạn, quân điểm thao tác, chú trọng dạy các thao tác làm ra kiến thức cho trẻ em, quan điểm thực tiễn: áp dụng những hành động học vào nhà trường

Điểm mạnh của mô hình này là được xây dựng trên cơ sở của lý thuyết dạy học tích cực chủ yếu là thuyết hành vi Tiến trình dạy đọc chú trọng vào tưởng tượng, liên tưởng, một trong các thao tác tư duy Loại VB mà công nghệ dạy văn coi là vật liệu cho HS học giới hạn trong thể loại văn bản văn học

2.1.1.4 Mô hình Đọc hiểu văn bản

Năm 2006, khi biên soạn lại chương trình, SGK phổ thông, giờ giảng văn trong nhà trường được gọi là “Đọc hiểu văn bản” Mô hình đọc hiểu VB, lần đầu

tiên được thể hiện trong tài liệu Bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, SGK văn thí

điểm, lớp 11,bộ 1 (2006)

Trong số các nhà giáo dạy Văn, Trần Đình Sử là người có nhiều bài viết bàn

về dạy đọc hiểu VB Trong bài “Đọc hiểu VB - một khâu đột phá trong nội dung và

Trang 15

phương pháp dạy văn hiện nay” (2003, 2013) ông nhấn mạnh dạy văn là dạy cho

HS “năng lực đọc, kỹ năng đọc để HS có thể đọc – hiểu bất cứ VB nào cùng loại

Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các

tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính” Trong mô hình đọc hiểu VB, Trần Đình Sử nhận thức về mục tiêu dạy đọc: dạy năng lực, kỹ năng đọc; mô hình xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về hoạt động đọc và lý thuyết về hoạt động học tập, vai trò của GV là người “tổ chức hoạt động đọc hiểu VB” cho HS.[53,76]

2.2 Những nghiên cứu về văn nghị luận và phương pháp dạy văn nghị luận

Văn nghị luận là một trong sáu kiểu văn bản: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính- công vụ được dạy trong chương trình ngữ văn trung học cơ sở Vì vậy, các công trình nghiên cứu, tài liệu, sách tham khảo dạy học về văn nghị luận khá nhiều và đa dạng

Làm văn nghị luận thường được tiến hành chủ yếu theo cách: thầy đưa ra các bài văn mẫu, từ những bài văn mẫu này, thầy giáo căn cứ vào đặc điểm về nội dung

và hình thức của từng loại mà phân tích và giảng giải cho trò Học trò cứ thế mà luyện tập theo Giai đoạn cải cách giáo dục cùng với sự xuất hiện của các tài liệu phục vụ cho công tác dạy học nói chung, các tài liệu dạy học các kĩ năng tìm ý, dàn

ý cho nghị luận văn học xuất hiện rất nhiều của các tác giả Có thể thấy rõ hơn qua

cuốn sách: Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống – Nguyễn Thành Thi – Phạm

Minh Diệu(2007), nhóm tác giả này đã dành riêng chương 4 (trang 165-213) để bàn

về văn nghị luận Ngoài ra còn những tài liệu của Bộ GD&ĐT như Tài liệu bồi

dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa các lớp, Về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn trung học phổ thông cũng giới thiệu những

định hướng, phương pháp dạy học dạy học văn nghị luận nói chung, văn nghị luận

văn học nói riêng, nhiều tài liệu tham khảo khác như: Phương pháp dạy học văn (Phan Trọng Luận), Kỹ năng làm văn nghị luận phổ thông (Nguyễn Quốc Siêu),

Rèn kỹ năng làm văn nghị luận (Bảo Quyến), Phương pháp dạy học ngữ văn ở trung học cơ sở của Nguyễn Thanh Hùng

Trang 16

Trong sự nghiệp giáo dục, người giáo viên đã phải sử dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với mục đích, nội dung, điều kiện, phương tiện dạy học và các tình huống khác nhau Hiện nay, “phương pháp dạy học hiện đại” hay “phương pháp tích cực hóa hoạt động của HS” đã thuận miệng với nhiều GV Phương pháp này nhằm khởi động và nâng cao tính tích cực nhận thức ở HS Với HS trung học

cơ sở, tính tích cực thể hiện qua sự cố gắng quan sát và tiếp cúc với đối tượng nhận thức Phải đưa hoạt động nhận thức bài học vào các thao tác học tập, vì kiến thức chỉ được khẳng định trong hành động có tổ chức

Khi tiến hành nghiên cứu những chuyên luận, giáo trình, công trình nghiên cứu trên đã gợi ý cho tôi những định hướng lí thuyết cơ bản để thực hiện đề tài khóa luận này

2.3 Lí thuyết về mô hình vòng tròn thảo luận văn chương

2.3.1 Mô hình vòng tròn thảo luận văn chương được áp dụng ở Mỹ và Úc

Daniels một nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới về “vòng tròn thảo luận văn chương” và việc ứng dụng nó trong dạy học Ông đã tổng kết kinh nghiệm từ những giáo viên đã sử dụng “vòng tròn thảo luận văn chương” và đưa ra một số cách giúp học sinh làm quen “vòng tròn thảo luận văn chương” trong môn học Ngữ Văn

Mô hình vòng tròn thảo luận văn chương được áp dụng trong môn học Ngữ Văn ở Mỹ và Úc trong các tiết đọc văn bản Daniels (2002) cho rằng : “Vòng tròn thảo luận văn chương” là những nhóm thảo luận nhỏ giữa những học sinh cùng chọn đọc một câu chuyện, bài thơ, bài báo, hay cuốn sách Khi đọc xong một cuốn sách, các thành viên của vòng tròn này có thể chia sẻ những vấn đề quan trọng mà

họ đã được đọc với cộng đồng rộng lớn hơn Họ trao đổi thành viên với những nhóm khác cũng đã đọc xong, chọn thêm văn bản để đọc và hình thành những vòng tròn thảo luận mới [53,76]

Như vậy thay vì dạy cho HS các kĩ năng, hướng dẫn HS hiểu thế nào là đọc hiểu quả, thế nào là một “vòng trong thảo luận văn chương” rồi sau đó mới tổ chức

Trang 17

cho HS thảo luận, Daniels đề xuất GV dạy các kĩ năng đọc, kĩ năng thảo luận ngay trong khi HS tham gia “vòng trong thảo luận văn chương”

2.3.2 Mô hình vòng tròn thảo luận văn chương được áp dụng ở Việt Nam

Đây là một mô hình dạy học mới phát triển tại Việt Nam Do đó mô hình

“vòng trong thảo luận văn chương” chưa được áp dụng dạy trong chương trình

Ngữ văn trung học cơ sở Mô hình được các nhà giáo dục Việt Nam sử dụng chính thức trong chương trình dạy học tích cực ở Tiểu học Khác với những mô hình dạy học thiên về truyền thụ kiến thức ở Việt Nam, mô hình dạy học này theo hướng phát triển năng lực rất chú trọng đến tạo điều kiện cho HS phát triển Người GV không còn là người nắm giữ chân lý, người truyền giảng mà trở thành người hướng dẫn, tổ chức, tư vấn cho HS Cách dạy học theo mô hình này rất gần với việc học ngoài thực tế cuộc sống Trong quá trình học, HS được tạo điều kiện để giao tiếp, tương tác, phát triển đồng bộ các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết HS cũng được hỗ trợ, hướng dẫn để có thể dần tự đọc và phát huy tư duy phê phán và sáng tạo, chủ động tham gia vào quá trình khám phá khiến tiết học trở nên hấp dẫn hơn

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu về Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương

trong dạy học văn nghị luận văn học để thấy được tầm quan trọng của việc đổi mới

dạy học ngữ văn chương trình phổ thông Đồng thời củng cố những phương pháp,

mô hình của dạy học tập làm văn giúp cho HS có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận các mô hình dạy học Ngữ văn trong đó nghiên cứu chuyên sâu về mô hình vòng tròn thảo luận văn chương (Literatire Circle)

Cách thức triển khai mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học

Trang 18

Thiết kế các tiết dạy văn nghị luận văn học có áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương.

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học

Phạm vi: Các đề văn nghị luận cấp trung học cơ sở

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại các dạng văn nghị luận, các tiết học về văn nghị luận ở trung học cơ sở

- Phương pháp phân tích: phân tích các phương pháp, mô hình dạy học văn nghị luận văn học

- Phương pháp thực hành: triển khai mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học

7 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Cách thức triển khai mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học

Chương 3: Thiết kế các tiết dạy văn nghị luận văn học có áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương

Trang 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Các phương pháp đặc thù của dạy học tập làm văn

Trong chương trình dạy học Ngữ Văn nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng, văn nghị luận chiếm phần lớn thời lượng chương trình Hiện nay chương trình tập làm văn ở Trung học cơ sở đã được điều chỉnh và cân đối về cả thời lượng

và nội dung Dưới đây là một số phương pháp của dạy học tập làm văn theo chương trình đổi mới

1.1 Phương pháp dạy lí thuyết

Nội dung dạy lí thuyết đảm bảo sự tinh giản, vững chắc là phục vụ đắc lực cho việc luyện tập kĩ năng giao tiếp khi tạo lập VB HS được phát triển tư duy ngôn ngữ và năng lực diễn đạt ý tưởng, tình cảm cá nhân

1.1.1 Truyền đạt trực tiếp các khái niệm, các vấn đề lí thuyết (phương pháp diễn dịch, phân tích khái niệm)

GV nêu khái niệm hoặc các vấn đề lí thuyết, sau đó hướng dẫn HS phân tích, tìm hiểu khái niệm hoặc các vấn đề lí thuyết Phương pháp được sử dụng khi gặp khái niệm mới, khó phức tạp để tiết kiệm thời gian, lời giải thích rõ ràng dễ hiểu

Ví dụ: Bài “Tìm hiểu chung về văn nghị luận” (Lớp 7), dạy học đơn vị kiến thức “Đặc điểm chung của văn nghị luận”:

Bước 1: GV nêu khái niệm: Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, nghười nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó

Bước 2: GV yêu cầu HS chỉ ra luận điểm, luận cứ và lập luận trong bài văn nghị luận thông qua khái niệm trên

Bước 3: GV chốt lại kiến thức và vận dụng lí thuyết vào luyện tập

1.1.2 Phân tích mẫu

GV sử dụng VB mẫu làm “giáo cụ trực quan” Mẫu phải đáp ứng được các yêu cầu: Những dữ kiện để hình thành lí thuyết phải càng nhiều, càng đa dạng thì việc hình thành lí thuyết ở HS ngày càng thuận lợi, dễ dàng Khai thác triệt để các

dữ kiện của mẫu, tránh tình trạng dùng nhiều mẫu trong một giờ giảng, đáp ứng

Trang 20

được yêu cầu về mặt nội dung tư tưởng, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi của HS Đồng thời, có giá trị thẩm mĩ cao Việc phân tích mẫu được chia làm hai cách:

Cách 1: Dẫn mẫu, phân tích mẫu để hình thành khái niệm mới, hình thành lí thuyết mới cho HS Đây là cách quy nạp

Cách 2: Dẫn mẫu, phân tích mẫu nhằm minh họa cho khái niệm, cho lí thuyết Đây là cách diễn dịch

Ví dụ: Bài “Đặc điểm của văn nghị luận” (Lớp 7):

Bước 1: GV cung cấp mẫu cho HS (mẫu lấy từ SGK – văn bản “ Tinh thần

yêu nước của nhân dân ta”

Bước 2: HS đọc văn bản và trả lời các câu hỏi:

- Tìm luận điểm chính? Các luận điểm phụ trong văn bản?

- Xác định luận cứ (tìm lí lẽ, dẫn chứng)

- Xác định cách lập luận toàn bài văn

Bước 3: GV hướng dẫn rút ra những vấn đề lí thuyết liên quan đến đặc điểm của văn bản nghị luận (định hướng của phần Ghi nhớ trong SGK)

Bước 4: GV hướng dẫn HS củng cố và vận dụng những đặc điểm của văn bản nghị luận vào việc luyện tập (đọc và trả lời các câu hỏi liên quan đến văn bản

“Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội” của trong SGK để nắm vững hơn

đặc điểm của văn bản miêu tả)

1.1.3 Phương pháp dạy học theo tình huống giao tiếp

Đây là phương pháp dạy học mới mẻ, hiện đại áp dụng trong tập làm văn rất hiệu quả, lại tăng tính thực tế Dựa trên cơ sở nguồn gốc thực tiễn và mục đích giao tiếp của từng kiểu loại VB Chọn lựa những tình huống giao tiếp – đối thoại phù hợp rồi phân tích, tổng hợp và hình thành hiểu biết về kiểu loại VB

Phương pháp đòi hỏi GV gia công suy nghĩ, liên hệ, sáng tạo để xây dựng những tình huống phù hợp rồi tổ chức HS tìm hiểu, phân tích tình huống từ đó hình thành khái niệm lí thuyết Cái khó của phương pháp này là khả năng sáng tạo tình

Trang 21

huống phù hợp, sinh động và khả năng dẫn dắt khéo léo để hình thành đúng bản chất khái niệm mà không bị gò ép, sống sượng

1.1.4 Phương pháp củng cố khắc sâu khái niệm bằng sơ đồ, biểu bảng, câu hỏi, bài tập luyện tập

Về phương pháp này tránh nói nhiều, giảng dạy trừu tượng suông, càng nói càng rối, càng khó hiểu Tránh ra các mệnh lệnh, áp đặt thiếu tường giải cặn kẽ thiếu dẫn dắt gợi mở Không dạy theo kinh nghiệm chủ quan

1.2 Phương pháp dạy thực hành

Phân môn tập làm văn là một phân môn thực hành, trừ phần trình bày kiến thức, quy tắc tập làm văn không chiếm nhiều thời gian, giờ tập làm văn được xây dựng từ các bài tập, đó là các bài thực hành tập làm văn Vì các bài thực hành tập làm văn được cấu thành từ một tổ hợp bài tập nên việc tổ chức dạy học cũng là việc

tổ chức thực hiện các bài tập làm văn Bao gồm bài tập luyện nói: hội thoại, độc thoại

Hội thoại là một hành động ứng xử có người nghe ở ngay trước mặt nên dạy hội thoại trước hết là dạy một hành động ứng xử với người khác một cách có văn hóa bằng ngôn ngữ

Độc thoại: miêu tả ngắn (đồ vật, loài vật, cây, cảnh, người) Độc thoại mang đặc điểm của lời nói miệng nhưng vì phải nói thành đoạn, bài, và mặc dù cấu trúc câu đơn giản hơn và có sự hỗ trợ của các yếu tố ngoài ngôn ngữ, nó vẫn đòi hỏi người nói phải lập chương trình như khi viết thành đoạn, bài

Thời gian dùng để thực hành có thể được bố trí xen kẽ với việc dạy lí thuyết nhưng thường được tách ra thành những tiết giờ thực hành riêng Thực hành vừa để củng cố lí thuyết, khẳng định lí thuyết vừa rèn luyện kĩ năng cũ, xây dựng kĩ năng mới và hình thành kĩ xảo

Ví dụ: Bài “Đề văn nghị luận và việc lập ý cho bài văn nghị luận” (Lớp 7), dạy học đơn vị kiến thức “Các bước làm bài nghị luận”:

Trang 22

Bước 1: GV nêu đặc điểm của đề văn nghị luận: nêu vấn đề để bàn bạc và đòi hỏi người viết bày tỏ ý kiến của mình đối với vấn đề đó

Sau đó, GV yêu cầu HS nhắc lại các bước làm bài văn tự sự (đã học ở lớp 6)

HS cần nhắc lại được các bước cơ bản như: tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn ý, dàn bài, viết bài, sửa bài

Bước 2: GV nêu một hoặc một số đề bài để HS lựa chọn

Bước 3: GV hướng dẫn HS cách làm bài văn nghị luận cho đề bài đã chọn theo các bước đã nêu ở trên

GV hướng dẫn HS xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của bài văn nghị luận Xác lập luận điểm, cụ thể hóa luận điểm chính thành các luận điểm phụ, tìm luận cứ và cách lập luận cho bài văn

Bước 4: GV nhận xét, đánh giá việc xác định đối tượng phát miêu tả nghĩ, đặc điểm của đối tượng, cảm nghĩ của HS về đối tượng, cách sắp xếp các ý, bố cục của bài văn

Bước 5: GV hướng dẫn HS nhận ra những kĩ năng đã làm tốt và chưa làm tốt

để rút kinh nghiệm cho việc luyện tập tiếp theo

Bước 6: GV nêu thêm đề bài cho HS luyện tập

1.3 Phương pháp ra đề tập làm văn

GV có thể sử dụng đề trong SGK hoặc tự ra đề Khi ra đề, GV cần xác định: mục đích, nội dung, đối tượng và phương tiện làm bài của HS Một đề bài nhìn chung gồm có hai phần: phần cung cấp các dữ kiện làm bài và phần yêu cầu làm bài Hai phần này có khi được nêu một cách tách biệt, dễ thấy, nhưng cũng có khi được trình bày đan xen vào nhau

Phần cung cấp dữ kiện làm bài giúp HS trả lời câu hỏi: Viết cái gì? Phần này

thường gồm lời dẫn, vấn đề cần trình bày trong bài văn và định hướng nội dung bài làm cho HS

Trang 23

Phần yêu cầu làm bài: giúp HS trả lời câu hỏi: Cách thức làm bài như thế

nào? Mục đích làm bài là gì? Mức độ, phạm vi của vấn đề trình bày ra sao? Phần

này cần được trình bày rõ ràng, chính xác, khơi gợi được hứng thú làm bài của HS

Hiện nay, trong cách ra đề tập làm văn GV thường chỉ sử dụng hình thức tự luận Ngoài dạng đề truyền thống “đề đóng”, GV còn quan tâm đến việc xây dựng

“đề mở”, trong đó chủ yếu nêu phần cung cấp dữ kiện để làm bài, ẩn đi phần yêu cầu làm bài GV cần cân nhắc khi ra đề mở cho phù hợp với đối tượng HS

Ví dụ: Bài “Viết bài tập làm văn số 5–Văn lập luận chứng minh” (Lớp 7):

Bước 1: GV xác định luận điểm cần phải chứng minh, mục đích sử dụng đề bài: dùng cho giờ kiểm tra viết văn nghị luận, thời gian làm bài của HS: 1 tiết (45 phút)

Bước 2: GV lựa chọn hình thức của đề tập làm văn nghị luận: theo hình thức

tự luận

Bước 3: GV lựa chọn đối tượng của đề tập làm văn nghị luận

Bước 4: GV cung cấp đề bài cho HS luyện tập, kiểm tra: có thể ra đề đóng hoặc đề mở

Bước 5: GV rút kinh nghiệm cho việc ra đề HS thường chọn những đề bài nào (đóng hay mở)? Có HS nào hiểu sai đề bài không? Đối tượng miêu tả có phù hợp với nhận thức và hiểu biết của HS không? Bài làm của HS có những ưu điểm

Trang 24

đọc Tùy thuộc vào thang điểm mà GV chia điểm cho từng tiêu chí một cách hợp lí, chấm theo hướng dẫn chấm, đáp án

1.4.2 Trả bài

GV thông báo việc trả bài tập làm văn cho HS Căn cứ vào đề bài, GV xác định những yêu cầu chủ yếu của bài làm, đánh giá kết quả làm bài chung của cả lớp Nêu dẫn chứng cụ thể về các ưu, khuyết điểm của lớp, phân tích và sửa lỗi cho HS, đọc bài mẫu GV công bố điểm và trả bài cho HS Dặn dò HS về việc tự sửa chữa bài và chuẩn bị cho bài làm văn tiếp theo

2 Các mô hình dạy học có thể áp dụng để sử dụng các phương pháp dạy học tập làm văn

Có nhiều mô hình dạy học nhằm phát triển năng lực của người học như Dạy học dựa trên sự phản hồi, Trò chuyện về sách (Book Talk), Câu lạc bộ sách (Book Club), Dạy học theo ba giai đoạn, Vòng tròn thảo luận văn chương (Literatire Circle) Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu ba mô hình được sử dụng phổ biến

ở Mỹ và Úc

2.1 Mô hình Hội thảo đọc

2.1.1 Khái niệm

Hội thảo đọc (Reading Workshop) là cách thức tổ chức việc dạy đọc sao cho

HS có thể có được môi trường và những yếu tố cần thiết khác để có thể phát triển thành một người đọc hiểu quả [53,88]

2.1.2 Tiến trình tổ chức “Hội thảo đọc”

Giai đoạn 1 Chọn sách để đọc

HS chọn đọc những cuốn sách văn nghị luận văn học, các cuốn sách bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học điển hình như: Nguyễn Đăng Mạnh, Chu Văn Sơn

Giai đoạn 2 Đọc sách

Việc đọc sách diễn ra trong vài buổi hay nhiều buổi, mỗi buổi dạy bắt đầu bằng việc GV dạy một bài học ngắn GV giải thích, làm mẫu về một kĩ năng hay

Trang 25

chiến lược đọc mà HS có thể giúp các em nâng cao hiệu quả đọc Sau khi đọc cuốn sách mình đã chọn, sử dụng những kĩ năng đã được dạy vào việc đọc Trong khi đọc

HS đọc cuốn sách mình chọn, suy nghĩ về nó, viết về nó, tự đặt các câu hỏi về nó thì GV tham gia vào những cuộc trao đổi với một cá nhân HS nào đó hay làm việc với một nhóm nhỏ HS

Giai đoạn 3 Thảo luận

Phần lớn thời gian “hội thảo đọc” HS đọc độc lập, thời gian ngắn cuối cùng được dùng để các HS so sánh ghi chép của mình với bạn cùng đọc, nêu hoặc trả lời các câu hỏi, lắng nghe quan điểm của các HS khác về VB đã đọc và học cách nhìn

VB từ quan điểm của người khác Ngoài ra HS sẽ được dành nhiều thời gian hơn để trao đổi với nhóm đọc khác, tạo điều kiện cho HS cọ xát với nhiều quan điểm, cách nhìn khác

Ví dụ: GV tổ chức hội thảo đọc: Trong các nhà thơ mới của nền văn học, ai

là nhà bình luận thơ mới hay nhất

2.1.3 Đặc điểm của Hội thảo đọc

Caklins (2010) tóm tắt những đặc điểm chính của cách dạy đọc theo “hội thảo đọc” như sau: [53,89]

- Người học cần những GV có thể giải thích, chứng minh tình yêu đối với việc đọc có ý nghĩa gì với mang lại gì cho cuộc sống của chúng ta

- Người học cần cố nhiều thời gian để đọc, cần có những cơ hội được đọc những cuốn sách thú vị mà họ tự chọn

- Người học cần có những cơ hội để nói và thỉnh thoảng để viết những phản hồi về VB, phương pháp tiếp cận ngôn ngữ nghệ thuật phù hợp

2.2 Mô hình Câu lạc bộ sách

2.2.1 Khái niệm

“Câu lạc bộ sách” (Book Club) là tên gọi khá phổ biến mà GV dùng để gọi loại hoạt động trong đó HS tham gia vào những nhóm nhỏ mà chính HS là người quyết định việc đọc và thảo luận Raphael và Hiebert (1996) miêu tả về Câu lạc bộ

Trang 26

sách như sau “là cách dạy đọc có sự tích hợp các kĩ năng đọc, viết và nói và tập trung trao quyền cho HS cơ hội được nói trong những nhóm nhỏ về những quyển sách mà họ đã đọc”.[53,90]

Bước 2 Thảo luận trong nhóm

HS đem theo nhật ký đến lớp và thảo luận trong nhóm, mỗi HS có cơ hội trình bày bài tập của mình và trao đổi, tranh luận với các thành viên trong nhóm HS

có thể nắm bắt những ý tưởng vừa nảy sinh trong quá trình thảo luận để mở rộng, chuyển hướng cuộc trao đổi GV di chuyển từ nhóm này sang nhóm khác, lắng nghe

và trợ giúp HS nếu cuộc thảo luận bị lạc đường

Bước 3 Chia sẻ với các nhóm khác

GV tổ chức cho các nhóm trao đổi với các nhóm khác GV cần chuẩn bị câu hỏi dự kiến, đồng thời khuyến khích HS nêu thắc mắc và nắm bắt các ý tưởng mới nảy sinh của HS để tổ chức cho HS thảo luận

2.2.3 Đặc điểm của Câu lạc bộ sách

- HS có cơ hội sử dụng bốn kĩ năng: đọc, viết, nghe và nói

- HS trong nhóm luân phiên thực hiện các bài tập này với các VB khác nhau

- HS sử dụng hoạt động viết để thể hiện suy nghĩ của mình, khám phá những

ý tưởng mới, lần theo những thay đổi trong suy nghĩ của mình trong suốt thời gian đọc VB

- Thể hiện phương diện xã hội của hoạt động học

Trang 27

2.3 Vòng tròn thảo luận văn chương

2.3.1 Khái niệm

Daniels một nhà nghiên cứu hàng đầu trên thế giới về “vòng tròn thảo luận văn chương”, ông đã giải thích về mô hình này như sau: [53,95]

Vòng tròn thảo luận văn chương là những nhóm thảo luận nhỏ giữa những

HS cùng chọn đọc một câu chuyện, bài thơ, bài báo, hay cuốn sách Trong khi đọc phần VB mà mỗi nhóm được phân công, các thành viên ghi chép những ý tưởng nảy sinh trong quá trình đọc để trao đổi trong cuộc thảo luận sắp tới, và mỗi người khi đến với nhóm đều mang theo những ý tưởng cần được chia sẻ Mỗi nhóm sẽ theo một lịch trình đọc và gặp gỡ với những cuộc thảo luận định kì trong khi đọc một cuốn sách

2.3.2 Hoạt động xây dựng mô hình phân vai trong “Vòng tròn thảo luận văn chương”

Theo Daniels (2002) mô hình vòng tròn thảo luận văn chương về cơ bản gồm

4 vai, cách hiểu và tên gọi của từng vai cũng thay đổi tùy theo người sử dụng

Vai “người liên hệ”: Học sinh thực hiện những kĩ năng mà một người đọc thường sử dụng như tìm mối liên hệ giữa những gì đang đọc với thực tế cuộc sống, với cảm xúc và kiến thức nền của học sinh, với những văn bản, những tác giả khác

Vai “người hỏi”: Trong quá trình đọc, học sinh viết những câu hỏi về văn bản, có thể là câu hỏi về nội dung, sự kiện, nhân vật; câu hỏi về từ ngữ, cách diễn đạt hay về dụng ý của tác giả hoặc về ý nghĩa của phần văn bản đang đọc

Vai “người tìm những điểm, phần quan trọng của văn bản”: Ở vai này học sinh chỉ ra một số phần, đoạn, câu, từ mà học sinh cho là quan trọng hay thú vị Học sinh được giao vai này cần ghi chú lý do tại sao em chọn đoạn, câu, từ ấy và cách

mà em muốn mọi người trong nhóm chia sẻ

Vai “người vẽ tranh”: Học sinh sẽ tưởng tượng về những gì đang đọc và vẽ

ra Có thể vẽ những gì diễn ra trong đoạn văn bản vừa đọc, vẽ điều gì đó mà đoạn văn bản nhắc hoặc gợi lên cho học sinh

Trang 28

Vòng tròn thảo luận văn chương về bản chất là việc tổ chức cho học sinh học tập thông qua việc tham gia các hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ nên để đạt được hiểu quả thì giáo viên cần hướng dẫn để học sinh biết hợp tác thế nào, phát huy tính độc lập ra sao Có thể coi những bản phân vai này là đại diện cho sự có mặt của giáo viên, giúp học sinh biết cách thực hiện các nhiệm vụ khi đọc cũng như khi tham gia thảo luận với bạn cùng nhóm

Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong tiết Đề văn nghị

luận và việc lập dàn ý cho bài văn nghị luận (Ngữ văn 7, tập 2) GV chia lớp thành

4 nhóm, mỗi nhóm chọn 1 vai trong mô hình vòng tròn thảo luận văn chương Các nhóm tập trung chia sẻ và thảo luận theo vai:

Nhóm 1: Vai “người liên hệ” : HS liên hệ tất cả các nội dung kiến thức, cách xây dựng bố cục dàn ý, cách thức triển khai ý tưởng, cách trình bày, cách diễn đạt, cách hành văn

Nhóm 2: Vai “người hỏi” : Trong quá trình thảo luận HS viết ra những câu

hỏi: Các vấn đề trong cả 11 đề trên đều xuất phát từ đâu? Người ra đề đặt ra những

vấn đề ấy nhằm mục đích gì? Những vấn đề ấy gọi là gì? Thái độ tình cảm của người làm bài đối với từng đề khác nhau như thế nào? Vậy tính chất của đề là gì? Muốn tìm hiểu đề ta làm thế nào?

Nhóm 3: Vai “người tìm những điểm, phần quan trọng của văn bản”: HS cùng nhau thảo luận và chọn ra những luận điểm, luận cứ, lập luận quan trọng trong văn nghị luận HS trình bày lý do tại sao chọn những luận điểm, luận cứ, lập luận đấy

Nhóm 4: Vai “người vẽ tranh”: Cả nhóm cùng nhau tưởng tượng về những

luận điểm, luận cứ và lập luận trong Đề văn nghị luận và việc lập dàn ý cho bài văn

nghị luận và viết ra điều gì đó gợi lên cho HS, đây chính là sản phẩm cuối cùng của

cuộc thảo luận

2.3.3 Tiến trình tổ chức “Vòng tròn thảo luận văn chương”

Tiến trình tổ chức “vòng tròn thảo luận văn chương” được Daniels (2002) đề xuất với những cách thức khác nhau nhưng tựu chung gồm các bước sau:

Trang 29

Bước 1: Giải thích – giúp học sinh hiểu hoạt động này diễn ra như thế nào và tại sao nó quan trọng

Bước 2: Chứng minh – cung cấp các ví dụ sống động thực tế hay những băng video quay lại các ví dụ ấy

Bước 3: Luyện tập – cho học sinh cơ hội thử nghiệm các phương pháp khác nhau Bước 4: Ghi chép chi tiết – yêu cầu học sinh chú ý và ghi lại những biện pháp, tiến trình hiệu quả

Bước 5: Trau dồi – tiếp tục cung cấp các hướng dẫn qua các bài học ngắn khi học sinh thực hiện

Để HS có thể tự lực thực hiện việc đọc và thảo luận, chia sẻ hiệu quả thì GV phải tư vấn, hướng dẫn các kĩ năng, chiến thuật đọc cho HS GV tạo điều kiện để

HS trải nghiệm việc đọc nhưng vẫn đang “dạy học” và không thoát ly mục đích giáo dục của chương trình

2.3.4 Đặc điểm của “Vòng tròn thảo luận văn chương”

Daniels (2002) nêu 11 đặc điểm của “Vòng tròn thảo luận văn chương”:

Một, HS tự chọn tài liệu để đọc

Ví dụ: Có nhận định cho rằng “Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam” HS sưu tập những bài thơ của Nguyễn Khuyến về làng cảnh Việt Nam

Chùm ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến đã

chứng tỏ sinh động cho nhận xét này

Hai, những nhóm nhỏ, được thành lập tạm thời, dựa trên những cuốn sách

mà HS chọn

Ví dụ: HS chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm lựa chọn một cuốn sách của Nguyễn Khuyến cùng nhau đọc

Ba, các nhóm khác nhau đọc những cuốn sách khác nhau

Ví dụ: Mỗi nhóm đọc 1 cuốn sách khác nhau Nhóm 1 đọc Thu điếu, nhóm 2 đọc Thu ẩm, nhóm 3 đọc Thu vịnh

Trang 30

Bốn, các nhóm gặp theo lịch trình đều đặn, có thể dự đoán để thảo luận về

Sáu, các chủ đề thảo luận do HS đề xuất

Ví dụ: HS tự chọn chủ đề phù hợp với cuộc thảo luận Trong Thu vịnh: Tìm

những hình ảnh đặc trưng cho mùa thu ở thôn quê Việt Nam? Trong Thu điếu: Hai câu đầu cảnh thu hiện lên có những hình ảnh nào ở làng quê Việt Nam? Trong Thu

ẩm: Điểm nhìn của tác giả gần đến xa, trên xuống tranh thu thể hiện nét điển hình

gì cho mùa thu ở nông thôn Việt Nam?

Bảy, nhóm gặp là để có những cuộc trao đổi mở, tự nhiên về các cuốn sách,

vì vậy, chấp nhận các câu hỏi mở, quan hệ cá nhân, sự lạc đề

Ví dụ: Các thành viên trong nhóm gặp mặt nhau trong khoảng 15 phút để thảo luận về cuốn sách đang đọc

Tám, GV có vai trò cố vấn, không phải là thành viên của nhóm hay người

dạy

Ví dụ: Trong quá trình cuộc trò chuyện trong nhóm diễn ra, GV quan sát từng nhóm một cách kín đáo GV chỉ quan sát và không được điều khiển cuộc thảo luận

Chín, việc đánh giá được thực hiện qua sự quan sát của GV và tự đánh giá

của HS

Ví dụ: Trong quá trình cuộc trò chuyện trong nhóm diễn ra, GV quan sát từng nhóm một cách kín đáo GV ghi lại những VD và lời bình luận cụ thể mà có thể cần sử dụng trong quá trình trao đổi chung với các nhóm khác sau đó

Trang 31

Mười, tinh thần khôi hài vui vẻ tràn ngập phòng học

Ví dụ: HS khuyến khích nói chen một cách thoải mái, trò chuyện tự nhiên về cuốn sách đang đọc tạo không khí vui vẻ, sôi động trong phòng học

Mười một, khi các cuốn sách được đọc xong, người đọc chia sẻ với bạn cùng

lớp, và những nhóm mới được hình thành dựa trên những lựa chọn đọc mới

Ví dụ: Khi đã đọc xong HS chia sẻ với các bạn trong lớp và các bạn ở nhóm khác về cuốn sách đó Cùng nhau lập nhóm mới về những cuốn sách sẽ đọc

3 Khái niệm về văn nghị luận

Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các luận điểm, luận cứ và lập luận

Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống… Nhưng lại được trình bày bằng ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục

4 Văn nghị luận văn học

Nghị luận văn học được xuất hiện từ lâu đời, là những bài văn về các vấn đề văn chương – nghệ thuật như phân tích, bàn luận về một đoạn văn, đoạn thơ, một tác phẩm văn học, trao đổi về một vấn đề lí luận văn học hoặc làm sáng tỏ một nhận định văn học [10,9]

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là cách trình bày nhận xét đánh giá của mình về nội dung, nghệ thuật đoạn thơ, bài thơ ấy Thường yêu cầu phân tích, làm

rõ nhận định như: Nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiện qua ngôn từ, giọng điệu [2,168]

Trang 32

5 Đặc điểm của văn bản nghị luận

5.1 Các thao tác lập luận và sự kết hợp của chúng trong văn bản nghị luận văn học

Khái niệm Khác biệt

Chứng minh Dùng lí lẽ, dẫn chứng trong các tác

phẩm văn học làm sáng tỏ vấn đề

Chứng minh dừng dẫn chứng là chủ yếu

Giải thích dùng lí lẽ là chính Giải thích Dùng lí lẽ, giúp người đọc hiểu rõ

Phân tích Chia nhỏ vấn đề thành nhiều

phương tiện để tìm bản chất

Phân tích các yếu tố nội dung, nghệ thuật của câu thơ, hình ảnh thơ

Bình giảng chỉ lựa chọn cái hay, cái mình thích

Tổng hợp Từ những cái đã được phân tích,

khái quát lại

Bình giảng

Lựa chọn cái hay, cái đẹp về thể hiện tình cảm nhận riêng về tác phẩm

Bình luận Đưa ra ý kiến bản thân để khẳng

định vấn đề Các phép lập luận trên thường được triển khai theo hai hình thức:

- Diễn dịch: đi từ khái quát đến cụ thể (luận điểm ở đầu đoạn)

- Quy nạp: đi từ cụ thể đến khái quát (luận điểm ở cuối đoạn)

5.2 Luận điểm của bài văn nghị luận văn học

Mỗi bài văn nghị luận là một đề xuất ý kiến, là trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết trước một vấn đề của văn học hoặc cuộc sống Vẻ đẹp của văn nghị luận trên phương diện này chính là trí tuệ Chất trí tuệ của bài văn nghị luận thể hiện ở hệ thống luận điểm Cho nên luận điểm chính là linh hồn của bài văn nghị luận Luận điểm thể hiện rõ tư tưởng, quan điểm, chủ trương đánh giá của người viết đối với vấn đề cần thuyết phục và làm sáng tỏ Luận điểm của bài văn nghị luận

Trang 33

thường được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với những phán đoán

có tính chất khẳng định hoặc phủ định [70, 203]

Ví dụ: Luận điểm trong bài phân tích văn bản “Mùa xuân nho nhỏ”:

Luận điểm 1 : Mùa xuân của thiên nhiên - bức tranh thiên nhiên mùa xuân rộn ràng tươi đẹp, tràn đầy sức sống

Luận điểm 2 : Mùa xuân của đất nước - từ cảm xúc về mùa xuân thiên nhiên, đất trời, nhà thơ chuyển sang bày tỏ những suy nghĩ và tâm niệm về mùa xuân đất nước

Luận điểm 3 : Mùa xuân của lòng người - những tâm nguyện, khao khát được cống hiến cho cuộc đời, được hiến thân vào cuộc đời chung của tác giả

Luận điểm trong bài văn nghị luận phải nêu được ý hay Ý hay là ý đúng, ý sâu, ý mới, ý riêng, tập trung, nổi bật, có cơ sở đạo lý và khoa học vững chắc, đáp ứng đòi hỏi thực tế, có sức thuyết phục đối với người đọc, người nghe Khi đọc một bài văn nghị luận hay là phải nhận ra và đánh ra được luận điểm mới mẻ, độc đáo của người viết Thấy được điều đó cũng là thấy được vẻ đẹp của bài văn nghị luận

Một trong những thủ pháp tìm ra những luận điểm mới, ý tứ mới và sâu sắc

là người viết thường đặt ngược lại vấn đề, liên hệ, so sánh hoặc nhìn vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau để phát hiện ra những khía cạnh mà người đi trước chưa nhìn thấy

5.3 Lập luận cho bài văn nghị luận văn học

Nghị luận là bàn luận, là nói lý nói lẽ là thuyết phục người đọc bàng lập luận logic, chặt chẽ Cái đẹp cái hay của bài văn nghị luận cũng là ở chỗ đó Có luận điểm mới mẻ, độc đáo là hết sức quan trọng, nhưng để bài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luận điểm chưa đủ Ở đây cần đến vai trò của lập luận Phải biết lập luận, tức là phải biết trình bày triển khai luận điểm; biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề; biết dùng những lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với chính mình Luận điểm là nội dung còn lập luận là hình thức diễn đạt nội dung [70,210]

Trang 34

Lôgic lập luận của Nguyễn Trãi ở Đại Cáo Bình Ngô lại thể hiện ngay trong

bố cục bài cáo:

Phần đầu nêu lên lập trường chính nghĩa “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân –

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Phần II: lập luận để khẳng định: Nước Đại Việt là chính nghĩa

Phần III: tập trung chứng minh: quân Minh là bất nhân, cuồng bạo

Phần IV: dẫn đến lẽ tất yếu: vì nhân nghĩa phải chiến đấu chống giặc Minh Phần V: lập luận để thấy do trọng nhân nghĩa, nhờ nhân nghĩa mà ta đã toàn thắng giặc Minh

Muốn cho lập luận chặt chẽ, khi viết cần biết soi sáng vấn đề dưới nhiều góc cạnh bằng cách tự đặt ra các câu hỏi chất vấn, đối thoại để làm nổi bật sự thật, để phơi bày mặt trái, sự vô lý của một vấn đề nào đấy Ở đây thao tác lập luận bác bỏ thường được vận dụng một cách triệt để Lập luận có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn trong văn nghị luận Muốn cho lập luận chặt chẽ, mín cạnh, khi viết nên đặt mình vào địa vị người đọc, giả định là người đọc không cùng một ý với mình, đặt ra những lời phản bác có thể có từ độc giả để lập luận cho hết nhẽ Vì thế lập luận trong bài văn nghị luận thường chứa đựng một nội dung đối thoại ngầm về một vấn

đề nào đấy, thường có màu sắc đối thoại, tranh luận [70, 216]

6 Khái quát về cách ra đề, cách làm bài văn nghị luận văn học

6.1 Cách ra đề văn nghị luận văn học

6.1.1 Đề văn trong các kì thi khoa bảng, thời kì phong kiến Việt Nam

Văn nghị luận đã có từ xa xưa Trong thời phong kiến, các bài kinh nghĩa, văn sách được coi là văn nghị luận Đó là loại văn cử nghiệp chủ yếu dùng trong nhà trường, trong thi cử phong kiến Trong bài văn sách, người viết phải trình bày, kiến giải, biện luận, thuyết phục, làm sáng tỏ các câu hỏi đã đặt ra Ở các kì thi Đình, đề bài do vua trực tiếp đưa ra Chẳng hạn đề thi năm 1871, tại kì thi Nguyễn Khuyến đã đỗ đầu (Đình Nguyên)

“Trẫm thường đọc sách Luận ngữ đến chỗ Tử Cống hỏi về chính trị, Khổng

Tử nói rằng “đủ lương thực, đủ binh lính,dân tin theo vậy” Nhân nghĩ công việc

Trang 35

hiện nay, không gì quan trọng hơn điều đó, mà muốn thực hiện được điều đó thì sự lựa chọn người tốt lại quan trọng hơn cả Trẫm từng đêm ngày lo nghĩ mà vẫn chưa đạt được hiểu quả mong muốn Đông đảo kẻ sĩ các người lúc mới xuẩt thân ắt hẳn

có cơ sở học sinh kinh bang tế thế Vậy thì những loại việc thiết thực như vậy, suy

ra từ cổ cho đến kim, nghĩ thế nào, làm thế nào để có công hiệu, hãy nói hết với trẫm Các ngươi chớ lặp lại ý của người khác, chớ bàn phù phiếm, trẫm cũng bất tất phải nói nhiều để các người có thời giờ rộng rãi, nói được hết ý nghĩa, xứng với

ý muốn của trẫm.” [70, 220]

Cho tới phong trào Đông kinh Nghĩa thục đề văn đã dần dần được thay đổi Lối văn khoa cử bắt đầu bỏ hẳn, Tứ Thư, Ngũ Kinh vẫn được giảng trong nhà trường song không được coi trọng như trước nữa Hạn chế lớn nhất là từ nhỏ đến lớn, học trò phong kiến chỉ học “luân lí với văn chương”, trong đó, luân lí chỉ bó hẹp trong lễ phép, làm cho người ta không thể theo được: văn chương thì phù phiếm, vì “toàn bàn chuyện Nguyên , Minh, Đường, Tống, ngồi xó nhà mà tả toàn những cảnh Hoàng Hà, Thái Sơn, thực là ngồi cầu Đơ mà nói quán Mọc Văn như thế thì vẽ sao cho được cái chân cảnh của tạo hóa mà cảm động được lòng người

”.[29,162] Dần dần, đề văn nghị luận được cải cách, cách tân, đổi mới, bắt kịp xu hướng của thời đại là bàn luận về nhưng vấn đề thiết yếu của cuộc sống

6.1.2 Đề thi hiện hành theo chương trình giáo dục cải cách năm 2003 đến nay

Trong chương trình giáo dục hiện hành đề văn nghị luận thường quan niệm

có bố cục ba phần: phần dẫn dắt vấn đề, phần nêu vấn đề, phần nêu kiểu bài và giới hạn phạm vi bàn bạc Sau đây là một số đề văn hiện hành theo chương trình cải cách giáo dục

6.1.2.1 Đề kiểm tra các tác phẩm có trong SGK

Dạng đề thi sử dụng các tác phẩm có trong SGK là đề thi được sử dụng phổ biến hơn cả Bởi nó gần với truyền thống môn Ngữ Văn, rất quen thuộc đối với HS,

HS có thể tiếp cận và làm bài nhanh chóng

Đề bài: Viết một đoạn văn khoảng 12 câu theo cách lập luận diễn dịch làm rõ hình ảnh người lao động ở khổ thơ dưới đây, trong đó sử dụng phép lặp để liên kết

Trang 36

và câu có thành phần phụ chú (gạch dưới những từ ngữ dùng làm phép lặp và thành phần phụ chú):

“Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.”

(Trích Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)

6.1.2.2 Đề kiểm tra đọc hiểu văn bản không có trong SGK

Dưới đây là đề đọc hiểu văn bản trong đề kiểm tra của lớp 12 Tuy tác phẩm không có trong chương trình dạy học trong SGK nhưng vẫn xuất hiện trong các đề kiểm tra THPT

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“Thuở nhỏ tôi ra ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi hệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn.”

(Đò Lèn – Nguyễn Duy, Ngữ văn 12, Tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr 148)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ

Trang 37

Câu 2 Các từ "lảo đảo", "thập thững" có vai trò gì trong việc thể hiện những hình ảnh cô đồng và người bà

Câu 3 Sự vô tâm của người cháu và nỗi cơ cực của người bà thể hiện qua những hồi ức nào? Người cháu đã bày tỏ nỗi niềm gì qua những hồi ức đó?

Câu 4 Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?

6.1.2.3 Đề kiểm tra nghị luận văn học đa phương thức

Trong những năm gần đây với sự phát triển của công nghệ thông tin, đề văn

đã dần được thay đổi, không chỉ sử dụng ngôn từ thông thường đề thi đã xuất hiện thêm hình ảnh yêu cầu học sinh bàn luận về các vấn đề được nêu ra trong bức ảnh, clip ấy Các kì thi tuyển trường chuyên, kì thi học sinh Giỏi đã mạnh dạn thay đổi

cách ra đề như kì thi học sinh giỏi

Đề bài: Nhìn vào bức tranh trên em liên tưởng đến tác phẩm nào Hãy phân tích nhân vật lão Hạc và chỉ ra giá trị nhân đạo trong tác phẩm?

Ví dụ: Khi áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương GV có thể ra

đề bài: “ Tìm các đề đa phương thức về văn nghị luận văn học” GV chia lớp thành các nhóm Mỗi nhóm giới thiệu đề đa phương thức của nhóm mình

Đề văn sử dụng văn bản đa phương thức không bó buộc vấn đề hỏi trong những vấn đề trong thực tiễn, mang tính thời sự, tính ứng dụng cao trong văn nghị luận xã hội, GV vẫn có thể ra trong những tác phẩm văn học trong nhà trường Đây

là một đề rất mới và ít xuất hiện trong các đề kiểm tra THPT vì vậy, khi xuất hiện những dạng thi kiểm tra này HS có thể vận dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn

Trang 38

chương Trước những vấn đề đó, người viết được phép thể hiện chính kiến và những sáng tạo riêng, mang tính cá nhân

6.2 Cách làm bài văn nghị luận văn học

6.2.1 Nhận thức đúng vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu làm sáng tỏ

Mỗi đề văn, nhất là đề văn hay, người ra đề ngoài những yêu cầu bình thường, luôn luôn “cài đặt” trong đó một ẩn ý sâu xa mà chỉ có HS chịu khó tìm hiểu, suy nghĩ mới có thể phát hiện và đáp ứng được vấn đề trọng tâm cần bàn bạc

và làm sáng tỏ Kiến thức huy động trong bài cũng cần thật đa dạng phong phú, tiêu biểu và đích đáng Nếu đề đã nêu lên kiến thức bắt buộc thì những kiến thức mở rộng chỉ nên làm nổi bật những kiến thức mà đề yêu cầu Trong trường hợp đề không giới hạn cụ thể thì người viết cần có một tầm bao quát kiến thức văn học sử thật tốt để huy động được các dẫn liệu thật tiêu biểu, toàn diện và có giá trị thuyết

phục cao Thường là phải “quét” từ văn học dân gian- văn học trung đại- văn học

đầu thế kỉ - văn học hiện đại và văn học đương đại Văn học thế giới cũng cần phải

nắm được một số hình tượng tiêu biểu, lớn lao để liên hệ và so sánh [70, 230]

6.2.2 Hình thành được hệ thống ý làm sáng tỏ cho vấn đề trọng tâm

Ý trong bài văn nghị luận chính là hệ thống luận điểm, luận cứ với các cấp

độ khác nhau (luận điểm trung tâm, luận điểm bộ phận, luận cứ lớn, luận cứ nhỏ, )

Để tìm ý cho một bài văn, người viết thường phải tiến hành hai bước:

Bước 1: Dựa vào yêu cầu và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm và các

ý lớn mà bài viết cần làm sáng tỏ

Bước 2: Tìm các ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó

- Nó là gì? (giải thích qua những thuật ngữ, khái niệm khó trong đề)

- Nói như thế nghĩa là thế nào?

- Nói như thế có đúng không? Tại sao lại có thể nói như thế? Căn cứ vào đâu?

- Điều ấy thể hiện trong văn học và trong cuộc soongd như thế nào?

Trang 39

- Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? (đối với nhà văn, người đọc, lịch sử văn học, )

Cách cảm thụ và kết quả tiếp nhận của các nhân mỗi người có thể rất khác người, khác đời nhưng tất cả đều phải có lí, sức thuyết phục cao Sáng tạo nghệ thuật có những nguyên tắc thì tiếp nhận nghệ thuật cũng phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Vì thế trước một đề văn dù muốn hay không người ra đề cũng như người viết bài cũng phải nêu lên được cách hiểu và những ý cơ bản cần phải đạt được trong bài viết

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Qua chương 1, khóa luận đã giới thiệu các khái niệm văn nghị luận, đặc điểm văn nghị luận, cách ra đề trong văn nghị luận văn học Đồng thời củng cố những phương pháp, mô hình của dạy học ngữ văn giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học để thấy được tầm quan trọng của việc đổi mới dạy học ngữ văn chương trình phổ thông

Khóa luận sẽ triển khai mô hình vòng tròn thảo luận văn chương khi dạy văn nghị luận văn học ở chương 2 và thiết kế các tiết dạy văn nghị luận văn học có áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương ở chương 3

Ngày đăng: 13/10/2022, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê A (1990), Một số vấn đề về dạy và học Làm văn, Trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy và học Làm văn
Tác giả: Lê A
Năm: 1990
[2] Lê A (chủ biên) (2001), Làm văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS hệ CĐSP), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[3] Lê A – Nguyễn Trí (2001), Làm Văn (Giáo trình đào tạo giáo viên THCS), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm Văn
Tác giả: Lê A – Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
[4] Vũ Quốc Anh – Nguyễn Quang Cương - Hà Bình Trị (1990), Mẹo luật viết văn hay, Trường ĐHSP Qui Nhơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẹo luật viết văn hay
Tác giả: Vũ Quốc Anh – Nguyễn Quang Cương - Hà Bình Trị
Năm: 1990
[5] Diệp Quang Bang (2005), Văn bản (Giáo trình dùng cho Cao đẳng sư phạm), NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản
Tác giả: Diệp Quang Bang
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2005
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Sách giáo khoa Ngữ Văn 7 tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ Văn 7 tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
[7] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Sách giáo khoa Ngữ Văn 6,7,8,9, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ Văn 6,7,8,9
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
[8] Đỗ Hữu Châu – Nguyễn Xuân Nam – Nguyễn Quang Ninh – Cao Đức Tiến – Hà Bình Trị (1993), Tài liệu giáo khoa thực nghiệm phân ban làm văn, NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giáo khoa thực nghiệm phân ban làm văn
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Nguyễn Xuân Nam – Nguyễn Quang Ninh – Cao Đức Tiến – Hà Bình Trị
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
Năm: 1993
[9] Nguyễn Hữu Châu (2005), Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và hình thức dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và hình thức dạy học trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
[10] Nguyễn Văn Cường (2016), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2016
[12] Nguyễn Đức Dân (2000), Tiếng Việt (dùng cho ĐH đại dương) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 2000
[13] Nguyễn Văn Đường (Chủ biên) (2016), Thiết kế bài giảng Ngữ Văn Trung học cơ sở, Ngữ văn 8, tập 2, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ Văn Trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Văn Đường (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2016
[14] Phạm Văn Đồng, Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, NCGD, số 28, 11/1973 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện
[15] Nhiều tác giả (2003), Văn nghị luận đầu thế kỷ XX, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghị luận đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2003
[16] Dương Quảng Hàm (1959), Việt Nam văn học sử yếu, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1959
[17] Hà Thúc Hoan (2007), Làm văn nghị luận lý thuyết và thực hành, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn nghị luận lý thuyết và thực hành
Tác giả: Hà Thúc Hoan
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2007
[18] Nguyễn Thanh Hùng (1992), Một số vấn đề văn nghị luận ở cấp 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn nghị luận ở cấp 2
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
[19] Nguyễn Thanh Hùng (1996), Văn học tầm nhìn biến đổi, NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học tầm nhìn biến đổi
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 1996
[20] Nguyễn Thanh Hùng (2007), Phương pháp dạy học ngữ văn ở trung học cơ sở, NXB Đại Học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học ngữ văn ở trung học cơ sở
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: NXB Đại Học Sư Phạm
Năm: 2007
[21] Bùi Quang Huy, Trần Châu Thưởng (2009), Nghị luận xã hội, NXB ĐHQG Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị luận xã hội
Tác giả: Bùi Quang Huy, Trần Châu Thưởng
Nhà XB: NXB ĐHQG Tp. HCM
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ÁP DỤNG MƠ HÌNH VÒNG TRÒN THẢO LUẬN VĂN CHƯƠNG TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC - Khoá luận tốt nghiệp Sư phạm Ngữ Văn: Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học
ÁP DỤNG MƠ HÌNH VÒNG TRÒN THẢO LUẬN VĂN CHƯƠNG TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC (Trang 1)
Các phép lập luận trên thường được triển khai theo hai hình thức: - Diễn dịch: đi từ khái quát đến cụ thể (luận điểm ở đầu đoạn)  - Quy nạp: đi từ cụ thể đến khái quát (luận điểm ở cuối đoạn) - Khoá luận tốt nghiệp Sư phạm Ngữ Văn: Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học
c phép lập luận trên thường được triển khai theo hai hình thức: - Diễn dịch: đi từ khái quát đến cụ thể (luận điểm ở đầu đoạn) - Quy nạp: đi từ cụ thể đến khái quát (luận điểm ở cuối đoạn) (Trang 32)
Ví dụ: Khi áp dụng mơ hình vịng trịn thảo luận văn chương. GV có thể ra đề bài: “ Tìm các đề đa phương thức về văn nghị luận văn học” - Khoá luận tốt nghiệp Sư phạm Ngữ Văn: Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học
d ụ: Khi áp dụng mơ hình vịng trịn thảo luận văn chương. GV có thể ra đề bài: “ Tìm các đề đa phương thức về văn nghị luận văn học” (Trang 37)
*Áp dụng mơ hình vòng tròn thảo luận văn chương: - Khoá luận tốt nghiệp Sư phạm Ngữ Văn: Áp dụng mô hình vòng tròn thảo luận văn chương trong dạy học văn nghị luận văn học
p dụng mơ hình vòng tròn thảo luận văn chương: (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm