1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn học việt nam ở hải ngoại sau 1975, thế hệ các nhà văn trưởng thành ở hải ngoại

34 1,4K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn học Việt Nam ở hải ngoại sau 1975, thế hệ các nhà văn trưởng thành ở hải ngoại
Tác giả Hoàng Mai Đạt, Ngu Yên
Người hướng dẫn T.s Nguyễn Đình Hảo
Trường học Trường Đại học Văn hoá Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2011
Thành phố Đà Lạt
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 59,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những người phản đối văn hóa phẩm trong nước như: Nguyễn Ngọc Ngạn, Triều Khê, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Nghĩa…Những người ủng hộ văn hóa trong nước như: Nguyễn Ngữ và Nhật Tiến III.CÁC K

Trang 1

BÁO CÁO TH C T P ỰC TẬP ẬP

Đ tài: ề tài:

VĂN H C VI T NAM H I NGO I SAU ỌC VIỆT NAM Ở HẢI NGOẠI SAU ỆT NAM Ở HẢI NGOẠI SAU Ở HẢI NGOẠI SAU ẢI NGOẠI SAU ẠI SAU

1975, TH H CÁC NHÀ VĂN TR Ế HỆ CÁC NHÀ VĂN TRƯỞNG ỆT NAM Ở HẢI NGOẠI SAU ƯỞ HẢI NGOẠI SAU NG

THÀNH H I NGO I Ở HẢI NGOẠI SAU ẢI NGOẠI SAU ẠI SAU

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM VIỆT NAM 4

TỪ 1954-1975 4

BÀI TẬP NHÓM 4

Giảng viên hướng dẫn: T.s Nguyễn Đình Hảo 4

Nhóm sinh viên thực hiện: 4

Đà Lạt 04-2011 5

1 Khuynh hướng tư tưởng 7

2 Khuynh hướng lựa chọn đề tài 7

3 Khuynh hướng bản sắc 7

4 Về các thế hệ cầm bút 8

III CÁC NHÀ VĂN TRƯỞNG THÀNH Ở HẢI NGOẠI 9

1 HOÀNG MAI ĐẠT 9

a Tiểu sử 9

b Khuynh hướng sáng tác 11

2 NGU YÊN 13

Thơ 16

76 Bạch Đằng 16

Tạp ghi về thơ 16

Thơ Khác Lịch Sử 16

Cho anh xem 18

Cho anh xem 18

Hôm nay ta bên nhau mơ màng 18

Cho anh xem 19

Vén lên em Vén vải lên em 19

Tư Án 5” 19

“Thi sĩ? 19

Tư Án 3 20

“Con nít không biết 20

Trang 3

Tư Án 4 20

“Ví dụ: Thơ là mì gói 20

IV NỘI DUNG TÁC PHẨM 22

2 NGU YÊN 24

Buồn buồn trả lời gió 25

Hôm sau quay trở lại 25

Buồn buồn trả lời gió 25

Nhà 76 Bạch Đằng Nha Trang 25

Chị tôi đẹp nhất Lê Quí Đôn 26

Các anh tôi rời biển 26

Tôi yêu Bạch Đằng ổ gà văng nước 27

Dòng thời gian xuôi dòng nước mắt 27

Lâu lắm rồi 28

“Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Muôn Năm” 28

Florence 31

V KẾT LUẬN 33

Trang 4

VĂN HỌC ĐÔ THỊ MIỀN NAM VIỆT NAM

NGUYỄN HOÀNG NAM.

Giảng viên hướng dẫn: T.s Nguyễn Đình Hảo

Nhóm sinh viên thực hiện:

Họ và tên Mssv

1 Trương văn Bình 0811700

2 Nguyễn Văn Hùng 0811743

Trang 5

Đà Lạt 04-2011

Văn học Việt Nam ở hải ngoại sau 1975, thế hệ nhà văn trưởng thành ở hải ngoại Hoàng Mai Đạt, Ngu Yên, PhạmThị Ngọc,

Nguyễn Hoàng Nam

I ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

Năm 1975 đất nước ta được thống nhất hoàn toàn, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bị sụp đổ.từ đó có một bộ phận người Việt đã đi ra hải ngoại để tị nạn trong số đó có một bộ phận các văn nghệ sĩ cũng theo dòng tị nạn đó Từ dòng người Việt tị nạn đó sau này đã tạo ra một dòng văn học mới- dòng văn học Việt Nam ở hải ngoại sau 1975

1 Đặc điểm

Chống đối chính thể trong nước (chính trị): đây là vấn đề nhạy cảm lien quan đến chính tri khi tị nạn ra nước ngoài, có một bộ phận người Việt vẫn thường xuyên và âm mưu chống phá đất nước tư tưởng chống phá này có nhiều trong thế hệ tị nạnban đầu từ đó nền văn học hải ngoạicũng ít nhiều bị chi phối bởi tư tưởng chống phá

Tự do viết (tự do) :đây là đặc điểm về tự do trong cách viết và tư tưởng

Đối kháng cho nhân sinh nhân loại (yếu tố đối kháng)

Theo Mai Thảo thì đối tượng của văn học Việt Nam hải ngoại là

“hướng vào vận nạn đất nước không có hướng tới nào khác”.

Trang 6

Chúng ta có thể thấy rằng văn học Vệt Nam hải ngoại phồn thịnh

là do cuộc vượt biên năm 1978, làm xuất hiện nhiều người viết mới.từ cuộc vượt biên này đã xuất hiện những cây bút viết trước và sau 1975

Từ đó, có không ít các nhà văn, nhà thơ trưởng thành và thành công

2 Các giai đoạn phát triển

Từ hoàn cảnh lịch sử, chúng ta có thể chia văn học Việt Nam hải ngoại thành 3 giai đoạn như sau:

a Giai đoạn khai phá (1976-1979): với các nhà văn nhà thơ thời kì di

tản,các tờ tạp chí văn học ở California, như Quê mẹ của nhóm Võ Văn

Aí- Ỷ Lan, ở Canada với các nhà văn như Nguyễn Ngọc Ngạn, Bắc Phong, Võ Kì Điện…

b Giai đoạn phát triển (1980-1985): ở giai đoạn này văn học phát triển

nhờ cuộc vượt biên đông đảo, cộng thêm sự tiến bộ về khoa học -kĩ thuậtnhư các máy in, xếp chữ và các tổ chức khang chiến từ hải ngoại

Xuất hiện các tờ báo mới như: Châu Dương và Về Nguồn (ở Úc),

Lửa Việt và Làng Văn (Canada).

Các tác giả như: Võ Hoàng, Tưởng Năng Tiến, Nguyễn Ngọc Ngạn, Trần Diệu Hằng, Lê Thị Huệ, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Mộng

GiácVõ Phiến, Hồ Trường An và Duyên Anh

c Giai đoạn kiện toàn (1986-1990): sự phát triển của khao học-công

nghệ và sự xâm nhập văn hóa từ nội địa Việt Nam ở giai đoạn này

chúng ta đã thấy được dấu hiệu của sự giao lưu văn hóa giưa văn học hảingoại văn học trong nước

Nhiều báo mới ra đời ở nhiều nơi như: Texas, Nhật Bản, Tây Đức, Hoa Thịnh Đốn, Houston, Toronto…

Trang 7

Những người phản đối văn hóa phẩm trong nước như: Nguyễn Ngọc Ngạn, Triều Khê, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Nghĩa…

Những người ủng hộ văn hóa trong nước như: Nguyễn Ngữ và Nhật Tiến

III.CÁC KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC CỦA VĂN HỌC HẢI

NGOẠI

Theo Lê Hoài Nguyên, thì nền văn học hải ngoại có thể chia thành các khuynh hướng sau:

1 Khuynh hướng tư tưởng

Trong nội tại khuynh hướng tư tưởng chứa đựng những hệ tư

tưởng khác nhau, các tư tưởng đó chi phối đến khuynh hướng sang tác của các nhà thơ, nhà văn.tư tưởng gồm có:

a Tư tưởng chính trị: khuynh hướng đối kháng chống chế độ là tâm

thức chịu ảnh hưởng của văn học Sài Gòn tiền 1975

b Tư tưởng thích nghi: đây là sự hội nhập vào đất mới, hội nhập vào

như qua cốt truyện Hợp Lưu của Hồ Trường An.

c Phong trào thể nghiệm tính dục: với các tác giả như Kiệt Tấn, Trần

Vũ…

d Phong trào thể hiện tâm linh tôn giáo: với các tác giả như Nguyễn

Hữu Nhật, Nghiêm Minh…

2 Khuynh hướng lựa chọn đề tài

Gồm đề tài cuộc sống lịch sử và đề tài cuộc sống hiện tại trong nước, qua các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Ngạn, Thế Giang, Hồ Đình Nghiêm,

và đề tài cuộc sống cua người hải ngoại

Trang 8

3 Khuynh hướng bản sắc

Đây là khuynh hướng văn chương gốc nam bộ, với bản sắc địa phương, tiêu biểu cho khuynh hướng này là các tác giả như: Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Võ Kỉ Điều, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Ba, Huỳnh Hữu Lôi, Nguyễn Tấn Hưng…

4 Về các thế hệ cầm bút

Khuynh hướng này gồm: thế hề cầm bút trước 1975 và thế hệ cầm bút sau 1975

Thế hệ cầm bút tiền 1975: thế hệ này có các tác giả như Võ Phiến,

Nhã Ca, Duyên Anh…các tác giả này phần lớn đều bị ảnh hưởng bởi văn học thực dân mới

Thế hệ cầm bút sau 1975: thế hệ này với các tác giả trưởng thàng ở

hải ngoại như, Hoàng Mai Đạt, Ngu Yên, Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Hoàng Nam ở thế hệ này đã có những cách nhìn về chính trị khác nhau Đặc biệt ở Hoàng Mai Đạt đã có những cách nhìn mới mẻ và công bằng hơn đối với lịch sử

Qua đây chúng ta thấy rằng sự phân chia các khuynh hướng sáng tác của văn học hải ngoại ở trên chỉ mang tính tương đối, chưa triệt để

và còn nhiều chỗ trùng lặp Tuy nhiên do dòng văn học này mới được hình thanh, còn ít người nghiên cứu vì thế chúng ta hãy tạm chấp nhận cách phân chia ở trên

Trang 9

III CÁC NHÀ VĂN TRƯỞNG THÀNH Ở HẢI NGOẠI

1 HOÀNG MAI ĐẠT

a Tiểu sử

Hoàng Mai Đạt chào đời tháng Giêng 1961 tại Nha Trang Cha tử trận giữa thập niên 1960, mẹ buôn bán ở chợ nuôi hai con Vào Sài Gòn năm 1974, rời Việt Nam cuối tháng Tư 1975, tị nạn tại Mỹ, sống hơn 10 năm ở Pittsburgh, Pennsylvania Tốt nghiệp cử nhân truyền thông tại trường Pennsylvania State University

Đến San Jose, California năm 1987 Làm việc tại Nhật Báo Người

Việt ở Quận Cam, Nam California từ cuối năm 1987 đến 1989 Nhân

viên của sở xã hội ở Sutter County, Bắc California năm 1989-1990 Mở tiệm bán sách ở Stockton năm 1990-1992 Biên tập viên tin tức đài

Little Saigon Radio, Nam California từ năm 1994 đến 2007 Biên tập

viên của Nhật Báo Người Việt từ 2007 đến nay.

Ngoài thời gian viết tin tức để kiếm sống, thỉnh thoảng viết tạp ghi

hoặc giới thiệu sách cho các tờ báo văn chương như Văn Học, Hợp

Lưu, Văn, Thế Kỷ 21, Phố Văn… Đã xuất bản ba tuyển tập “Cánh

Đồng Cho Em” năm 1991, “Giữa Hai Miền Mưa Nắng” 2000, và

“Biên Tà Tà ” 2005

Bên cạnh đó còn có một số bài tạp ghi của Hoàng Mai Đạt như:

 Đạp xe với Thanh Tâm Tuyền

Trang 10

 Êm dịu đêm giao thừa

 Khung cửa chiều đông

 Mùa xuân theo máy thời gian

 Ngôi nhà thờ xưa ở Irwin

 Những buổi cầu siêu “dễ thương” ở Riverside

 Những giọt mồ hôi mùa đông

sử văn học hải ngọai đầu tiên của ngôn ngữ này cùng với đợt tỵ nạn vĩ đại của người Việt rời Việt Nam sau cuộc chiến tranh Quốc Cộng 1975

Trang 11

b Khuynh hướng sáng tác

Hoàng Mai Đạt cũng là nhà văn sáng tác tốt ở hai khía cạnh: tuổi thơ tan vỡ vì chiến tranh, và những vấn nạn của người nhập cư giữa hai nền văn hoá

Những vấn nạn của người nhập cư giữa hai nền văn hóa, điều này thể hiện rõ trong các bài tản văn của ông như: cảnh đón tết trong đêm

giao thừa thì“…ba mẹ con tôi không có bánh chưng bánh tét, ngay cả

đến mứt dừa mứt bí cũng không…”.(Êm dịu đêm giao thừa), tuy khó

khăn thiếu thốn trong những buổi đầu, nhưng người Việt vẫn làm bữa cơm tất niên và mời người thân, người quen

Những người Việt tị nạn sang Mĩ thì lao động vất vả trong những

buổi đầu: “Gặp chú Toàn, tôi nghe chú kể tội chú Thuận trốn trách

nhiệm, không liên lạc với gia đình, cũng không gởi tiền về cho thân nhân trong những lúc cơ cực nhất sau năm 1975 Sau đó, chú Toàn còn mắng em là đã đến Mỹ từ lâu mà không gầy dựng được gì như mấy

người khác, chỉ biết uống rượu và sống như một con chó hoang.”(Êm

dịu đêm giao thừa)

Hoàng Mai Đạt viết về lịch sử có phần công bằng, nhưng đôi khi cũng có phần tiêu cực và lệch lạc Đây cũng là điều hiển nhiên trong tư tưởng và tâm lí của người Việt tị nạn, điều này được thể hiện trong tác

phẩm “Êm dịu đêm giao thừa”: “…chú Đức, chú Vinh, chú Tùng, chú

Thuận và bác Châu đang bàn cãi gì đó ở bàn ăn, thỉnh thoảng tôi nghe vẳng lên các từ ngữ quen thuộc như “thằng Thiệu,” “bàn tay lông lá,”

“thằng cha Hồ Chí Minh,” “lão Mao,” kèm giữa những tiếng chưởi thề kéo dài…”

Không gay gắt, nhưng cũng không ỡm ờ nhờm đờm, những bài viết về người cha, về chiến tranh của Hoàng Mai Đạt cho thấy tác giả là loại nhà văn với ý thức lịch sử và lương tri sáng rõ về thiện-ác

Trang 12

“Quê hương tôi không ở bên kia, cũng không phải ở đây, mà ở đâu đó giữa hai nơi Tôi rời Việt Nam quá sớm để có những kỷ niệm êm đềm với Việt Nam

Tôi không có những cơn mưa bất chợt ở Sài Gòn, không có dấu chân trên cát trắng ở Nha Trang, và chắc chắn không có gì ở miền Bắc như cha mẹ tôi đã có Tôi chỉ có không khí chiến tranh, có xóm chợ dơ bẩn,

và có đôi chân trần dẫm lên đá trên đường tản cư Những kỷ niệm êm đềm nhất của tôi có lẽ là ở đây, ở Hoa Kỳ, nơi mà giờ đây tôi đã sống trên nửa đời người Vậy mà quê hương của tôi cũng không chắc là ở nơi đây Quê hương của tôi có lẽ chỉ có trong những kỷ niệm bên người thân, bên vợ, bên con, bên những người cũng không có một mảnh đất

mà họ có thể bước chân lên và ứa nước mắt, như một đứa con lưu lạc lâu năm nay trở về lại gốc nguồn”

Hoàng Mai Đạt là nhà văn viết tiếng Việt có khả năng trình bày chân thành và tinh tế cái kinh nghiệm đa văn hoá của người Việt nhập cưthế hệ 1.5, những người không hằn Mỹ, nhưng cũng không hoàn toàn Việt về mặt văn hoá Muốn tìm hiểu đời sống tinh thần của những người Việt thế hệ 1.5 ở Mỹ, không gì hay hơn đọc Hoàng Mai Đạt Các truyền

thống văn hóa Việt Nam như xông đất vẫn được người Việt giữ gìn Chúng ta thấy được điều này trong bài tản mạn “Êm dịu đêm giao

thừa”: “…Thông lệ xông đất kỳ cục này bắt đầu từ năm đầu tiên chúng

tôi mới đến Mỹ Mùa đông năm 1976, đầu tháng Hai, chúng tôi cũng ăn Tết, cũng chờ đón đêm giao thừa như khi còn ở Nha Trang Tuy nhiên,

ba mẹ con tôi không có bánh chưng bánh tét, ngay cả đến mứt dừa mứt

bí cũng không…”

Sự thú vị của văn chương Hoàng Mai Đạt phần lớn nằm ở cái nhìn

đặc sắc củamộtngười đứng giữa hai nền văn hoá, một người “đa văn

Trang 13

hoá” thứ thiệt, nhưng cũng chính vì vậy mà rất ý thức và trân trọng phần

Việt trong mình

Cách dùng câu từ trong văn chương của Hoàng Mai Đạt rất “Việt

Nam”, đặc biệt là tiếng Miền Nam Như: “Mày lộn xộn tao mét má mày

mua cái băng nhạc của tụi Kiss đó nghe không.” “Anh Đạt xịt nước

hoa, hôi thấy mồ,” (Êm dịu đêm giao thừa)

Qua đây chúng ta thấy được sự đóng góp to lớn của Hoàng Mai Đạt đối với nền văn học Việt Nam nói chung, và nền văn học hải ngoại sau 1975 nói riêng

2 NGU YÊN

a.Tiểu sử

Ngu Yên tên thật là Nguyễn Hiền Tiên Sinh ngày 20 tháng 11

năm 1952 tại Kim Châu – Bình Định Thích mộng mị

Ngu Yên là hai tĩnh từ, ngu nhu ngu dại, yên như yên bình, nghĩa

là ngụp lặn phù sinh, ngu cho trí óc tâm hồn yên vui Ngu không có nghĩa là đui, yên không có nghĩa là buông xuôi cuộc đời

Ngu Yên nối một danh từ "Nguyên" là kết cuộc vẫn như khởi đầu,trộn nhào qua loạn biển dâu, xác tuy sưt mẻ hồn hầu như nguyên, nghĩa

là bám chặt nhịp tim, đến giờ hấp hối điềm nhiên nụ cười

Ngu Yên không giống động từ, bởi khi linh hoạt giống như im lìm,mới nhìn tưởng ngủ lim dim, nhung trong thức mộng nỗi niềm xôn xao

Có người giận hỏi tại sao ? Thưa, đang theo dõi chiêm bao tuyệt vời Ngu Yên có bài thơ tự thuật về tiểu sử của mình như sau:

“Ngu-Yên tên Nguyễn hiền Tiên

Quê quán Bình Định, gốc miền Kim Châu

Trang 14

Kể rằng thân thế khởi đầu

20 tháng 11 sinh vào 52

Mặt mày trên mức xấu trai

Học hành đại khái, ngày ngày rong chơi Nuôi hoài bão nhưng biếng lười

Nên thường lấp liếm vài lời cuồng ngông Sinh ra tâm tính lông bông

Lớn khôn chỉ giỏi bềnh bồng nổi trôi

Giữa cơn binh loạn đổi đời

Xuôi dòng tản lạc thành người lưu vong Tháng ngày sồi sụt long đong

Vui buồn thơ động tiếng lòng nghêu ngao.

Từ nhỏ tôi khoái chiêm bao

Lớn lên ghiền mộng, tuổi nào cũng mơ Mộng mơ phải tiết thành thơ

Rồi thơ tinh quái phỉnh phở cả tôi

Từ thơ quấn quít lôi thôi

Tình trôi vào ý, ý trôi vào lời

Lời trôi nhâng nháo vào đời

Trang 15

Chẳng ai yêu quý muộn phiền

Chẳng qua cuộc sống gắn liền khổ đau Mượn lộng ngôn hí lộng trào

Thật ra trào lộng khác nào bi thương Khi bình thường là nhiễu nhương

Ngu Yên vớ vẩn bên đường yên ngu Thứ gì chẳng phải phù du

Làm thơ để thở mịt mù thế thôi

Có người muốn bắt bí tôi

Nhìn xem bằng lái xe rồi rêu rao:

"Ngu Yên đâu phải tên nào,

Chẳng qua là chút lào xào nặc danh" Thương nghề thi sĩ khó khăn

Chơi thơ phải có văn bằng chứng minh -" Dạ, tôi có dấu trong mình

Nốt ruồi thi sĩ thực tình dưới mông Nơi đây thiên hạ rất đông

Cởi quần bất tiện, thưa ông xin chờ Chờ khi người ta nhìn lơ

Nốt ruồi lớn lắm, ông rờ thử xem "

Trang 16

b Tác phẩm

Thơ

76 Bạch Đằng

Chín Dấu và những bài thơ khác

Chùm Thơ Xuân Canh Dần 2010

Con Dán và những bài thơ khác

Ca Khúc Thơ: Muốn Bay, và một số thơ khác

Trang 17

Yêu Phụng Nhất Trên Đời

Tranh Đen, thơ trình diễn, Ngu Yên

Tháng 1-2010 ra mắt tập thơ thứ 7

Thơ của Ngu Yên có cái tinh quái nhìn đời của Nguyên Khuyến, cái vịnh đời đắng cay của Nguyên Công Trứ, cái lèng èng vô tâm của Bùi Giáng, cái lơ mơ xuất thần của Nguyễn Đức Sơn, hay chính cái sung mãn vọng động của Ngu Yên Thơ Ngu Yên mang đậm chất triết lí

Trang 18

Cho anh xem

Một lần thôi

Cho anh xem một lần để nhớ

Nhớ rồi thương

Thương rồi tương tư

Cho anh xem

Không bao giờ quên

Cho anh xemTiếc làm chi em

Cho anh xem dù một thoáng khép hờ.

Hôm nay ta bên nhau mơ màng

Men tình lên đúng độ thời gian

Anh điên cuồng khẩn cầu em đó

Trang 19

Anh muôn đời giữ kín trong tim.

Vén lên em Vén vải lên em

Cho anh xem Hãy cho anh xem

Bao nhiêu năm thẹn thùng dấu mãi

Nốt ruồi son.”

(Cái ruồi)

lạ trong thơ ca của Ngu Yên, mới đọc giống như là dâm nhưng cuối cùng lại không phải Nhà thơ đã cho chúng ta tưởng tượng một cách thoải mái Nhưng cuối cùng kết thúc lại hoàn toàn khác Từ đây ta thấy được cái tài tình trong việc chọn hình tượng trong thơ của Ngu Yên Thơ Ngu Yên triết lí và có lúc khó hiểu như thơ Bùi Giáng

Tư Án 5”

“Thi sĩ?

Người làm thơ?

Ngày đăng: 11/03/2014, 23:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w