TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA LUẬT DÂN SỰ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc KẾ HOẠCH VÀ NỘI DUNG THẢO LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Học kỳ I (Năm học 2017 – 2018) Chương.
Trang 1KHOA LUẬT DÂN SỰ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
KẾ HOẠCH VÀ NỘI DUNG THẢO LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Học kỳ I (Năm học 2017 – 2018)
Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự
I Nhận định
1 Vụ việc dân sự bao gồm tranh chấp dân sự và yêu cầu dân sự
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa
án giải quyết vụ việc dân sự
3 Khi tham gia xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán
4 Người không sử dụng được tiếng Việt không được trực tiếp tham gia tố tụng
5 Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia tất cả phiên tòa sơ thẩm dân sự
6 Trong tố tụng dân sự, chỉ có đương sự có quyền khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng
7 Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng là tiếng Việt
8 Bình đẳng trong tố tụng dân sự chỉ xuất hiện khi các chủ thể có cùng một tư cách tố tụng
9 Tòa án chỉ giải quyết vụ án dân sự trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
10 Trong tố tụng dân sự, Tòa án chỉ có trách nhiệm hỗ trợ cho đương sự chứng minh
II Bài tập
Câu 1: Chị Lan kết hôn hợp pháp với anh Hùng năm 1990, có con chung là cháu
Minh sinh năm 1997 và cháu Nga sinh năm 2010 Trong thời kỳ hôn nhân, chị Lan và anh Hùng có tạo lập tài sản chung gồm: 1 căn nhà tại xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP.HCM và diện tích đất 2000 m2 tại phường Tân Phong, quận 7, TP.HCM Do hôn nhân không hạnh phúc nên tháng 01/2017, chị Lan làm đơn khởi kiện anh Hùng đến Tòa án có thẩm quyền với yêu cầu: xin được ly hôn, xin được nuôi con, không yêu cầu anh Hùng cấp dưỡng, xin được sở hữu căn nhà, chị Lan đồng ý trả lại anh Hùng ½ giá trị căn nhà Toà án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án Anh Hùng có văn bản gửi đến Tòa
Trang 2án có nội dung: không đồng ý ly hôn do mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, anh vẫn còn yêu thương chị Lan Hỏi:
a Hãy xác định yêu cầu của chị Lan và yêu cầu của anh Hùng trong vụ án trên? Tòa án giải quyết những tranh chấp nào trong vụ án trên?
b Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp có nghĩa vụ tham gia phiên tòa sơ thẩm không?
c Vụ tranh chấp này có thể được giải quyết theo các chế độ xét xử nào?
d Giả sử anh Hùng là người bị khuyết tật nói, anh Hùng sẽ tham gia tố tụng như thế nào?
Câu 2: Ngày 01/12/2013, bị đơn là Công ty cổ phần đầu tư An Hưng Plaza (sau
đây gọi là Công ty An Hưng) có đơn xin vay vốn Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội với
số tiền 20.000.000.000 đồng để xây dựng công trình chợ Hạ Long II với hình thức BOT
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, Ngân hàng và Công ty An Hưng đã ký hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số 0701QN526/HĐ ngày 06/02/2007 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay số: 0701QN526/HĐTC/PL01, theo đó Công ty An Hưng thế chấp các tài sản sau: 1 Khu chợ truyền thống (03 tầng); 2 Khu Trung tâm thương mại (04 tầng); 3 Các hạng mục khác; 4 Quyền kinh doanh, khai thác toàn bộ khu chợ
Đến hạn trả nợ lãi và gốc, Công ty An Hưng không thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng, đến nay mới trả được phần tiền lãi là 1.307.178.600 đồng, khoản tiền gốc và tiền lãi còn lại không trả Ngân hàng đã nhiều lần gửi Công văn và đến làm việc yêu cầu thanh toán nợ lãi và gốc nhưng Công ty tư An Hưng cố tình không muốn trả nợ mặc dù Công ty An Hưng đã cho các
hộ dân thuê các ki-ốt và chợ đã đi vào hoạt động Do đó, ngày 23/8/2016, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc Công ty An Hưng phải trả Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2016 là 26.693.701.300 đồng (Trong đó tiền nợ gốc: 20.000.000.000 đồng; Tiền lãi: 6.693.701.300 đồng) Hỏi:
a Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự hay việc dân sự? Vì sao?
b Đại diện Viện kiểm sát có phải tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hay không?
Vì sao?
c Giả sử đại diện cho Ngân hàng tham gia tố tụng là ông David quốc tịch Mỹ, đang cư trú, làm việc ở Việt Nam Hỏi Tòa án có bắt buộc có người phiên dịch cho ông David hay không?
Trang 3d Giả sử sau khi xét xử vào ngày 15/6/2017, Tòa án sơ thẩm quyết định buộc Công ty An Hưng phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 20.000.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày ra bản án là 6.885.602.341 đồng) Theo anh chị việc làm của Tòa án có vi phạm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự hay không?
Trang 4Chương 2: Chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự
I Nhận định
1 Chủ thể tiến hành tố tụng dân sự là những người có quyền tham gia, giải quyết
vụ việc dân sự
2 Hội thẩm nhân dân có quyền tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự
3 Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự
4 Thẩm phán là người ghi biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
5 Đương sự là cá nhân chết thì Tòa án phải triệu tập người thừa kế của họ tham gia tố tụng
6 Người khởi kiện là nguyên đơn trong vụ án dân sự
7 Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn không thể trở thành bị đơn
8 Người chưa thành niên không thể trở thành người làm chứng trong tố tụng dân
Câu 1: Năm 1976, ông N cho ông Q ở nhờ trên phần đất của mình có diện tích
khoảng 300 m2 Năm 1994, ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông để lại thừa kế cho con ông là ông M Năm 2000, ông Q chết, con của ông là A tiếp tục ở trên phần đất này Năm 2008, ông M có nhu cầu sử dụng phần đất trên nên đã yêu cầu ông A giao trả đất lại cho ông nhưng ông A không đồng ý Ông M đã khởi kiện ông A ra Tòa án để đòi lại phần đất trên Sau khi Tòa án thụ lý, trong quá trình giải quyết, ông A thỏa thuận và cam kết trong thời hạn 01 năm sau, ông A sẽ di dời để trả lại phần đất trên cho ông M Ông M đã rút đơn khởi kiện và Thẩm phán B ra quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án Sau đó, ông A đã khởi kiện ông M ra Tòa án về việc
tranh chấp phần đất đang ở Do các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa ra xét xử và Thẩm phán giải quyết vụ án này lại là Thẩm phán B Sau khi xét xử sơ thẩm, ông A kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết lại, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm trên và cho rằng cấp sơ thẩm
Trang 5đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, do Thẩm phán B đã 2 lần giải quyết vụ án giữa ông M và ông A
Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?
Câu 2: TAND thành phố Y thụ lý một vụ án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
giữa bà T (nguyên đơn) và bà H (bị đơn) và Chánh án đã phân công cho một Thẩm phán B giải quyết Sau đó, Thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án Một thời gian sau, Thẩm phán B được điều chuyển công tác về TAND tỉnh P, nên Chánh án TAND thành phố Y đã giao vụ án cho Thẩm phán khác giải quyết
Sau phiên xử sơ thẩm của TAND thành phố Y, đương sự kháng cáo Thẩm phán
B được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này Tại phiên tòa, đương sự yêu cầu thay đổi Thẩm phán B Hội đồng xét xử tuyên bố hoãn phiên tòa để thực hiện việc thay đổi Thẩm phán B
Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?
Câu 3: Chị Tiên kết hôn với anh Sỹ năm 1995, sinh được 3 con là Sử 1996, Sự
1998, Sáng 2008 Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị Tiên nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, đơn này được Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án Trong đơn khởi kiện, chị Tiên yêu cầu được được ly hôn, được nuôi 3 con chung, không yêu cầu anh Sỹ cấp dưỡng, yêu cầu được chia 50% giá trị tài sản chung là căn nhà trị giá khoảng 7 tỷ tại quận 8 hiện anh chị và các con đang ở, yêu cầu anh Sỹ phải trả số nợ chung 2 tỷ đồng cho chủ nợ là ông Hùng Hỏi:
a Xác định tư cách của đương sự?
b Nguyên đơn, bị đơn có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng không?
Câu 4: Bà Lan cho ông Tú vay 300 triệu đồng, không lãi suất, để mở cửa hàng
bán thức ăn gia súc, thời hạn 2 năm, có hợp đồng tay ngày 10/10/2014 Do ông Tú không trả nợ vay, ngày 20/01/2017, bà Lan khởi kiện ông Tú đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xét xử buộc ông Tú trả nợ vay 300 triệu đồng, không yêu cầu trả lãi Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông Tú có đơn yêu cầu bà Lan trả 40 triệu đồng tiền thức
ăn gia súc bà Lan mua từ tháng 01/2014 đến tháng 7/2016 chưa trả, được Tòa án chấp nhận giải quyết trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện Hỏi:
a Xác định tư cách của đương sự?
b Việc Tòa án giải quyết yêu cầu của ông Tú trong cùng vụ án do bà Lan khởi kiện là đúng pháp luật không?
c Giả sử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án là cháu rể của ông Tú Theo quy định của pháp luật, bà Lan cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
d/ Ông Tú có quyền ủy quyền cho Luật sư tham gia tố tụng không?
Trang 6III Bản án, quyết định của Tòa án
1 Quyết định số 20/2007/DS-GĐT ngày 09/7/2007 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
2 Bản án số 45/2014/DSPT ngày 17/3/2014 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa
án nhân dân tối cao
Trang 7Chương 3: Thẩm quyền của tòa án nhân dân
I Nhận định
1 Chỉ có Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm vụ án dân sự có đương sự ở nước ngoài
2 Tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp trước khi khởi kiện tại Tòa án
3 Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn là Tòa án nơi bị đơn cư trú
4 Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
cơ quan, tổ chức với nhau là tranh chấp dân sự
5 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại luôn thuộc thẩm quyền, giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
6 Đương sự có thể lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự
7 Sau khi thụ lý vụ án, thẩm quyền của Tòa án không thay đổi
8 Nếu đương sự trong vụ án là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ án dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
9 Tranh chấp về bảo hiểm là tranh chấp kinh doanh thương mại
10 Tòa án cấp huyện không có quyền thụ lý, giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài
II Bài tập
Câu 1: Bà Hồng cư trú tại quận 6, TP.HCM khởi kiện anh Nam cư trú tại quận
Thủ Đức, TP.HCM, anh Long cư trú tại TP Biên Hòa, Đồng Nai, yêu cầu bồi thường tiền chữa trị cho con bà là cháu Tuấn 10 tuổi (cư trú tại quận 7, TP.HCM), số tiền 12 triệu, do hai anh này đã có hành vi gây thương tích cho cháu Tuấn tại quận 5, TP.HCM Hỏi:
a Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp?
b Xác định tư cách đương sự?
c Bà Hồng có quyền nộp đơn khởi kiện tại những Tòa án nào?
Câu 2: Ngày 30/01/2017, ông Nguyễn Đức Hải (cư trú tại quận 1, TP.HCM)
khởi kiện ông Trần Mạnh Hùng (cư trú tại quận 2, TP.HCM), yêu cầu ông Hùng và vợ
là bà Nguyễn Thị Lan (cư trú tại quận 3, TP.HCM, hiện đang công tác ở Mỹ) phải hoàn trả số tiền đã vay của ông Hải là 100.000.000 đồng Bà Lan đã ủy quyền cho chồng là ông Hùng được toàn quyền thay mặt mình tham gia tố tụng trong vụ án nêu trên
Trang 8a Xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự?
b Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết?
c Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 03/02/2017, bà Lan bị tai nạn giao thông chết Tòa án sơ thẩm đã ra phán quyết buộc ông Hùng (với tư cách cá nhân và đại diện theo ủy quyền của bà Lan) phải hoàn trả cho ông Hải số tiền là 100.000.000 đồng Anh (chị) hãy nhận xét hành vi tố tụng của Tòa án
Câu 3: Công ty TNHH Ánh Sáng (trụ sở tại quận 5, TP.HCM) ra quyết định sa
thải chị Trần Thị Thu (nhân viên kế toán, cư trú tại quận 6, TP.HCM) với lý do chị Thu tự ý nghỉ việc 05 ngày liên tiếp trong một tháng không có lý do chính đáng và sa thải anh Nguyễn Văn An (nhân viên bảo vệ, cư trú tại quận 7, TP.HCM) với lý do anh
An đã tự ý bỏ trực một đêm dẫn đến công ty bị trộm 10 tỷ đồng
Ngày 12/4/2017, chị Thu làm đơn khởi kiện công ty đến Tòa án nhân dân quận 5 với yêu cầu: công ty phải thu hồi, hủy bỏ quyết định sa thải, nhận chị trở lại làm việc, xin lỗi công khai đối với chị, trả đầy đủ lương và phụ cấp trong thời gian chị nghỉ việc theo quyết định sa thải Ngày 15/5/2017, anh An làm đơn khởi kiện Công ty đến Tòa
án nhân dân quận 5 với yêu cầu tương tự như chị Thu Chị Thu và anh An đều nêu trong đơn khởi kiện là đã điện thoại xin phép Trưởng phòng nhân sự cho nghỉ phép, được Trưởng phòng nhân sự đồng ý cho phép
a Xác định quan hệ tranh chấp và tư cách đương sự?
b Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án?
c Tòa án thụ lý có quyền nhập 02 vụ án trên thành 01 vụ án để xét xử hay không? Tại sao?
Câu 4: Vợ chồng cụ Đặng Văn Thiệp (chết năm 1967), cụ Nguyễn Thị Vốn (chết
năm 1994) có 9 người con chung là các ông bà Nguyễn Thị Lang, Đặng Chí Long, Đặng Chí Tài, Đặng Thị Cúc, Đặng Thị Yến, Đặng Thị Mỹ Ngọc, Đặng Văn Nhơn, Đặng Thị Mỹ Châu, Đặng Văn Thượng Về tài sản vợ chồng cụ Thiệp tạo lập được căn nhà số 15 đường Quang Trung, ấp Lộc Thành, thị trấn Trảng Bàng, tỉnh Tây Minh (hiện do ông Thượng quản lý sử dụng) và diện tích 6.930 m2 (số đo thực tế 6.270,5m2) đất vườn tại ấp Phước Đức, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Hiện vợ chồng bà Yến ông Trực đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 3.400
m2, phần còn lại do ông Tài sử dụng nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên trên phần đất của ông Tài có 2 bụi tre tàu (hiện đã lụi tàn, chỉ còn khoảng 3-4 cây) do cụ Vốn trồng
Trang 9Năm 2017, ông Long khởi kiện bà Yến yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Thiệp
và cụ Vốn là phần diện tích đất 6.930 m2 (số đo thực tế 6.270,5m2) đất vườn tại ấp Phước Đức, xã Phước Đông, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nêu trên Tòa án đã thụ lý giải quyết vụ án
a Cho biết bà Lang trú tại số 6409 Stanjort St, Arlington, Texas, USA
Bà Yến trú tại xã An Tây, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Hỏi: Tòa án nào có thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án?
b Xác định tư cách đương sự trong vụ án nêu trên
c Giả sử sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bà Lang trở về Việt Nam sinh sống, hướng giải quyết của Tòa án trong trường hợp này là gì?
d Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định rằng: “Do phần đất hiện đang được ông Tài quản lý sử dụng không có một trong các giấy tờ quy định tại các khoản
1, 2, 3 Điều 100 Luật đất đai 2013” nên tranh chấp đối với diện tích đất ông Tài đang quản lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Anh/Chị nhận xét thế nào về nhận định này của Tòa án?
III Bản án, quyết định của Tòa án
Bản án số 17/2015/KDTM-PT ngày 08/09/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Hà Nội về tranh chấp thành viên công ty
Trang 10Chương 4: Án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng
I Nhận định
1 Mức tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án dân sự có giá ngạch bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch mà Tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp do đương sự yêu cầu giải quyết
2 Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan có thẩm quyền thu án phí dân sự và lệ phí dân sự
3 Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm thì được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm
4 Người lao động khởi kiện đòi tiền lương thì không phải nộp tạm ứng án phí sơ thẩm
5 Trước khi thụ lý việc dân sự, Chánh án Tòa án là người có thẩm quyền xét đơn
đề nghị miễn, giảm tạm ứng lệ phí Tòa án
6 Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
7 Người được Tòa án quyết định cho miễn nộp tiền tạm ứng án phí thì không có nghĩa vụ chịu tiền án phí
8 Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do bị đơn chịu
9 Đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm nếu Tòa án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại
10 Đương sự được miễn án phí dân sự sơ thẩm thì đương nhiên được miễn án phí dân sự phúc thẩm
II Bài tập
Câu 1: Trong vụ án ly hôn giữa A và B (do A gửi đơn xin ly hôn) và tranh chấp
tài sản chung có giá trị là 1 tỷ đồng
- Theo bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử quyết định chia đôi khối tài sản chung
là 1 tỷ đồng cho A và B (mỗi người 500 triệu)
- Sau đó A có kháng cáo bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định
A được chia phần tài sản trị giá 400 triệu đồng và B được chia phần tài sản trị giá 600 triệu đồng
Anh/ Chị hãy tính tạm ứng án phí sơ thẩm/phúc thẩm và án phí sơ thẩm/phúc thẩm
Trang 11Câu 2: A khởi kiện yêu cầu B bồi thường thiệt hại là 200 triệu đồng do vi phạm
hợp đồng mua bán Theo bản án sơ thẩm: B bồi thường cho A 180 triệu đồng
B làm đơn kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm để xét
xử sơ thẩm lại
Anh/ Chị hãy tính án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm?
Câu 3: Anh A cho anh B vay số tiền 400.000.000 đồng, theo hợp đồng vay có
công chứng ngày 10/3/2016, thời hạn vay một năm, không lãi suất Do anh B không trả nợ theo đúng thoả thuận dù anh A đã nhiều lần yêu cầu, nên anh A đã khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu Tòa án xét xử buộc anh B trả lại cho anh A số tiền vay 400.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực thi hành Tòa án có thẩm quyền thụ
lý tranh chấp này ngày 28/3/2017 Giả sử bản án dân sự sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hỏi:
a Tính tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm? Tính án phí sơ thẩm?
b Giả sử bị đơn kháng cáo, yêu cầu xét xử lại toàn bộ vụ án, HĐXX phúc thẩm
đã tuyên bản án phúc thẩm bác nội dung kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm Tính tạm ứng án phí phúc thẩm và án phí phúc thẩm?
Câu 4: Bà Nguyễn Thị A kiện anh Nguyễn Văn B yêu cầu anh B bồi thường
thiệt hại sức khoẻ cho bà với số tiền 200 triệu đồng do anh B gây tai nạn làm ảnh hưởng sức khoẻ của bà Bản án dân sự sơ thẩm tuyên chấp nhận một phần yêu cầu của
bà A, buộc anh B phải bồi thường cho bà A với số tiền là 100 triệu đồng Hỏi:
a Tính tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm?
b Tính án phí dân sự sơ thẩm?
III Bản án, quyết định của Tòa án
Bản án số 67/2016/HNGĐ-ST ngày 19/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một - tỉnh Bình Dương về tranh chấp ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con
Trang 12Chương 5: Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
I Nhận định
1 Mọi chứng cứ đều được công bố và sử dụng công khai
2 Trong tố tụng dân sự, Tòa án không có thẩm quyền thu thập chứng cứ
3 Tòa án ra quyết định định giá tài sản khi có yêu cầu của đương sự
4 Biên bản lấy lời khai là chứng cứ trong tố tụng dân sự
5 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự không có nghĩa vụ chứng minh
6 Chỉ có Tòa án mới có quyền uỷ thác cho các cơ quan nhà nước thu thập chứng
cứ để giải quyết vụ án dân sự
7 Đương sự có quyền giao nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm
8 Trong tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không có thẩm quyền thu thập tài liệu, chứng cứ
9 Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ bắt buộc phải có đầy đủ chữ ký (hoặc lăn tay, điểm chỉ) của tất cả các đương sự trong vụ án
10 Đương sự có yêu cầu có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp
II Bài tập
Câu 1: Nhà chị Mai và nhà anh Tuấn liền kề nhau Anh Tuấn sửa nhà Sau đó,
nhà chị Mai bị nứt Theo chị Mai, nhà của chị bị nứt là do việc sửa nhà của anh Tuấn gây ra Chị yêu cầu anh bồi thường 50 triệu đồng nhưng anh không đồng ý (vì cho rằng nhà chị Mai bị nứt do nhà chị được xây dựng trên nền móng yếu) Chị Mai đã khởi kiện anh Tuấn đến Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu Tòa án buộc anh Tuấn phải bồi thường thiệt hại là 50 triệu đồng Tòa án thụ lý vụ án, trưng cầu giám định theo yêu cầu của chị Mai (anh Tuấn không đồng ý việc giám định này), chi phí giám định là 5 triệu đồng Kết quả giám định xác định: nhà chị Mai có 2 vết nứt, do tác động của việc sửa nhà của anh Tuấn Hỏi:
a Chị Mai phải chứng minh những vấn đề gì? Bằng các chứng cứ nào?
b Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai, buộc anh Tuấn bồi thường cho chị Mai số tiền 50 triệu đồng Chi phí giám định đương sự nào chịu?
Câu 2: Tháng 7/2016, bà Hồng nộp đơn kiện đòi ông Thanh và bà Lan trả lại
quyền sử dụng đất 90 m2 ở quận 8, thành phố Hồ Chí Minh Phía bị đơn cho rằng vào
Trang 13năm 2000, nguyên đơn đã lăn tay vào “bản cam kết ưng thuận” và “bản xác nhận tái sử dụng đất” (bị đơn đã cung cấp hai văn bản nói trên, có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường) để đồng ý cho họ được sử dụng và hợp thức hóa phần đất trên Nguyên đơn phủ nhận dấu vân tay trên hai văn bản nói trên và trình bày rằng năm 1988, bà chỉ cho
bị đơn cất một căn chòi nhỏ để ở trên 20 m2 đất Sau đó, bị đơn đã dần dần lấn thêm và
mở rộng diện tích lên gần 90 m2, lại còn tự ý đi hợp thức hóa nhà
Là nguyên đơn, anh (chị) cần phải chứng minh những vấn đề gì và cung cấp những chứng cứ nào để yêu cầu đòi lại đất của mình được Tòa án chấp nhận
Câu 3: Chị Hà và anh Hồ kết hôn hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Thời gian đầu cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc, anh chị đã có một con chung Từ khi anh Hồ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan thì cuộc sống gia đình vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn Nguyên nhân là do anh Hồ không liên lạc, không quan tâm đến tinh thần và vật chất đối với vợ con trong thời gian dài, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được Anh Hồ và chị Hà đều nhận thấy không thể kéo dài cuộc sống vợ chồng nên đều nhất trí ly hôn Chị Hà yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng và không yêu cầu chia tài sản chung
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh Hồ vắng mặt Tuy nhiên, anh Hồ đã gửi đến Tòa án 01 bản hộ chiếu phô tô, 2 bản tự khai và đơn xin xét
xử vắng mặt Các tài liệu này không được hợp pháp hóa lãnh sự Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận các tài liệu, chứng cứ do anh Hồ cung cấp và đã ra bản án sơ thẩm giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Hà và anh Hồ
Sau khi có bản án sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn có Quyết định kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án và đề nghị hủy bản án sơ thẩm đã tuyên với lý do: Các tài liệu giải quyết vụ án do anh Nguyễn Văn
Hồ từ nước ngoài gửi về không được hợp pháp hóa lãnh sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Nếu là thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm, các anh (chị) có chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn không? Vì sao?
Câu 4: Cụ Minh và cụ Trầm có 03 người con là Trung (sinh năm 1935), Xiêm
(sinh năm 1940) và Huệ (sinh năm 1952) Cụ Minh và cụ Trầm chết để lại khối tài sản gồm: phần đất thuộc thửa số 1675, 1676, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại ấp An Thạnh, xã Long Thơi, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, diện tích 2.987 m2, 01 ngôi nhà 03 gian, cột gỗ, vách gỗ, nền đất; các tài sản trong nhà bao gồm: 01 tủ thờ, 01 bộ ván ngựa, 01
tủ áo
Trang 14Đất hiện nay do bà Nguyễn Thị Huệ và bà Nguyễn Thị Bé Hằng trực tiếp quản
lý
Ông Xiêm mất năm 1964 và có một người con là Hùng
Do ông Minh và bà Trầm chết không để lại di chúc nên ông Trung khởi kiện bà Huệ, bà Hằng ra Tòa án yêu cầu chia toàn bộ di sản mà ông Minh, bà Trầm để lại làm
03 phần bằng nhau cho 03 người là ông Trung, ông Hùng và bà Huệ
Để giải quyết chính xác vụ án chia thừa kế, đương sự, Tòa án cần thực hiện những biện pháp thu thập chứng cứ nào đối với tài sản đang tranh chấp
III Bản án, quyết định của Tòa án
1 Bản án số 48/2015/KDTM-PT ngày 22/12/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
2 Bản án số 42/2014/DSPT ngày 21/3/2014 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa
án nhân dân tối cao
Trang 15Chương 6: Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
4 Người được tống đạt văn bản tố tụng có nghĩa vụ phải nhận văn bản tố tụng
5 Khi người được tống đạt văn bản tố tụng vắng mặt thì văn bản được tống đạt
sẽ được niêm yết công khai
6 Bản chính văn bản tố tụng phải được niêm yết công khai tại nơi cư trú của cá nhân được tống đạt
7 Thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng
8 Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng chỉ do Tòa án trực tiếp thực hiện
9 Nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng chỉ thuộc về Tòa án nhân dân
10 Văn phòng Thừa phát lại được thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng
II Bài tập
A cư trú tại quận X thành phố H cho B cư trú quận Y thành phố H vay 1 tỷ đồng,
có làm văn bản Tháng 3/2017, A kiện B tại Tòa án quận Y để đòi số tiền trên Sau khi nhận đơn, Tòa án quận Y xác định B cư trú tại địa chỉ do A cung cấp là đúng nhưng B
cố tình thường xuyên thay đổi nơi cư trú nên thư ký Tòa án quận Y thành phố H không thể tống đạt trực tiếp giấy triệu tập B đến phiên tòa Nhận xét gì về hành vi tố tụng của Tòa án quận Y khi:
a Tòa án quận Y ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
b Tòa án quận Y đã thực hiện việc niêm yết công khai giấy triệu tập B và tiếp tục giải quyết vụ án
III Bản án, quyết định của Tòa án
Quyết định giám đốc thẩm số 40/2007/DS-GĐT ngày 14/12/2007 của Tòa án nhân dân Tối cao về tranh chấp về thừa kế tài sản
Trang 16Chương 7: Biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạm đình chỉ, đình chỉ
I Nhận định
1 Tòa án có thể tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
2 Tòa án có quyền tạm đình chỉ vụ án dân sự để tìm địa chỉ của bị đơn
3 Khi có yêu cầu huỷ bỏ của các bên, Tòa án sẽ ra ngay quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng
4 Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn hoặc bị đơn
là cá nhân đã chết mà không có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân
7 Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án
8 Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện
9 Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án nếu thời hiệu khởi kiện đã hết
10 Nếu các đương sự đã tự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
II Bài tập
Câu 1 Bà Nguyệt cho rằng sau khi ông Vũ được UNBD cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với lô đất thuộc thửa đất số 1320, ông Vũ đã có hành vi lấn chiếm 15 m2 đất thuộc quyền sử dụng của bà Nguyệt để làm nhà tắm, làm hầm phân và thải nước bẩn (phân heo) qua vườn nhà bà Sau nhiều lần hòa giải tại địa phương không thành, bà Nguyệt đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông Vũ trả 15 m2 đất
và bồi thường thiệt hại vì đã có hành vi xả thải ra vườn nhà bà Ông Vũ cho rằng, gia đình ông sử dụng đúng với diện tích đất của mình nên ông không chấp nhận các yêu cầu của bà Nguyệt Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm ông Vũ tiếp tục thực hiện hành vi xả nước thải qua vườn nhà bà Nguyệt” Nhận xét về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên của Tòa án
Trang 17Câu 2 Hợp đồng vay tài sản được ký kết giữa bà Xê và ông Tâm, sau khi hợp
đồng vay hết thời hạn mà ông Tâm không thực hiện nghĩa vụ cho bà Xê nên bà đã khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông Tâm trả nợ cho mình Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải nhưng không thành, các bên đã tự thỏa thuận với nhau, theo đó ông Tâm
sẽ cắt phần đất giao cho bà Xê để trừ đi số tiền 131.800.000 đồng đã mượn của bà Do
đó, bà Xê đã có đơn xin đình chỉ giải quyết vụ án, bà không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết
a Bà Xê có quyền đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này không? Tại sao?
b Tòa án có căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp trên không? Tại sao?
Câu 3 Bà Đụa làm nghề kinh doanh xăng dầu, trong quá trình làm ăn, bà có bán
cho bà Dứa nhiều lần với hình thức gối đầu, sau một thời gian, hai bên không tiếp tục mua bán với nhau nữa, theo giấy xác nhận nợ, bà Dứa còn nợ lại 61.847.800 đồng nên
bà Đụa khởi kiện yêu cầu bà Dứa trả số tiền nợ gốc và lãi chậm thanh toán Vì lo ngại
bà Dứa sẽ tẩu tán tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên bà Đụa yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản”
a Bà Đụa có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp này không? Tại sao?
b Bà Dứa có quyền gì đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án nêu trên?
Câu 4 Sau một thời gian chung sống, do mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân,
bà Trang có đơn khởi kiện ra Tòa xin ly hôn, yêu cầu giải quyết về nuôi con chung và phân chia tài sản chung Trong thời gian giải quyết vụ án ly hôn, ông Vinh bị tạm giam
để điều tra về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nên Tòa án cấp
sơ thẩm đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Nhận xét về hành vi tố tụng nêu trên của Tòa án
III Bản án, quyết định của Tòa án
Trang 18Chương 8: Thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự
4 Nếu người khởi kiện không cung cấp được địa chỉ của bị đơn thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện
5 Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa trong trường hợp người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa
6 Hòa giải là hoạt động tố tụng bắt buộc trong trình tự giải quyết một vụ án dân
12 Thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa đối với vụ án dân sự nói chung là 8 tháng kể
từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án
13 Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được tham gia vào phiên hòa giải
14 Đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm thì Tòa án phải chấp nhận
Trang 1915 Tòa án luôn phải tạo điều kiện để các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự
II Bài tập
Câu 1: Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu
nhà ở tại số 0464 Nguyễn Huệ, thành phố Long An, ông Lạc, bà Dung đã tiến hành chuyển nhượng quyền cho ông Chương, bà Thỉ Trong quá trình chờ làm thủ tục sang tên, anh Lập (là con của ông Lạc, bà Dung) cho rằng năm 1999 anh mua 18 m2 đất của ông Mứt (ở phía sau nhà của cha mẹ anh) để cho thẳng ranh giới đất và đóng góp tiền xây dựng lại căn nhà trên nhưng việc chuyển nhượng lại không có sự đồng ý của anh
Do đó, anh Lập làm đơn khởi kiện ra Tòa yêu cầu ông Lạc, bà Dung trả lại 18 m2 đất
và 150.000.000 đồng tiền đóng góp xây dựng nhà Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, anh Lập yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chyển nhượng nhà đất giữa ông Lạc, bà Dung
và ông Chương, bà Thỉ Tòa án phải giải quyết trường hợp này như thế nào
Câu 2 Năm 2015, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và ông
Chương ký kết Hợp đồng tín dụng số 15/01 về việc Ngân hàng cho ông Chương vay
số tiền 950 triệu đồng Trong thời hạn vay ông Chương không đóng lãi, đến hạn thanh toán ông Chương không thực hiện nghĩa vụ nên Ngân hàng đã khởi kiện ông Chương yêu cầu thanh toán khoản vay
a Giả sử trong quá trình chuẩn bị xét xử, ông Chương bị tai nạn và đột ngột qua đời, Tòa án phải giải quyết tình huống này như thế nào?
b Giả sử nguyên đơn và bị đơn đều làm đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm Nêu hướng giải quyết của Tòa án
Câu 3 Bà Viêng khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán
căn nhà số 118 đường Dân Chủ, thành phố Long Xuyên giữa bà và bà Thủy Khi Tòa
án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, tất cả đương sự vắng mặt nên Tòa án hoãn phiên tòa Khi phiên tòa được mở lại (mở lần 2), bà Viêng có mặt tại phiên tòa, bà Thủy không
có mặt nhưng có “đơn xin hoãn phiên tòa” và “đơn xin xác nhận” có nội dung bà Thủy
bị bệnh phải đi cấp cứu (đơn này đã được Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang xác nhận) Tòa án cho rằng bà Thủy đã được triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nên đã tiến hành xét xử vắng mặt bà Thủy Nhận xét về hành vi tố tụng nêu trên của Tòa án
Câu 4 Năm 2001, ông Vị cất một căn nhà tạm trên diện tích 100 m2 thuộc thửa tại đường Nguyễn Công Trứ, thành phố Rạch Giá Anh Tuấn cho rằng đây là di sản thừa kế bà nội anh để lại cho ông Vị và ông Vị đã phân chia cho anh, nên anh khởi kiện yêu cầu ông Vị hoàn trả cho mình toàn bộ diện tích đất nêu trên Về phần mình,
Trang 20ông Vị cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng ông, việc ông tự ý cho anh Tuấn là sai nên ông yêu cầu Tòa án buộc anh Tuấn phải trả lại đất cho mình
a Sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh Tuấn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Tòa án ra quyết định thay đổi địa vị tố tụng của anh Tuấn từ nguyên đơn sang bị đơn
và ông Vị từ bị đơn sang nguyên đơn Nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án
b Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Hội đồng xét xử giải quyết tình huống trên như thế nào?
Câu 5 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối
với căn nhà số 294 quốc lộ 15, thành phố Bình Dương được ký kết giữa bà Xuân và ông Tươi với giá chuyển nhượng là 3,5 tỷ đồng Sau khi thanh toán 2,5 tỷ đồng và nhận nhà ở, ông Tươi không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên
bà Xuân khởi kiện yêu cầu ông Tươi tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà Xuân có đơn khởi kiện bổ sung với nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện từ “yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng” sang “yêu cầu Tòa án hủy biên nhận chuyển nhượng nhà đất, yêu cầu ông Tươi trả lại nhà”
a Tòa án cấp sơ thẩm có phải tiến hành hòa giải đối với yêu cầu mới của bà Xuân không?
b Tại phiên tòa, ông Tươi không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nên ông Tươi đã đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để mời Luật sư Ông Tươi có quyền đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa trong trường hợp này không? Tại sao?
Câu 6 Bà Viên và ông Hạnh kết hôn năm 2004, đến năm 2016 ông bà xin ly hôn
và được Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar giải quyết tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn, nhưng khi ly hôn, ông bà chưa giải quyết tài sản chung, nay bà Viên yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung sau ly hôn gồm 01 lô đất diện tích 5.120
m2 và 01 lô đất diện tích 976,9 m2 Ngoài ra, ông bà còn nợ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam 140 triệu đồng
a Giả sử người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam vắng mặt ở lần triệu tập hợp lệ đầu tiên, không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử giải quyết tình huống này như thế nào?
b Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án HĐXX giải quyết tình huống trên như thế nào?
III Bản án, quyết định của Tòa án
Trang 216 Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án
7 Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành
8 Người kháng cáo không nộp tạm ứng án phí phúc thẩm thì Tòa án phải đình chỉ xét xử phúc thẩm
9 Nguyên đơn không kháng cáo thì không có quyền rút đơn khởi kiện
10 Tòa án cấp phúc thẩm phải triệu tập tất cả đương sự của vụ án tham gia phiên tòa phúc thẩm
11 Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm
12 Tòa án không được tiến hành hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự
13 Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo
14 Đại diện Viện kiểm sát vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa
15 Hội đồng xét xử có quyền hoãn phiên tòa phúc thẩm để thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ
II Bài tập
Trang 22Câu 1: Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân hàng X kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm
Vì đương sự không có mặt tại phiên toà nên Tòa phúc thẩm ra quyết định hoãn phiên tòa Sau đó, Tòa Phúc thẩm quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm để tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp Sau khi có quyết định tiếp tục đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Ngân hàng X có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng X là ông Y đang đi công tác Tại phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận đơn xin hoãn phiên tòa của ông Y mà cho rằng Ngân hàng X (người kháng cáo) đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, từ đó ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm Nhận xét về quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm nêu trên
Câu 2: Công ty A khởi kiện Công ty B với yêu cầu phải bồi thường số tiền 50
triệu đồng do ngày 02/3/2016 Công ty A gửi cho Công ty B một bưu kiện mang số TB
276683 bên trong là một máy đo nồng độ cồn, nơi nhận là Trung tâm đo lường Việt Nam Do nhân viên phát bưu kiện bị tai nạn nên làm thất lạc bưu kiện trên Công ty B
đề nghị bồi thường 10 triệu đồng nhưng Công ty A không đồng ý Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Hỏi:
a Bị đơn kháng cáo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ đồng ý bồi thường 10 triệu đồng Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đưa ra ý kiến bị đơn
sẽ bồi thường cho nguyên đơn 40 triệu đồng và yêu cầu nguyên đơn phải rút toàn bộ đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm, không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Nếu anh/chị là nguyên đơn, anh/chị đồng ý với ý kiến của bị đơn không? Tại sao?
b Giả sử khi đọc hồ sơ vụ án, Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án phát hiện biên bản hòa giải được lập nhưng không có chữ ký của Thẩm phán và Thư ký của Tòa
án cấp sơ thẩm Vậy có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm không?
III Bản án, quyết định của Tòa án
1 Bản án số 180/2016/DS-PT ngày 25/10/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại
Hà Nội
2 Bản án số 156/2017/DS-PT ngày 25/7/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An
về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Trang 23Chương 10: Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
án nhân dân tối cao
4 Người tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, phiên tòa tái thẩm gồm có: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên
5 Thời hạn kháng cáo giám đốc thẩm, kháng nghị tái thẩm là 05 năm
6 Hội đồng xét xử giám đốc thẩm và Hội đồng xét xử tái thẩm có quyền hủy bản
án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại
7 Khi bản án bị hủy để xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại (bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm) thì Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mới không còn quyền độc lập xét xử
8 Sự vắng mặt của đại diện Viện kiểm sát trong phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm đều dẫn đến việc hoãn phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm
9 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tự xem xét lại quyết định đã có hiệu lực pháp luật của chính mình theo Chương XXII – BLTTDS 2015 là vi phạm nguyên tắc tại Điều 16 BLTTDS 2015
10 Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật chỉ phát sinh trên cơ sở có đề nghị của đương sự
II Bài tập
Câu 1: A (cư trú tại quận 9, TP.HCM) khởi kiện yêu cầu B và C (cùng cư trú tại
quận Thủ Đức, TP.HCM) tranh chấp về di sản thừa kế do cha mẹ (ông K, bà H) chết
để lại, không có di chúc, di sản là căn nhà quận 12, TP.HCM, trị giá 4 tỷ đồng Ngày 12/4/2015, Tòa án ra Bản án sơ thẩm tuyên xử: xác định di sản là căn nhà tọa lạc tại quận 12, trị giá 3,6 tỷ đồng, chia đều cho A, B, C mỗi người thừa kế 1/3 giá trị căn nhà Không có kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm
Trang 24Đầu năm 2017, D (định cư tại Lào) về Việt Nam biết được sự việc tranh chấp đã được Tòa án giải quyết xong D có giấy tờ chứng minh ông K và bà H có 04 con chung gồm: A, B, C, D Hỏi: Trong tình huống trên D cần tiến hành thủ tục gì để bảo vệ quyền lợi cho chính mình? Nêu cụ thể về trình tự, thủ tục?
Câu 2: Công ty dịch vụ bảo vệ An Ninh ký hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo vệ
cho Công ty TNHH AK, phí dịch vụ 15 triệu đồng/tháng, thời hạn hợp đồng từ 01/01/2015 đến 30/6/2017 Từ tháng 5/2016 đến tháng 10/2016, Công ty AK không thanh toán phí dịch vụ cho Công ty An Ninh Do đó, từ tháng 11/2016, Công ty An Ninh ngừng cung cấp dịch vụ bảo vệ và đã khởi kiện yêu cầu Công ty AK trả tiền phí dịch vụ là 15 triệu đồng x 5 tháng = 75 triệu đồng
Dù được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, bản
án sơ thẩm đã tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Không
có kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Sau đó, bị đơn phát hiện thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm có Hội thẩm nhân dân A là sui gia với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (con gái của Thẩm phán kết hôn với con trai của Hội thẩm nhân dân A)
Hỏi: Bị đơn cần tiến hành thủ tục gì để bảo vệ quyền lợi cho chính mình?
III Bản án, quyết định của Toà án
1 Quyết định giám đốc thẩm số 13/2016/DS-GĐT ngày 06/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp đòi tài sản
2 Quyết định tái thẩm số 517/2014/DS-TT ngày 16/12/2014 của Tòa dân sự - Tòa án nhân dân tối cao về tranh chấp quyền sử dụng đất
Trang 25Chương 11: Thủ tục rút gọn – Thủ tục giải quyết việc dân sự
I Nhận định
1 Tòa án không phải tiến hành hoà giải đối với vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn
2 Trong việc dân sự, người đưa ra yêu cầu không có nghĩa vụ chứng minh
3 Viện kiểm sát cùng cấp bắt buộc phải tham gia phiên họp giải quyết việc dân
sự
4 Tất cả các yêu cầu về dân sự có yếu tố nước ngoài đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
5 Hội thẩm nhân dân phải tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự
6 Thời điểm thụ lý việc dân sự là khi người yêu cầu giao nộp biên lai đóng tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự
7 Tòa án không phải tiến hành hoà giải khi giải quyết việc dân sự
8 Tòa án có thể chuyển vụ án đang giải quyết theo thủ tục rút gọn sang giải quyết theo thủ tục thông thường khi có đủ điều kiện
9 Người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
10 Tất cả các quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
II Bài tập
Câu 1: Anh Nam và chị Nữ là vợ chồng hợp pháp Do mâu thuẫn gia đình, chị
Nữ bỏ nhà ra đi đã 9 tháng liền Gia đình đã nhiều lần đi tìm nhưng không rõ chị Nữ đang ở đâu Hỏi:
a Ai có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm chị Nữ?
b Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú có hiệu lực như thế nào?
Câu 2: Anh X và chị Y kết hôn hợp pháp năm 2009 Năm 2011, do mâu thuẫn
vợ chồng, chán nản chị Y đã bỏ nhà đi Anh X đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không rõ tung tích chị Y Hỏi:
a Anh X có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Y mất tích không?
b Giả sử Tòa án đã thụ lý yêu cầu tuyên bố chị Y mất tích Sau khi thụ lý, Tòa án cần phải thực hiện thủ tục gì?
Trang 26c Giả sử sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố chị Y mất tích, chị Y trở về Chị
Y cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Câu 3 Anh An và chị Bình xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp vào năm 1988
Sau thời gian chung sống, hai người có một con chung là Kiệt (đã thành niên) Ngày 01/10/2016, anh An và chị Bình cùng nộp đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn với lý do tình cảm đã hết, con đã trưởng thành nên yêu cầu ly hôn để cả hai tìm hạnh phúc của mình Về tài sản chung của hai vợ chồng, hai bên thống nhất chia đôi Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu
a Nhận xét về quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu của Tòa án
b Giả sử, tại phiên họp sơ thẩm xét đơn yêu cầu thuận tình ly hôn, hai bên tranh cãi, không thống nhất được với nhau về phương thức phân chia tài sản chung Nêu hướng giải quyết của Tòa án trong trường hợp này
Câu 4 Anh Minh và chị Phượng ly hôn theo bản án dân sự phúc thẩm của Tòa
án nhân dân quận 2, TP.HCM Theo bản án này, chị Phượng là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nhung 5 tuổi, là con chung của hai anh chị Do mắc bệnh hiểm nghèo, thất nghiệp, cuộc sống gia đình khó khăn nên chị Phượng đã thoả thuận với anh Minh là anh Minh sẽ trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Nhung
Hỏi: Nêu những thủ tục cần thiết để chị Phượng thực hiện được các yêu cầu của mình? Cơ sở pháp lý?
III Quyết định giải quyết việc dân sự
Quyết định số 48/2017/QĐPS-KDTM ngày 04/7/2017 của Tòa án nhân dân Quận 7 - TP Hồ Chí Minh về việc không mở thủ tục phá sản
Trang 27PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trang 28TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HÒA XÃ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA DÂN SỰ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Quyết định giám đốc thẩm
Số: 20/2007/DS-GĐT
Ngày: 9/7/2007
Vụ án: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA DÂN SỰ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Với Hội đồng giám đốc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa:
Họp phiên tòa ngày 9/7/2007, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao để xét xử giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” giữa:
1 Nguyên đơn: Công ty du lịch Phú Yên có trụ sở tại nhà số 149X/B25 Tô
Hiến Thành, phường 13, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Lê Quang Bính đại diện theo giấy uỷ quyền ngày 19/11/1999
2 Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc có trụ sở tại
nhà số 153 Nguyễn Thông, phường 9, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, do ông Vưu Út – Giám đốc đại diện (sau đó đã bỏ trốn)
3 Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940;
- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938;
- Ông Mẫn và Phấn cùng cư trú tại nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
NHẬN THẤY
Trang 29Tại đơn khởi kiện ngày 6/4/1998 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty Du lịch Phú Yên trình bày:
Ngày 10/8/1995, Công ty Du lịch Phú Yên (sau đây gọi tắt là Công ty Phú Yên)
ký hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá số 29/HĐUT của Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc (sau đây gọi là Công ty Thịnh Phúc) nhập khẩu 11 xe
ô tô tải chuyên dùng (đã qua sử dụng) với giá 90.000 USD Công ty Phú Yên đã nhập
về 06 xe ô tô do Hàn Quốc sản xuất, trị giá 50.000 USD và giao cho Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc đã ký quỹ trước 5.000 USD Số tiền còn lại là 45.000 USD
sẽ phải thanh toán trong thời hạn 180 ngày
Ngày 27/11/1995, tại Phòng công chứng số 2 thành phố Hồ Chí Minh, ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn ký cam kết thế chấp căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh (thuộc quyền sở hữu của ông Mẫn, bà Phấn) để bảo lãnh cho Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út đại diện, thực hiện hợp đồng uỷ thác nhập khẩu số 29/HĐUT nêu trên Ông Út (bên được bảo lãnh) với ông Mẫn và bà Phấn (người thế chấp) cam kết: “Trường hợp đáo hạn mà Công ty Thịnh Phúc không trả đủ
nợ, lãi cho Công ty Phú Yên để thanh lý hợ đồng trên, chúng tôi đồng ý cho Công ty Phú Yên phát mãi nhà nói trên để trừ nợ, lãi và chi phí liên quan đến lô hàng mà không tranh chấp, khiếu nại gì.”
Tại “Biên bản đối chiếu và xác nhận công nợ” ngày 31/1/1998 giữa Công ty Phú Yên với Công ty Thịnh Phúc, Công ty Thịnh Phúc xác nhận đến ngày 31/1/1998 còn
nợ Công ty Phú Yên tổng số tiền là 1.015.814.000 đồng (bao gồm 45.000 USD nợ của hợp đồng uỷ thác số 29/HĐUT ngày 10/8/1998, lãi của tiền nợ do chậm trả từ tháng 4/1996 đến tháng 1/1998 là 14.850 USD và nợ tiền hàng cũ là 238.841.300 đồng) và đồng ý để Công ty Phú Yên tiến hành lập thủ tục phát mãi nhà số 62 Dạ Nam để thu hồi nợ
Ngày 6/4/1998, Công ty Phú Yên khởi kiện Toà án kinh tê nhân dân thành phố
Hồ Chí Minh yêu cầu Công ty Thịnh Phúc thanh toán số nợ và lãi theo biên bản xác nhận công nợ nêu trên, tổng cộng là 1.015.814.000 đồng; trường hợp Công ty Thịnh Phúc không có khả năng thanh toán số nợ trên thì đề nghị Toà án phát mãi căn nhà số
62 Dạ Nam để thanh toán nợ gốc và lãi theo quy định
Bị đơn là Công ty Thịnh Phúc do ông Vưu Út – Giám đốc có lời khai duy nhất tại Toà án ngày 20/5/1998 xác nhận: Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 45.000 USD từ ngày 1/4/1996 đến nay chưa thanh toán, Công ty Phú Yên áp dụng mức lãi suất quá cao, đề nghị thương lượng lại Hợp đồng số 29/HĐUT ngày 10/8/1998 được bảo đảm bằng tài sản là nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; cam kết thanh toán trong hạn 3 tháng, quá hạn không trả được thì phát mãi nhà
Trang 30số 62 Dạ Nam Ngoài ra, Công ty Thịnh Phúc còn nợ Công ty Phú Yên 238.841.300 đồng (số nợ này không có bảo đảm), Cong ty Thịnh Phúc sẽ thanh toán trong hạn 18 tháng
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Phấn trình bày: vợ chồng bà
có bảo lãnh cho ông Út thực hiện hợp đồng uỷ thác số 29/HĐUT ngày 10/8/1998 để nhập 6 chiếc xe ô tô chứ không bảo lãnh các việc khác; vợ chồng bà không nợ Công ty Phú Yên nên koong có trách nhiệm gì với số nợ của ông Út đối với Công ty Phú Yên Tại quyết định chuyển vụ án số 14/CH-KT ngày 26/8/1999, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xác định thoả thuận ngày 31/1/1998 giữa hai bên ký kết với nhau nhằm xác định công nợ, mang tính dân sự, không phải là tranh chấp hợp đồng kinh tế mà là tranh chấp dân sự và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc Do ông Vưu Út làm Giám đốc, trả cho Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên số nợ còn thiếu của hợp đồng uỷ thác
số 29/HĐUT ngày 10/8/1995 là 989.086.247 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu, tám mươi sáu ngàn, hai trăm bốn mươi bảy đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật
2 Kê biên căn nhà số 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu của ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là tài sản thế chấp, để đảm bảo thi hành số tiền ở Điều 1 ở trên Số tiền còn lại trong quá trình phát mãi nhà thì ông Mẫn và bà Phấn được nhận
Nếu ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn trả nợ cho Công ty Du lịch Phú Yên , thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, số tiền 989.086.247 đồng theo Điều 1 ở trên thì Công ty Du lịch Phú Yên phải trả giấy tờ nhà 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8 cho ông Mẫn – bà Phấn, các giấy tờ bản chính gồm:
- Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa số 172/GP-UB ngày 1/3/1989
- Bản vẽ hiện trạng nhà
- Tờ khai chuyển dịch tài sản nộp thuế trước bạ ngày 18/3/1993
- Biên lại thu lệ phí trước bạ số 004777 ngày 25/3/1993
3 Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc phải trả cho Công ty Du lịch Phú Yên số tiền 238.841.300 đồng (hai trăm ba mươi tám triệu, tám trăm bốn mươi mốt ngàn, ba trăm đồng chẵn) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật
Trang 31Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, điều kiện thi hành án và tuyên quyền kháng cáo
Ngày 27/8/2001, bà Phấn kháng cáo đề nghị xem xét, giải quyết lại vụ án và yêu cầu xét xử phải có bị đơn mà Công ty Thịnh Phúc vì ông Vưu Út bỏ trốn thì còn các thành viên khác; Công ty Phú Yên phải đòi nợ họ, để vợ chồng bà không bị thiệt thòi Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 91/DSPT ngày 31/3/2003, Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1 Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
2 Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại
từ đầu theo thủ tục chung
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí
Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án sô 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
1 Tạm đình chỉ xét xử sơ thẩm vụ án đã thụ lý số 1249/DSST ngày 4/7/2003 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc “Đòi nợ” giữa:
Nguyên đơn: Công ty Du lịch Phú Yên
Địa chỉ: 149X/B25 Tô Hiến Thành, phường 13, quận 10
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc
Địa chỉ: 153 Nguyễn Thông, phường 9, quận 3
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940;
- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938;
Trú tại: 62 Dạ Nam, phường 2, quận 8
2 Toà án sẽ tiếp tục giải quyết vụ kiện và tính án phí khi lý do tạm đình chỉ không còn
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo
Ngày 5/9/2005, bà Phấn kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không xét xử mà ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án à không thoả đáng, là thiệt thòi cho vợ chồng bà
Tại Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 31/12/2005, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Trang 321 Huỷ quyết định tạm đình chỉ giải quyết sơ thẩm vụ án số 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giữa:
Nguyên đơn: Công ty Du lịch tỉnh Phú Yên
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mạc Hữu Mẫn sinh năm 1940
- Bà Lê Thị Phấn sinh năm 1938
2 Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm và theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí
Tại Công văn số 363/CV-TDS ngày 27/2/2006, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định phúc thẩm
số 506/2005/DSPT nên trên
Tại Quyết định kháng nghị số 95/2007/KN-DS ngày 25/5/2007, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật với nhận định:
Ngày 21/8/2001, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm (Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001) Ngày 27/8/2001, bà Phấn có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm Tại Bản án phúc thẩm số 91/PTDS ngày 31/3/2003, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số 1588/DSST ngày 21/8/2001 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại theo thủ tục chung (tham gia Hội đồng xét
xử phúc thẩm có Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu)
Tại Quyết định số 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005, Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, với nhận định là nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn Ngày 5/9/2005, bà Phấn, ông Mẫn kháng cáo Tại Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định huỷ Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 32/2005/QĐ-TĐCDS ngày 20/4/2005 của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; giao hồ sơ cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật (tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm có Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Hồ Trung Hiếu)
Trang 33Như vậy, Thẩm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm để xét xử vụ án vào ngày 31/3/2003; sau đó Thẩm phán Hồ Trung Hiếu lại tham gia Hội đồng xét xử lại vụ vào ngày 30/12/2005, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tại phiên toà Giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toá án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao
XÉT THẤY
Theo quy định tại khoản 3, Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Thẩm phán, Hội thẩ nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ đã tham gia xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án đó
Thảm phán Hồ Trung Hiếu đã tham gia xét xử phúc thẩm vụ án vào ngày 31/3/2003 và ngày 30/12/2005 lại tham gia xét xử phúc thẩm về cùng một vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Mạc Hữu Mẫn và bà Lê Thị Phấn, là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Vì lẽ trên, căn cứ vào khoản 3, Điều 297; khoản 3 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân
sự
QUYẾT ĐỊNH
1 Huỷ Quyết định phúc thẩm số 506/2005/DSPT ngày 30/12/2005 của Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Công ty Du lịch Phú Yên với bị đơn là Công
ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Thịnh Phúc
2 Giao hồ sơ vụ án cho Toà án phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm lại; theo đúng quy định của pháp luật
Nơi nhận: TM HỘI ĐỒNG GIÁM ĐỐC THẨM
- VKSNDTC (V5) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND huyện, tỉnh (kèm hồ sơ)
Trang 34TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 45/2014/DSPT Ngày 17/3/2014
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán TAND tối cao - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Việt; Các Thẩm phán TAND tối cao: Ông Lê Thanh Bình;
Ông Đặng Bảo Vĩnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú, cán bộ Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị
Thanh Tâm, Kiểm sát viên
Trong c¸c ngày 14 và 17 tháng 3 năm 2014 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 48/2013/DS-TLPT ngày 12 tháng 11 năm 2013 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tiền
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 27 tháng 8 năm 2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng bị cáo kháng cáo Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 455/2014/QĐ-PT ngày 6 tháng 3 năm 2014 giữa các đương sự:
1 Nguyên đơn:
- Ông Lê Văn Hòa, sinh năm 1956;
Địa chỉ: số 295 Tô Hiệu, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt đã ủy quyền
Trang 35- Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, sinh năm 1960; hiện trú tại: 40 Saltash St, Yagoona, NSW 2199, Australia, hộ chiếu Australia số M2934069, cấp ngày 11/05/2005, nơi cấp Sydney, Australia; vắng mặt đã ủy quyền
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ninh, luật sư - Giám
đốc Công ty luật TNHH một thành viên Nguyễn Thị Ninh thuộc đoàn luật sư thành phố Hải Phòng (theo hợp đồng ủy quyền ngày 03/9/2013); có mặt
2 Bị đơn: Công ty TNHH Tân Thành Yến;
Địa chỉ: số 36 Lê Lợi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Yến - Giám đốc Công ty; vắng
mặt đã ủy quyền
Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thùy Liên, trú tại: 16A/119 Trung Hành 7, phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; có mặt
3 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ngân hàng
TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VP Bank);
Địa chỉ: số 72 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
* Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Phạm Tuấn Anh, Trưởng phòng xử lý nợ hội sở; vắng mặt
- Ông Nguyễn Lê Huy, Nhân viên phòng xử lý nợ hội sở; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
- Ông Mai Xuân Trọng, Chuyên viên phòng xử lý nợ hội sở; có mặt
- Bà Tăng Thị Liên, Trưởng nhóm cao cấp khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ chi nhánh Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
NHẬN THẤY
Theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
* Theo đơn khởi kiện và trình bày của đại diện nguyên đơn là ông Lê Văn Hòa cùng vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã cho Công ty TNHH Tân Thành Yến (sau đây gọi tắt là Công ty Tân Thành Yến) vay từ năm 2009 đến nay tổng cộng số tiền đã vay là 18.000.000.000 đ (mười tám tỷ đồng chẵn) để mua xe ô tô kinh doanh taxi Theo hợp đồng thì Công ty Tân Thành Yến phải trả hết cả gốc và lãi trong thời hạn
36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày 15/11/2009 Nhưng đến nay đã quá thời hạn trả
Trang 36nợ theo cam kết, Công ty Tân Thành Yến không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và còn trốn tránh trách nhiệm trả nợ
Số tiền Công ty Tân Thành Yến vay được cam kết trả nợ bằng toàn bộ số xe ô
tô mà Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại chi nhánh Ngân hàng MHB Hải Phòng Ngày 02/5/2012 Công ty Tân Thành Yến ký hợp đồng ủy quyền cho ông Lê Văn Hòa hoàn thành việc thanh toán tiền vay ngân hàng và nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (ô tô) tại chi nhánh VPBank Hải Phòng Tuy nhiên, ngày 07/5/2013 Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm cam kết, trả tiền ngân hàng, nhận lại bản chính các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của 32 chiếc xe
ô tô và đã bán ngay số xe này, không thông báo cho vợ chồng ông Hòa và không trả
nợ cho vợ chồng ông Hòa Đây là hành vi bội ước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Hòa
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty Tân Thành Yến phải trả nợ vợ chồng ông Lê Văn Hòa, bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 18.000.000.000 đồng Trường hợp Công ty Tân Thành Yến không trả được, đề nghị Tòa
án quyết định cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa trả VPBank khoản nợ của Công ty Tân Thành Yến và nhận lại toàn bộ giấy tờ gốc 42 chiếc xe ô tô Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại VPBank khoản nợ của Công ty Tân Thành Yến đang thế chấp tại VPBank, nhận lại, quản lý và định đoạt toàn bộ số xe ô tô trên xe theo nội dung hợp đồng ủy quyền đã quy định Tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông Lê Văn Hòa vẫn giữ nguyên yêu cầu trên
Ngày 30/5/2013 Ngân hàng VPBank có đơn yêu cầu được tham gia tố tụng vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 08/2013/TLST-DS ngày 14/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Với nội dung: chi nhánh Công ty Tân Thành Yến vay của VPBank số tiền 5.700.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số LD 1019700080 ngày 16/7/2010 (phụ lục ngày 23/8/2011) số tiền vay 2.900.000.000 đồng, thời hạn 36 tháng, mục đích vay thanh toán tiền mua 22 xe ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT
Lãi suất cho vay trong thời hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 17%/năm Lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm
kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên
độ 7%/năm
Lãi suất trong hạn từ ngày 23/8/2011 là 21%/năm, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 5,92%/năm
Trang 37Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu tiền phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền lãi chậm trả Bắt đầu tính từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán nợ lãi quá hạn Các kỳ trả nợ gốc: bên vay phải trả gốc cho bên ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/8/2010, tổng cộng 36 kỳ, mỗi
ô tô con nhãn hiệu GM Chevrolet Spark LT
Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 23%/năm Lãi suất cho vay điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng bậc thang thấp nhất của ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 10%/năm Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn Khoản nợ lãi quá hạn sẽ phải chịu phạt chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn tính trên số tiền chậm trả và số ngày chậm trả Bắt đầu từ thời điểm quá hạn cho đến khi bên vay thanh toán hết nợ lãi quá hạn
Bên vay phải trả lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào các ngày 15,
kỳ hạn trả nợ gốc đầu tiên vào ngày 15/9/2011, tổng cộng 36 kỳ, số tiền gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 78.000.000 đồng, riêng kỳ cuối là 70.000.000 đồng
Bên vay phải trả tiền lãi cho ngân hàng theo định kỳ 01 tháng/lần vào các ngày
15, kỳ hạn trả lãi đầu tiên vào ngày 15/9/2011
Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là 20 xe ô tô hình thành từ vốn vay của VPBank, có tài sản thế chấp kèm theo
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Tân Thành Yến đã vi phạm nghĩa
vụ trả nợ nên các hợp đồng tín dụng trên đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 28/8/2012
và phải chịu mức lãi suất quá hạn Tính đến ngày 27/5/2013 ngày VPBank gửi đơn khởi kiện Công ty Tân Thành Yến còn nợ ngân hàng 1.130.755.591 đồng trong đó nợ gốc là 1.122.630.806 đồng và nợ lãi là 8.124.785 đồng
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VPBank trình bày: trong thời gian vừa qua Công
ty Tân Thành Yến đã trả nợ tiếp được 177.809.257 đồng Trong đó trả nợ gốc là
Trang 38122.124.139 đồng và trả nợ lãi được 55.685.118 đồng Khoản tiền trên được trả tính trả cho hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 16/7/2010 (phụ lục ngày 23/8/2011) số tiền vay là 2.900.000.000 đồng Đến nay Công ty Tân Thành Yến chỉ còn
nợ hợp đồng dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011 là 1.006.692.166 đồng, trong đó
nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng VPBank yêu cầu Công ty Tân Thành Yến phải thực hiện việc trả nợ cho VPBank nếu không sẽ đề nghị Tòa án tuyên kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho VPBank
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Công ty Tân Thành Yến vắng mặt Tại bản tự khai ngày 28/6 dụng số LD 1123500034/2013 và những lời trình bày của đại diện Công ty Tân Thành Yến: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có vay và còn nợ tiền vợ chồng ông
Lê Văn Hòa và bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt Cụ thể 04 lần vay như sau: lần thứ nhất vay 200.000 USD tương đương 4.000.000.000 VNĐ vào tháng 3/2010 Lần thứ hai vay 500.000.000 đồng khoảng tháng 3/2011 Lần thứ ba vay 100.000 AUD tương đương 2.100.000.000 VNĐ Lần thứ 4 vay 4.400.000.000 đồng là tiền ông Hòa bà Nguyệt bán đất cho vay vào tháng 4/2012 Cộng tất cả Công ty Tân Thành Yến vay của vợ chồng ông Hòa bà Nguyệt là 11.000.000.000 đồng Kể từ khi vay tiền của ông Hòa bà Nguyệt, Công ty Tân Thành Yến đã nhiều lần trả nợ, hàng tháng kế toán công ty đều trả vào tài khoản 10922224602068 của ông Hòa tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải Phòng mỗi tháng 40-50 triệu đồng, ngoài ra mỗi lần bà Nguyệt về nước Công ty còn trả trực tiếp cho bà Nguyệt để mua quà cáp tặng người thân Tổng cộng Công ty đã trả 4 - 5 tỷ đồng, đến nay Công ty chỉ còn nợ vợ chồng ông Hòa khoảng 5 - 6 tỷ đồng Do chứng
từ bị mất nên phía bị đơn không thể cung cấp cho Tòa án được
Hợp đồng vay tiền do ông Hòa, bà Nguyệt lập sau ngày hai bên đã cho nhau vay tiền Lúc đó Công ty đang trong tình trạng khó khăn, nhiều chủ nợ truy đòi, tinh thần tôi bị hoảng loạn, ông Hòa bà Nguyệt ép buộc tôi phải ký trên xe ô tô ở khu vực Bến Bính, tôi không đọc nội dung hợp đồng, không biết số tiền ghi trên hợp đồng là bao nhiêu, nay được biết số tiền trên hợp đồng là 18.000.000.000 đồng tôi không chấp nhận khoản nợ này
Đối với khoản nợ của VPBank: Công ty Tân Thành Yến xác nhận có ký hai hợp đồng vay tiền của VPBank chi nhánh Hải Phòng Tuy nhiên, theo hợp đồng tín dụng
ký giữa Công ty với VPBank thì các khoản vay đến thời điểm VPBank khởi kiện đều chưa đến hạn Thời hạn vay của hai hợp đồng đều là 36 tháng, thời hạn của hợp đồng tín dụng LD 1019700080 ngày 16/7/2010 đến ngày 16/7/2013 mới đến hạn, còn hợp đồng tín dụng LD 1123500034 ngày 23/8/2011 đến ngày 23/8/2014 mới đến hạn Trước đó, có lúc có khoản vay đã bị chuyển nợ quá hạn nhưng Công ty đã lần lượt thanh toán hết nợ quá hạn Đến nay Công ty không còn nợ quá hạn nên không chấp
Trang 39nhận yêu cầu khởi kiện của VPBank, đồng thời đề nghị VPBank tạo điều kiện thuận lợi để Công ty tiếp tục thực hiện hợp đồng
Ngày 19/8/2013 Công ty Tân Thành Yến có đơn xin miễn giảm một phần án phí
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 27/8/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
- Căn cứ vào các Điều 471, 472, 473, 474, 315 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng
- Căn cứ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
- Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án của ủy ban thường vụ Quốc hội số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009; xử:
1 Công ty TNHH Tân Thành Yến còn nợ và có nghĩa vụ phải trả cho ông
Lê Văn Hòa và vợ là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt 17.165.670.000đ (mười bảy tỷ, một trăm sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng)
Kể từ tháng thứ 2 trở đi tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH Tân Thành Yến không trả xong khoản nợ trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi suất của số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm thi hành án
2 Công ty TNHH Tân Thành Yến phải trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - tại chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung 1.006.692.166đ (một tỷ, không trăm không sáu triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn một trăm sáu mươi sáu đồng) Trong đó nợ gốc là 1.000.506.667 đồng và nợ lãi là 6.185.499 đồng là khoản nợ còn lại của hợp đồng tín dụng số LD 1123500034 ngày 23/8/2011, Công ty TNHH Tân Thành Yến phải chịu các khoản lãi suất được quy định trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ
3 Chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Lê Văn Hòa được thanh toán khoản nợ còn lại của Công ty TNHH Tân Thành Yến với Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung Sau khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thạnh Vượng - Chi nhánh Hải Phòng - Phòng giao dịch Quang Trung có trách nhiệm bàn giao cho ông Lê Văn Hòa toàn bộ giấy tờ gốc chứng minh quyền sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô con là tài sản thế chấp
Trang 40tại ngân hàng (có danh sách kèm theo) Ông Lê Văn Hòa trở thành chủ sở hữu đối với 42 chiếc xe ô tô nói trên, Công ty TNHH Tân Thành Yến có nghĩa vụ bàn giao
42 chiếc xe ô tô nói trên cho vợ chồng ông Lê Văn Hòa để đối trừ nợ
4 Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 653/2013/QĐ-BPKCTT ngày 10/5/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
để đảm bảo cho việc thi hành án
Ngoài ra, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Ngày 17/9/2013 bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến có đơn kháng cáo với nội dung hủy toàn bộ bản án sơ thẩm
Ngày 09/9/2013 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng có đơn kháng cáo với nội dung sửa bản án sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án Đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cho rằng quyết định của bản án sơ thẩm đã giải quyết là đúng pháp luật Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Đại diện của bị đơn là Công ty TNHH Tân Thành Yến giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm vì có những vi phạm nghiêm trong về thủ tục tố tụng như: bà Nguyễn Thị Ninh là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trước đây có nhiều năm công tác ở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nên có mối quan hệ thân thiết với ông Trần Văn Nhiên chủ tọa phiên tòa, vì vậy việc giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm không được vô tư, khách quan
Về giấy ủy quyền của ông Lê Văn Hòa cho bà Nguyễn Thị Ninh là không hợp pháp vì không có công chứng, chứng thực; việc xác định Ngân hàng VP Bank là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng pháp luật vì khoản vay của Công ty TNHH Tân Thành Yến và ông Hòa, bà Nguyệt không liên quan đến Ngân hàng Mặt khác Công ty TNHH Tân Thành Yến không vay của ông Hòa, bà Nguyệt số tiền 18 tỷ như cấp sơ thẩm xác định Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng quy định vì 42 chiếc ô tô này không phải là tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty đối với vợ chồng ông Hòa
- Đại diện cho Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng giữ nguyên kháng cáo
đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tuyên thêm nội dung trong trường hợp Công ty TNHH Tân Thành