Mục lục 1 Mở đầu 3 1 đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử đảng cộng sản việt nam 3 2 Chức năng, nhiệm vụ của môn lịch sử đảng cộng sản việt nam 6 3 Ý nghĩa của việc học tập môn.
Trang 1Mục lục
1.đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của môn lịch sử đảng cộng sản
2 Chức năng, nhiệm vụ của môn lịch sử đảng cộng sản việt nam. 6
3 Ý nghĩa của việc học tập môn lịch sử đảng cộng sản việt nam. 7
4 Tại sao nguyễn ái quốc lại khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc việt
5 Nội dung và ý nghĩa những tư tưởng cách mạng của nguyễn ái quốc được truyền
6 Các yếu tố dẫn tới sự ra đời của đảng và mối quan hệ giữa các yếu tố đó 11
7 Cương lĩnh chính trị đầu tiên và ý nghĩa của sự kiện đảng cộng sản việt nam ra
8 Vai trò của nguyễn ái quốc trong trong quá trình vận động thành lập đảng cộng
3 Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) 18
9 So sánh luận cương chính trị tháng 10-1930 với cương lĩnh chính trị đầu tiên
10 Chủ trương của đảng trong cuộc vận động dân chủ 1936- 1939 Thành quả và
11: phân tích chủ trương chiến lược mới của đảng trong giai đoạn 1939-1945 22
12 Phân nguyên nhân thắng lợi, tính chất và kinh nghiệm của cách mạng tháng tám
14 Phân tích nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống thực dân pháp và
15 Phân tích nội dung cơ bản của chính cương đảng lao động việt nam (2-1951) 34
16 Những diễn biến chính của cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và can thiệp
Trang 220 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chiến lược chung của cách mạng việt nam được đại hội iii (9-1960) của đảng vạch ra ( cde 2 tháng 12) 44
21 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chung xây dựng cnxh trong thời kỳ quá độ
ở miền bắc được đại hội iii (9/1960) của đảng vạch ra ( cde 2 tháng 12) 46
22 Quá trình hình thành, phát triển và nội dung đường lối kháng chiến chống mỹ
23 Các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước (1954–1975) và ý nghĩa
24 Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống mỹ,
6 Đảng lãnh đạo cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
25 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chung xây dựng xhcn trong thời kỳ quá độ
26 Phân tích nguyên nhân, diễn biến và ý nghĩa của hai cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biên giới phía tây nam và phía bắc của tổ quốc. 57
27 Phân tích nội dung công nghiệp hóa xhcn của chặng đường đầu tiên được đại
34 Phân tích những cơ hội và thách thức lớn của cách mạng việt nam được hội
35 Phân tích quan điểm, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
36 Phân tích luận điểm “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công nông trí thức do đảng lãnh đạo ” Của đại hội ix (4/2001) Để thực hiện được luận điểm đó, chúng ta phải làm gì? 81
37 Phân tích những bài học lớn của 20 năm đổi mới (1986 – 2006) được đại hội x
38 Phân tích những phương hướng cơ bản xây dựng cnxh ở việt nam của cương lĩnh năm 2011 được đại hội xi (1/2011) thông qua. 84
Trang 341 Phân tích những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa thời đại của cách mạng việt nam
42 Phân tích những bài học lớn về sự lãnh đạo của đảng với cách mạng việt nam từ
a Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên phong cáchmạng, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam Dưới sự lãnh đạocủa Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ và hy sinh, giành nhiều thắng lợi có ýnghĩa chiến lược và mang tính thời đại, làm cho đất nước, xã hội và con người Việt Nam ngàycàng đổi mới sâu sắc Lịch sử của Đảng là một pho lịch sử bằng vàng Hồ Chí Minh nói: "Với tất
cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩđại!"
Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và phát huy truyền thống vẻ vang của mình,Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và tổng kết những bàihọc lịch sử trong từng thời kỳ cũng như trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng
Nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để nâng caotrình độ lý luận của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần khắcphục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong Đảng Trên cơ sở nghiên cứu vàkhái quát sâu sắc, toàn diện kinh nghiệm lịch sử đã tích lũy được trong cuộc đấu tranh cáchmạng của Đảng, nếu không hiểu được mối liên hệ lịch sử tất yếu và qua đó hiểu tiến trình pháttriển có thể có của các sự kiện, Đảng mới có thể đề ra được một đường lối chính trị hoàn chỉnh
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có quy luật hình thành, phát triển vaitrò lịch sử riêng trong tiến trình lịch sử Việt Nam Do đó, lịch sử Đảng là đối tượng nghiên cứucủa một khoa học riêng - khoa học lịch sử Đảng
Lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc Theo đó, lịch sử Đảng là một khoa học chuyênngành của khoa học lịch sử và có quan hệ mật thiết với các khoa học về lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Mỗi ngành khoa học có một phạm vi nghiên cứu cụ thể trong mối quan hệ biện chứng vớicác khoa học khác Khoa học lịch sử nghiên cứu về xã hội và con người xã hội, nghiên cứu về
Trang 4cuộc sống đã qua của nhân loại một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển, với những quyluật phổ biến và đặc thù của nó Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 là lịch sử đấu tranh cách mạngkiên cường và anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằmxóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, xây dựng chế độ mới Đảng Cộng sảnViệt Nam là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của nhân dân ta Do đó, lịch sử Việt Nam(từ năm 1930 trở đi) và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó hữu cơ với nhau
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Đảng là người đề ra đường lối cáchmạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối Do đó, khoa học lịch sử Đảng Cộng sảnViệt Nam là một hệ thống tri thức về quá trình hoạt động đa dạng và phong phú của Đảng trongmối quan hệ mật thiết với tiến trình lịch sử của dân tộc và thời đại Với tư cách là một khoa học,Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của Đảng vàcác phong trào cách mạng của quần chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng
b Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp nghiên cứu gắn liền với đối tượng nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Đường lốichính trị, hoạt động của Đảng là sự biểu hiện cụ thể lý luận đó trong hoàn cảnh Việt Nam với tất
cả đặc điểm vốn có của nó Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tưtưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với khoa học lịch sử nói chung và khoahọc lịch sử Đảng nói riêng Đó là những cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứu lịch sửĐảng
Đảng Cộng sản Việt Nam nhờ có hoạt động lý luận dựa vào chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã đi đến nhận thức được những điều kiện khách quan và sựchín muồi của những nhân tố chủ quan của sự phát triển xã hội thông qua hệ thống công tác tổchức và tư tưởng của Đảng đối với quần chúng
Do đó, đối với khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, quan niệm duy vật về lịch sử
là chìa khóa để lý giải sự xuất hiện và phát triển của Đảng như là một kết quả tất yếu của lịch sửđấu tranh của nhân dân Việt Nam Chỉ có đứng trên quan điểm lịch sử mới có thể đánh giá đượcmột cách khoa học các giai đoạn phát triển của Đảng, trên cơ sở làm sáng tỏ địa vị khách quan
và vai trò lịch sử của Đảng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam, cũng như mới lý giải được rằng lý tưởng cách mạng và những mục tiêu cao cả xuấtphát từ lý tưởng đó, mà Đảng đã kiên trì theo đuổi từ ngày mới ra đời không phải là do ý muốnchủ quan của một cá nhân hoặc của một nhóm người tài ba lỗi lạc nào, cũng không phải do
"nhập cảng" từ bên ngoài vào, mà xét cho cùng là sự phản ánh khách quan của sự phát triển lịch
sử - tự nhiên trong những điều kiện lịch sử nhất định
Trang 5Với phương pháp luận khoa học, các nhà sử học chân chính có thể nhận thức được lịch
sử một cách chính xác, khoa học Họ có thể nhận thức và phản ánh đúng hiện thực khách quankhi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một quá trình lịch sử nào
Nghiên cứu lịch sử Đảng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể mới có thểxem xét các sự kiện lịch sử trong những điều kiện và thời điểm cụ thể và trong mối quan hệ giữachúng với nhau Việc nắm vững và vận dụng quan điểm lịch sử trong khoa học lịch sử Đảng chophép lý giải được tính sáng tạo cách mạng trong đường lối, chủ trương của Đảng, cũng như làm
rõ được cơ sở phương pháp luận của hoạt động lý luận của Đảng trong quá trình nghiên cứu đểquyết định những đường lối, chủ trương
Khoa học lịch sử Đảng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa họclịch sử nói chung, như các phương pháp lịch sử và logic, đồng đại và lịch đại, phân tích và tổnghợp, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa trong đó quan trọng nhất là phươngpháp lịch sử và phương pháp logic cùng sự kết hợp hai phương pháp ấy
Nhiệm vụ đầu tiên của khoa học lịch sử Đảng là phải làm sáng tỏ nội dung các giaiđoạn lịch sử đấu tranh của Đảng, với những sự kiện cụ thể sinh động và trong mối liên hệ có tínhnhân quả giữa chúng với nhau, cho nên phương pháp được đặt lên hàng đầu trong khoa học lịch
sử Đảng là phương pháp lịch sử
Song nếu phương pháp lịch sử không có sự kết hợp với phương pháp logic thì sẽ giảm
đi tính chất khái quát của nó, không thể vạch ra được bản chất, khuynh hướng chung và nhữngquy luật khách quan chi phối sự vận động lịch sử Hoạt động của Đảng trong quá khứ cơ bản làhoạt động lãnh đạo, lên lịch sử của Đảng chính là lịch sử của sự lãnh đạo cách mạng, lịch sử củahoạt động nhận thức quy luật, đề ra đường lối, chủ trương cách mạng Hoạt động đó đã được ghilại, được thể hiện trong các cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, qua phát ngôn của các lãnh
tụ của Đảng
Hoạt động xây dựng Đảng trong lịch sử về tư tưởng và tổ chức cũng được thể hiện quaĐiều lệ của Đảng Do đó, để nghiên cứu lịch sử của Đảng, phương pháp quan trọng có tính đặcthù, bắt buộc là phải nghiên cứu các văn kiện Đảng, nhất là văn kiện các Đại hội và Hội nghịTrung ương Nắm vững nội dung các văn kiện Đảng sẽ hiểu được đường lối, chủ trương lãnh đạocách mạng của Đảng trong các thời kỳ lịch sử, tức là nắm được hoạt động chính yếu của Đảngtrong quá khứ, hiểu được lịch sử của Đảng Tính đúng đắn của sự lãnh đạo của Đảng đã đượckiểm nghiệm qua hành động thực tiễn của cán bộ, đảng viên, qua hoạt động của hệ thống chínhtrị do Đảng tổ chức, qua phong trào cách mạng của quần chúng Vì vậy, để đánh giá đúng đắnlịch sử của Đảng, rút ra những kinh nghiệm lịch sử phải căn cứ vào phong trào thực tiễn củanhân dân, vào thành bại của cách mạng
Trang 62 Chức năng, nhiệm vụ của môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
a Chức năng
Với tư cách là khoa học về những quy luật phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng, lịch
sử Đảng có hai chức năng: chức năng nhận thức khoa học và chức năng giáo dục tư tưởng chínhtrị
Chức năng nhận thức khoa học lịch sử có mục đích trước hết là để phục vụ việc cải tạo
xã hội theo đúng quy luật phát triển của xã hội Việt Nam như một quá trình lịch sử - tự nhiên.Việc hiểu biết thấu đáo những kiến thức và kinh nghiệm lịch sử Đảng là cơ sở khoa học để cóthể dự kiến những xu hướng phát triển chủ yếu của xã hội và những điều kiện lịch sử cụthể có tác động đến những xu hướng đó Bằng cách đó, khoa học lịch sử Đảng cùng với các mônkhoa học lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tích cực tạo cơ sở lý luận đểĐảng vạch ra đường lối, chủ trương, chính sách
Chức năng giáo dục tư tưởng chính trị: lịch sử Đảng tham gia vào việc giải quyết
những nhiệm vụ hiện tại Những kiến thức khoa học về các quy luật khách quan của sựphát triển lịch sử cách mạng Việt Nam có tác dụng quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, nhândân trong việc trau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắnglợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó có quyết tâm phấn đấu thực hiệnđường lối, chủ trương chính sách của Đảng
b Nhiệm vụ
Để thực hiện chức năng đó, trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam chúng ta có nhiệm vụ làm rõ những quy luật của cách mạngViệt Nam, nghiên cứu, trình bày các điều kiện lịch sử, các sự kiện và quá trình hình thành, pháttriển và hoạt động của Đảng, nổi bật là những nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ điều kiện lịch sử, quá trình ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Trong thời gian đầu không phải là toàn bộ giai cấp công nhân đã tiếp thu được chủ nghĩaMác - Lênin, mà chỉ có một bộ phận tiên tiến nhất tiếp thu được lý luận đó Bộ phận này đứng
ra thành lập đảng cộng sản, do vậy đảng cộng sản là một bộ phận của giai cấp công nhân và giaicấp công nhân thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đảng cộng sản là đội tiềnphong của mình.Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân là quy luật chungcho sự ra đời của các đảng cộng sản trên thế giới Nhưng sự kết hợp đó không theo một khuônmẫu giáo điều, cứng nhắc, mà nó được thực hiện bằng con đường riêng biệt, tuỳ theo điều kiện
cụ thể về không gian và thời gian
Yêu cầu của cách mạng thuộc địa khác với yêu cầu của cách mạng ở các nước tư bảnchủ nghĩa Đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phải lãnh đạo cuộc đấu tranh của giaicấp vô sản chống giai cấp tư sản, còn đảng cộng sản ở thuộc địa trước hết phải lãnh đạo cuộcđấu tranh dân tộc chống chủ nghĩa thực dân Vấn đề giai cấp ở thuộc địa phải đặt trong vấn đềdân tộc, đòi hỏi sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về đảng cộng sản trongđiều kiện một nước thuộc địa
Trang 7- Làm rõ quá trình trưởng thành, phát triển của Đảng gắn liền với hoạt động xây dựng một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Khoa học xây dựng Đảng có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật xây dựng đảng, xácđịnh những nguyên tắc, mục đích, yêu cầu; những nguyên lý và hệ thống các biện pháp phảituân theo để xây dựng một chính đảng cách mạng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hình thànhnên lý luận về xây dựng đảng
Lịch sử Đảng có nhiệm vụ làm rõ những hoạt động cụ thể của Đảng để xây dựng, chỉnhđốn Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng Đó là sự thực hiệncác nguyên lý, vận dụng những nguyên tắc, tiến hành các biện pháp để làm cho Đảng trongsạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng Đương nhiên giữa hai ngành khoa học đó có mốiquan hệ mật thiết với nhau
- Trình bày quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể.
Đó là quá trình đi sâu nắm vững phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác Lênin, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phùhợp với bối cảnh quốc tế và thực tiễn của xã hội Việt Nam, để định ra cương lĩnh, vạch rađường lối, xác định những chủ trương và biện pháp cụ thể cho mỗi giai đoạn cách mạng
-Đó là quá trình đấu tranh về quan điểm tư tưởng trong nội bộ Đảng để xác định mộtđường lối đúng đắn, đấu tranh bảo vệ đường lối cách mạng của Đảng, chống mọi biểu hiện của
tư tưởng hữu khuynh và "tả" khuynh, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng duy ý chí, chủ quan,giáo điều và các loại tư tưởng phi vô sản khác
Đó cũng là quá trình chỉ đạo và tổ chức quần chúng hành động thực tiễn, giành thắng lợitừng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, thực hiện triệt để các mục tiêu cơ bản của cáchmạng Việt Nam do Đảng vạch ra
- Trình bày các phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh đạo.
Nhằm theo những phương hướng cơ bản do Đảng xác định, phong trào cách mạng củaquần chúng diễn ra một cách tự giác, hết sức sinh động, phong phú và sáng tạo Sức sáng tạo củacác tổ chức đảng và quần chúng rất lớn Nó làm cho quyết tâm của Đảng trở thành hành động cáchmạng, làm cho đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng trở thành thực tiễn, và do đó, tạo cơ sởcho việc bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối cách mạng của Đảng Một đường lối cáchmạng đúng sẽ được quần chúng nhân dân ủng hộ và quyết tâm thực hiện
- Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử Đảng
Khoa học lịch sử Đảng có nhiệm vụ góp phần tổng kết những kinh nghiệm từnhững thành công và không thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, góp phầnlàm phong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng
3 Ý nghĩa của việc học tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
- Nghiên cứu, học tập, nắm vững tri thức khoa học về lịch sử Đảng có ý nghĩa rất to lớntrong việc giáo dục phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lợi ích của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, tính kiên định cách mạng trước tình hìnhchính trị quốc tế có những diễn biến phức tạp và trong việc giáo dục đạo đức cách mạng,
mà Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mựctuyệt vời
Trang 8- Việc nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng cũng có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục vềtruyền thống cách mạng, về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, về lòng
tự hào đối với Đảng và đối với dân tộc Việt Nam; đồng thời còn có tác dụng bồi dưỡng ýchí chiến đấu cách mạng, thôi thúc ở người học ý thức biết noi gương những người đã đitrước, tiếp tục cuộc chiến đấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo để bảo vệ vàphát triển những thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã tốn biết bao xươngmáu để giành được, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa
2 Sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
4 TẠI SAO NGUYỄN ÁI QUỐC LẠI KHẲNG ĐỊNH: MUỐN CỨU NƯỚC VÀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM PHẢI ĐI THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước, chống thực dân, đế quốc ở nước tadiễn ra sôi nổi, mạnh mẽ nhưng tất cả đều không thành công do không có một đường lối đấutranh phù hợp Trước thực tế đó, vượt qua lối mòn và những hạn chế trong đường lối cách mạngcủa các nhà yêu nước đương thời, người thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành quyết định sangphương Tây - nước Pháp, quê hương của tư tưởng “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” và cũng là nướcđang thực hiện chế độ thực dân đối với dân tộc Việt Nam để xem xét, nghiên cứu, học hỏi.Quyết định sang nước Pháp của Nguyễn Tất Thành là sự lựa chọn đúng đắn đầu tiên, thể hiệnmột tư duy độc lập và tầm nhìn mới mẻ về hướng đi và con đường cứu nước cho dân tộc ViệtNam đang trong vòng nô lệ, lầm than Khát vọng và hoài bão lớn nhất là tìm ra một con đườngcứu nước đúng đắn để giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, hạnh phúc cho nhândân Từ chủ nghĩa yêu nước chân chính, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủnghĩa Mác - Lênin; từ khát vọng độc lập, giải phóng đất nước, Người đã tìm thấy con đường cứunước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc là một trong số ít các nhà yêu nước đầu tiên ở các nước thuộc địa tiếp thu được
“ánh sáng kỳ diệu” từ bản Luận cương của V.I.Lênin, nhận thức và nắm bắt được xu hướng pháttriển của thời đại mới từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga Sự kiện Người bỏ phiếu tán thành gianhập Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (tháng 12/1920) có ý nghĩa quantrọng: trở thành người cộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam,chính thức đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta vào quỹ đạo cách mạng vô sản thếgiới, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội (CNXH) Đây là “sự khẳng định một hướng đimới, nguyên tắc chiến lược mới, mục tiêu và giải pháp hoàn toàn mới, khác về căn bản so vớicác lãnh tụ của các phong trào yêu nước trước đó ở Việt Nam; đưa cách mạng giải phóng dân tộcvào quỹ đạo của cách mạng vô sản, tức là sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng của giai cấpcông nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng”(3)
Cũng chính từ đây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập trung mọi nỗ lực, hướng mọi hoạt động, kiêntrì và quyết tâm truyền bá lý luận Mác - Lênin, tư tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga vềnước, tiến hành cuộc vận động đấu tranh giải phóng dân tộc theo đường lối cách mạng vô sản.Những luận điểm chủ yếu của con đường cách mạng Việt Nam được hình thành qua những bàibáo đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc trên báo Nhân đạo, báo Người cùng khổ, báo Thanh niên, qua
các tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Đường Kách mệnh”, những bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu - Trung Quốc và được kết tinh trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản (tháng 02/1930) Thành
công của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tầm cao tư tưởng, bản lĩnhchính trị và tinh thần chủ động, sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc
Trang 9Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của lãnh tụNguyễn Ái Quốc đã đáp ứng hai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: làm thế nào để giảiphóng dân tộc khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho nhân dân;lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với xuthế đi lên của thời đại mới Nói cách khác, với việc lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, chủtrương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”,Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc kéodài 2/3 thế kỷ: “Lịch sử dường như đã chuẩn bị sẵn cho dân tộc Việt Nam đi vào thời kỳ hiện đạibằng miếng đất sẵn sàng được gieo trồng, và bằng những nông phu sẵn hạt giống trong tay.Miếng đất ấy là nhân dân có truyền thống đấu tranh bất khuất; giống đó là chủ nghĩa Mác -Lênin; người thứ nhất gieo giống đó là Nguyễn Ái Quốc”(4).
Sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của Nguyễn Ái Quốc dựatrên cơ sở lý luận và khoa học, dựa trên thực tiễn vận động và đòi hỏi của phong trào cách mạngViệt Nam Từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, Người đi đến kết luận: “Muốn cứu nước vàgiải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(5) Đường lối
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được nêu lên trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, phản ánh
sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn - lịch sử, phù hợp với sự vận động của cách mạngViệt Nam và xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu bức thiết của đại đa
số các tầng lớp nhân dân Việt Nam: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độclập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọncủa chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc cácphong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảonghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”(6)
Đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không còn con đường nào khác ngoài con đường đi lênCNXH; cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, vận động và pháttriển theo quỹ đạo cách mạng vô sản và trào lưu phát triển của thời đại mới từ sau Cách mạngTháng Mười Nga: “Hồ Chí Minh đã chọn con đường Lênin, con đường Cách mạng Tháng MườiNga Đối với Người, đó là “cẩm nang thần kỳ” đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến thànhcông; và trên thực tế, thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã xác nhận tính đúng đắn của sự lựachọn đó”(7)
Thực tiễn vận động và phát triển của cách mạng Việt Nam sau năm 1930 cho thấy: sự lựa chọncon đường cách mạng vô sản theo tư tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, độc lập dân tộc gắnliền với CNXH là sự lựa chọn sáng suốt, duy nhất đúng đắn, với vai trò to lớn của lãnh tụNguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho dân tộc ViệtNam
5 NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA NHỮNG TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐƯỢC TRUYỀN BÁ VÀO VIỆT NAM TỪ NĂM 1920 ĐẾN NĂM 1929.
Năm 1920, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin Lý luậncủa chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước.Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết phải có ''Đảng cách mệnh'' để trong thì vậnđộng và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi''
Từ nhận thức đó, Nguyễn Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng
vô sản ở Việt Nam
Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước, đưaphong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác, đưa phong trào yêu nướcchuyển dần sang lập trường cộng sản Các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc như Bản án chế độthực dân Pháp (Le procès de la colonisation francaise) năm 1925, Đường Kách mệnh năm 1927,các tờ báo do Người sáng lập như báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1922, báo Thanh niên 21-
Trang 106-1925 và nhiều bài báo Người viết về Lênin, về Cách mạng Tháng Mười Nga, về giai cấp côngnhân là những tài liệu truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam đầu tiên Những tài liệunày đã có tác dụng thức tỉnh lòng yêu nước của người dân đất Việt, chỉ rõ con đường cách mạngđúng đắn phải theo Các tài liệu này đã có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với các tầng lớp trí thứctiến bộ và những người tiên tiến trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động lúc bấy giờ, bởi
nó không chỉ vạch trần bộ mặt áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn thực dân Pháp và phong kiến taysai, kêu gọi nhân dân ta vùng lên đấu tranh xóa bỏ gông cùm nô lệ, mà còn chỉ ra con đường điđến thắng lợi, chỉ ra xu thế tất yếu của dân tộc và thời đại, đó là con đường độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, ''chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc
bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ''
1 Nội dung
- Con đường cách mệnh: Nguyễn Ái Quốc xác định, định hướng cho cách mạng Việt Nam
là đi theo con đường Cách mạng tháng Mười Nga “theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư vàLênin”
- Về lực lượng cách mạng: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: Công nông là người chủcách mệnh “là vì công nông bị áp bức nặng hơn, là vì công nông là đông nhất cho nênsức mạnh hơn hết, là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cáikiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc” “Học trò, nhà buôn nhỏ,điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ
là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”
- Về đoàn kết quốc tế, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ rằng, cách mạng Việt Nam phải đoàn kếtvới các lực lượng cách mạng thế giới Hồ Chí Minh nêu 3 vấn đề lớn: Cách mạng ViệtNam phải đứng hẳn về phía phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thếgiới để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa trên thế giới; Xác định rõ quan hệ lợi ích dân tộc
và cách mạng thế giới, giữa quyền lợi và trách nhiệm, sự thống nhất của quan hệ này;Xác định rõ quan hệ cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc là tác động qua lại.Cách mạng thuộc địa không thụ động ngồi chờ cách mạng chính quốc Những luận điểm
đã đặt nền tảng đúng đắn cho đường lối quốc tế của Đảng, và đặt cơ sở cho sự giúp đỡcủa quốc tế trong thời kỳ thành lập Đảng
- Về phương pháp cách mạng, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, phương pháp cách mạnggiữ vai trò hết sức quan trọng Đó là: Phải làm cho dân giác ngộ; Phải giảng giải lý luận
và chủ nghĩa cho dân hiểu; Phải hiểu phong trào thế giới, phải bày sách lược cho dân;Phải đoàn kết toàn dân “Cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc củamột hai người”; Phải biết tổ chức dân chúng lại; Phải giành chính quyền bằng bạo lựccách mạng của quần chúng, phải biết chọn thời cơ
Trang 11- Về Đảng Cộng sản, Đảng là điều kiện đầu tiên để đảm bảo cho sự thắng lợi của cáchmệnh “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vữngthuyền mới chạy” Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải theo chủ nghĩa Mác - Lênin.
“Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉnam Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắcchắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”
2 Ý nghĩa
- Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị, tổ chức cho sự thành lập chính Đảng cách mạng ở ViệtNam
- Về tư tưởng: giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc cho cán
bộ và đông đảo quần chúng nhân dân, nhằm xây dựng sự thống nhất trong nhận thức tưtưởng, chuẩn bị thành lập Đảng, khắc phục tư tưởng sai lầm, ám sát cá nhân, chủ nghĩacải lương, chủ nghĩa quốc gia; xác lập hệ tư tưởng mới - tư tưởng của giai cấp công nhân
- Về chính trị: xây dựng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân cho cán bộ và quầnchúng công nông Vạch ra được đường hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, làm cơ
sở cho việc xây dựng Cương lĩnh chính trị của Đảng, chấm dứt cuộc khủng hoảng vềđường lối của cách mạng Việt Nam; thúc đẩy phong trào yêu nước, phong trào công nhânphát triển mạnh mẽ
- Về tổ chức: Đào tạo ra một lớp cán bộ cách mạng kiểu mới chuẩn bị cho việc thành lậpĐảng Tác phẩm cũng đưa ra hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức quần chúng nhưcông hội, nông hội, thanh niên, phụ nữ để Đảng tập hợp quần chúng, chuẩn bị về mặt tổchức cho sự ra đời của Đảng
=> Những tư tưởng truyền bá của Nguyễn Ái Quốc có giá trị thực tiễn lớn lao, tạo ra sựchuyển biến căn bản, nhanh chóng trong nhận thức và hành động cách mạng của cán bộ
và đông đảo quần chúng, chuẩn bị tiền đề cho việc thành lập Đảng
6 CÁC YẾU TỐ DẪN TỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC YẾU TỐ ĐÓ
- Hoàn cảnh đất nước
Sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp đã làm cho mâu thuẫn dân tộc diễn ra hết sức gaygắt, hàng loạt phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau liên tiếp nổ ra nhằm giảiquyết mâu thuẫn chủ yếu đó Những cuộc khởi nghĩa (phong trào Cần Vương, phong trào Đông
Du, khởi Nghĩa Yên thế, ); những Đảng hội (Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việtcách mạng Đảng, ) lần lượt khởi xướng Tuy đã xác định đúng kẻ thù là thực dân Pháp nhưngcác cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, vìthiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sứcmạnh của toàn dân tộc
Trang 12Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam đứng trước những thách thức hếtsức nặng nề khi rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, cácphong trào yêu nước của nhân dân ta đã liên tiếp diễn ra theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến
và dân chủ tư sản nhưng đều lần lượt bị thất bại Nguyên nhân chính của sự thất bại đó là dothiếu đường lối và một tổ chức lãnh đạo đúng đắn Trong khi đó, giai cấp công nhân Việt Namtrong những năm đầu thế kỷ XX do chưa được trang bị lý luận tiên phong là chủ nghĩa Mác -Lênin nên các cuộc đấu tranh vẫn còn tự phát, chưa trở thành phong trào độc lập Vì vậy, đầu thế
kỷ XX, đất nước ta bị lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước đúng đắn.Trước tình hình đó, ngày 5 tháng 6 năm 1911, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứunước
- Chủ nghĩa Mác-Lênin soi rọi tư tư tưởng HCM
Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc: Muốn cứu nước và giảiphóng dân tộc thì trước hết phải có “Đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dânchúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” Và đó là Đảng Cộngsản Việt Nam
Trải qua quá trình bôn ba đến hàng loạt các nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nghiên cứunhiều cuộc cách mạng, nghiên cứu nhiều lý thuyết cách mạng ở trên thế giới và khi bắt gặp ánhsáng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc đó là
con đường cách mạng vô sản, từ đó Người đi đến khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất chính là chủ nghĩa Lênin” Chính vì vậy, sau khi bắt gặp ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con
đường cứu nước đúng đắn và trở thành người cộng sản, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tụcnghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao, hoàn thiện tư tưởng cách mạng của mình, vừatích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị những điều kiện cho việc thành lập Đảngcộng sản ở nước ta
- Nguyễn Ái Quốc tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác Lenin vào trong nước và chuẩn
bị những điều kiện cho sự thành lập Đảng
Trên cơ sở nắm rõ nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân chỉchiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân cư và trong những năm đầu thế kỷ XX, các cuộc đấu tranh củagiai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn lẻ tẻ, rời rạc, đang hòa chung vào trong phong trào yêunước của các giai cấp tầng lớp khác chứ chưa trở thành một phong trào độc lập Trong khi đó,chủ nghĩa yêu nước là giá trị tinh thần trường tồn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có vai trò cực
kỳ to lớn và là nhân tố chủ đạo quyết định sự nghiệp chống ngoại xâm của dân tộc ta Ngay từkhi thực dân Pháp xâm lược và cai trị nước ta thì các phong trào yêu nước của nhân dân đã diễn
ra liên tiếp và sôi nổi Phong trào yêu nước là yếu tố có trước phong trào công nhân và cả sự rađời của giai cấp công nhân Cho nên, trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, lãnh tụNguyễn Ái Quốc đã truyền bá trước hết đến những người yêu nước, vào phong trào yêu nước vàqua phong trào yêu nước tiếp tục truyền bá vào giai cấp công nhân để giác ngộ giai cấp côngnhân
Nội dung truyền bá:
+ Về tư tưởng
Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam nhằm làm chuyển biếnnhận thức của quần chúng, làm chuyển biến mạnh mẽ phong trào yêu nước theo lập trường củagiai cấp công nhân Người tuyên truyền bằng các tác phẩm ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình
độ quần chúng Người đã vạch trần bản chất xấu xa, tội ác của thực dân Pháp; khơi dậy mạnh mẽtinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc nhằm đánh đuổi thực dân xâm lược
Trang 13+ Về chính trị
Nguyễn Ái Quốc phác thảo hệ thống những vấn đề cơ bản về đường lối cứu nước đúngđắn cho cách mạng Việt Nam và sau này trở thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnhchính trị đầu tiên của Đảng Người chỉ ra rằng phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quầnchúng đấu tranh từ thấp đến cao; cách mạng muốn thành công, trước hết phải có một đảng cáchmạng nắm vai trò lãnh đạo
+ Về tổ chức
Người tiến hành đào tạo, huấn luyện ở Quảng Châu tiến tới thành lập Hội Việt Nam cáchmạng thanh niên (6/1925) Chính những thanh niên trong hội này đã tham gia phong trào “vô sảnhoá” để được rèn luyện trong thực tiễn, giác ngộ lập trường giai cấp công nhân sâu sắc, hiểu rõnguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thúc đẩy phong trào côngnhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện sự ra đời của Đảng
Bằng những hoạt động tích cực của mình, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủnghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân, trang bị cho những ngườiyêu nước, những người công nhân Việt Nam một cách nhìn mới về cái đích cần đi tới và về vaitrò, trách nhiệm của họ trước vận mệnh của đất nước và dân tộc Đồng thời, trên cơ sở thấmnhuần lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, lãnh tụNguyễn Ái Quốc đã từng bước vạch ra những quan điểm chính trị về đường lối cứu nước đúngđắn cho dân tộc và truyền bá vào trong nước, khai thông sự bế tắc về đường lối chính trị trongphong trào yêu nước ở nước ta đầu thế kỷ XX Chính vì vậy, vào những năm 20 của thế kỷ XX,chủ nghĩa Mác - Lênin và những tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đến đượcvới những người yêu nước Việt Nam, thâm nhập vào phong trào yêu nước và phong trào côngnhân, thúc đẩy phong trào cách mạng Việt Nam phát triển mạnh mẽ theo khuynh hướng cáchmạng vô sản, cụ thể: trong phong trào yêu nước, những người yêu nước và các tổ chức yêu nướcdần ngả hẳn theo khuynh hướng tư tưởng vô sản; phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thìphát triển từ tự phát lên tự giác
Điều đó cho thấy, lúc này, hệ tư tưởng vô sản đã hoàn toàn chiếm ưu thế trong phong tràocách mạng Việt Nam, điều kiện để thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân đã hoàn toànchín muồi và sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở nước ta vào cuối năm 1929 đầu năm 1930chính là sự phản ánh nhu cầu phát triển tất yếu của phong trào cách mạng ở Việt Nam lúc bấygiờ Tuy nhiên, một nước không thể cùng một lúc tồn tại nhiều tổ chức cộng sản mà mục tiêu đấutranh cơ bản là thống nhất
Vì vậy, từ ngày 6-1 đến 7-2-1930, với tư cách là phái viên của Quốc tế cộng sản, lãnh tụNguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản Hội nghị đã nhất trí thốngnhất các tổ chức cộng sản thành một đảng lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam
7 CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN VÀ Ý NGHĨA CỦA SỰ KIỆN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
Trang 14 Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
- Bối cảnh trong nước:
Thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân: tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoạicủa chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, cấu kết với giai cấp địa chủ cướp đoạt ruộng đất,chính sách thuế khoá nặng nề, tiến hành chính sách ngu dân
Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt
Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp xâmlược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đườnglối cách mạng
- Sau chính biến ngày 12/4/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu qua Bỉ, đến Thái Lan,truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin và đường lối cứu nước, Hội Việt Nam thanh niên cáchmạng tiếp tục truyền bá tư tưởng trong quần chúng nhân dân
- Từ nửa cuối năm 1929, Hội việt Nam thanh niên cách mạng bị phân hoá Nhiệm vụ hợpnhất các nhóm cộng sản lại với nhau đặt lên vai Nguyễn Ái Quốc
Từ 3-7/2/1930, Hội nghị thành lập Đảng diễn ra ở bán đảo Cửu Long (Hương Trung Quốc)
Cảng-2 Hội nghị thành lập Đảng và nội dung Cương lĩnh chính trị
Hội nghị họp đã thảo luận quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhất trí thông qua 7tài liệu, văn kiện, trong đó có 4 văn bản: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt củaĐảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam hợp thànhnội dung Cương lĩnh chính trị của Đảng
Nội dung của Cương lĩnh:
Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: “Tư sản dân quyền cách
mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Xác định những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng:
- Về chính trị: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước ViệtNam đượchoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh và tổ chức quân đội côngnông
- Về kinh tế: tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao cho Chính phủ côngnông binh; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân nghèo, mởmang công nghiệp và nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm8h
- Về văn hóa xã hội: dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền; phổ thông giáodục theo công nông hóa
- Về lực lượng cách mạng:
+ Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp công nhân, nông dân và phải dựa vào hạngdân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng đất
+ Lôi kéo tiểu tư sản, tri thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp
+ Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư sản VN mà chưa rõ mặt phản cách mạng thìphải lợi dụng,ít hơn mới làm cho họ đứng trung lập
+ Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng như Đảng Lập hiến thì phải đánh đổ
+ Về lãnh đạo cách mạng: giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo Việt Nam
+ Đảng là đội tiền phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấpmình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng, trong khi liên lạc với các giaicấp phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đivào con đường thỏa hiệp
Trang 15+ Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới: cách mạng ViệtNam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với các dân tộc bị ápbức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
→ Đánh giá: Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh giải phóng dân tộc đúng
đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh:
- Phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới
- Đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử
- Nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm đượm tinh thần dân tộc vì độc lập tự do
- Tiến hành cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng ruộng đất để đi tới xã hội cộng sản
là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh này
- Thực tiễn quá trình vận động của cách mạng Việt Nam trong gần 80 năm qua đã chứngminh rõ tính khoa học và tính cách mạng, tính đúng đắn và tiến bộ của Cương lĩnh chínhtrị đầu tiên của Đảng
3 Ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng
Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tưtưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc
và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, Hồ Chí Minh viết: Đảng Cộng sản ViệtNam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong tràoyêu nước Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.Đảng Cộng sản Việt Nam được lịch sử giao cho sứ mệnh nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối vớicách mạng Việt Nam
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị được xây dựng ngay từkhi được thành lập (trong đó xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theophương hướng cách mạng vô sản) chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam – môt Đảng vừamới được thành lập nhưng đã giương cao được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng ViệtNam; giải quyết tốt nhất tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạocách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đấtnước và dân tộc Việt Nam Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sựđoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để hoàn thành thắng lợicuộc cách mang dân tộc dân chủ, từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, con đường cách mạngViệt Nam trong suốt 88 năm qua
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương coi cách mạng Việt Nam là một bộphận của phong trào cách mạng thế giới đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thếgiới, đã kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại và đã làm nên những thắng lợi vẻvang Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung củanhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
Sự ra đời của Đảng là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính chất quyết định cho những bướcphát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam, được mở đầu bằngthắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại, là mộtbước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, là một sự kiện đánhdấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta
Trang 168 VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ( CDE 3 THÁNG 9)
Sinh ra trong một gia đình tri thức yêu nước, lớn lên từ một miền quê có truyền thống đấutranh quật khởi, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã có “chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồngbào” Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Đình Phùng, PhanBội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng không tán thành con đường cứu nước của các cụ Xuất phát
từ lòng yêu nước với khát vọng giải phóng dân tộc, cùng với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trịsắc bén và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiền bối, ngày 5/6/1911,Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới hữu hiệu hơn
Trên hành trình đi và tìm được con đường cứu nước NAQ đã đi qua 4 châu lục, 28 quốcgia và đã trải qua 12 nghề để kiếm sống Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng và lậptrường chính trị của Nguyễn Ái Quốc trên cuộc hành trình lao động, tìm kiếm, khảo nghiệm conđường cứu nước mới cho dân tộc diễn ra vào tháng 7/1920, NAQ được đọc bản sơ thảo lần thứnhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin Lý luận của Lênin và lậptrường đúng đắn của quốc tế cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa đã giải đápnhững vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.NAQ tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá chủnghĩa Mác -Lênin về VN nhằm chuẩn bị tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đờichính đảng tiên phong ở VN
- Về tư tưởng: Truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin thông qua báo chí (tờ báo Le Paria - người cùng
khổ với tác phẩm nổi tiếng của NAQ là Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925, ĐườngKách Mệnh xuất bản năm 1927)
Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị, cụ thể:
• Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là : Chỉ cógiải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể
là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới
• Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng
vô sản thế giới.Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng khôngphụ thuộc vào nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chínhquốc góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc
• Nguyễn Ái Quốc nhận rõ, trong nước nền nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượngđông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôicuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công nông làm động lực cách mạng
• Cách mạng muốn dành được thắng lợi trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai tròlãnh đạo Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa Mác – Lênin :
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liênlạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.Đảng có vững cách mệnh mới thành công,củng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt,trong đảng ai cũng phải hiểu ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũngnhư người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩanhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác –Lênin”
• Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ vàtừng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao
Những tư tưởng và quan điểm trên của Nguyễn Ái Quốc được truyền bá qua Hội Việt NamCách mạng Thanh niên truyền bá trong nước(qua phong trào vô sản hóa từ 1928 - 1929) làm chophong trào công nhân và các phong trào yêu nước Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ
-Về chính trị:Đã hình thành 1 hệ thống luận điểm chính trị (gồm 5 luận điểm chính, sau này phát
triển thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng) Hệ thống này có một sốnội dung cơ bản sau:
Trang 17+, Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả 2 cuộc giải phóng nàychỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới.
+, Xác định cách mạng giải phóng dân tộc là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Cáchmạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc, góp phần thúc đẩy cáchmạng chính quốc
+, Trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến
áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựngkhối công-nông làm động lực cách mạng
+, Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng nắm vai trò lãnhđạo Đảng muốn vững phải trang bị chủ nghĩa Mác-Lênin: trước hết phải có đảng cách mệnh, đểtrong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vôsản mọi nơi
+, Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Cách mạng là việc chung của cả dânchúng chứ không phải là việc của 1 người Vì vậy cần phải hợp tác, giác ngộ và từng bước tổchức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao
Những quan điểm đó được truyền bá qua hội VNCM thanh niên truyền bá trong nước làm choquần chúng nhân dân và các phong trào yêu nước VN chuyển biến mạnh mẽ
- Về tổ chức:
+ Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung QUốc)- nơi có rất đôngngười Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảngMác xít
+ Tháng 2/1925, Nguyễn Ái QuỐC lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã để lập
ra nhóm Cộng sản đoàn
+ Tháng 6/1925, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc).Sau khi thành lập, Hội đã mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin chonhững người trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Ngoài ra hội còn cử người đihọc trường đại học Cộng sản Phương Đông (Liên Xô), trường Quân chính Hoàng Phố (TrungQuốc) Để tuyên truyền Hội còn xuất bản tờ báo Thanh niên in bằng chữ quốc ngữ
+ Tháng 7/1925 tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông
+ Năm 1927, xuất bản cuốn Đường Cách Mệnh – đây là cuốn sách giáo khoa chính trị đầu tiêncủa cách mạng Việt Nam, tập hợp tất cả các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc Trong cuốn sáchnày, tầm quan trọng của lý luận cách mạng được đặt lên vị trí hàng đầu với cuộc vận động cáchmạng và đối với cách mạng tiên phong
Từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở trong nước,đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú trọng xây dựng cơ sở trong Việt Kiều
ở Thái Lan
Như vậy, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản nhưng chươngtrình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp công nhân – là tổ chức tiền thândẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam
+ Sau khi lựa chọn con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam,Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện “lộ trình” đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết
họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thửthách với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩntrương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới
sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam – đẩy bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phùhợp với xu thế tiến bộ của lịch sử
+ Với không khí dâng lên cao mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ trong vòng 7tháng (từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930), cả nước lần
lượt đã ra đời ba tổ chức cộng sản Đó là, Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6/1929), An NamCộng sản Đảng (tháng 10/1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1/1930) Lúc này,việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất, đủ khả năng lãnh đạo
Trang 18phong trào cách mạng cả nước vừa là yêu cầu tất yếu khách quan, vừa là chỉ thị của Quốc tếCộng sản
Từ cuối năm 1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc và dân chủ ở nước ta, đặc biệt là phongtrào công nông theo con đường cách mạng vô sản, đã phát triển mạnh mẽ Trước tình hình đó,Hội Việt Nam cách mạng thanh niên không còn đủ sức để lãnh đạo nữa Cần phải thành lập mộtĐảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân, giai cấp nông dân cùng các lực lượngyêu nước và cách mạng khác đấu tranh chống đế quốc và phong kiến tay sai, giành lấy độc lập và
tự do
+ Trước tình hình cấp bách đó, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Hương Cảng (HồngKông) triệu tập ngay hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức đó lại vàthành lập một Đảng Cộng sản thống nhất Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, tại Hương Cảng, saumột thời gian ngắn gấp rút chuẩn bị, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn ÁiQuốc đã chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một tổ chức duy nhất,lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắntắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và Lời kêu gọi do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Tất cả các tài liệunày được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta Nội dung Cương lĩnh chính trị đãnêu rõ đường lối chiến lược và sách lược phù hợp với tình hình thực tế của cách mạng Việt Nam,
đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện mục tiêu người cày có ruộng và tiến lên chủnghĩa xã hội
Kết luận: ĐCSVN ra đời là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử CMVN Sự kiện lịch sử vĩ đại
ấy đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo phong trào yêu nước
VN đầu thế kỷXX, đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân VN, là nền tảng vữngchắc cho dân tộc VN tiếp nối trên con đường độc lập dân tộc và CNXH
3 Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)
9 SO SÁNH LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ THÁNG 10-1930 VỚI CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN (6.1.1930) CỦA ĐẢNG ( CDE 1 THÁNG 10)
Cương lĩnh chính trị 2/1930 của Hồ Chí Minh và Luận cương chính trị 10/1930 của Trần Phú lànhững văn kiện thể hiện đường lối cách mạng của Đảng, đều được xây dựng trên cơ sở lý luận và
cơ sở thực tiễn, xác định rõ phương hướng chiến lược, nhiệm vụ cụ thể và cơ bản, lực lượng cáchmạng, phương pháp cách mạng, đoàn kết quốc tế và vai trò lãnh đạo của Đảng Trong mỗi khíacạnh trên đều thể hiện rõ sự giống và khác nhau giữa hai văn kiện
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (3/2/1930) và Luận cương chính trị(10/1930) có những điểm giống nhau sau:
- Về phương hướng chiến lược của cách mạng: cả 2 văn kiện đều xác định bỏ qua giai đoạn tưbản chủ nghĩa để đi tới xã hội cộng sản
-> Phương hướng chiến lược đã phản ánh xu thế của thời đại và nguyện vọng đông đảo củanhân dân Việt Nam
- Về nhiệm vụ đều là đánh đổ phong kiến, đánh đổ đế quốc
- Về lực lượng cách mạng: đều có sự tham gia của công nhân và nông dân Đây là hai lực lượngnòng cốt và cơ bản đông đảo trong xã hội góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộcnước ta
- Về vị trí quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít với cách mạng thế giới đã thểhiện sự mở rộng quan hệ bên ngoài, tìm đồng minh cho mình
- Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản
“Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình,phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” Như Hồ Chí Minh đã từng nói: “ĐảngCộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước Việt Nam”
Trang 19Sự giống nhau trên là do cả hai văn kiện đều thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vôsản chiụ ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (3/2/1930) và Luận cương chính trị(10/1930) có những điểm khác nhau sau:
Thứ nhất, về phương hướng chiến lược của cách mạng:
Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
Đối tượng: Việt Nam
Chiến lược: “tư sản dân quyền cách mạng và
thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Đối tượng: cả 3 nước Đông Dương
Chiến lược: “ Cách mạng tư sản dân quyền”mang tính chất thổ địa và phản đế
Dù cả hai văn bản đều sử dụng chiến lược mang tên: “cách mạng tư sản dân quyền” nhưng tính
chất của “cách mạng tư sản dân quyền” ở hai văn bản là khác nhau (Quan điểm này sẽ được phân tích kỹ hơn tại mục nhiệm vụ)
Cương lĩnh và Luận cương đều nhắc đến thổ địa cách mạng song chỉ có Luận cương là phân tích
kỹ về vấn đề này và kết hợp với con đường phản đế trong CMTS dân quyền, còn Cương lĩnh thìchỉ mới là bước đầu nhắc đến nhưng chưa hề nêu cụ thể về vấn đề này, nhiệm vụ thổ địa cáchmạng sẽ được giải quyết sau khi vấn đề CMTS dân quyền được giải quyết một cách hoàn chỉnh
Thứ hai, về nhiệm vụ của CMTS dân quyền và thổ địa CM:
Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
- Phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa
xã hội trong Chánh cương vắn tắt đều
hướng về vấn đề độc lập dân tộc
Ví dụ: 1.Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và
bọn phong kiến
Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập
2 Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp,
vận tải, ngân hàng, v.v.) của tư bản đế quốc
chủ nghĩa Pháp để giao cho chính phủ công
nông binh quản lý
Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm
của công chia cho dân cày nghèo
- Khẳng định nhiệm vụ: đánh đổ phong kiến và đánh đổ đế quốc Pháp
→ coi hai nhiệm vụ có mối quan hệ khăngkhít với nhau
Đồng thời xác định “vấn đề thổ địa là cái cốt
của CMTS dân quyền”
Từ đó ta có thể thấy, CMTS dân quyền của Cương lĩnh chính trị thực chất là quá trình giải phóng dân tộc khỏi đế quốc còn CMTS dân quyền của Luận cương chính trị thực chất là quá trình vừa đấu tranh giai cấp vừa đấu tranh vì độc lập dân tộc Dù cùng nhắc đến độc lập dân
tộc nhưng ở Luận cương thì đây chỉ là vai trò thứ yếu do Trần Phú quan trọng vấn đề giai cấphơn nên đã xác định “vấn đề thổ địa là cái cốt của CMTS dân quyền”
Trang 20Nguyên nhân: Do cách nhìn nhận xã hội của Hồ Chí Minh và Trần Phú khác nhau Hồ Chí Minh cho rằng mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội chính là mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam
và đế quốc Pháp Trong khi đó Trần Phú, do bị ảnh hưởng từ khuynh hướng tả, coi mâu thuẫn chính ở đây là mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ (giữa một bên là
thợ thuyền, dân cày, phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc)
Thứ ba, về lực lượng cách mạng:
Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
Lực lượng chính: Công nhân và nông dân
Ngoài ra: “hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí
thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v.
để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp
Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa
chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới
làm cho họ đứng trung lập
Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng
(Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”
Lực lượng chính: Công nhân và nông dân
Chỉ coi những người bán hàng rong, thợ thủcông nhỏ mới đi theo, loại bỏ hoàn toàn vaitrò của các tầng lớp khác trong xã hội
Hồ Chí Minh đã đề cao về sự đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội, pháthuy khối đại đoàn kết nhân dân trong khi đó Trần Phú lại quên mất đi vai trò của những tầng lớpkhác, cho rằng những địa chủ, tiểu tư sản là những người mà không thể giác ngộ được Đây cóthể nói là một quan điểm sai lầm của Trần Phú vì khi thiếu đi sự ủng hộ, đoàn kết từ những tầnglớp khác trong xã hội thì cách mạng khó lòng mà có thể thực hiện được
Thứ tư, về phương pháp cách mạng
Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
Đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, bạo
lực quần chúng
Phương pháp nhà binh
Luận cương cho rằng khởi nghĩa "không phải là một việc thường, chẳng những là theo hình thếtrực tiếp cách mạng, mà lại theo khuôn phép nhà binh… Trong khi không có tình thế trực tiếpcách mạng cũng cứ kịch liệt tranh đấu; nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chứcnhững cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để suy động đại quầnchúng ra thị oai, biểu tình bãi công, v.v., để dự bị họ về cuộc võ trang bạo động sau này"
Luận cương cũng nhắc nhở nguy cơ chiến tranh đế quốc ngày càng gần, cần làm cho khẩu hiệuđấu tranh ăn sâu vào tiềm thức nhân dân như “ phản đối bình dị’’ , đồng thời tăng cường côngtác vận động binh lính địch, tổ chức tự vệ của công nông
Thứ năm, về quan hệ của CMVN với phong trào CMTG
Cương lĩnh chính trị Luận cương chính trị
Trang 21- Đảng liên kết với những dân tộc bị áp
bức và quần chúng vô sản trên thế
giới, nhất là với quần chúng vô sản
Pháp.
- Nhấn mạnh: vô sản Đông Dương phảiliên lạc mật thiết với vô sản thế giới,
nhất là vô sản Pháp, với quần chúng
cách mạng ở các nước thuộc địa, bán
thuộc địa, nhất là Tàu và Ấn Độ.
10 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG DÂN CHỦ 1936- 1939 THÀNH QUẢ VÀ KINH NGHIỆM CỦA CUỘC VẬN ĐỘNG NÀY.
Hoàn cảnh lịch sử
- Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới của CNTB đẩy những mâu thuẫn vốn có của chúngngày càng sâu sắc Đó là nền chuyên chính độc tài nhất, tàn bạo nhất, hiếu chiến nhất củabọn tư bản tài chính phản động Chuyên chính phát xít đã được thiết lập, tiêu biểu ở Đức– Ý – Nhật và 1 số nước khác Phong trào chống Phát xít nhanh chóng lan rộng ở nhiềunước đã thu hút các lực lượng có xu hướng chính trị khác nhau
- Ở Pháp: Mặt trân Nhân dân Pháp được thành lập 5/1935 đã giành được thắng lợi trongcuộc Tổng tuyển cử năm 1936, một chính phủ tiến bộ - chính phủ Mặt trận Nhân dânPháp ra đời
- Ở nước ta: Khủng hoảng kinh tế 1929-1933 ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống nhân dân,bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn thi hành chính sách bóc lột, đàn áp dã manphong trào cách mạng của nhân dân ta
Chủ trương của Đảng:
Tháng 7/1936 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Thượng Hải nhận định:
˗ Đảng ta xác định kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là bọn phảnđộng Pháp cùng bè lũ tay sai không chịu thi hành chính sách của Mặt trận Nhân dânPháp tại các thuộc địa, yêu cầu trước mắt của nhân dân Đông Dương là tự do, dân chủ,cải thiện đời sống
˗ Tạm thời hoãn các khẩu hiệu "Đánh đổ đế quốc Pháp, Đông Dương hoàn toàn độclập","Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày" và nêu những nhiệm vụ trướcmắt của nhân dân Đông Dương là "Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chốngbọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình"
˗ Thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông Dương (đến tháng 3 - 1938, đổi thành Mặttrận Dân chủ Đông Dương) bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị
và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, dân chủ tiến
bộ, đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít và bảo vệ hòa bình thế giới
˗ Về hình thức và phương pháp đấu tranh, tận dụng mọi khả năng hợp pháp và nửa hợppháp, công khai và nửa công khai
Trang 22 Hội nghị đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược với mục tiêu cụthể trước mắt của cách mạng nước ta Do đó đã nhanh chóng đưa phong trào cách mạngcủa quần chúng lên một giai đoạn mới.
Kết quả:
- Lợi dụng thời cơ thuận lợi, Đảng đã lãnh đạo quần chúng và phát động một phong tràođấu tranh công khai, bán công khai mạnh mẽ và rộng lớn, vượt qua được khó khăn do sựđàn áp của kẻ thù, những xu hướng sai lầm, tả hữu khuynh trong nội bộ phong trào
- Uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng, thấm sâu vào từng tầng lớp quần chúngrộng rãi; đã động viên, giáo dục chính trị, xây dựng tổ chức đoàn kết đấu tranh cho hàngtriệu quần chúng Nhờ vậy mà Đảng đã tập hợp được một lực lượng đông đảo quầnchúng nhân dân làm cơ sở cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam sau này
- Tổ chức Đảng có điều kiện để củng cố và phát triển sau khi phục hồi, tích lũy được nhiềubài học kinh nghiệm trong việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất, tổ chức, lãnh đạoquần chúng đấu tranh công khai… Đồng thời Đảng thấy được những hạn chế của mìnhtrong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc…
- Chủ nghĩa Mác-Lênin và các chủ trương, đường lối của Đảng đã được phổ biến, tuyêntruyền một cách rộng rãi và công khai trong một thời gian dài thông qua sách báo và cáchoạt động khác của phong trào dân chủ
Bài học kinh nghiệm:
- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu trước mắt, xácđịnh đúng kẻ thù, nhiệm vụ cụ thể và khẩu hiệu sát hợp để động viên quần chúng lên trậntuyến cách mạng
- Kết hợp hoạt động bất hợp pháp và hoạt động công khai hợp pháp, sử dụng mọi hìnhthứu tổ chức và đấu tranh, chống khuynh hướng bảo thủ, rụt rè, đồng thời chống chủnghĩa công khai, hợp pháp, không coi trọng xây dựng Đảng bí mật và hoạt động bất hợppháp của Đảng, sẵn sàng về tư tưởng và tổ chức để chuyển hướng hoạt động khi tình hìnhthay đổi đột ngột
- Đấu tranh tư tưởng trong nội bộ Đảng và với các đảng phái phản động Phải giữ vững sựlãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng, giữ nghiêm kỷ luật trong Đảng, nâng cao tinhthần trách nhiệm, năng lực tự công tác, phát huy sáng kiến của từng Đảng viên, từng chi
bộ Đảng, thấy được hạn chế trong công tác mặt trận, dân tộc…
- Phấn đấu xây dựng một mặt trận thống nhất dân chủ rộng rãi, vững mạnh do Đảng lãnhđạo Có đường lối sách lược liên minh đúng đắn với các bạn đồng minh, đập tan mọi âmmưu và thủ đoạn xuyên tạc, phá hoại của bọn phản động
- Là một cuộc diễn tập thứ hai, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này
Trang 2311: PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN 1939-1945
1 Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
a Tình hình thế giới và trong nước
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
· Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, trong đó Pháp là nước tham chiến.Chính phủ Pháp thi hành một loạt các biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước vàphong trào cách mạng thuộc địa
· Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp và Chính phủ Pháp đã đầu hàng Ngày 22-6-1941,quân phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ khi phát xít Đức tấn công Liên Xô, tính chất chiếntranh đế quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên Xô làm trụcột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu
- Tình hình trong nước:
· Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất phản động: thẳng tayđàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sảnĐông Dương Thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” tăng cường vơ vét sức người, sức củaphục vụ chiến tranh, bắt lính sang Pháp làm bia đỡ đạn
· Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật Bản cho quân xâmlược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật Chịu cảnh
“một cổ hai tròng” đời sống của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính trị, bầncùng về kinh tế Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật và tay sai phản động ngàycàng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
b Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
Thể hiện qua:
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939)
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11-1940)
+ Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) – quan trọng nhất
Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ vào tìnhhình cụ thể ở trong nước, BCH Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhưsau:
Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Tạm gác khẩu hiểu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiều “tịch thuruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất cho công bằng,giảm tô, giảm tức
Hai là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương
Ở Việt Nam, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (ViệtMinh) thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên nhauđặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi
Ba là, quyết định phải xúc tiến ngay công tác khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm
của Đảng trong giai đoạn hiện tại Để khởi nghĩa vũ trang đi đến thắng lợi cần phải phát triển lựclượng cách mạng, tiến hành xây dựng căn cứ địa cách mạng
Hội nghị cũng chú trọng công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo củaĐảng, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng
c Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
Trang 24- Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo BCH Trung ương Đảng đã giải quyết mục tiêu số mộtcủa cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực hiện mục tiêu ấy.
- Đường lối đúng đắn gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đã dẫn đường cho nhân dân ta tiếnlên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do chonhân dân Chủ trương đúng đắn của Hội nghị thực sự là kim chỉ nam đối với hoạt động của Đảngcho tới thắng lợi cuối cùng năm 1945
- Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra đời
- Chuẩn bị về lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng: Sau khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940),đội du kích Bắc Sơn được duy trì và đổi tên thành Cứu Quốc quân Ngày 22-12-1944 Đội ViệtNam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ở Nguyên Bình (Cao Bằng) do đồng chí VõNguyên Giáp lãnh đạo
- Đảng và Hồ Chí Minh chỉ đạo việc thành lập các chiến khu và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu
là căn cứ Bắc Sơn-Vũ Nhai và căn cứ Cao Bằng
2 Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần
Phát động Cao trào kháng Nhật cứu nước:
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới II đã đi vào giai đoạn kết thúc Quân đồng minh chuẩn bịtiến vào Đông Nam Á Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn Ngày 9-3-1945, Nhật nổsúng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Pháp chống cự rất yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng.Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động củachúng ta Nội dung:
– Chỉ thị đã nhận định: Nhật đảo chính Pháp sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc,nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi, tuy nhiên nó sẽ làm cho những điều kiệntổng khởi nghĩa mau chóng chín muồi
– Xác định kẻ thù là Nhật, khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” Đồng thời chủ trương phát độngcao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho khởi nghĩa
– Phương châm đấu tranh: phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứđịa
– Dự báo thời cơ:
+ Quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật, quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồngminh để phía sau sơ hở
+ Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập hoặcNhật bị mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần
Cao trào kháng Nhật cứu nước đã thu được những kết quả quan trọng, là tiền đề trực tiếp đưa tớithắng lợi của tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945
Đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận:
– Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôI nổi, mạnh mẽ vàphong phú về nội dung, hình thức
– Tháng 3/1945 tù chính trị nhà giam Ba Tơ khởi nghĩa, đội du kích Ba Tơ ra đời Đây là lựclượng vũ trang cách mạng đầu tiên do Đảng tổ chức và lãnh đạo ở miền Trung
– Để chỉ đạo phong trào, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ được triệu tập (5/1945) đã quyđịnh thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng bán vũ trang Đồng thời, đẩy mạnhchiến tranh du kích, xây dựng 7 chiến khu trong cả nước: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hoàng HoaThám, Quang Trung ở Bắc Kỳ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung Kỳ; Nguyễn Tri Phương ởNam Kỳ
Trang 25– Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Tuyên Quang Ngày 4/6/1945 theo chỉ thị của Người
“Khu giải phóng” được thành lập gồm Cao-Bắc-Lạng-Thái-Tuyên-Hà và một số vùng phụ cận.Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước và là hình ảnh thu nhỏ củanước Việt Nam mới
b Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
– Điều kiện phát động tổng khởi nghĩa (thời cơ tổng khởi nghĩa) :
+ Chiến tranh thế giới II kết thúc, thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, phát xít Đức đầu hàngĐồng minh không điều kiện (9-5-1945), phát xít Nhật đi gần đến chỗ thất bại hoàn toàn, chínhphủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang cực độ
+ Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương tước vũ khíquân Nhật
Vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh.– Ngày 13-8-1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào quyếtđịnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay phát xít Nhật, trước khi quân Đồngminh vào Đông Dương
– Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, tán thành quyết định tổng khởi nghĩa củaĐảng Cộng sản Đông Dương, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ chí Minh làm Chủ tịchDưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vũng dậy khởi nghĩa giành chínhquyền
+ Từ ngày 14-8: Giải phóng quân tiến công các đồn Nhật ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Yên Bái Ngày 14 đến ngày 18: Giành chính quyền ở Bắc Giang, Hải Dương, HàTĩnh, Quảng Nam, Phúc Yên, Thanh Hoá, Thái Bình
+ Ngày 19-8: Giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội Ngày 23-8: Khởi nghĩa giành chính quyền ởHuế
+ Ngày 25-8: Quân Nhật ở Sài Gòn thất thủ Ngày 28-8: Ta giành chính quyền trong cả nước Uỷban dân tộc giải phóng tuyên bố tự cải tổ thành Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủcộng hoà Chỉ trong vòng 15 ngày (14 đến 28-8) cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên cảnước, chính quyền về tay nhân dân
Ngày 30-8: vua Bảo Đại thoái vị và giao nộp ấn, kiếm, áo bào cho đại diện Chính phủ Lâm thờinước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Ngày 2-9: Tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyênngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời
c Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám
Kết quả và ý nghĩa:
– Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiền xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc tronghơn 80 năm, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế suốt 1000 năm và ách thống trịcủa phát xít Nhật
– Ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thànhngười tự do, người làm chủ vận mệnh của mình
– Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật không hợp pháp trở thành một đảngcầm quyền và hoạt động công khai
– Nâng cao lòng tự hào dân tộc, để lại những bài học kinh nghiệm quý cho phong trào đấu tranhgiành độc lập và chủ quyền
– Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ sụp đổ và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ
Trang 26– Chứng minh cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin và những sáng tạo của Hồ Chí Minh
về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tựhào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này
là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảngmới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”
Nguyên nhân thắng lợi:
– Kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã bị Liên Xô và quân Đồng minh đánh bại,quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã.Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ phát động tổng khởi nghĩa giành thắng lợi mauchóng, ít đổ máu
– Có sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng ta, của Hồ Chí Minh với đường lối cách mạngđúng đắn, dày kinh nghiệm, đoàn kết, thống nhất, nắm bắt đúng thời cơ, kiên quyết, khôn khéo.– Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, đoàn kết và thống nhất trong Mặttrận Việt Minh
– Quần chúng có quá trình chuẩn bị đấu tranh lâu dài (15 năm), được tập dượt qua ba cao tràocách mạng rộng lớn, tạo thành lực lượng chính trị hùng hậu có lực lượng vũ trang làm nòng cốt
Bài học kinh nghiệm:
Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc vàchống phong kiến
Hai là, toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công-nông
Ba là, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù
Bốn là, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy Nhà nước cũ, lập ra bộ máy Nhànước của nhân dân
Năm là, nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ
Sáu là, xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền
12 PHÂN NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI, TÍNH CHẤT VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
1 Nguyên nhân thắng lợi
- Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong hoàn cảnh khách quan rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phátxít Nhật đã bị Liên Xô và Đồng minh đánh bại, quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã.
Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy nên đã giànhđược thắng lợi nhanh chóng và ít đổ máu
- Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của toàn dân
ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc
1939-1945 Trong quá trình đó, Đảng đã xây dựng được một lực lượng chính trị hùng hậu; từng
bước xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc, cóchỗ đứng chân ngày càng vững chắc trong căn cứ địa cách mạng, giữ vai trò nòng cốt,xung kích, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Trang 27- Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám.
Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, bắt rễ sâu
trong quần chúng, đoàn kết và thống nhất, quyết tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩagiành chính quyền Sự lãnh đạo của Đảng với nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọnđúng thời cơ, phương pháp bạo lực cách mạng kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị,đấu tranh vũ trang và kết hợp chặt chẽ đấu tranh nông thôn với đấu tranh thành thị và đấutranh linh hoạt là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.Chúng ta đã xây dựng một đảng MacLenin có đường lối đúng đắn, bảo đảm thông suốt
và quán triệt đường lối đó trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho tổchức đảng có chất lượng cao, tinh gọn, trong sạch, vững mạnh và ăn sâu bám rễ trongquần chúng Đó là kết quả của quá trình xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ giảiphóng dân tộc trong điều kiện mà tình hình thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi
- Truyền thống đánh giặc, tinh thần yêu nước, đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã được nhândân thấm nhuần, tiếp thu, kế thừa và phát triển, tiếp bước
- Được sự cổ vũ của đông đảo tầng lớp yêu chuộng hòa bình trên thế giới
2 Tính chất và ý nghĩa lịch sử
- Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: là cuộccách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước thoát khỏi sự đô hộ của các nước đếquốc, thực dân, là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sảnlãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa Với thắng lợi của Cách mạngTháng Tám, nhân dân Việt Nam đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc tronggần một thế kỷ trên đất nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngótnghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước do nhân dân lao độnglàm chủ Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, ngườilàm chủ vận mệnh của mình Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập
và tự do Đảng Cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật, không hợp pháp trởthành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai
- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sửtiến hóa của dân tộc Việt Nam, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độclập tự do
- Về mặt quốc tế, Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọngtrong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ suy sụp và tan rã không
gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, góp phần cống hiến lớn lao vào sự nghiệp giảitrừ chủ nghĩa thực dân và giải phóng dân tộc trên thế giới
- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc
- Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh vàđường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng
- Cách mạng Tháng Tám thành công để lại cho Đảng và nhân dân Việt Nam nhiều kinhnghiệm quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giảiphóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc
2 Những kinh nghiệm lịch sử
- Một là: Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống
đế quốc và chống phong kiến.
Trang 28Con đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc và Cương lĩnh của Đảng đã xác định cách mạng nước
ta trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó chuyển lên cách mạng
xã hội chủ nghĩa Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối gắn liền độclập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đếquốc và chống phong kiến
- Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công - nông
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là nhờ cuộc đấu tranh yêu nước anh hùng của hơn 20 triệungười Việt Nam Đảng xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc, động viên toàn dân tổng khởinghĩa thắng lợi
- Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù
Đảng ta đã lợi dụng được mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phát xít, mâuthuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và một bộ phận thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàngngũ ngụy quyền tay sai của Pháp và của Nhật, cô lập cao độ kẻ thù chính là bọn đế quốc phát xít
và bọn tay sai phản động; tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng Như vậy, Cáchmạng Tháng Tám giành được thắng lợi nhanh gọn, ít đổ máu
- Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân
Cách mạng Tháng Tám là kết quả của sự kết hợp tất cả các hình thức đấu tranh kinh tế và chínhtrị, hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến cao, từ ở vài địa phương lan ra cảnước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấpthống trị, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân
- Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ
Đảng ta coi khởi nghĩa là một nghệ thuật, vừa vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vàkinh nghiệm của cách mạng thế giới, vừa tổng kết những kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ởnước ta
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi chứng tỏ Đảng đã chọn đúng thời cơ Đó là lúc bọn cầm quyềnphát xít ở Đông Dương hoang mang đến cực độ sau khi Nhật đầu hàng; nhân dân ta không thểsống nghèo khổ như trước được nữa (khi hơn hai triệu người đã bị chết đói ) Đảng đã chuẩn bịsẵn sàng các mặt chủ trương, lực lượng và cao trào chống Nhật, cứu nước làm điều kiện chủquan cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
- Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác - Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Đảng ta ngay từ đầu đã xác định đúng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng, khôngngừng bổ sung và phát triển đường lối chiến lược và sách lược đó Đảng ta rất coi trọng việc
Trang 29quán triệt đường lối chiến lược và sách lược, chủ trương của Đảng trong đảng viên và quầnchúng cách mạng, không ngừng đấu tranh khắc phục những khuynh hướng lệch lạc Đảng chăm
lo công tác tổ chức, cán bộ, giáo dục rèn luyện cán bộ, đảng viên về ý chí bất khuất, phẩm chấtchính trị và đạo đức cách mạng, xây dựng Đảng vững mạnh và trong sạch
4 Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 1954)
-13 CHỦ TRƯƠNG VÀ DIỄN BIẾN CỦA CUỘC ĐẤU TRANH BẢO VỆ & XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THỜI KỲ 1945 - 1946
- Chủ trương Kháng chiến kiến quốc của Đảng:
+ Ngày 25/11/1945 Ban chấp hành trung ương Đảng ra chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc"
vạch ra con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới
+ Về chỉ đạo chiến lược: Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là dân tộc giải phóng, khẩu hiệu lúc này là "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết", nhưng không phải là giành độc lập mà là giữ vững độc lập.
+ Về xác định kẻ thù: thực dân Pháp xâm lược
→ Vì vậy phải lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược; mở rộng mặt
trận Việt Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân, thống nhất mặt trận Việt Minh Lào chốngPháp xâm lược; kiên quyết giành độc lập tự do hạnh phúc dân tộc
+ Về phương hướng nhiệm vụ: Đảng nêu lên bốn nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách cần khẩn
trương thực hiện là:
1 Củng cố chính quyền cách mạng
2 Chống thực dân Pháp xâm lược
3 Bài trừ nội phản
4 Cải thiện đời sống nhân dân
+ Những biện pháp cụ thể để thực hiện những nhiệm vụ trên: Xúc tiến bầu cử Quốc hội, thành lập chínhphủ chính thức, lập hiến pháp, củng cố chính quyền nhân dân; động
viên lực lượng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu
dài; kiên trì nguyên tắc thêm bạn bớt thù, thực hiện khẩu hiệu "Hoa Việt thân thiện" đối với quân đội Tưởng Giới Thạch và "Độc lập về chính trị, nhân nhượng về kinh tế" đối
với Pháp
+ Về bảo vệ chính quyền cách mạng: ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài
Gòn và mở rộng phạm vi chiếm đóng ra các tỉnh Nam bộ, Đảng đã kịp thời lãnh đạo nhândân Nam bộ đứng lên kháng chiến và phát động phong trào Nam tiến chi viện Nam bộ,ngăn không cho quân Pháp đánh ra Trung bộ Ở miền Bắc, bằng chủ trương lợi dụng mâuthuẫn trong nội bộ kẻ thù, Đảng, Chính phủ ta đã thực hiện sách lược nhân nhượng với
Trang 30quân đội Tưởng và tay sai của chúng để giữ vững chính quyền, tập trung lực lượng chốngPháp ở miền Nam Khi Pháp Tưởng ký hiệp ước Trùng Khánh (28/2/1946 ), thỏa thuậnmua bán quyền lợi với nhau, cho pháp kéo quân ra miền Bắc, Đảng lại mau lẹ chỉ đạochọn giải pháp hòa hoãn, dàn xếp với Pháp để buộc quân Tưởng phải rút về nước Hiệpđịnh sơ bộ 6/3/1946, cuộc đàm phán ở Đà Lạt, tạm ước 14/9/1946 đã tạo điều kiện choquân dân có thêm thời gian để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới.
- Diễn biến của cuộc đấu tranh bảo vệ & xây dựng chính quyền cách mạng: Xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà và tổ chức kháng chiến ở miền Nam
Để sự nghiệp kháng chiến kiến quốc giành được thắng lợi, nhiệm vụ trung tâm là củng cố chính quyền nhân dân Ngay từ những ngày đầu, Đảng đã chú trọng lãnh đạo, xây dựng nền
móng của chế độ dân chủ mới, xóa bỏ toàn bộ tổ chức bộ máy chính quyền thuộc địa, giải táncác đảng phái phản động
Trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, bọn đế quốc phản động ra sức ngăn trở, quấy phá, Đảng kiênquyết lãnh đạo, tổ chức cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 để nhân dân tự mình chọn lựa bầu
những đại biểu chân chính của mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp kỳ thứ nhất đã bầu Hồ Chí
Minh giữ chức Chủ tịch Chính phủ và trao quyền cho Người lập chính phủ chính thức – Chính
phủ liên hiệp kháng chiến Tại kỳ họp thứ hai (tháng 11-1946), Quốc hội đã thông qua Hiến
pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Quyền làm chủ nước nhà, quyền và nghĩa vụ củamọi công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Nhân dân cũng đã khẩn trương bầu Hội đồng nhândân và Hội đồng nhân dân đã bầu Uỷ ban hành chính các cấp
Đảng chỉ đạo tích cực phát triển các đoàn thể yêu nước Mặt trận dân tộc thống nhất được mở
rộng, đưa đến sự ra đời của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tháng 5- 1946) gọi tắt là LiênViệt Các tổ chức quần chúng được củng cố, mở rộng thêm: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam lần lượt ra đời Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập nhằmđoàn kết những trí thức yêu nước Việt Nam
Đảng ta coi trọng việc xây dựng và phát triển công cụ bảo vệ chính quyền cách mạng như quân đội, công an Lực lượng vũ trang tập trung được phát triển về mọi mặt Cuối năm 1946,
lực lượng quân đội thường trực mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam có 8 vạn người Việc vũtrang quần chúng cách mạng, quân sự hoá toàn dân được thực hiện rộng khắp
Đảng đã vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ mọi tệ nạn văn hóa nô dịch của
thực dân, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển phong trào bình dân học vụ để chống nạn mù chữ,diệt "giặc dốt" Một năm sau Cách mạng Tháng Tám đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết Cáctrường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt được khai giảng
Trang 31Thắng lợi bước đầu trong cuộc đấu tranh xây dựng nền móng chế độ mới, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ rằng,
nếu "nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"Nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ, dân sinh càng thêm tin tưởng, gắn bó và quyết tâmbảo vệ chế độ mới Đó là sức mạnh để bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững quyền lãnh đạocủa Đảng, là sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng thù trong giặc ngoài
Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng tiến công ra các tỉnh Nam
Bộ, Thường vụ Trung ương Đảng đã nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ uỷ Nam Bộ và
kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên kháng chiến Trung ương Đảng đã cử một phái đoàn doHoàng Quốc Việt, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng và nhiều cán bộ tăng cường cho Nam
Bộ để cùng Đảng bộ Nam Bộ chỉ đạo kháng chiến Ngày 25-10-1945, Hội nghị Cán bộ Đảng bộ
Nam Bộ họp ở Thiên Hộ - Cái Bè - Mỹ Tho (Tiền Giang) Hội nghị chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng khắp để tiêu hao sinh lực và chặn bước tiến của giặc; xây dựng, củng cố cơ
sở cách mạng trong thành phố và các vùng địch chiếm; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh,trong đó bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống tổ chức, chỉ huy thống nhất Như vậy, Đảng
bộ Nam Bộ đã có những quyết định quan trọng để phát triển chiến tranh nhân dân
Đảng đã phát động phong trào cả nước hướng về Nam Bộ Hàng vạn thanh niên nô nức lênđường Nam tiến Nhân dân miền Nam "thành đồng Tổ quốc" chiến đấu với sức mạnh của chiếntranh nhân dân, sức mạnh của cả dân tộc đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh củathực dân Pháp
14 PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ CỦA ĐẢNG.
đã bộc lộ rõ thái độ bội ước, tiếp tục đẩy mạnh tăng cường bình định ở các tỉnh Nam Bộ, xúc tiếntái lập Nam Kỳ tự trị; gây xung đột quân sự, lấn chiếm nhiều vị trí ở nơi đóng quân ở Bắc BộViệt Nam; đặt lại nền thống trị ở Campuchia và Lào, chia rẽ ba nước Đông Dương
- Cuối tháng 11-1946, thực dân Pháp mở cuộc tấn công vũ trang đánh chiếm Hải Phòng,
Lạng Sơn, tiếp đó chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, tấn công vào các vùng tự do của
ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương Ngày 18-12, đạidiện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam, đưa liên
tiếp ba tối hậu thư đòi phía Việt Nam phải giải giáp Đến ngày 19-12-1946, thiện chí hòa bình của Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp thẳng thừng cự tuyệt.
Trang 32- Ngày 12-12-1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến Ngày 18-12-1946, Hội nghị
Ban Thường vụ Trung ương Đảng kịp thời đề ra chủ trương đối phó và quyết định phát độngtoàn dân, toàn quốc tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp với tinh thần “thà hy sinhtất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”
- Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, khẳng định
quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết kháng chiến đến cùng để bảo vệ nền độc lập, tự do
- Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, thực hiện mệnh lệnh của Chính phủ, bắt đầu từ 20 giờ ngày 19-12-1946, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, quân và dân Hà Nội và ở các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra
đã đồng loạt nổ súng, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.Cuộc chiến đấu ở mặt trận Hà Nội
là quyết liệt nhất, diễn ra liên tục trong suốt 60 ngày đêm khói lửa Đến ngày 17-2-1947, Trungđoàn Thủ đô và các lực lượng quân sự đã chủ động rút lui ra ngoài thành phố, lên chiến khu antoàn để củng cố, bảo toàn và phát triển lực lượng kháng chiến lâu dài
● Nội dung cơ bản của đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính Đường lối đó được thể hiện
trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng
● Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự
do, thống nhất hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
● Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích
cực tham gia kháng chiến Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn dân đánhgiặc
● Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân
sự mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự,đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định
● Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng Kháng chiến lâu dài nhưng
không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộckháng chiến có bước nhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng
● Kháng chiến dựa vào sức mình là chính Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy
nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu,nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến tranh nhân dân Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huycao độ và có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế khi có điềukiện
→ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn,trở thành ngọn cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên.Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thànhmột nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
● Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950
- Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Trung ương Đảng quyết định chia cả nước thành các khu vàsau này thành các chiến khu quân sự để phục vụ yêu cầu chỉ đạo cuộc kháng chiến
- Ngày 6-4-1947, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương, nhấnmạnh việc mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp, củng cố chính quyền nhândân ở vùng địch tạm chiếm, phát động chiến tranh du kích, đẩy mạnh công tác ngoại giao và tăngcường công tác xây dựng Đảng với việc mở đợt phát triển đảng viên mới “Lớp tháng Tám”
Trang 33- Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phong trào tăng giasản xuất, tự cấp, tự túc lương thực, đảm bảo đời sống cho bộ đội và nhân dân Duy trì phong tràobình dân học vụ, dạy và học của các trường phổ thông các cấp.
- Về quân sự, Thu Đông 1947, Pháp đã huy động khoảng 15.000 quân hình thành ba mũi tiếncông chính tiến lên vùng ATK Việt Bắc Các mũi khác tiến theo đường số 4 từ Lạng Sơn lên CaoBằng Để đối phó với cuộc tấn công của địch lên Việt Bắc, ngày 15-10-1947, Ban Thường vụTrung ương Đảng đã ra Chỉ thị phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp, trong đó nêu
rõ quyết tâm của quân và dân ta Sau 75 ngày đêm chiến đấu liên tục, oanh liệt, đến ngày
21-12-1947, quân và dân ta đã lần lượt bẻ gãy tất cả các mũi tiến công nguy hiểm của giặc Pháp Ta đãbảo toàn được cơ quan đầu não và căn cứ địa kháng chiến, đánh bại âm mưu, kế hoạch đánhnhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp
- Đầu năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí VõNguyên Giáp cùng 1 Trung tướng và 9 Thiếu tướng Sự kiện đó là bước phát triển mới của cuộckháng chiến
- Từ năm 1948, tình hình quốc tế có những chuyển biến có lợi cho các lực lượng cách mạng vàtác động tích cực đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta Đặc biệt, ngày 1-10-1949, Nhà nướcCộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời Nước Pháp liên tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thếchiến lược quân sự của Pháp ở Đông Dương bị đảo lộn
- Phát huy thắng lợi, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện để làm thấtbại âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việtđánh người Việt” của thực dân Pháp Tàn tích văn hóa thực dân, phong kiến từng bước được xóa
bỏ, hình thành các giá trị văn hóa mới; công tác cải cách nền giáo dục quốc gia cũng thu đượcnhững kết quả tích cực
- Trên mặt trận ngoại giao, Đảng và Chính phủ chủ trương tích cực tranh thủ mở rộng quan hệngoại giao với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa
- Tháng 11-1949, Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự Trong quân đội cócuộc vận động “luyện quân lập công” và tiếp theo là phong trào thi đua “rèn cán, chỉnh quân”.Lực lượng ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) được phát triểnnhanh chóng và trưởng thành về mọi mặt Tháng 2-1950, Đảng và Hồ Chí Minh chủ trương tổngđộng viên, ra sắc lệnh huy động nhân lực, vật lực, tài lực của toàn dân để phục vụ đẩy mạnhcông cuộc kháng chiến tiến lên giành thắng lợi lớn hơn Trong vùng tạm bị chiếm, Đảng chỉ đạotiếp tục phát triển mạnh chiến tranh du kích để “biến hậu phương của địch thành tiền phương củata”
● Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương để tìm cơ hội thay thế Pháp Ngày 9-1-1950, 3.000 sinh viên Sài Gòn biểu tình, Trần Văn Ơn hy
sinh Ngày 19-3-1950, hơn 500.000 người dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ khi Mỹ đưatàu chiến tới Cảng Sài Gòn Xứ ủy Nam Bộ có vai trò quan trọng trong chỉ đạo đấu tranh,luật sư Nguyễn Hữu Thọ tham gia lãnh đạo, chỉ đạo phong trào đấu tranh
- Địa bàn Nam Bộ, vốn là nơi địch thực hiện “chiến thuật mạng nhện”, xây dựng hệ thống thápcanh dầy đặc và đã gây cho ta nhiều khó khăn Nhận thức được điều đó, Xứ ủy Nam Bộ đã kịpthời chỉ đạo khắc phục, đưa phong trào chiến tranh du kích ngày càng phát triển
- Từ giữa năm 1949, tướng Revers (Rơve) -Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp đề ra kếhoạch mở rộng chiếm đóng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, phong tỏa, khóa chặt biên giới Việt-
Trang 34Trung Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở một chiến dịch quân sựlớn tiến công địch dọc tuyến biên giới Việt-Trung thuộc 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn (Chiếndịch Biên giới Thu Đông 1950), nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộngcăn cứ địa Việt Bắc, tạo hành lang rộng mở quan hệ thông thương với Trung Quốc và các nước
xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển lên giai đoạn mới Đây làchiến dịch quân sự lớn, quan trọng đầu tiên do quân ta chủ động mở; đích thân Chủ tịch Hồ ChíMinh đi thị sát và trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Cuộc chiến đấu anh dũng và quyết liệt của quân
và dân ta diễn ra không nghỉ trong suốt 30 ngày đêm liên tục và đã giành được thắng lợi to lớn,
“đạt được mục tiêu diệt địch, kết thúc thời kỳ chiến đấu trong vòng vây” Chiến thắng này đã mở
ra cục diện mới, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn
15 PHÂN TÍCH NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH CƯƠNG ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM (2-1951)
Hoàn cảnh lịch sử:
*Thế giới:
- Sau chiến tranh thứ hai, chế độ phát-xít sụp đổ, cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tưbản thêm trầm trọng, Liên-xô ngày càng cường thịnh, phong trào dân chủ lên cao Thếgiới chia làm hai phe: phe dân chủ chống đế quốc do Liên-xô lãnh đạo, phe đế quốc phảndân chủ do Mỹ cầm đầu
- Dưới sự lãnh đạo của Liên-xô đứng đầu là Thống chế Xít-ta-lin, phe dân chủ mở rộngthành mặt trận hòa bình thế giới, kiên quyết chống bọn gây chiến
- Phong trào hòa bình sâu rộng, mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử Đế quốc gây ra chiếntranh thứ ba tức là tự sát
- Cách mạng dân chủ nhân dân lan rộng và đã thành công ở nhiều nước Trung Đông Âu vàViễn đông sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, chế độ dân chủ nhân dân thành lập, táchnhững nước đó ra khỏi hệ thống đế quốc chủ nghĩa
- Phong trào giải phóng thuộc địa và nửa thuộc địa sôi nổi làm lay chuyển hệ thống đếquốc chủ nghĩa đến tận nền tảng
- Sau chiến tranh thứ nhất, giai cấp công nhân Việt Nam trưởng thành nhanh chóng Tưbản Việt Nam ra đời nhưng không phát triển nhiều(do tư bản Pháp chèn ép)
- Trong chiến tranh thứ hai phát xít Nhật xâm chiếm Việt Nam, chế độ thuộc địa của Pháp
ở Việt Nam cũng phát xít hóa Nhân dân Việt Nam càng thống khổ hơn —> Nhiều cuộckhởi nghĩa bùng nổ Các khu căn cứ du kích phát triển và chính quyền nhân dân thành lập
ở khu giải phóng Việt Bắc
- Năm 1945, bị quân đội Xô-viết đánh bại, phát xít Nhật đầu hàng Dưới sự lãnh đạo củaChủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Đông dương, nhân dân Việt Nam tổng khởinghĩa thắng lợi Nước cộng hòa dân chủ Việt Nam thành lập
- Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa vànửa phong kiến Nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủnhân dân và tính chất thuộc địa Mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình cuộckháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp và bọn can thiệp
Trang 35Nội dung chính cương
- Xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu lúc này ở nước ta: mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ
nhân dân và tính chất thuộc địa
+ Xã hội Việt Nam lúc này đang tồn tại 3 tính chất: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa
và nửa phong kiến Các tính chất này mâu thuẫn với nhau và đấu tranh lẫn nhau
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dân chủ nhândân với các thế lực phản động- chủ nghĩa đế quốc xâm lược
→ Cách mạng VN có hai đối tượng: Đối tượng chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược- đế quốcPháp và bọn can thiệp Mỹ, đối tượng phụ là phong kiến-phong kiến phản động
+ Xây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội
→ Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau Tuy nhiên lúc này cần tập trung vào nhiệm vụ chính,tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược
- Lực lượng:
+ Xác định lực lượng của cách mạng VN gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giaicấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc
+ Ngoài ra còn có những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ
→ Các giai cấp, tầng lớp hợp lại thành nhân dân mà nền tảng là công, nông và lao động trí thức
→ Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng
- Tính chất: cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do Đảng của
giai cấp công nhân lãnh đạo
- Do giai cấp công nhân lãnh đạo, liên minh chặt chẽ với nông dân và lao động trí óc, lại
được sự giúp đỡ của Liên-xô và các nước dân chủ nhân dân, nhất là Trung Quốc, cáchmạng Việt Nam không thể đi con đường nào khác ngoài con đường tiến lên chủ nghĩa xãhội
- Ba giai đoạn của của cách mạng Việt Nam
+ Giai đoạn thứ nhất: hoàn thành giải phóng dân tộc
+ Giai đoạn 2: xoá bỏ di tích phong kiến, làm người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoànchỉnh chế độ dân chủ nhân dân
+ Giai đoạn 3: chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa
xã hội
→ Ba giai đoạn quan hệ mật thiết với nhau và mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm
- Chính cương cũng nêu rõ 15 chính sách lớn của Đảng
Chính cương chỉ rõ: hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ phong kiến, pháttriển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội Chính sách kháng chiến là thực hiệnmột cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, trường kỳ, kháng chiến đến cùng đểgiành độc lập thống nhất cho Tổ quốc Xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân dựa vào Mặttrận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân, trí thức do giai cấp côngnhân lãnh đạo
Chính cương còn nêu những quan điểm cơ bản về xây dựng quân đội, phát triển kinh tếtài chính, cải cách ruộng đất, phát triển văn hóa giáo dục, chính sách đối với tôn giáo, chínhsách dân tộc, chính sách đối với vùng tạm chiếm, chính sách ngoại giao, chính sách đối vớiViệt kiều Về ngoại giao, Chính cương khẳng định nguyên tắc "tôn trọng độc lập, chủ quyềnlãnh thổ, thống nhất quốc gia của nhau và cùng nhau bảo vệ hòa bình, dân chủ thế giới,chống bọn gây chiến"; mở rộng ngoại giao nhân dân, giao thiệp thân thiện với Chính phủnước nào tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại giao với các nước đó theonguyên tắc tự do, bình đẳng và có lợi cho cả hai bên, đấu tranh cho hòa bình thế giới
Trang 36- Đại hội thông qua Điều lệ mới của Đảng và xác định rõ:
+ Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động việt Nam
+ Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam và xây dựngĐảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới
- Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dựkhuyết; Bộ Chính trị gồm 7 uỷ viên chính thức, 1 uỷ viên dự khuyết và ban bí thư; HồChí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng; Trường Chinh được bầu lại làm tổng Bí thư
→ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai đánh dấu sự trưởng thành của Đảng về mọi mặt,đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàntoàn Cùng với các văn kiện đã thông qua tại đại hội, “Chính cương Đảng Lao động VN”thể hiện sự hoàn chỉnh them 1 bước đường lối CM dân tộc dân chủ nhân dân được vạch
rõ, soi đường dẫn đến thắng lợi của cuộc CM kháng chiến chống thực dân Pháp và canthiệp Mỹ
16 NHỮNG DIỄN BIẾN CHÍNH CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ (1945 – 1954)
1 Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng 1945-1946
- Tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám
- Xây dựng chế độ mới và chính quyền cách mạng
+ Chống giặc đói, đẩy lùi nạn đói
+ Chống giặc dốt, xóa nạn mù chữ
+ Khẩn trương xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng:
+ Tổ chức cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Nam Bộ, đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ
Với Pháp: Đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, quân đội Pháp đã nổ súng gây hấn đánh chiếm SàiGòn-Chợ Lớn (Nam Bộ) Chống lại sự gây hấn của quân Pháp bằng những phương pháp đấutranh quyết liệt của quân và dân miền Nam
Với Tưởng: Thực hiện sách lược “triệt để lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, hòa hoãn, nhân nhượng cónguyên tắc” với quân Tưởng Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật; Chính phủ Việt Namnhượng bộ một số lợi ích cho quân Tưởng
- Đầu năm 1946, phe đế quốc đã dàn xếp, thỏa thuận để Chính phủ Pháp và Chính phủTrung Hoa dân quốc ký kết bản Hiệp ước Trùng Khánh, Pháp thay Tưởng giải giáp quânNhật tại Việt Nam
Trang 37- Ngày 6-3-1946, ta ký với đại diện Chính phủ Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định sơ
bộ
- Ngày 14-9-1946, ta ký với Chính phủ Pháp một bản Tạm ước 14-9 tại Marseill (Mácxây,Pháp), đồng ý nhân nhượng thêm cho Pháp một số quyền lợi kinh tế, văn hóa ở ViệtNam; hai bên cam kết đình chỉ chiến sự ở Nam Bộ và tiếp tục đàm phán
2 Đường lối kháng chiến toàn quốc và quá trình tổ chức thực hiện từ năm 1946 đến năm 1950
- Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và đường lối kháng chiến của Đảng
+ Sự hung hăng cũng như ngang nhiên xâm phạm các cam kết của Pháp như: Cuối tháng
11-1946, đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, tiếp đó chiếm đóng trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương,tấn công vào các vùng tự do của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, hay ngày 18-12, đại diện Pháp
ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với Chính phủ Việt Nam
→ Một sự lựa chọn duy nhất là cầm súng đứng lên chống lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệnền độc lập và chính quyền cách mạng
+ Ngày 12-12-1946, Trung ương ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến Ngày 19-12-1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành, bổ sung, phát triển
qua thực tiễn cách mạng Việt Nam trong những năm 1945 đến 1947 Nội dung cơ bản của đường
lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân, tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
+ Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do,
thống nhất hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới
+ Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực
tham gia kháng chiến
+ Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân sự
mà cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũtrang giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định
+ Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng Trường kỳ kháng chiến là một
quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làmchuyển biến so sánh lực lượng trên chiến trường có lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất
để chuyển hóa yếu thành mạnh
+ Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồn
sức mạnh vật chất, tinh thần vốn của trong nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếucủa cuộc chiến tranh nhân dân Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quả sựủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế khi có điều kiện
- Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950
+ Về lĩnh vực quân sự,
Mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp, củng cố chính quyền nhân dân ởvùng địch tạm chiếm, phát động chiến tranh du kích, gia tăng sứ mạnh quân sự của quốc gia.Phá tan cuộc tấn công Thu Đông 1947 của quân thù
→ Bảo toàn được cơ quan đầu não và căn cứ địa kháng chiến, đánh bại âm mưu, kế hoạch đánhnhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp
Trang 38Phát huy thắng lợi, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn diện để làm thấtbại âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việtđánh người Việt” của thực dân Pháp.
+ Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Đảng tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, tự cấp, tự túc lương thực, đảmbảo đời sống cho bộ đội và nhân dân Duy trì phong trào bình dân học vụ, dạy và học của cáctrường phổ thông các cấp
+ Trên mặt trận ngoại giao
Đảng và Chính phủ chủ trương tích cực tranh thủ mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước trongphe xã hội chủ nghĩa Đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Trung Quốc (18-1-1950), Liên Xô(30-1-1950) và các nhà nước dân chủ nhân dân Đông Âu, Triều Tiên (2-1950)
Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương để tìm cơ hội thay thế Pháp.
Tháng 6-1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở một chiến dịch quân sự lớn tiếncông địch dọc tuyến biên giới Việt-Trung thuộc 2 tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn (Chiến dịch Biêngiới Thu Đông 1950), nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở rộng căn cứ địaViệt Bắc, tạo hành lang rộng mở quan hệ thông thương với Trung Quốc và các nước xã hội chủnghĩa, tạo điều kiện thúc đẩy cuộc kháng chiến phát triển lên giai đoạn mới
3 Đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi 1951-1954
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II và Chính cương của Đảng (2-1951)
Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai, lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam
+ Xác định tính chất của xã hội Việt Nam lúc này có 3 tính chất: “dân chủ nhân dân, một phần
thuộc địa và nửa phong kiến” Cuộc kháng chiến để giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dân chủnhân dân với các thế lực phản động chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược Đối tượng đấu tranhchính của Việt Nam hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, và phongkiến phản động
+ Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được xác định là: “đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành
độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến,làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xãhội”
+ Động lực của cách mạng Việt Nam được xác gồm có bốn giai cấp là: giai cấp công nhân, giai
cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc, ngoài ra còn có những thân sĩ yêu nước vàtiến bộ Trong đó lấy nền tảng là giai cấp công, giai cấp nông và lao động trí óc; giai cấp côngnhân đóng vai trò là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam
- Đẩy mạnh phát triển cuộc kháng chiến về mọi mặt
+ Quân sự
Đảng chủ trương mở các chiến dịch tiến công quân sự có quy mô tương đối lớn đánh vào cácvùng chiếm đóng của địch ở địa bàn trung du và đồng bằng Bắc Bộ, tiêu diệt, tiêu hao sinh lựcđịch, tạo điều kiện phát triển cuộc chiến tranh du kích vùng sau lưng địch Tiếp đó ta mở Chiếndịch Hòa Bình (12-1951) và Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952,
+ Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Đảng, Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh việc chăm lo phát triển thực lực, củng cố và tăng cường sứcmạnh hậu phương kháng chiến
Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến
Trang 39Tháng 7-1953, Nava đã vạch ra kế hoạch chính trị-quân sự mới lấy tên là “Kế hoạch Nava” hòngbiến Điện Biên Phủ trở thành một “pháo đài khổng lồ không thể công phá”.
Để đánh bại âm mưu và kế hoạch Nava, Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược ĐôngXuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ
Kết quả vào hồi 17 giờ 30 phút chiều 7-5-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh chiếmhầm chỉ huy, bắt sống tướng Chiristian de Castries (Đờ Cátơri) chỉ huy trưởng và Bộ chỉ huy tậpđoàn cứ điểm Điện Biên Phủ Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã đưa cuộc Tiến công chiếnlược Đông Xuân 1953-1954 và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Phápxâm lược đến thắng lợi vẻ vang
Chính phủ Pháp không còn sự lựa chọn nào khác, buộc phải đàm phán tại Hội nghị Giơnevơ bàn
về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương Trong quá trình diễn ra Hội nghị Mỹ đãgây sức ép buộc Pháp chấp nhận đưa Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ tướng trong chính quyềnBảo Đại nhằm xây dựng một chính quyền thân Mỹ thay thế chính quyền thân Pháp
Tổng thống Mỹ Dwight D Eisenhower (Ai xen hao) quyết tâm thúc đẩy quá trình Mỹ thay thếPháp ở Việt Nam và Đông Dương
5 Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
17 PHÂN TÍCH Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA ĐẢNG (1945 – 1954)
Nguyên nhân thắng lợi: câu 17
a Ý nghĩa lịch sử: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta thành công là nhờ
các yếu tố
- Có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối
chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính, cósức mạnh động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc
- Có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng
rãi - Mặt trận Liên Việt - được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công nông và tríthức vững chắc
- Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo ngày càng vững
mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu lược, tài trí là lực lượng quyết định tiêu diệt địch trênchiến trường, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, giải phóng đất đai của Tổ quốc
- Có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được giữ vững, củng cố và
lớn mạnh, làm công cụ sắc bén tổ chức toàn dân kháng chiến và xây dựng chế độ mới
- Có sự liên minh chiến đấu keo sơn giữa ba dân tộc Việt Nam, Lào, Campuchia cùng
chống một kẻ thù chung; có sự đồng tình, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô, các nước xãhội chủ nghĩa, của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộPháp Nhân dân ta cùng với nhân dân Lào và Campuchia đã đập tan ách thống trị của chủnghĩa thực dân ở ba nước Đông Dương Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở đầu sựsụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, trước hết là hệ thống thuộc địa của Pháp, cổ vũ mạnh
mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
- Ý chí "thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chiến đấu kiên cường và chiến
thắng ngày càng to lớn, tiêu biểu là chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ Chúng ta đã bảo
Trang 40vệ được chính quyền cách mạng, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốcPháp được đế quốc Mỹ giúp sức ở mức độ cao, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo điềukiện tiến lên hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước.
- Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã
đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là, một thắng lợi vẻ vang của nhân dânViệt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi vẻ vang của các lực lượng hòa bình, dân chủ
b Kinh nghiệm
- Xác định đúng và quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào
sức mình là chính trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
- Kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ chống đế quốc.
- Vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững
mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến
- Quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài chủ động đề ra và thực
hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo
- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của
Đảng trong chiến tranh
18 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CỦA MIỀN BẮC KHI BƯỚC VÀO THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.
˗ Hoàn thành cải cách ruộng đất (1954-1957)
Sau khi hoàn toàn được giải phóng, miền Bắc tiếp tục tiến hành cải cách ruộng đất, thực
₊
hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”
Cuộc cải cách ruộng đất: từ cuối 1953 đến năm 1956 đã thực hiện 5 đợt cải cách Kết quả:
˗ Bước đầu xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội (1961 – 1965)
˗ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960):
Xác định nhiệm vụ chiến lược chung của cách mạng cả nước: Tăng cường đoàn kết các
₊
dân tộc, quyết tâm đấu tranh giữ vững hoà bình; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng, dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam;tiến tới hoà bình thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ; xây dựng một nướcViệt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần tăng cườngphe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình thế giới
Xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng mỗi miền:
₊