Trên cơ sở đối tượng, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ đi sâunghiên cứu làm rõ:- Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh; - Nội dung, bản chất cách mạn
Trang 1Bộ Xây DựngTrường Đại học kiến trúc Tp.HCM
GVHD:
Sinh viên: Phạm Thị Như YếnLớp: KT11_CT
MSSV: 11510108490Cần Thơ, ngày 19 tháng 10 năm 2012
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I:
MỞ ĐẦU
PHẦN II:
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÃ HỘI HỌC TẬP
1 Sơ lược về tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Tìm hiểu về xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
a Khái niệm:
b Bản chất của xã hội học tập:
c Nhiệm vụ của xã hội học tập:
d Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT
e Để xây dựng một xã hội học tập:
3 Xã hội học tập là xu thế mới của nhân loại:
4 Thực tiễn xây dựng xã hội học tập ở nước ta:
5 Những thành tựu mà xã hội học tập mang lại:
PHẦN III:
GIÁ TRỊ VÀ BÀI HỌC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HỌC TẬP VÀ RÈNLUYỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG KIẾN TRÚC HIỆN NAY
1 Những giá trị mà xã hội học tập mang lại:
2 Bài học của nó đối với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trường Kiếntrúc hiện nay:
PHẦN IV:
KẾT LUẬN:
Trang 4PHẦN I:
MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạngViệt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã đi xa,nhưng để lại cho nhân dân ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá,những giá trị nhân văn cao cả trong đó đặc biệt là tư tưởng và tấm gương đạo đứccách mạng của người Sau đây tôi xin trình bày đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về
xã hội học tập, đồng thời tìm hiểu về giá trị và bài học của nó đối với việc họctập và rèn luyện của sinh viên trường Kiến trúc hiện nay
Trang 5dùng để đề cập vềnhững tư tưởng của
Hồ Chí Minh đượcĐảng Cộng sản ViệtNam đúc kết lại, sửdụng như là hệ thống
tư tưởng chính tạiViệt Nam hiện nay,bên cạnh chủ nghĩaMarx-Lenin Hệ thống
tư tưởng này bao gồmnhững quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng vàphát triển chủ nghĩa Marx-Lenin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Đảng CộngSản Việt Nam luôn tăng cường tuyên truyền thúc đẩy việc học tập và làm theo
Tư tưởng Hồ Chí Minh ở tất cả các tầng lớp trong xã hội
b) Đối tượng, nhiệm vụ:
Đối tượng nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm hệ thống quanđiểm, lý luận về cách mạng Việt Nam trong dòng chảy của thời đại mới mà cốtlõi là tư tưởng độc lập, tự do; về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn của hệthống quan điểm lý luận cách mạng Hồ Chí Minh; về mối liên hệ biện chứngtrong sự tác động qua lại của tư tưởng độc lập, tự do với tư tưởng giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội, về các quan điểm cơ bản trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 6Trên cơ sở đối tượng, bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ đi sâunghiên cứu làm rõ:
- Nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Nội dung, bản chất cách mạng và khoa học, đặc điểm của các quan điểm trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Vai trò nền tảng, kim chỉ nam hành động của tư tưởng Hồ Chí Minh đối vớicách mạng Việt Nam và giá trị tư tưởng của Người trong kho tàng tư tưởng, lýluận cách mạng thế giới của thời đại
* Tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu được đưa ra trong thời kỳ đấu tranh giảiphóng dân tộc chống thực dân Pháp, trước cách mạng tháng 8 và một số đượcđúc kết sau này trong suốt quá trình chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, xâydựng Đảng Cộng sản và chính quyền cộng sản Theo nhận định, đây là sự kếthợp của các luồng tư tưởng và văn hóa của Việt Nam, cách mạng Pháp, tư tưởng
tự do của Hoa Kỳ, lý tưởng cộng sản Marx-Lenin, tư tưởng văn hóa phươngĐông
Hiến pháp 1992 và Điều lệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đều lấy Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng định hướng
cho sự phát triển của Việt Nam và Đảng
Đảng Cộng sản, Nhà nước Việt Nam cùng các quan điểm chính thống ở
Việt Nam hiện nay đều thống nhất đánh giá Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là
cách vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin trong điều kiện cụ thể của ViệtNam, và trong thực tế Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thầnquý báu của Đảng Cộng Sản Việt Nam và của dân tộc Việt Nam
2 Tìm hiểu về xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh:
Âu, công nghiệp đã được vực dậy và đã có những bước phát triển lớn lao Vào
Trang 7khoảng phần tư cuối thế kỷ XX, nhờ những phát minh và những bước đột phákhoa học, có những nước đã vượt qua tình trạng kém phát triển, nâng cao mứcsống với nhịp độ tuy khác nhau, nhưng đều là những kết quả rất tốt đẹp Tuynhiên, những tiến độ đó cũng dẫn theo không ít hiện tượng bất lợi cho nhân loại:
sự gia tăng thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo và những bất bình đẳng ngàycàng phổ biến hơn, hiểm họa môi trường đe dọa con người nhiều hơn v.v…
Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vẫn mang lại nhữngthành tựu vĩ đại, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ điềukhiển, công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano và hơn cả là sự xuất hiện máytính hiện đại cùng hệ thống Internet v.v…Những thành tựu ấy đã tạo điều kiện đểtừng bước hình thành một nền kinh tế mới: kinh tế tri thức (KnowledgeEconomy) Đến đây thì sự phân hóa giữa phát triển và chậm phát triển càng giatăng Tại diễn đàn kinh tế OECD năm 2001, Ban thư ký OECD đã có một báocáo, trong đó nói rằng, những quốc gia có chính sách phát triển kinh tế tri thức đãtăng trưởng rất nhanh, còn những quốc gia khác đã tụt hậu ngày càng rõ rệt hơn.Đầu thế kỷ XX, khoảng cách thu nhập bình quân giữa nước giàu nhất so vớinước nghèo nhất là 10 lần, thì đầu thế kỷ XXI, khoảng cách đó là 400 lần Sựkhông cập nhật tri thức mới trong quá trình lão hóa tri thức tăng tốc, nhất là sựbất cập với công nghệ mới, công nghệ cao là yếu tố hàng đầu của sự phân hóaphát triển - kém phát triển Khoảng 30 năm lại đây, lượng kiến thức nhân loại thuđược về khoa học và công nghệ bằng tổng số kiến thức đó trong hai ngàn nămtrước đó Theo dự báo, đến năm 2020, những tri thức khoa học sẽ tăng khoảng 4lần so với năm 2000
Để giải quyết bài toán phát triển, nhân loại phải tính đến yếu tố con người,năng lực sáng tạo tri thức mới của nó và từ đó, phải tư duy lại về vấn đề giáodục Trong bài viết “Giáo dục - một sự không tưởng cần thiết”, Jacques Delors,nguyên Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về giáo dục thế kỷXXI đã viết: “Đối mặt với nhiều thách thức mà tương lai sắp sẵn, nhân loại xemgiáo dục như một biện pháp cần thiết để nhằm thực hiện được những lý lưởnghòa bình, tự do và công bằng xã hội v.v…Giáo dục có vai trò căn bản trong sựphát triển cá nhân và xã hội Giáo dục không phải là phương thuốc thần kỳ vàcũng không phải là một công thức kỳ diệu để mở cánh cửa đi vào một thế giớitrong đó mọi lý tưởng đều có thể thực hiện được, mà chỉ là một trong số cácphương tiện chính sẵn có thúc đẩy hình thái phát triển nhân loại sâu sắc hơn, hàihòa hơn và do đó, làm giảm bớt tình trạng nghèo khổ, sự bài trừ, sự ngu dốt, sự
áp bức và chiến tranh”
Trước tình hình của một thế giới đầy biến động và bất định, giáo dụcphải giúp cho con người có đủ khả năng vượt qua những thách thức, giải quyếtđược những mâu thuẫn nảy sinh trong thời đại Đó là:
Trang 8o Mâu thuẫn giữa toàn cầu và cục bộ: sao cho con người sống như một côngdân toàn cầu mà không mất gốc;
o Mâu thuẫn giữa phổ biến và riêng lẻ: vừa tham gia vào sự giao lưu vănhóa toàn cầu vừa giữ được truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc;
o Mâu thuẫn giữa truyền thống với hiện đại: thích ứng nhanh với hiện tại màkhông quay lưng lại quá khứ;
o Mâu thuẫn giữa dài hạn với ngắn hạn: tập trung vào giải quyết những vấn
đề tức thời nhưng vẫn phải lo đến những vấn đế chiến lược lâu dài;
o Mâu thuẫn giữa cạnh tranh và sự quan tâm đến bình đẳng về cơ may: phảigiải quyết đồng thời 3 động lực sao cho khuyến khích được cạnh tranhđồng thời lại tăng cường hợp tác và đoàn kết gắn bó để phát triển
o Mâu thuẫn giữa sự phát triển phi thường về tri thức với năng lực có hạncủa con người trong tiếp thu tri thức mới: phải tính đến sự thay đổi môhình giáo dục, phương thức giáo dục và nhất là giúp cho con người đượchọc hành thường xuyên;
o Mâu thuẫn giữa trí tuệ và vật chất: không chạy theo lối sống thiếu tôntrọng người khác vì lợi ích cá nhân, vượt lên chính mình để giữ được giátrị cơ bản nhất mà ta gọi là đạo đức
Tóm lại:
Nền giáo dục mà nhân loại định hướng nói trên chỉ có được khi mà trong
xã hội thực hiện được phương thức giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, họctập suốt đời Nhân loại đã từng phấn đấu để giáo dục đến với từng con người(Education for all) và cố gắng để mọi người đều thấy trách nhiệm xây dựng giáodục (All for Education) Nhưng, ở thể kỷ này, điều đó chưa đủ Vấn đề là ai cũnghọc tập, ai cũng phải có nghĩa vụ học vì một đất nước, vì một thế giới phát triển,học hỏi trong những thời gian và không gian cần thiết, không phân biệt tuổi tác,giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn v.v…, ai cũng có thể làm trò và ai cũng
có thể làm thầy để mỗi người được đi vào nhiều dạng khác nhau của tri thức, đểtiếp thu những tri thức mà nhân loại sáng tạo ra, và cũng là để tự mình góp phầntạo ra những tri thức mới Xã hội ấy - xã hội có nền giáo dục như vậy - được gọi
là xã hội học tập (Learning Society)
b Bản chất của xã hội học tập:
Bản chất XHHT là một môi trường giáo dục, trong đó mọi người đềuđược cung cấp cơ hội học tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linh hoạt,
Trang 9thích ứng điều kiện học của từng người, từng cơ quan, đơn vị một môi trườngtrong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác học hành và tíchcực tạo ra các cơ hội, điều kiện học hành cho xã hội sao cho cả xã hội trở thànhmột trường học lớn, mỗi người dân là một học trò, nhu cầu học luôn được đápứng và là nơi đào tạo nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng với nhiều trình độ, nhiềunăng lực khác nhau đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tếtrong một thị trường lao động luôn biến động dưới sự tác động tiến bộ của khoahọc và công nghệ.
c Nhiệm vụ của xã hội học tập:
Nhiệm vụ trọng tâm của XHHT là làm cho mọi người từ trẻ đến già đềuthấy cần phải học, và học suốt đời, xem học tập là một nhu cầu của cuộc sống,như cơm ăn, áo mặc, tạo môi trường học tập đáp ứng cao nhất nhu cầu học tậpban đầu và học suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, mọi lứa tuổi và cả người caotuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ, trong đó đặc biệt chú ý nhu cầu học tập củangười cao tuổi, người bị khuyết tật, người bị thiệt thòi về giáo dục và có thể học
ở mọi nơi (tại trường, tại nơi làm việc, tại nhà ), mọi lúc, học bằng nhiều cách:trên lớp, học từ xa qua phát thanh, truyền hình, học trên máy tính, trên mạng in-tơ-nét, hội nghị, hội thảo, trò chơi theo nguyên tắc tự học là chính
d Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT
Hệ thống giáo dục quốc dân trong xã hội học tập gồm hai tiểu hệ thống:
Hệ thống giáo dục ban đầu được tổ chức theo các cấp học, bậc học, từ thấp lêncao: Nhà trẻ - mẫu giáo, mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổthông, đại học – cao đẳng, sau đại học và học tập trung, "mặt giáp mặt", học theoniên chế Hệ thống này đã có từ lâu, đã vận hành hơn một thế kỷ nay mang tínhkhép kín, khoa cử, cứng nhắc, thiếu tính liên thông, ít gắn với nhu cầu xã hội, cầnphải thay đổi nhiều về tổ chức, quản lý nội dung, chương trình, tài liệu học tập,đặc biệt là phương pháp dạy và học để thích ứng hệ thống giáo dục trong XHHT,bên cạnh hệ thống giáo dục tiếp tục
Hệ thống giáo dục tiếp tục có mô hình tổ chức linh hoạt, mềm dẻo;chương trình, nội dung dạy - học theo nhu cầu của người học, lấy tự học, học từ
xa làm hình thức học tập chủ đạo; việc dạy - học được tiến hành trong các cơ sởgiáo dục tổ chức theo các mục đích, yêu cầu của người học gồm các lớp xóa mùchữ, trường hay lớp bổ túc văn hóa, khoa hay lớp tại chức, trung tâm giáo dụcthường xuyên trường hay trung tâm dạy nghề, trung tâm học tập cộng đồng, lớphọc gia đình, lớp học dòng họ
Trang 10 Có thể hình dung mô hình hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT theo sơ
Trang 11Và Hệ thống giáo dục tiếp tục, giáo dục ngoài xã hội gồm những trườnglớp, những tổ chức học tập theo phương thức giáo dục không chính quy hoặc phichính quy (cần gì học nấy).
Nền giáo dục trong xã hội học tập hướng vào việc xây dựng cho conngười năng lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá… thông tin để xã hội tiến kịp
sự phát triển của tri thức nhân loại Do vậy, nền giáo dục phải tập trung vào sựphát triển con người trên cơ sở tự chủ của mỗi người, làm cho con người pháthuy cao độ năng lực sáng tạo, năng động về mọi phương diện
Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đi đôi với đề cao năng lực
tự học của mỗi người Ngày nay trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cáchmạng khoa học và công nghệ, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầutức giáo dục từ nhà trẻ đến đại học và trên đại học lại có thể đủ cho cả đời người
Vì vậy, phải tiếp tục học tập, học không bao giờ ngừng, phải thay đổi tư duy giáodục phù hợp với xu thế chung xem giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định tươnglai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia
Báo cáo của Uỷ ban quốc tế về phát triển giáo dục thế kỷ XX thuộc tổchức UNESCO nêu lên bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết; Học để làm; Học
để chung sống và Học để tồn tại
e Để xây dựng một xã hội học tập:
Trong XHHT, mỗi người đều có nhiều cơ hội học tập: Học tập ở nhàtrường, học tập trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa Do đó, hệ thống giáodục không chỉ bó hẹp trong các loại hình nhà trường, mà còn trong các hình thứchọc ngoài nhà trường Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng củacác ngành học, hình thức học, về những kênh liên thông giữa các loại hình khácnhau
Có thể nói, XHHT là một hiện tượng có tính qui luật của sự phát triển, làvấn đề chung của thời đại Song mỗi nước lại có chiến lược xây dựng XHHT củariêng mình Ở nước ta, theo quan điểm của tôi, khi xây dựng XHHT phải chú ýđến mấy điểm sau:
Giai đoạn phát triển đầu tiên của XHHT phải gắn liền với mục tiêu
tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng
xã hội Phát triển học tập là để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Để làm được điều đó thì phải dựa vào khoa học và công nghệ, dựa vào một nềnsản xuất bền vững
Trang 12Bảo đảm sự tăng trưởng nhất thời đã là một việc khó, còn phải đảm bảotăng trưởng bền vững lại càng khó hơn Đối với bài toán tăng trưởng, dữ kiệnquan trọng nhất là trí tuệ của dân tọc Không ít quốc gia chủ trương khai tháctriệt để môi sinh tăng trưởng Tất nhiên tăng trưởng kinh tế chưa hẳn đã mang lại
sự phát triển xã hội, bởi thu nhập tăng nhưng xã hội thiếu công bằng, thiếu dânchủ, văn minh thì chỉ là xã hội lạc hậu Mà xã hội phát triển phải là xã hội cónhiều khả năng lựa chọn đối đối với người dân trong đời sống hàng ngày của họ.Chúng ta cũng cần phải hiểu cho đúng khái niệm giảm nghèo, trên cả 3 phươngdiện: giảm nghèo về tri thức, giảm nghèo về sức khỏe và giảm nghèo về cơ sởvật chất
Giai đoạn thứ hai của việc xây dựng XHHT là phát triển kinh tế tri thức
dựa trên trên nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đầu tư vào một số vấnđề: Nhanh chóng phát triển hệ thống giáo dục sau trung học trong cộng đồng đểtrí thức hóa công, nông, tạo đội ngũ lao động tri thức Đại chúng hóa giáo dụcsau trung học phải được coi là một hướng phát triển giáo dục quan trọng; tăngđầu tư cho giáo dục để tăng tư bản con người (vốn con người) Muốn làm đượcđiều này thì ngay từ bây giờ phải đổi mới tư duy giáo dục, xóa quan niệm chi phícho giáo dục là chi phí tiêu dùng, thay vào đó là quan niệm về chi phí cho giáodục mang tính sản xuất
Tư bản con người là tổng hợp các khả năng của người lao động và đồngthời là các khoản chí phí của Nhà nước, của doanh nghiệp và của mỗi người choviệc hình thành và thường xuyên hoàn thiện những khả năng đó; phải có đội ngũnhân tài đông đảo về các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, khoa học, công nghệ, quân
sự, quản lý kinh tế và quản lý xã hội, có đủ năng lực sáng tạo ra những côngnghệ mới, làm chủ những công nghệ cao, bình đẳng với các quốc gia trong vấn
đề trao đổi, chuyển giao công nghệ, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc, làm động lực cho sự phát triển xã hội học tập, xây dựng con ngườiViệt Nam hiện đại; thực hiện nền giáo dục 100% dân cư với yêu cầu phát triểnhết mọi năng lực sẵn có trong mỗi con người như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằngmong muốn Đó là nền giáo dục phát triển mạnh mẽ các tính con người, phát huynăng lực con người, làm cho mỗi người là một chủ thể sáng tạo trong một xã hộivăn hóa và văn minh
Tóm lại, để xây dựng và hình thành được một XHHT, phải tập trung thực hiện 4 thay đổi lớn:
Thứ nhất: Phải chuyển từ nhà trường dạy kiến thức sang dạy tri thức Tạo điều
kiện để học sinh chuyển từ học để hiểu được sang học để làm được, biến kiến
Trang 13thức thành tri thức của mình Thay đổi tình trạng học sinh, sinh viên nước ta hiệnnay vẫn thiên về lý thuyết mà kém khả năng thực hành
Thứ hai: Chuyển từ nền giáo dục chính quy, chỉ chú ý đến việc học của trẻ em
mà coi nhẹ việc học tập của người lớn sang nền giáo dục chăm lo việc học tậpcho mọi người thuộc mọi lứa tuổi Nền giáo dục đó bao gồm: hệ thống giáo dụcchính quy, không chính quy và phi chính quy Nhà nước phải tạo điều kiện chongười dân được đăng ký học phi chính quy, học tập ngoài nhà trường, học bất cứcái gì mà người dân cần
Thứ ba: Chuyển từ nền giáo dục thuần túy chạy theo văn bằng như hiện nay
sang nền giáo dục coi trọng việc hình thành và phát triển nhân cách, không chạytheo bằng cấp Nếu không người học chỉ cần đạt đến mục tiêu có bằng cấp làthôi, không còn động lực học tập để có tri thức, để làm việc
Thứ tư: Chuyển từ khẩu hiệu "Giáo dục cho mọi người" sang khẩu hiệu "Cả
nước là một xã hội học tập" Nghĩa là chuyển từ cơ chế chỉ có nhà nước phải cótrách nhiệm tạo điều kiện học tập cho người dân sang cơ chế mọi người dân đềuphải có trách nhiệm học tập, học tập để khỏi bị thất nghiệp, bị xã hội đào thải, đểkhông bị lạc hậu và theo kịp các bước tiến của khoa học và công nghệ
2 Xã hội học tập là xu thế mới của nhân loại
Học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nộidung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học Đây cũng là nội dung cốt lõicủa khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựngtrong bối cảnh thế giới đang có những đổi thay to lớn và nhanh chóng trước sựphát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ của cáchmạng thông tin
Tư tưởng đó, nội dung đó được thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX củaĐảng khi nhấn mạnh "Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng nhữnghình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện: "giáo dục cho mọingười", "Cả nước trở thành một xã hội học tập" và được Văn kiện Đại hội X nêu
rõ thêm "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - môhình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên tục, liên thônggiữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọingười với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, bảo đảm sự công bằng
xã hội trong giáo dục"
Trang 14Có thể nói xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển củanhân loại ở thời kỳ hậu công nghiệp Đó cũng là đòi hỏi của yêu cầu phát triểnkinh tế, của tiến bộ khoa học và công nghệ và cũng là đòi hỏi của sự phát triểncon người ở thời đại mới.
3 Thực tiễn xây dựng xã hội học tập ở nước ta:
Trang 15Có rất nhiều bài học về tấm gương đạo đức Bác Hồ mà chúng ta cần phải học tập, trong đó có tấm gương về học tập suốt đời đã hình thành " Tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời"
* Học mọi lúc, mọi nơi
Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống hiếu học, Bác
Hồ đã được học hành từ thuở niên thiếu ở quê hương và sau đó là những nămtháng theo gia đình vào kinh đô Huế Năm 1911, Bác trở thành thầy giáo NguyễnTất Thành daỵ học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết, lúc hai mươi mốt tuổi.Trong những năm tháng ra đi tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã học ở nhiềutrường đại học cuộc đời Bác đã học ở nhiều nơi trên thế giới từ châu Âu, châu
Mỹ, châu Phi, châu Á, học ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là học nghiên cứu, vận dụngchủ nghĩa Mác - Lênin, học ngoại ngữ, học cách viết báo, làm báo
Bác đã học ở mọi nơi, mọi lúc Học trong hầm tàu thuỷ viễn dương, họckhi làm phụ bếp, học trong nhà tù của đế quốc, học ở thư viện, học ở giảngđường trong suốt ba mươi năm xa Tổ quốc Trong điều kiện không có sự đùmbọc chăm sóc của gia đình, không có học bổng, không có cơ quan, tổ chức tài trợ,luôn bị đế quốc săn lùng, ám hại, song Bác vẫn học được và tìm ra được conđường cứu nước, con đường làm cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xãhội chủ nghĩa
* Hai sắc lệnh về sự học được ký cùng ngày
Bác Hồ đã học tập suốt đời nên càng thấm thía cảnh lầm than, thất học củanhân dân các dân tộc thuộc địa Khi còn hoạt động ở hải ngoại, năm 1919 Bác đãgửi đến Hội nghị Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáulà: "Tự học tập và mở các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ởkhắp các tỉnh"
Khi trở thành vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Bác chỉ có ham muốn và hammuốn tột bậc là nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành Điều mongmuốn của Bác đã được thể hiện ở những chủ trương, quyết sách của Đảng vàNhà nước ta, trong các lời dạy của Người
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã coi việc diệt giặcdốt quan trọng và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm Bác đã nhận ra trên