1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng và giải pháp về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện hoài đức tỉnh hà tây

86 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây
Tác giả Nguyễn Duy Dương
Người hướng dẫn GS.TSKH Lê Đình Thắng
Trường học Trung Tâm Đào Tạo Và Bồi Dưỡng Cán Bộ, Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai và phát triển nông nghiệp
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 133,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng phương pháp thống kê, thu thập phân tích số liệu từ cơ quan thực tập; khoanh định, quan sát và đánh giá trên bản đồ, kết hợp với việc đi thực tế một số địa phương trong huyện em đã

Trang 1

Lời nói đầu

Chúng ta biết rằng, đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò vô cùng to lớn Nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động.

Là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không thể thiếu đối với các ngành sản xuất xã hội và đời sống con người Điều này cũng được khẳng định một cách rõ ràng trong Luật Đất đai năm 1993 của nước ta như sau:

“Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội ,

an ninh quốc phòng…”.

Việt Nam chúng ta là một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp, gắn liền với nền văn minh lúa nước Người dân chúng ta vẫn sinh sống chủ yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp Và ngay cả hiện tại, khi đất nước đang trên đà phát triển, đang trong quá trình CNH-HĐH thì ngành sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP, với một lượng lớn lao động (khoảng 70% lực lượng lao động) hoạt động trong lĩnh vực này.

Là một huyện nông thôn của tỉnh Hà Tây, nằm trong lưu vực đồng bằng sông Hồng, có vị trí tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông; gần thị xã Sơn Tây, khu du lịch Ba Vì, khu công nghệ cao Láng – Hoà Lạc và nằm cạnh tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội -Hải Phòng – Quảng Ninh Vì vậy Hoài Đức có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội theo hướng tăng tỉ trọng các ngành phi nong nghiệp Vì lý do này mà trong những năm gần đây cơ cấu đất đai của Hoài Đức thay đổi rất nhanh chóng, đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp – thay vào đó là đất đai dành cho sản xuất phi nông nghiệp tăng nhanh Đây là một xu hướng biến

Trang 2

động phù hợp với quy luật của sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên các vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống của người dân và hạn chế những trường hợp vi phạm đất đai trên địa bàn huyện (nhất

là những vi phạm về việc tự ý chuyển nhượng, chuyển đổi, sử dụng đất sai mục đích…) thì việc quản lý đất nông nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, bền vững đang được đặt ra Và chúng ta cần phải tập trung ruộng đất, chuyển đổi

cơ cấu cây trồng phù hợp để tiến hành phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá, với những vùng chuyên canh, chuyên môn hoá…

Sau một thời gian thực tập tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây, em nhận thấy đây là một vấn đề cần được quan tâm.

Và để hiểu sâu hơn vấn đề, đồng thời từ đó đưa ra những giải pháp góp phần

tăng cường quản lý nên em đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp về quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.

Bằng phương pháp thống kê, thu thập phân tích số liệu từ cơ quan thực tập; khoanh định, quan sát và đánh giá trên bản đồ, kết hợp với việc đi thực

tế một số địa phương trong huyện em đã có những tư liệu nhất định và em xin được trình bày chuyên đề với các phần chính sau:

Phần I: Cơ sở khoa học về quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp

Phần II: Thực trạng quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp

ở Hoài Đức hiện nay.

Phần III: Các giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyên Hoài Đức.

Em xin chân thành cảm ơn GS.TSKH Lê Đình Thắng, các thầy cô giáo trong Trung Tâm cùng tập thể các đồng chí cán bộ, nhân viên phòng

Trang 3

Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây đã tận tình giúp đỡ

em trong quá trình thực tập để em có thể hoàn thành được chuyên đề của mình.

Do thời gian thực tập không nhiều, những kiến thức của bản thân còn hạn chế và phương pháp nghiên cứu, tiếp cận đề tài vẫn chủ yếu là từ lý thuyết nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy em mong nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và tập thể cơ quan phòng Tài nguyên và Môi trường để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn, đồng thời giúp em có thêm kiến thức, kinh nghiệm cho nghề nghiệp của mình sau này.

Hà Tây, tháng 5 năm 2005

Sinh viên: Nguyễn Duy Dương.

Trang 4

Phần I

cơ sở khoa học về quản lý Nhà nước

đối với đất nông nghiệp

1 Đất nông nghiệp

Căn cứ vào Luật Đất đai năm 1993 và luật sửa đổi bổ xung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 thì đất đai của nước ta được chia ra làm 5 loại cơ bản là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Và từ đó đất nông nghiệp được hiểu là đất sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hay để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Như vậy trong loại đất nông nghiệp này được chia ra chi tiết như sau:

2 Đất vườn tạp

3 Đất trồng cây lâu năm

3.1 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm.

3.2 Đất trồng cây ăn quả.

Trang 5

3.3 Đất trồng cây lâu năm khác.

3.4 Đất ươm cây giống.

4 Đất đồng cỏ chăn nuôi.

4.1 Đất cỏ trồng dùng vào chăn nuôi.

4.2.Đất cỏ tự nhiên dùng vào chăn nuôi.

5 Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản (MNNTTS)

Từ những sự mâu thuẫn và bất cập này mà Luật Đất đai năm 2003 đã ra đời để đáp ứng cho yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước về đất đai Và theo luật đất đai năm 2003 thì đất đai của nước ta được chia ra làm ba nhóm là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng, trong đó nhóm đất nông nghiệp bao gồm đất lâm nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản Ta nhận thấy cách phân chia này đã thay đổi rất nhiều so với luật cũ, nó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quản lý Nhà nước về đất đai.

Trang 6

Như vậy, so với cách chia cũ thì đất nông nghiệp sẽ bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản (theo luật đất đai năm 2003) và không có đất vườn tạp.

Theo đó (Luật Đất đai năm 2003 và Thông tư số 28/2004/TT- BTNMT) đất nông nghiệp (theo nghĩa hẹp- không bao gồm đất lâm nghiệp) được hiểu là:

“loại đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp”, bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản Nó được chia chi tiết như sau:

2 Đất trồng cây lâu năm

2.1 Đất trồng cây công nghiệp lâu năm.

2.2 Đất trồng cây ăn quả lâu năm.

2.3 Đất trồng cây lâu năm khác.

3 Đất nuôi trồng thuỷ sản

3.1 Đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn.

3.2 Đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt.

Trang 7

Như vậy cách chia các loại đất theo luật đất đai năm 1993 và 2003 cơ bản

là có sự khác nhau, nhưng với đất nông nghiệp (trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề) thì thành phần chính vẫn là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm và đất nuôi trồng thuỷ sản.

2 Đặc điểm và vai trò của đất nông nghiệp

2.1 Đặc điểm của đất nông nghiệp

Đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau:

Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Chúng ta đều biết đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó được coi là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá Quá trình hình thành của nó là một sự thay đổi trạng thái vật chất tự nhiên (từ đá) trải qua hàng triệu năm Và nó tồn tại như một trạng thái hiển nhiên, có trước lao động và không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Tuy nhiên, từ khi con người tồn tại trên trái đất này thì con người đã biết dựa vào thiên nhiên, sử dụng lao động cải tạo điều kiện nguyên thuỷ của đất đai để phục vụ cho cuộc sống Mà trước tiên đó là những hoạt động còn sơ khai như đốt rừng làm nương rẫy, cày bừa vun xới… rồi đến việc khoanh vùng bảo vệ đất đai , lập ra ranh giới vùng lãnh thổ hay các quốc gia như ngày nay Dần dần thì lao động của con người đã kết tinh vào đất đai, tạo cho đất đai ngày một phì nhiêu và có giá trị hơn Vì lẽ đó mà đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động.

Đất đai đồng thời là tư liệu lao động và đối tượng lao động

Trang 8

Trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai được coi là đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất, đầu ra sau một quá trình lao động là những sản phẩm nông nghiệp Như vậy con người đã sử dụng lao động của mình tác động vào đất đai

để khai thác giá trị sử dụng của đất (chính là khai thác độ phì nhiêu của đất).

Từ đó nước, không khí, các khoáng chất và các chất dinh dưỡng khác có trong đất sẽ nuôi sống cây trồng để tạo ra sản phẩm cung cấp cho con người.

Trong sản xuất nông nghiệp đất đai không phải là mục tiêu cuối cùng của lao động, mà mục tiêu đó chính là những sản phẩm nông nghiệp Có nghĩa con người tác động vào đất đai chỉ là hình thức gián tiếp tác động tới cây trồng, như vậy đất đai là tư liệu lao động Thế nhưng, để có được những sản phẩm nông nghiệp, con người phải tác động tới đất đai trước tiên thông qua những dụng cụ lao động của mình Như vậy đất đai là đối tượng lao động.

Chúng ta nhận thấy rằng, đất đai có một sự khác biệt rất lớn đối với các vật chất tự nhiên khác, bởi chỉ có đất đai mới có thể đồng thời đồng thời là tư liệu lao động và đối tượng lao động Như thế, đặc điểm này của đất đai đã cho

ta thấy đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế và không thể loại

ra khỏi quá trình sản xuất như những tư liệu sản xuất khác có thể.

Đất đai bị giới hạn về mặt không gian và có vị trí cố định

Tất cả chúng ta đều nhận thấy một điều hiển nhiên, đất đai có sự giới hạn

về không gian và có vị trí cố định Trong một phạm vi ranh giới nhất định thì tổng diện tích tự nhiên của một đơn vị hành chính là không đổi, và ngay cả diện tích tự nhiên của toàn cầu cũng không đổi Tuy nhiên, nếu xét trong cơ cấu các loại đất thì có thể thay đổi bởi điều này phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng loại đất

đó của con người Đối với đất nông nghiệp, theo quy luật của sự phát triển kinh

tế xã hội thì có xu hướng giảm dần và thay vào đó là đất phi nông nghiệp tăng lên do có sự thay đổi của cơ cấu lao động, cơ cấu ngành Mặc dù con người có

Trang 9

thể khai hoang đưa đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp để bù đắp vào phần diện tích đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng, nhưng phần diện tích ấy cũng chỉ có giới hạn mà thôi.

Đối với đất nông nghiệp, việc gặp phải giới hạn về không gian, vị trí cố định và phân bố đất đai có thể sản xuất nông nghiệp được không đều đã tạo ra một số rào cản cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp ở một số nơi Như thế yêu cầu đặt ra ở đây là phải sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, phù hợp với điều kiện từng địa phương Từ đó hình thành các vùng chuyên môn hoá, chuyên canh về sản xuất nông nghiệp và phát triển trao đổi hàng hoá.

Đất đai là tư liệu sản xuất không thể tự sản sinh, có chất lượng không đều, khả năng sản xuất là vô hạn

Như chúng ta đã khẳng định, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là sản phẩm của quá trình phong hoá đá Phải trải qua hàng triệu năm thì quá trình phong hoá đá mới cho ra đất Như thế có thể coi đất đai là không thể tự sản sinh

ra được Mặt khác, quá trình phong hoá sẽ tạo ra những loại đất khác nhau từ những loại đá khác nhau Như thế hàm lượng các chất dinh dưỡng (độ phì nhiêu) có trong đất sẽ khác nhau ở mỗi nơi Tuy nhiên việc có độ phì nhiêu khác nhau ở mỗi loại đất là khó xác định vì đối với mỗi cây trồng khác nhau thì

sự thích hợp và sản phẩm là khác nhau.

Trong quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, đất đai sẽ được phân bổ một cách phù hợp cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Như thế, tuỳ vào điều kiện của mỗi địa phương, đất đai sẽ được sử dụng khác nhau Những đất có điều kiện sản xuất nông nghiệp thì được ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp.

Đất đai là một sự hưu hạn, thế nhưng khả năng sản xuất và cho ra sản phẩm của đất đai là vô hạn Đất đai khác với những tư liệu sản xuất khác, nó

Trang 10

không hề bị hao mòn, không hề bị đào thải ra khỏi quá trình sản xuất Nếu con ngươi biết sử dụng hợp lý thì không những đất đai không bị xấu đi mà còn ngày càng tốt hơn sau mỗi quá trình sử dụng (trong những giới hạn của khả năng sản xuất).

Tóm lại, với các đặc điểm trên, để đảm bảo cho mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp trong khi đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp đi do yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế thì đặt ra các vấn đề là phải có các biện pháp, các chính sách đất đai để đất đai được sử dụng ngày một hiệu quả, hợp lý và bền vững hơn.

2.2 Vai trò của đất nông nghiệp

Đất đai nói chung có vai trò vô cùng to lớn và quan trọng Trước hết ta nhận thấy nó là tiền đề đầu tiên của mọi hoạt động sống và của mọi quá trình sản xuất Cũng như chúng ta đã từng khẳng định đất đai nó tham gia vào hầu hết các ngành sản xuất xã hội Tuy nhiên với mỗi ngành khác nhau thì vai trò của đất đai là khác nhau Đối với ngành sản xuất phi nông nghiệp thì trước hết

ta nhận thấy nó chính là cơ sở, nền móng và điểm tựa để có thể xây dựng được nhà xưởng, cầu cống giúp đi lại thuận tiện hay để xây dựng nhà cửa làm các văn phòng hoạt động kinh doanh, làm nơi ở của con người… Thậm chí, chính đất đai là đối tượng của một số hoạt động sản xuất như khai thác, chế biến vật liệu xây dựng…

Đối với nông nghiệp, đất đai trước tiên cũng là điểm tựa để con người có thể tiến hành được hoạt động sản xuất của mình và cây trồng có thể sinh trưởng phát triển được Quan trọng hơn, với những thuộc tính và bản chất tự nhiên như tính chất hoá học, lý học… mà đất đai đã cung cấp cho cây trồng chất dinh dưỡng, giúp cây trồng tồn tại, sinh trưởng, phát triển, cung cấp sản phẩm cho con người Như vậy, trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai (đất nông nghiệp)

Trang 11

có vai trò to lớn, nó vừa là điểm tựa vừa là cơ sở cung cấp chất dinh dưỡng để cây trồng có thể sinh trưởng, phát triển được Đó là nhờ độ phì nhiêu của đất đai - đây là một yếu tố quyết định đến năng xuất và chất lượng cây trồng.

Những vai trò đó của đất đai (đất nông nghiệp) chính là bản chất vốn có của nó Nhưng đất đai còn có những vai trò, giá trị to lớn khác mà không phải thuộc về tự nhiên, bản chất của nó mà do trong chính quá trình khai thác, sử dụng con người đã tạo ra nó Việc này xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, khi

xã hội ngày một đông người hơn, đất đai trở nên khan hiếm, vô tình nó đã có giá trị hơn Điều này khi được phản ánh qua các quan hệ hàng hoá- tiền tệ thì

nó là một nguồn vốn to lớn của đất nước (như Nghị quyết TW7 lần 2 tháng 01 năm 2003 đã khẳng định) Và hàng năm nguồn vốn này đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước là không nhỏ, nó hình thành từ (theo Điều 54 Luật Đất đai năm 2003):

-Tiền sử dụng đất.

-Tiền thuê đất.

-Thuế sử dụng đất.

-Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất.

-Tiền thu từ việc sử phạt vi phạm pháp luật đất đai.

-Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và

sử dụng đất đai.

-Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai Không những thế, khi có sự hình thành và phát triển của TTBĐS thì chính trong bản thân đất đai đã tiềm ẩn một giá trị vô cùng to lớn bởi khi đó đất đai

Trang 12

đã được coi là là một loại tài sản đặc biệt Người sử dụng nó có thể được chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng, cho hay góp vốn liên doanh và thế chấp trong những điều kiện nhất định Từ đây nó có thể giúp chủ sử dụng giải quyết những vấn đề vốn khi cần thiết.

Với nguồn vốn này thì Nhà nước hay các cá nhân, tổ chức có thể đầu tư vào nhiều việc như phát triển cơ sơ hạ tầng, tạo kinh phí khai hoang phục hoá cải tạo đất đai, đầu tư thâm canh sản xuất ….

Tóm lại, vai trò của đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng là vô cùng to lớn Nó không những đóng góp vai trò là điểm tựa trong các ngành sản xuất, là cơ sở cung cấp dinh dưỡng nuôi cây trồng trong sản xuất nông nghiệp

mà còn là một trong những thành phần đảm bảo nguồn thu ngân sách Nhà nước, tạo nguồn vốn giúp các cá nhân, tổ chức đầu tư sản xuất.

Trang 13

3 Khái niệm về quản lý và nội dung quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp

3.1 Khái niệm về quản lý và sự cần thiết phải quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức

Chúng ta biết rằng, hoạt động quản lý là một hoạt động rất quan trọng.

Nó cần thiết và không thể thiếu đối với mọi ngành và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Mỗi đất nước, mỗi công ty, doanh nghiệp thậm chí là trong một gia đình thì việc quản lý cũng là quan trọng Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực thì yêu cầu và đặc thù quản lý là khác nhau, nhưng tất cả chúng đều vận động và tồn tại theo một quy luật nhất định Vì thế, quản lý chính là sự nắm bắt và điều chỉnh các hoạt động theo những quy luật ấy.

Trong xã hội, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động và việc quản lý đương nhiên cũng phải hướng vào những mục tiêu, mục đích của con người Như vậy, quản lý ta có thể khái quát là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu đã định sẵn Đối với đất đai thì chủ thể quản lý chính là Nhà nước mà đại diện là các cấp chính quyền, sở ban ngành ở các địa phương Và đối tượng của quản lý chính là các hoạt động khai thác và sử dụng đất đai.

Từ những điều này thì quản lý Nhà nước về đất đai là quá trình tác động bằng các cơ chế chính sách của các cấp chính quyền, các sở ban ngành ở địa phương vào các hoạt động khai thác sử dụng đất đai nhằm khai thác và sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững.

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai được phân cấp, phân quyền và phân công nhiệm vụ cụ thể ở mỗi cấp Điều này được quy định cụ thể trong nghị

Trang 14

định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ về việc quy định nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ máy quản lý Nhà nước vế đất đai được cụ thể thành sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về TN&MT

Trang 15

UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

Cán bộ địa chính, môi tr ờng cấp xã

Như vậy, Bộ Tài nguyờn và Mụi Trường là cơ quan quản lý đất đai, mụi trường và cỏc tài nguyờn khỏc trong phạm vi cả nước Bộ Tài nguyờn và Mụi Trường cú trỏch nhiệm trước Chớnh phủ về những vấn đề trong phạm

vi quản lý của mỡnh Đồng thời chỉ đạo cấp dưới quản lý chặt chẽ tài nguyờn

và mụi trường của địa phương Đối với sở và phũng Tài nguyờn và Mụi Trường là cơ quan chuyờn mụn, giỳp UBND cựng cấp quản lý và chịu trỏch nhiệm trước UBND cựng cấp và cấp trờn trực tiếp về lĩnh vực của mỡnh ở địa phương.

Như đó giới thiệu qua thỡ chỳng ta biết rằng Hoài Đức là một huyện nụng nghiệp của tỉnh Hà Tõy, người dõn sống chủ yếu bằng nghề nụng Mặt khỏc, Hoài Đức cú vị trớ nằm rong khu vực cú nhiều điều kiện thuận lợi cho phỏt triển kinh tế xó hội theo hướng dịch vụ – cụng nghiệp – nụng nghiệp Và những năm gần đõy cơ cấu kinh tế đó thay đổi theo hướng đú Quỏ trỡnh CNH – HĐH nụng nghiệp nụng thụn đang diễn ra khỏ nhanh ở Hoài Đức Với nhũng điều này, Đảng uỷ- UBND huyện Hoài Đức đó nhận thấy sức ộp

về lao động, việc làm và thu nhập của người dõn là rất lớn Đất nụng nghiệp đang bị thu hẹp để phục vụ cho yờu cầu phỏt triển kinh tế xó hội của huyện, tỉnh … Cựng với nú là tỷ lệ lao động nụng nghiệp cũng đang giảm nhanh chúng Tuy nhiờn trong số lao động rời khỏi nụng nghiệp lại cú một bộ phận thất nghiệp do khụng cũn đủ đất hoặc khụng cú đất để sản xuất nụng nghiệp Vấn đề an ninh lương thực, vấn đề ổn định đời sống nhõn dõn đó đặt ra nhiệm vụ nặng nề đối với cỏc cơ quan chức năng Nguyờn nhõn sõu xa của những vấn đề này là đất nụng nghiệp đang giảm nhanh chúng Vỡ vậy ta phải tiến hành quản lý đất nụng nghiệp Mặt khỏc, do cú những lợi ớch trước mắt về mặt kinh tế nờn cú nhiều hộ gia đỡnh đó bất chấp luật phỏp mà tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng trỏi phộp, sử dụng sai mục đớch, lấn chiếm… Vỡ lẽ này mà yờu cầu quản lý đối với đất nụng nghiệp trờn địa bàn huyện Hoài Đức lại càng phải đặt ra.

Trang 16

UBND huyện Chủ tịch UBND huyện

Phòng Tài nguyên

và Môi tr ờng

Tr ởng phòng

UBND các xã, thị trấn Chủ tịch UBND xã, thị

trấn

Các phòng ban khác

Phó

Phòng Cán bộ, nhân

viên khác

Cán bộ địa chính, môi

tr ờng các xã, thị trấn Cán bộ quản lý khác (thuộc cấp xã)

Để dỏp ứng yờu cầu quản lý này, UBND huyện Hoài Đức đó tổ chức và phõn cấp bộ mỏy quản lý đất đai trờn địa bàn huyện (từ huyện tới xó, thị trấn) như sau:

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ mỏy quản lý TN&MT

ở Hoài Đức (từ huyện tới xó, thị trấn)

Trong đú: biểu hiện mối quan hệ phõn cấp

biểu hiện mối quan hệ cựng cấp Như vậy, phũng Tài nguyờn và Mụi trường huyện Hoài Đức là cơ quan chuyờn mụn quản lý về đất đai và mụi trường trờn địa bàn huyện, tham mưu giỳp UBND huyện quản lý, cú trỏch nhiệm bỏo cỏo và thụng qua UBND huyện,

sở Tài nguyờn và Mụi trường tỉnh Hà Tõy mọi vấn đề liờn quan tới lĩnh vực mỡnh phụ trỏch.

Cũn cỏc cỏn bộ địa chớnh xó, thị trấn giỳp UBND cấp xó quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai, mụi trường trờn địa bàn hành chớnh địa phương mỡnh.

Và nhiệm vụ của cỏc cỏn bộ địa chớnh, mụi trường là lập, tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất địa phương mỡnh; thống kờ, kiểm kờ đất đai; giỏm sỏt biến động đất đai … Cú trỏch nhiệm bỏo cỏo, thụng qua UBND cấp xó, phũng Tài nguyờn và Mụi trường huyện.

3.2 Nội dung quản lý Nhà nước đối với đất nụng nghiệp

Theo Luật Đất đai năm 2003, cú 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai được quy định cụ thể tại điều 6 Tuy nhiờn những nội dung quản lý Nhà nước

Trang 17

về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng tại cấp huyện (cụ thể tại huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây) thì cơ bản như sau:

- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính.

- Lập, triển khai và giám sát việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích

sử dụng dất.

- Đăng ký quyền sử dụng đất , lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp-đơn thư khiếu nại , tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

a.Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính

Chúng ta biết rằng, trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai thì nội dung khảo sát, đo đạc và lập bản đồ địa chính là nội dung cơ bản, đầu tiên

để thiết lập một hệ thống thông tin về đất đai Nói như vậy thì công tác đo đạc, khảo sát và lập bản đồ địa chính là hết sức quan trọng.Trước hết nó cho biết được diện tích, hình thể và thực trạng quỹ đất cũng như về địa hình và sự phân

bố của đất đai Sau khi có những thông tin cơ bản về thửa đất thì những thông tin này được chuyển thể sang bản đồ và bản đồ địa chính là cơ sở, căn cứ đầu tiên để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai.

Đối với đất nông nghiệp thì cùng với việc khảo sát đo đạc là công việc đánh giá, phân hạng đất Công việc này trước hết là để biết được chất lượng của đất ra sao Đồng thời để chia ra các hạng đất khác nhau, làm căn cứ tính thuế sử dụng đất đối với các cá nhân, tổ chức có sử dụng đất canh tác Tuy nhiên trong lĩnh vực này, hiện Nhà nước đang có nhiều những khuyến khích hỗ trợ nông dân nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, có hướng chuyển đổi cơ cấu cây

Trang 18

trồng vật nuôi hợp lý để đẩy nhanh quá trinh CNH nông thôn, đồng thời thúc đẩy việc khai hoang phục hoá đất và nâng cao hệ số sử dụng đất trong nông nghiệp Vì vậy mà thuế sử dụng đất nông nghiệp đang ngày càng được giảm dần và tiến tới xoá bỏ đối với người nông dân.

Như vậy đây là nội dung quan trọng, là cơ sở đầu tiên để Nhà nước tiến hành quản lý chặt chẽ về đất đai.

b Lập, triển khai và giám sát việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất

“Quy hoạch sử dụng đất là việc khoanh định hay điều chỉnh khoanh định đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong cả nước, là việc tính toán phân bổ việc sử dụng đất cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian Mục tiêu của việc quy hoạch sử dụng đất là xây dựng cơ sở khoa học làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch

sử dụng đất, nhằm lựa chon phương án sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng”

(Những sửa đỏi bổ sung cỏ bản của luật đất đai năm 2003- NXB Tư pháp 12/2003).

Còn kế hoạch sử dụng đất là sự cụ thể hoá của quy hoạch sử dụng đất.

Nó đưa ra những mục tiêu, biện pháp cụ thể cho tới từng năm để nhằm thực hiện được phương hướng mà quy hoạch sử dụng đất đã đưa ra.

Đối với cấp huyện, việc xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh Trước hết UBND cấp huyện phải gửi hồ

sơ lên sở Tài nguyên và Môi trường, hồ sơ gồm:

- Tờ trình của UBND cấp huyện trình UBND cấp tỉnh xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất.

- Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch kế hoạch sử dụng đất.

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất.

- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đối với trường hợp xét duyệt quy hoạch sử dụng đất.

Trang 19

Sau đó sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm lấy ý kiến của các

cơ quan có liên quan và tổng hợp gửi ý kiến thẩm định tới UBND cấp huyện để hoàn chỉnh hồ sơ Tiếp đó UBND huyện hoàn chỉnh hồ sơ và kèm theo nghị quyết của HĐND đến sở Tài nguyên và Môi trường để trình UBND cấp tỉnh xét duyệt.

Đối với cấp xã (không thuộc khu vực quy hoach phát triển đô thị) thì việc xét duyệt quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chi tiết là thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của UBND cấp huyện.

Hồ sơ gồm có:

- Tờ trình của UBND xã trình UBND huyện xét duyệt quy hoạch

sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết.

- Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết.

Đối với xã (thuộc khu vưc quy hoạch phát triển đô thị) thì việc xét duyệt được thực hiện bởi cấp tỉnh.

Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là nhũng công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện thống nhất quản lý về đất đai Mà đại diện của Nhà nước ở các địa phương là những cơ quan chuyên môn về địa chính ở các cấp có nhiệm vụ

tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn mình quản lý Vì vậy mà Nhà nước vẫn có thể thực hiện được quyền

Trang 20

định đoạt của mình đối đất đai và nắm được sự chu chuyển của đất đai thông qua kết quả của quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Đồng thời đảm bảo được việc

sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, bền vững, phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã đề ra; ngăn chặn xử lý kịp thời những trường hợp lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, tự ý chuyển đổi, mua bán trái phép Căn cứ vào quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Nhà nước có cơ sở để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng cũng như phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội.

Sở dĩ quy hoạch kế hoạch sử dụng đất có một vai trò quan trọng như vậy

là vì các phương án quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chỉ được đưa ra sau khi có

sự lựa chọn, đánh giá phân tích kỹ lưỡng các điều kiện tự nhiên của từng vùng cũng như điều kiện kinh tế xã hội hay về nhu cầu sử dụng đất của mỗi nơi Từ

đó sẽ có một phương án quy hoạch, kế hoạch tối ưu nhất được đưa ra để thực hiện.

Theo Luật Đất đai 2003 thì quy hoạch kế hoạch sử dụng đất được lập trên cơ sở những căn cứ sau (điều 22):

*Đối với quy hoạch sử dụng đất thì căn cứ vào:

- Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước.

- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả nước.

- Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội và nhu cầu của thị trường.

- Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất.

- Định mức sử dụng đất.

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật có liên quan đến sử dụng đất.

- Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước.

*Đối với kế hoạch sử dụng đất thì căn cứ vào:

Trang 21

- Quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyết định xét duyệt.

- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm của Nhà nước.

- Nhu cầu sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.

- Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước.

- Khả năng đầu tư thực hiện các dự án công trình có sử dụng đất.

Và với những nội dung sau:

*Về nội dung của quy hoạch sử dụng đất:

- Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng sử dụng đất.

- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy hoạch.

- Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh.

- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình dự án.

- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường.

- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.

*Về nội dung của kế hoạch sử dụng đất:

- Phân tích đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước.

- Kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân bổ cho nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển công nghiệp, dịch vụ; phát triển đô thị, khu dân cư nông thôn; an ninh quốc phòng.

Trang 22

- Kế hoạch chuyển diện tích đất trồng lúa nước và đất có rừng sang

sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp.

- Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào các mục đích.

- Cụ thể hoá kế hoạch sử dụng đất 5 năm đến từng năm.

- Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất.

Như vậy ta nhận thấy, vai trò của công cụ quản lý “quy hoạch kế hoạch

sử dụng đất” là vô cùng quan trọng Vì vậy đi liền với việc lập ra được một bản quy hoạch tối ưu là việc phải tổ chức thực hiện, giám sát thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc, tránh quy hoạch “treo” hay việc thực biện hình thức rồi báo cáo sai.

Việc tổ chức triển khai, giám sát thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất cũng được quy định rất cụ thể trong Luật Đất đai 2003, Nghị định số181 và thông tư số 30 Theo đó:

- Việc niêm yết, công khai các tài liệu về quy hoạch kế hoạch sử dụng đất phải được thực hiện tại các cơ quan chuyên môn địa chính ở các cấp, trụ sở UBND xã, thị trấn.

- Cơ quan chuyên môn địa chính các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, triển khai thực hiện, trực tiếp cung cấp thông tin liên quan đến quy hoạch kế hoạch sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân; tổ chức tuyên truyền phổ biến thông qua những phương tiện thông tin đại chúng và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra thực hiện.

- Khi có nhu cầu về điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất ở địa phương thì báo cáo cho UBND cùng cấp về nhu cầu đó để được xem xét bổ sung.

Trang 23

- UBND cấp xã có trách nhiệm theo dõi thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chi tiết tại địa phương Khi phát hiện những trường hợp sai phạm thì xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo đề nghị cơ quan cấp trên xử lý Và chủ tịch UBND cấp xã phải chịu trách nhiệm chính trong việc không ngăn chặn, không xử lý kịp thời để xảy ra trường hợp sử dụng đất không đúng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt tại địa phương.

- Đối với cấp huyện và xã thì phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ địa chính xã, thị trấn tổ chức kiểm tra thực hiện quy hoạch

kế hoạch sử dụng đất tại địa phương; phát hiện, xử lý theo thẩm quyền những trường hợp vi phạm hoặc báo cáo đề nghị xử lý.

- Các quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải theo đúng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.

- Hàng năm UBND các cấp có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất của địa phương đến ngày 31/12 Trong đó: UBND cấp xã báo cáo lên UBND cấp huyện trước ngày 15/01 năm sau, UBND cấp huyện báo cáo lên cấp tỉnh trước ngày 31/01 năm sau.

c Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất.

Đất đai của chúng ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao đất cho các tổ chức cá nhân sử dụng dưới các hình thức như giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền hàng năm hay cho thuê đất trả tiền thuê đất cho cả thời kỳ.Vì Nhà nước thống nhất quản lý , cũng đồng thời đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, bền vững thì các cơ quan chuyên môn đại diên cho Nhà nước ở địa phương có trách nhiệm quản lý

Trang 24

các hoạt động trong lĩnh vực này Đồng thời việc quản lý tốt lĩnh vực này còn đảm bảo được nguồn thu cho Nhà nước từ việc thu tiền sử dụng đất Hiện nay thủ tục của việc giao đất, cho thuê đất đang được đơn giản hoá thông qua việc Nhà nước cho phép đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu các công trình có sử dụng đất.

Để có thể tập trung được ruộng đất, đáp ứng cho yêu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì đất sản nghiệp đang được giao, cho thuê một cách ổn định lâu dài Cụ thể, tại Luật Đất đai năm 2003 thì cá nhân hộ gia đình

ở đồng bằng được giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối không quá 3 ha, đối với mỗi loại đất có thời hạn là 20 năm; đất trồng cây lâu năm được giao không quá 10 ha với thời hạn là 50 năm; trường hợp được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì tổng diện tích được giao không quá 5 ha Nếu được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức được giao thêm không quá 5 ha; Đối với thuê đất thì thời hạn cho thuê lần lượt là không quá 20 năm và 50 năm tương ứng với mỗi loại trên Khi hết thời hạn giao, thuê đất, nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét giao, cho thuê tiếp.

Trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm, có quy định phải ghi cụ thể diện tích phải thu hồi trong kỳ kế hoạch để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh

tế xã hội Đối với một vùng nông thôn khi thu hồi đất luôn xảy ra những vấn đề cần giải quyết như người dân sẽ không có đất hay thiếu đất để sản xuất nông nghiệp từ đó dẫn đến nạn thất nghiệp, thu nhập của người dân không ổn định, phát sinh những tiêu cực trong xã hội Do vậy khi thu hồi đất sản xuất của người dân thì yêu cầu phải có những chính sách nhất định để ổn định đời sống người dân như việc đền bù, bồi thường, đào tạo chuyển đổi ngành nghề cho người dân Vì vậy quản lý được điều này mới sử dụng đất hiệu quả và đảm bảo

ổn định đời sống của người dân Tuy nhiên đó là những trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phục vụ vào mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi

Trang 25

ích công cộng, phát triển kinh tế Còn những trường hợp khác như vi phạm pháp luật về đất đai (sử dụng sai mục đích, không hiệu quả, lấn chiếm, huỷ hoại đất….), không có người thừa kế, tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước, … thì có những quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2003 Trong mọi trường hợp thu hồi Nhà nước đều phải có quyết định thu hồi, đồng thời cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người sử dụng đất biết lý do phải thu hồi và kế hoạch

di chuyển Tuỳ trong điều kiện nhất định mà Nhà nước có phương án bồi thường, đền bù về đất đai, tài sản cụ thể Người bị thu hồi phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định thu hồi.

Cùng với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất là việc chuyển mục đích

sử dụng đất Do yêu cầu của việc phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu ngành nghề

ở nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, nó cần có những cơ sở vật chất để đáp ứng điều này cho nên đất đai sẽ được chuyển mục đích cho phù hợp Đất đai (đất nông nghiệp) đang dần thu hẹp đi để chuyển mục đích sử dụng sang các ngành phi nông nghiệp Thế nhưng vai trò và những yêu cầu mà cần từ ngành sản xuất nông nghiệp là vô cùng to lớn Do vậy việc quản lý là một sự cần thiết

để tránh tình trạng thiếu đất sản xuất, không đảm bảo được thu nhập cho nông dân.

d Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất

Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều là những công cụ để quản lý chặt chẽ hơn

về đất đai thông qua việc xây dựng và thiết lập một hệ thống thông tin đầy đủ

về đất đai Đồng thời bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất.

Trước hết đăng ký quyền sử dụng đất là cơ sở để hình thành nên hồ sơ địa chính Từ đây những thông tin về đất đai được hình thành và là căn cứ để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất đai trong phạm vi lãnh thổ đảm bảo

Trang 26

quỹ đất đai được sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý Đồng thời đây là căn

cứ để đảm bảo chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

Đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu được thực hiện khi Nhà nước giao, cho thuê đất để sử dụng và người sử dụng đất mà thửa đất đó chưa được cấp GCN quyền sử dụng đất, còn đăng ký biến động được thực hiện khi (theo Nghị định số 181):

- Người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

- Người sử dụng đất được phép đổi tên.

- Có thay đổi về diện tích, hình dạng, kích thước thửa đất.

- Chuyển mục đích sử dụng đất.

- Có thay đổi thời hạn sử dụng đất.

- Chuyển đổi từ hình thức Nhà nước cho thuê sang hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất.

- Có thay đổi về những hạn chế quyền của người sử dụng đất.

- Nhà nước thu hồi đất.

Để đảm bảo cho những thông tin được thiết lập một cách chính xác, đầy

đủ thì việc đăng ký quyền sử dụng đất phải được thực hiện theo phạm vi hành chính từng xã, phường, thị trấn Cho nên hồ sơ địa chính cũng được hình thành một cách chi tiết đến từng thửa đất theo đơn vị xã, phường, thị trấn Hồ sơ địa chính phải được chỉnh lý thường xuyên một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời theo những biến động trong quá trình sử dụng theo quy định của pháp luật.

Với những thông tin từ hồ sơ địa chính này sẽ được sử dụng làm căn cứ

Trang 27

còn chứa đựng một giá trị tài sản to lớn khi người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp… Đồng thời GCN quyền sử dụng đất sẽ hạn chế được những trường hợp vi phạm pháp luật đất đai, tranh chấp đất đai … góp phần ổn định về đất đai.

Vì GCN xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho nên người dân sẽ có tâm lý yên tâm đầu tư sản xuất trên mảnh đất của mình (nhất là với đất nông nghiệp), không còn lo ngại sẽ bị thu hồi khi đang còn trong thời kỳ thu hoạch Với xu hướng hiện nay khi quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi diễn

ra mạnh mẽ (những đất sản xuất không hiệu quả đang được chuyển sang nuôi trông thuỷ sản hay tổ chức một hình thức sản xuất kết hợp nào đó) thì việc đẩy nhanh tốc độ cấp GCN quyền sử dụng đất cũng là sự cần thiết và là biện pháp thúc đẩy đầu tư thâm canh, tập trung ruộng đất, thay đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

e Thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Thống kê, kiểm kê đất đai là nội dung quản lý quan trọng, là công cụ để Nhà nước nắm rõ quỹ đất và sự biến động, chu chuyển đất đai Từ đó đánh giá hiện trạng sử dụng đất và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Đồng thời xây dựng tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác định nhu cầu sử dụng đất cho mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội; có căn cứ xây dựng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất góp phần thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế

xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương và cả nước.

Nội dung quản lý này được quy định rất cụ thể tại Luật Đất đai 2003 (điều 53), Nghị định số 181 (điều 58) và thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất Theo đó, công tác này được thực hiện từ cấp cơ sở là xã, phường, thị trấn với những nội dung cơ bản như sau:

Trang 28

- Thu thập số liệu về diện tích đất đai theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng; số liệu về đối tượng sử dụng; số liệu về việc chuyển mục đích sử dụng trên địa bàn từng đơn vị hành chính.

- Xử lý các số liệu thu thập được để có các số liệu tổng hợp, từ đó rút ra kết luận về cơ cấu sử dụng đất đai theo mục đích sử dụng

và đối tượng sử dụng tại thời điểm thống kê, kiểm kê; biến động diện tích của mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng trong một giai đoạn và xác định giữa các kỳ thống kê, kiểm kê Trong đó thống kê được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu từ hồ sơ địa chinh, kiểm kê được thực hiện trên cơ sở thu thập số liệu từ thực địa, có đối chiếu với số liệu từ hồ sơ địa chính Còn việc lập bản

đồ hiện trạng sử dụng đất được dựa trên số liệu kiểm kê đất đai

và theo hiện trạng mục đích đang sử dụng với những tỷ lệ phù hợp với từng đơn vị hành chính.

Kết quả của thống kê, kiểm kê với cấp huyện gồm có:

- Số liệu thống kê, kiểm kê đất đai của các xã, thị trấn trực thuộc (dạng số), biểu số liệu thống kê, kiểm kê đất đai của huyện (theo mẫu giấy và dạng số), báo cáo kết quả thống kê, kiểm kê đất đai của huyện (in trên giấy và dạng số).

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất cùng báo cáo thuyết minh bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện (in trên giấy và dạng số) với kiểm kê đất đai.

Việc này do UBND các cấp thực hiện (có sự trợ giúp của các cán bộ và

cơ quan chuyên môn về địa chính ở các cấp) đối với địa phương mình, còn Chính phủ thực hiện trong phạm vi cả nước, với kỳ kiểm kê là 5 năm còn thống

kê được thực hiện hàng năm.

g Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp- đơn thư khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Trang 29

Đất đai luôn phản ánh một mối quan hệ xã hội phức tạp vì nó liên quan đến lợi ích của con người Vì thế mà các trường hợp tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai ngày càng xảy ra nhiều hơn và phức tạp hơn Tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai luôn là một thực tế không thể tránh khỏi trong đời sống xã hội

ở mọi thời điểm lịch sử Vì chúng tồn tại như một ngẫu nhiên nên việc thanh tra, kiểm tra và giải quyết vấn đề này là vô cùng cần thiết Nhất là với tình hình hiện nay (không chỉ ở một địa phương nào mà đây là tình trạng chung của cả nước) khi tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai diễn ra thường xuyên, gay gắt, kéo dài và những trường hợp, vụ việc có đông người tham gia đang ngày càng gia tăng Dẫn đến kiện tụng, khiếu nại tố cáo vượt cấp không đúng thẩm quyền gây mất đoàn kết trong nhân dân và phức tạp trong quản lý Nhà nước Thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện kịp thời những trường hợp vi phạm để đưa ra những biện pháp giải quyết tránh dây dưa phức tạp.Tạo sự ổn định về chính trị, đời sống nhân dân, giúp người dân tập chung vào làm ăn phát triển kinh tế góp phần vào xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp hơn.

Phần II Thực trạng quản lý Nhà nước đối với đất nông nghiệp ở Hoài Đức hiện nay

Trang 30

1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hoài Đức ảnh hưởng tới công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện

Hoài Đức là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh Hà Tây, tiếp giáp với thủ đô

Hà Nội (huyện Từ Liêm) ở phía đông, với thị xã Hà Đông ở phía nam, với huyện Đan Phượng ở phía bắc, huyện Quốc Oai và huyện Chương Mỹ ở phía tây; gần thị xã Sơn Tây, khu du lịch Ba Vì, khu công nghệ cao Láng – Hoà Lạc

và nằm cạnh tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội -Hải Phòng – Quảng Ninh; đồng thời, huyện có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi và phát triển như quốc lộ 32, cao tốc Láng- Hoà Lạc, tỉnh lộ 72, 79 chạy qua Vì thế đây là những điều kiện trước tiên ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất và kinh doanh dịch vụ, khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật nhanh và có điều kiện tốt thông thương

mở rộng thị trường Những yếu tố này đã tạo điều kiện tốt để phát triển một nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp

Điều này đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng tích cực, hợp lý hơn, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội và CNH nông thôn.

Biểu số 1:

Giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm các ngành từ năm 1998-2004

đơn vị tính: tỉ đồng

Trang 31

Chỉ tiêu

Giá trị

Cơ cấu (%)

Giá trị

Cơ cấu (%)

Giá trị

Cơ cấu (%)

Giá trị

Cơ cấu (%)

(theo nguồn thống kê huyện Hoài Đức)

Đối với nông nghiệp, đây là ngành sản xuất chính của nhiều xã trong huyện Nhờ nắm bắt được tiến bộ khoa học kỹ thuật và có sự quản lý phù hợp nên kinh tế nông nghiệp của huyện cũng tương đối ổn định Thu nhập năm

2003 bình quân trên 1 ha đất đạt 26.8 triệu đồng/năm ( giá cố định năm 1994), trong đó có 543 ha đạt giá trị thu nhập trên 50 triệu đ/ha/năm Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp cũng có sự chuyển biến tích cực: tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp năm 2003 đạt 49,2%, tốc độ tăng trưởng bình quân từ 1995- 2002

là 5.5% trong đó trồng trọt đạt 3.1%, chăn nuôi là 2.9%; cơ cấu chăn nuôi là 35.6% năm 1995 tăng lên 49.2% năm 2003 Như vậy theo xu hướng này thì chăn nuôi đang trở thành ngành sản xuất chính trong nông nghiệp với việc

Trang 32

chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản đang tăng lên nhanh chóng.

Đối với công nghiệp- thủ công nghiệp, chỉ với những cơ sở sản xuất nhỏ, dây truyền sản xuất lạc hậu và chủ yếu là chế biến nông sản, dệt len, thủ công

mỹ nghệ…Cơ cấu ngành cũng đã có sự thay đổi tích cực nhưng sự chuyển biến còn chậm.

Đối với thương mại dịch vụ, từ năm 1995 đến năm 2002 tốc độ tăng trưởng khoảng 6.5% Với hệ thống chợ dịch vụ thương mại, các đại lý nhưng chủ yếu vẫn là tư nhân kinh doanh nhỏ Hiện vẫn chưa phát huy hết lợi thế của huyện nhưng trong thời gian tới sẽ được đầu tư phát triển nhiều nhằm đáp ứng yêu cầu của người dân.

Về mặt dân số và lao động, năm 2002 toàn huyện có 191.788 người với mật độ dân số là 2.067 người/km2 (vùng bãi thưa hơn với1022 người/km2) cao hơn gấp hai lần mật độ bình quân của tỉnh (1105 người/km2) Hàng năm tốc độ tăng dân số có giảm, trung bình 0,08%/năm Còn lao động là 82468 người, chiếm 43,0% dân số Cơ cấu lao động giữa các ngành chưa cân đối, vẫn chủ yếu là lao động nông nghiệp (với gần 60%).

Tuy nhiên để đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, trình độ lao động đang ngày càng được nâng cao, lao động đang được phân bố cho các ngành nghề một cách hợp lý hơn Điều này được minh chứng trong biểu thống

kê sau:

Biểu số 2: Dân số, lao động nông nghiệp, phi nông nghiệp

của Hoài Đức từ năm 2002-2004

Trang 33

2004 so 2003

Bình quân

(nguồn thống kê huyện Hoài Đức)

Trong đó: SL- sản lượng, CC – cơ cấu.

Theo nguồn số liệu này thì số lao động hay số hộ, số nhân khẩu nông nghiệp đang có xu hướng tăng không đấng kể so với phi nông nghiệp Vì trong nông nghiệp các chỉ tiêu này sẽ giảm xuống theo thời gian, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Trang 34

Với tình hình kinh tế xã hội như thế này, hiện tại Hoài Đức là một huyện

đất chật người đông, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu, thu nhập bình quân

đầu người chưa cao.

Biểu số 3: So sánh một số chỉ tiêu KT-XH của huyện Hoài Đức với tỉnh

Hà Tây và đồng bằng sông Hồng năm 2002

tính

Hoài Đức Hà Tây

ĐB Sông Hồng

Trang 35

-(Nguån niªn gi¸m thèng kª n¨m 2002)

Nhưng với những lợi thế mà Hoài Đức có được nó đã tạo ra một sự thuận lợi rất lớn để trong thời gian tới phát triển kinh tế xã hội theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp Do vậy nó tác động tới cơ cấu sử dụng đất, làm cho đất nông nghiệp giảm xuống rõ rệt Đồng thời trong ngành sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng vật nuôi đang được chuyển đổi với tỷ trọng lớn chăn nuôi trong GDP nông nghiệp Do vậy nó cũng tác động làm thay đổi cơ cấu đất đai, thay đổi cách thức quản lý đất đai để đạt hiệu quả cao, bền vững với đất đai.

Cùng với những ảnh hưởng tích cực là những ảnh hưởng tiêu cực phát sinh từ những điều kiện này Đó là việc ảnh hưởng của quá trình CNH- đô thị hoá ở các đô thị lớn làm đất đai trong nông nghiệp trở nên có giá trị hơn và dẫn đến những trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai nhiều như tự ý mua bán trái phép, chuyển đổi sai mục đích hay lấn chiếm, chiếm dụng đất để sử dụng … Như vậy đây là vấn đề khó khăn trong quản lý mà yêu cầu các cơ quan chức năng cần quán triệt để ổn định đời sống nhân dân.

2 Quỹ đất nông nghiệp của Hoài Đức và xu hướng biến động

2.1 Quỹ đất nông nghiệp

Quỹ đất đai nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng của một đơn vị hành chính nhất định là tổng thể diện tích đất tự nhiên (diện tích đất sản xuất nông nghiệp) trong phạm vi đơn vị hành chính đó Như vậy, theo thống kê của phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức năm 2000 thì tổng diện tích

tự nhiên là 9527.04ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 6480.78ha và đến năm 2001, do một phần diện tích đất thuộc địa bàn quản lý của huyện chuyển

Trang 36

sang trực thuộc quản lý của UBND thị xã Hà Đông nên tổng diện tích tự nhiên

của huyện chỉ còn là 8823.78ha trong đó 5972.43ha đất nông nghiệp

Theo số liệu kiểm kê năm 2000 của tỉnh Hà Tây thì cơ cấu đất nông nghiệp của Hoài Đức so với các huyện thị khác trong tỉnh như sau:

Biểu số 4:

Cơ cấu đất nông nghiệp các huyện thị trong tỉnh Hà Tây năm 2000

Đơn vị Tổng diện tích

Đất nông nghiệp Cơ cấu so với diện tích đất(%) hành chính tự nhiên(ha) (ha) Tự nhiên của đơn vị Nông nghiệp của tỉnh

(theo nguån niªn gi¸m thèng kª n¨m 2000)

Căn cứ vào biểu so sánh này (biểu số 4) ta nhận thấy Hoài Đức là một huyện có diện tích tự nhiên nhỏ , do vậy diện tich đất nông nghiệp cũng ít

(chiếm 5.27% diện tích đất nông nghiệp của cả tỉnh), nhưng so với cơ cấu diện

tích tự nhiên của huyện thì đất nông nghiệp của Hoài Đức lại chiếm một phần

lớn (68.3% diện tích đất tự nhiên) Như vậy Hoài Đức là một huyện thuần nông

nhưng lại đất chật người đông, đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp.

Trang 37

Đất nông nghiệp của huyện được phân bố làm hai vùng rõ rệt: vùng bãi (nằm ngoài đê sông Đáy) thuộc nhóm đất phù sa bồi đắp với diện tích khoảng trên 30% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện, bố trí trên địa hình vàn cao thuộc các xã Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Đắc Sở, Yên Sở, Tiền Yên, Vân Côn (toàn bộ nằm trong vùng bãi), Song Phương, Đông La, An Phượng Còn vùng đồng với diện tích lớn hơn, gồm một phần diện tích của các xã Minh Khai, Dương Liễu, Cát Quế, Đắc Sở, Yên Sở, Tiền Yên, Song Phương, Đông

La, An Thượng và toàn bộ diện tích cuả các xã Đức Thượng, Đức Giang , Kim Chung, Di Trạch, Sơn Đồng, Vân Canh, Lại Yên, An Khánh, Dương Nội, La Phù và thị trấn Trôi.

Cụ thể diện tích đất nông nghiệp của các xã như sau:

Biểu số 5:

Trang 38

Thống kê diện tích đất nông nghiệp huyện Hoài Đức năm 2003

Đơn vị: Ha

Xã, thị trấn Diện tích Đất Đất trồng cây Đất Đất trồng cây Đất có

Trang 39

2.2.Xu hướng biến động quỹ đất nông nghiệp của Hoài Đức

Theo thống kê hàng năm về đất đai của UBND huyện Hoài Đức thì đất nông nghiệp trên địa bàn huyện qua các năm 2001, 2002, 2003 có sự biến động như sau:

5548.82 5481.97 5407.6 -66.85 -74.37 -141.22 Đất ruộng lúa, lúa màu

4486.23 4434.17 4399.02 -52.06 -35.15 -87.21 Đất trồng cây hàng năm khác

1062.59 1047.8 1008.58 -20.79 -33.22 -54.01

3.Đất trồng cây lâu năm 96.11 113.2 153.79 17.09 40.59 57.68

(nguồn thống kê huyện Hoài Đức )

Như vậy, đất phục vụ cho việc sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức đang giảm một cách rõ rệt Theo hiện trạng sử dụng đất năm 2004 thì đất nông nghiệp tiếp tục giảm, còn 5846.73ha (giảm 52.15ha so với năm 2003); theo kế hoạch sử dụng đất năm 2005 thì đất nông nghiệp phải thu hồi tiếp 765.31ha (trong đó đất ruộng lúa, lúa màu thu hồi 714.25ha) và tính đến quy hoạch sử dụng đất năm 2010, đất nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 4252.4ha (giảm so với năm 2001 là 1720.03ha).

Sở dĩ đất nông nghiệp của Hoài Đức giảm nhanh đến như vậy là do điều kiện tự nhiên , kinh tế xã hội thuận lợi của Hoài Đức đã tạo ra một lợi thế rất

Trang 40

lớn trong việc phát triển kinh tế Đáp ứng cho yêu cầu CNH-HĐH và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá của đất nước, cùng với xu thế phát triển hội nhập của đất nước Hoài Đức đã dần thay đổi bộ mặt nông thôn, cơ cấu ngành nghề thay đổi, kéo theo cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu lao động thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện Đất nông nghiệp đang giảm , thay vào đó là sự tăng lên của những đất đai sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp , mà điển hình là phục vụ cho các mục đích như xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao , đường sá và các trung tâm thương mại dịch vụ

Với những lý do này, nắm bắt được sự thay đổi rõ rệt của quỹ đất nông nghiệp , đặc thù của lao động vẫn chủ yếu là nông nghiệp nên để đảm bảo thu nhập của người dân, UBND huyện Hoài Đức đã có hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi thích hợp nhằm ổn định đời sống nhân dân.

Theo định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi giai đoạn

2002-2010 thì đất nông nghiệp được chu chuyển như sau:

Sơ đồ số 3 :

Chu chuyển đất nông nghiệp 2002-2010 của huyện Hoài Đức

Ngày đăng: 11/03/2014, 23:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Giáo trình quản lý Nhà nước về đất đai và nhà ở – GS.TSKH Lê Đình Thắng chủ biên (NXB CTQG năm 2000) Khác
2) Giáo trình kinh tế tài nguyên đất – PGS.TS Ngô Đức Cát chủ biên (NXB nông nghiệp năm 2000) Khác
3) Kinh tế và chính sách đất đai ở Việt Nam - Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam (NXB nông nghiệp năm 2000) Khác
4) Giáo trình kinh tế nông nghiệp - Trường Đại học Kinh tế quốc dân (NXB nông nghiệp năm 2000) Khác
5) Giáo trình quản lý đô thị – GS.TS Nguyễn Đình Hương , Th.S Nguyễn Hữu Doãn chủ biên (NXB thống kê năm2003) Khác
7) Những sửa đổi cơ bản của Luật Đất đai năm 2003 (NXB tư pháp năm 2003) và một số văn bản pháp quy khác của Chính Phủ, Bộ Tài nguyên & Môi trường… Khác
9) Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam – PGS.PTS Hoàng Việt chủ biên (NXB CTQG năm 1999) Khác
10) Tạp chí Địa chính, Tài nguyên & Môi trường, Quản lý Nhà nước, Nông nghiệp & phát triển nông thôn và một số tài liệu khác Khác
11) Định hướng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây, tờ trình và thuyết minh kế hoạch sử dụng đất 2005 Khác
12) Kết quả thống kê đất đai huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến năm 2003 và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2004 Khác
13) Một số tài liệu khác từ nguồn lưu trữ của phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây.4 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2:      Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý TN&MT ở Hoài Đức (từ huyện tới xã, thị trấn) - thực trạng và giải pháp về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện hoài đức tỉnh hà tây
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý TN&MT ở Hoài Đức (từ huyện tới xã, thị trấn) (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w