1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương tự luận lịch sử đảng việt nam

45 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Tự Luận Lịch Sử Đảng Việt Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại Tài Liệu
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 151,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của môn Lich sử Đảng Cộng sản Việt Nam 1 Đối tượng, phạm vi Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên phong cách mạng, bộ.

Trang 1

1: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của môn Lich sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

1 Đối tượng, phạm vi

Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là đội tiên phong cáchmạng, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam Dưới sự lãnh đạocủa Đảng, nhân dân ta đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ và hy sinh, giành nhiều thắng lợi có

ý nghĩa chiến lược và mang tính thời đại, làm cho đất nước, xã hội và con người Việt Namngày càng đổi mới sâu sắc Lịch sử của Đảng là một pho lịch sử bằng vàng Hồ Chí Minh nói:

"Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!"1

Để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và phát huy truyền thống vẻ vang của mình,Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và tổng kết những bàihọc lịch sử trong từng thời kỳ cũng như trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng Nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để nâng caotrình độ lý luận của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần khắcphục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong Đảng Trên cơ sở nghiên cứu

và khái quát sâu sắc, toàn diện kinh nghiệm lịch sử đã tích lũy được trong cuộc đấu tranh cáchmạng của Đảng, nếu không hiểu được mối liên hệ lịch sử tất yếu và qua đó hiểu tiến trình pháttriển có thể có của các sự kiện, Đảng mới có thể đề ra được một đường lối chính trị hoànchỉnh

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị có quy luật hình thành, phát triển vaitrò lịch sử riêng trong tiến trình lịch sử Việt Nam Do đó, lịch sử Đảng là đối tượng nghiên cứucủa một khoa học riêng - khoa học lịch sử Đảng

Lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc Theo đó, lịch sử Đảng là một khoa học chuyênngành của khoa học lịch sử và có quan hệ mật thiết với các khoa học về lý luận của chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Mỗi ngành khoa học có một phạm vi nghiên cứu cụ thể trong mối quan hệ biện chứng vớicác khoa học khác Khoa học lịch sử nghiên cứu về xã hội và con người xã hội, nghiên cứu vềcuộc sống đã qua của nhân loại một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển, với nhữngquy luật phổ biến và đặc thù của nó Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 là lịch sử đấu tranh cáchmạng kiên cường và anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,nhằm xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, xây dựng chế độ mới ĐảngCộng sản Việt Nam là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của nhân dân ta Do đó, lịch sửViệt Nam (từ năm 1930 trở đi) và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó hữu cơ với nhau Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Đảng là người đề ra đường lối cáchmạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối Do đó, khoa học lịch sử Đảng Cộngsản Việt Nam là một hệ thống tri thức về quá trình hoạt động đa dạng và phong phú của Đảngtrong mối quan hệ mật thiết với tiến trình lịch sử của dân tộc và thời đại Với tư cách là một

khoa học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của Đảng và các phong trào cách mạng của quần chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu gắn liền với đối tượng nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Đường lốichính trị, hoạt động của Đảng là sự biểu hiện cụ thể lý luận đó trong hoàn cảnh Việt Nam vớitất cả đặc điểm vốn có của nó Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

và tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với khoa học lịch sử nói chung và

Trang 2

khoa học lịch sử Đảng nói riêng Đó là những cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứulịch sử Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam nhờ có hoạt động lý luận dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đã đi đến nhận thức được những điều kiện khách quan và sự chínmuồi của những nhân tố chủ quan của sự phát triển xã hội thông qua hệ thống công tác tổ chức

và tư tưởng của Đảng đối với quần chúng

Do đó, đối với khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, quan niệm duy vật về lịch sử làchìa khóa để lý giải sự xuất hiện và phát triển của Đảng như là một kết quả tất yếu của lịch sửđấu tranh của nhân dân Việt Nam Chỉ có đứng trên quan điểm lịch sử mới có thể đánh giá đượcmột cách khoa học các giai đoạn phát triển của Đảng, trên cơ sở làm sáng tỏ địa vị khách quan

và vai trò lịch sử của Đảng trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam, cũng như mới lý giải được rằng lý tưởng cách mạng và những mục tiêu cao cả xuấtphát từ lý tưởng đó, mà Đảng đã kiên trì theo đuổi từ ngày mới ra đời không phải là do ý muốnchủ quan của một cá nhân hoặc của một nhóm người tài ba lỗi lạc nào, cũng không phải do

"nhập cảng" từ bên ngoài vào, mà xét cho cùng là sự phản ánh khách quan của sự phát triển lịch

sử - tự nhiên trong những điều kiện lịch sử nhất định

Với phương pháp luận khoa học, các nhà sử học chân chính có thể nhận thức được lịch sửmột cách chính xác, khoa học Họ có thể nhận thức và phản ánh đúng hiện thực khách quan khinghiên cứu bất kỳ một hiện tượng, một quá trình lịch sử nào

Nghiên cứu lịch sử Đảng đòi hỏi phải quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể mới có thể xemxét các sự kiện lịch sử trong những điều kiện và thời điểm cụ thể và trong mối quan hệ giữachúng với nhau Việc nắm vững và vận dụng quan điểm lịch sử trong khoa học lịch sử Đảngcho phép lý giải được tính sáng tạo cách mạng trong đường lối, chủ

trương của Đảng, cũng như làm rõ được cơ sở phương pháp luận của hoạt động lý luận củaĐảng trong quá trình nghiên cứu để quyết định những đường lối, chủ trương

Khoa học lịch sử Đảng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch

sử nói chung, như các phương pháp lịch sử và lôgích, đồng đại và lịch đại, phân tích và tổnghợp, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hóa và trừu tượng hóa trong đó quan trọng nhất là phươngpháp lịch sử và phương pháp lôgích cùng sự kết hợp hai phương pháp ấy

Nhiệm vụ đầu tiên của khoa học lịch sử Đảng là phải làm sáng tỏ nội dung các giai đoạnlịch sử đấu tranh của Đảng, với những sự kiện cụ thể sinh động và trong mối liên hệ có tínhnhân quả giữa chúng với nhau, cho nên phương pháp được đặt lên hàng đầu trong khoa học lịch

sử Đảng là phương pháp lịch sử

Song nếu phương pháp lịch sử không có sự kết hợp với phương pháp lôgích thì sẽ giảm đitính chất khái quát của nó, không thể vạch ra được bản chất, khuynh hướng chung và nhữngquy luật khách quan chi phối sự vận động lịch sử

Hoạt động của Đảng trong quá khứ cơ bản là hoạt động lãnh đạo, lên lịch sử của Đảng chính làlịch sử của sự lãnh đạo cách mạng, lịch sử của hoạt động nhận thức quy luật, đề ra đường lối,chủ trương cách mạng Hoạt động đó đã được ghi lại, được thể hiện trong các cương lĩnh, nghịquyết, chỉ thị của Đảng, qua phát ngôn của các lãnh tụ của Đảng Hoạt động xây dựng Đảngtrong lịch sử về tư tưởng và tổ chức cũng được thể hiện qua Điều lệ của Đảng Do đó, để nghiêncứu lịch sử của Đảng, phương pháp quan trọng có tính đặc thù, bắt buộc là phải nghiên cứu cácvăn kiện Đảng, nhất là văn kiện các Đại hội và Hội nghị Trung ương Nắm vững nội dung cácvăn kiện Đảng sẽ hiểu được đường lối, chủ trương lãnh đạo cách mạng của Đảng trong các thời

kỳ lịch sử, tức là nắm được hoạt động chính yếu của Đảng trong quá khứ, hiểu được lịch sử củaĐảng

Trang 3

Tính đúng đắn của sự lãnh đạo của Đảng đã được kiểm nghiệm qua hành động thực tiễncủa cán bộ, đảng viên, qua hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng tổ chức, qua phong tràocách mạng của quần chúng Vì vậy, để đánh giá đúng đắn lịch sử của Đảng, rút ra những kinhnghiệm lịch sử phải căn cứ vào phong trào thực tiễn của nhân dân, vào thành bại của cáchmạng

2: Chức năng, nhiệm vụ của môn Lich sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với tư cách là khoa học về những quy luật phát triển và hoạt động lãnh đạo của Đảng,lịch sử Đảng có hai chức năng: chức năng nhận thức khoa học và chức năng giáo dục tư tưởngchính trị

Chức năng nhận thức khoa học lịch sử có mục đích trước hết là để phục vụ việc cải tạo

xã hội theo đúng quy luật phát triển của xã hội Việt Nam như một quá trình lịch sử - tự nhiên.Việc hiểu biết thấu đáo những kiến thức và kinh nghiệm lịch sử Đảng là cơ sở khoa học để cóthể dự kiến những xu hướng phát triển chủ yếu của xã hội và những điều kiện lịch sử cụ thể cótác động đến những xu hướng đó Bằng cách đó, khoa học lịch sử Đảng cùng với các môn khoahọc lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tích cực tạo cơ sở lý luận để Đảngvạch ra đường lối, chủ trương, chính sách

Mặt khác, lịch sử Đảng có chức năng giáo dục tư tưởng chính trị, tham gia vào việc giảiquyết những nhiệm vụ hiện tại Những kiến thức khoa học về các quy luật khách quan của sựphát triển lịch sử cách mạng Việt Nam có tác dụng quan trọng đối với cán bộ, đảng viên, nhândân trong việc trau dồi thế giới quan, phương pháp luận khoa học, xây dựng niềm tin vào thắnglợi của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo

của Đảng, từ đó có quyết tâm phấn đấu thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng

Để thực hiện chức năng đó, trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy và học tập Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam chúng ta có nhiệm vụ làm rõ những quy luật của cách mạng ViệtNam, nghiên cứu, trình bày các điều kiện lịch sử, các sự kiện và quá trình hình thành, phát triển

và hoạt động của Đảng, nổi bật là những nhiệm vụ sau đây:

+ Làm sáng tỏ điều kiện lịch sử, quá trình ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam

-bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam

Trong thời gian đầu không phải là toàn bộ giai cấp công nhân đã tiếp thu được chủ nghĩaMác - Lênin, mà chỉ có một bộ phận tiên tiến nhất tiếp thu được lý luận đó Bộ phận này đứng rathành lập đảng cộng sản, do vậy đảng cộng sản là một bộ phận của giai cấp công nhân và giaicấp công nhân thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đảng cộng sản là đội tiềnphong của mình

Sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân là quy luật chung cho sự rađời của các đảng cộng sản trên thế giới Nhưng sự kết hợp đó không theo một khuôn mẫu giáođiều, cứng nhắc, mà nó được thực hiện bằng con đường riêng biệt, tuỳ theo điều kiện cụ thể vềkhông gian và thời gian

Yêu cầu của cách mạng thuộc địa khác với yêu cầu của cách mạng ở các nước tư bản chủnghĩa Đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phải lãnh đạo cuộc đấu tranh của giai cấp vôsản chống giai cấp tư sản, còn đảng cộng sản ở thuộc địa trước hết phải lãnh đạo cuộc đấu tranhdân tộc chống chủ nghĩa thực dân Vấn đề giai cấp ở thuộc địa phải đặt trong vấn đề dân tộc,đòi hỏi sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về đảng cộng sản trong điều kiệnmột nước thuộc địa

+ Làm rõ quá trình trưởng thành, phát triển của Đảng gắn liền với hoạt động xây dựng một chính đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 4

Khoa học xây dựng Đảng có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật xây dựng đảng, xácđịnh những nguyên tắc, mục đích, yêu cầu; những nguyên lý và hệ thống các biện pháp phảituân theo để xây dựng một chính đảng cách mạng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; hình thànhnên lý luận về xây dựng đảng

Lịch sử Đảng có nhiệm vụ làm rõ những hoạt động cụ thể của Đảng để xây dựng, chỉnhđốn Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng Đó là sự thực hiệncác nguyên lý, vận dụng những nguyên tắc, tiến hành các biện pháp để làm cho Đảng trongsạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng Đương nhiên giữa hai ngành khoa học đó có mốiquan hệ mật thiết với nhau

+ Trình bày quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Đảng qua các thời kỳ, các giai đoạn cách mạng trong những bối cảnh lịch sử cụ thể

Đó là quá trình đi sâu nắm vững phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin,vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp vớibối cảnh quốc tế và thực tiễn của xã hội Việt Nam, để định ra cương lĩnh, vạch ra đường lối,xác định những chủ trương và biện pháp cụ thể cho mỗi giai đoạn cách mạng

Đó là quá trình đấu tranh về quan điểm tư tưởng trong nội bộ Đảng để xác định mộtđường lối đúng đắn, đấu tranh bảo vệ đường lối cách mạng của Đảng, chống mọi biểu hiện của

tư tưởng hữu khuynh và "tả" khuynh, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng duy ý chí, chủ quan,giáo điều và các loại tư tưởng phi vô sản khác

Đó cũng là quá trình chỉ đạo và tổ chức quần chúng hành động thực tiễn, giành thắng lợitừng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, thực hiện triệt để các mục tiêu cơ bản của cáchmạng Việt Nam do Đảng vạch ra

+ Trình bày các phong trào cách mạng của quần chúng do Đảng tổ chức và lãnh đạo

Nhằm theo những phương hướng cơ bản do Đảng xác định, phong trào cách mạng của quầnchúng diễn ra một cách tự giác, hết sức sinh động, phong phú và sáng tạo Sức sáng tạo của các

tổ chức đảng và quần chúng rất lớn Nó làm cho quyết tâm của Đảng trở thành hành động cáchmạng, làm cho đường lối, chủ trương cách mạng của Đảng trở thành thực tiễn, và do đó, tạo cơ

sở cho việc bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối cách mạng của Đảng Một đường lốicách mạng đúng sẽ được quần chúng nhân dân ủng hộ và quyết tâm thực hiện

+ Tổng kết những kinh nghiệm lịch sử Đảng

Khoa học lịch sử Đảng có nhiệm vụ góp phần tổng kết những kinh nghiệm từ nhữngthành công và không thành công của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng, góp phần làmphong phú thêm kho tàng lý luận của Đảng

3: Ý nghĩa của việc học tập môn Lich sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nghiên cứu, học tập, nắm vững tri thức khoa học về lịch sử Đảng có ý nghĩa rất to lớntrong việc giáo dục phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, tính kiên định cách mạng trước tình hình chính trịquốc tế có những diễn biến phức tạp và trong việc giáo dục đạo đức cách mạng, mà Hồ ChíMinh, người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mực tuyệt vời

Việc nghiên cứu, học tập lịch sử Đảng cũng có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục về truyềnthống cách mạng, về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính, về lòng tự hào đối vớiĐảng và đối với dân tộc Việt Nam; đồng thời còn có tác dụng bồi dưỡng ý chí chiến đấu cáchmạng, thôi thúc ở người học ý thức biết noi gương những người đã đi trước, tiếp tục cuộc chiếnđấu dũng cảm ngoan cường, thông minh, sáng tạo để bảo vệ và phát triển những thành quả cách

Trang 5

mạng mà Đảng và nhân dân ta đã tốn biết bao xương máu để giành được, xây dựng thành côngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

4 Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam phải

đi theo con đường cách mạng vô sản

5: Nội dung và ý nghĩa những tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc được truyền bá vào Việt

Nam từ năm 1920 đến năm 1929

6: Các yếu tố dẫn tới sự ra đời của Đảng và mối quan hệ giữa các yếu tố đó.

7: Cương lĩnh chính trị đầu tiên và ý nghĩa của sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

8: Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong trong quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt

Nam

Sinh ra trong một gia đình tri thức yêu nước, lớn lên từ một miền quê có truyền thống đấu tranh quật khởi, Nguyễn Ái Quốc từ rất sớm đã có “chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào” Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh… nhưng không tán thành con đường cứu nước của các cụ Xuất phát từ lòng yêu nước với khát vọng giải phóng dân tộc, cùng với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắcbén và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiền bối, ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới hữu hiệu hơn

*** Trên hành trình đi và tìm được con đường cứu nước NAQ đã đi qua 4 châu lục, 28 quốc gia và đã trải qua 12 nghề để kiếm sống Sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong tư tưởng và lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc trên cuộc hành trình lao động, tìm kiếm, khảo nghiệm con đường cứu nước mới cho dân tộc diễn ra vào tháng 7/1920, NAQ được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin Lý luận của Lênin và lập trường đúng đắn của quốc tế cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc NAQ tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác -Lênin về VN nhằm chuẩn bị tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ở VN

- Về tư tưởng: Truyền bá chủ nghĩa Mác –Lênin thông qua báo chí (tờ báo Le Paria - người cùng

khổ với tác phẩm nổi tiếng của NAQ là Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản năm 1925, Đường Kách Mệnh xuất bản năm 1927)

Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị, cụ thể:

• Nguyễn Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là : Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể

là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới

• Nguyễn Ái Quốc xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng

vô sản thế giới.Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước

thuộc địa và cách mạng chính quốc có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau nhưng không phụ thuộc vào nhau Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc

Trang 6

• Nguyễn Ái Quốc nhận rõ, trong nước nền nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công nông làm động lực cách mạng.

• Cách mạng muốn dành được thắng lợi trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa Mác – Lênin :

“Trước hết phải có Đảng cách mệnh để trong thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi.Đảng có vững cách mệnh mới thành công, củng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin”

• Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao

Những tư tưởng và quan điểm trên của Nguyễn Ái Quốc được truyền bá qua Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên truyền bá trong nước(qua phong trào vô sản hóa từ 1928 - 1929) làm cho phong trào công nhân và các phong trào yêu nước Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ

-Về chính trị:Đã hình thành 1 hệ thống luận điểm chính trị (gồm 5 luận điểm chính, sau này phát

triển thành những nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng) Hệ thống này có một số nội dung cơ bản sau:

+, Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả 2 cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới

+, Xác định cách mạng giải phóng dân tộc là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Cách mạng giải phóng dân tộc có thể thành công trước cách mạng chính quốc, góp phần thúc đẩy cách mạng chính quốc

+, Trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến

áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công-nông làm động lực cách mạng

+, Cách mạng muốn giành được thắng lợi, trước hết phải có đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo Đảng muốn vững phải trang bị chủ nghĩa Mác-Lênin: trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi

+, Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Cách mạng là việc chung của cả dân chúng chứ không phải là việc của 1 người Vì vậy cần phải hợp tác, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao

Những quan điểm đó được truyền bá qua hội VNCM thanh niên truyền bá trong nước làm cho quần chúng nhân dân và các phong trào yêu nước VN chuyển biến mạnh mẽ

- Về tổ chức:

+, Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung QUốc)- nơi có rất đông người Việt Nam yêu nước hoạt động - để xúc tiến các công việc tổ chức thành lập chính đảng Mác xít

+, Tháng 2/1925, Nguyễn Ái QuỐC lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã để lập

ra nhóm Cộng sản đoàn

+, Tháng 6/1925, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc).Sau khi thành lập, Hội đã mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê nin cho những người trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Ngoài ra hội còn cử người đi

Trang 7

học trường đại học Cộng sản Phương Đông (Liên Xô), trường Quân chính Hoàng Phố (Trung Quốc) Để tuyên truyền Hội còn xuất bản tờ báo Thanh niên in bằng chữ quốc ngữ.

+, Tháng 7/1925 tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông

+, Năm 1927, xuất bản cuốn Đường Cách Mệnh – đây là cuốn sách giáo khoa chính trị đầu tiên của cách mạng Việt Nam, tập hợp tất cả các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc Trong cuốn sách này, tầm quan trọng của lý luận cách mạng được đặt lên vị trí hàng đầu với cuộc vận động cách mạng và đối với cách mạng tiên phong

Từ đầu năm 1926, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở trong nước, đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú trọng xây dựng cơ sở trong Việt Kiều

ở Thái Lan

Như vậy, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chưa phải là chính đảng cộng sản nhưng chươngtrình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp công nhân – là tổ chức tiền thân dẫn tới sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam

+, Sau khi lựa chọn con đường cứu nước – con đường cách mạng vô sản cho dân tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện “lộ trình” đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết

họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập Trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thửthách với khát vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền đề về tư tưởng, chính trị, tổ chức để dẫn tới

sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam – đẩy bánh xe lịch sử của cách mạng Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử

+, Với không khí dâng lên cao mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ trong vòng 7 tháng (từ tháng 6/1929 đến tháng 1/1930), cả nước lần

lượt đã ra đời ba tổ chức cộng sản Đó là, Đông Dương Cộng sản Đảng (tháng 6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (tháng 10/1929) và Đông Dương Cộng sản liên đoàn (tháng 1/1930) Lúc này, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất, đủ khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước vừa là yêu cầu tất yếu khách quan, vừa là chỉ thị của Quốc tế Cộng sản

Từ cuối năm 1928 đến đầu năm 1929, phong trào dân tộc và dân chủ ở nước ta, đặc biệt là phongtrào công nông theo con đường cách mạng vô sản, đã phát triển mạnh mẽ Trước tình hình đó, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên không còn đủ sức để lãnh đạo nữa Cần phải thành lập một Đảng Cộng sản để tổ chức và lãnh đạo giai cấp công nhân, giai cấp nông dân cùng các lực lượng yêu nước và cách mạng khác đấu tranh chống đế quốc và phong kiến tay sai, giành lấy độc lập và

tự do

+, Trước tình hình cấp bách đó, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Hương Cảng (Hồng Kông) triệu tập ngay hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức đó lại và thành lập một Đảng Cộng sản thống nhất Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, tại Hương Cảng, sau một thời gian ngắn gấp rút chuẩn bị, với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một tổ chức duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và Lời kêu gọi do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Tất cả các tài liệu này được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta Nội dung Cương lĩnh chính trị đã nêu rõ đường lối chiến lược và sách lược phù hợp với tình hình thực tế của cách mạng Việt Nam,

đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện mục tiêu người cày có ruộng và tiến lên chủ nghĩa xã hội

Kết luận: ĐCSVN ra đời là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử CMVN Sự kiện lịch sử vĩ đại

ấy đã chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo phong trào yêu nước

Trang 8

VN đầu thế kỷXX, đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân VN, là nền tảng vững chắc cho dân tộc VN tiếp nối trên con đường độc lập dân tộc và CNXH.

9: So sánh Luận cương chính trị tháng 10-1930 với Cương lĩnh chính trị đầu tiên (6.1.1930) của

Đảng

10: Chủ trương của Đảng trong cuộc vận động dân chủ 1936- 1939 Thành quả và kinh nghiệm

của cuộc vận động này

Câu 8

11: Phân tích Chủ trương chiến lược mới của Đảng trong giai đoạn 1939-1945

1 Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng

a Tình hình thế giới và trong nước

- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:

 Ngày 1-9-1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, trong đó Pháp là nước tham chiến Chính phủ Pháp thi hành một loạt các biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước

và phong trào cách mạng thuộc địa

 Tháng 6-1940, Đức tấn công Pháp và Chính phủ Pháp đã đầu hàng Ngày 22-6-1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô Từ khi phát xít Đức tấn công Liên Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành cuộc chiến tranh giữa các lực lượng dân chủ do Liên

Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu

- Tình hình trong nước:

 Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến rất phản động: thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản Đông Dương Thực hiện chính sách “kinh tế chỉ huy” tăng cường vơ vét sức người, sức của phục vụ chiến tranh, bắt lính sang Pháp làm bia đỡ đạn

 Lợi dụng sự thất thủ của Pháp ở Đông Dương, tháng 9-1940 Nhật Bản cho quân xâm lược Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dương cho Nhật Chịu cảnh “một cổ hai tròng” đời sống của nhân dân Việt Nam lâm vào cảnh ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với Pháp, Nhật và tay sai phản động ngày càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết

b Nội dung chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Thể hiện qua:

+ Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939)

+ Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (11-1940)

+ Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) – quan trọng nhất

Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế giới lần thứ hai và căn cứ vào tình hình cụ thể ở trong nước, BCH Trung ương đã quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:

Một là, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu

Tạm gác khẩu hiểu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiều “tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo” chia lại ruộng đất cho công bằng, giảm tô, giảm tức

Hai là, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương

Ở Việt Nam, Trung ương Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (ViệtMinh) thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần, lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi

Trang 9

Ba là, quyết định phải xúc tiến ngay công tác khởi nghĩa vũ trang, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm

của Đảng trong giai đoạn hiện tại Để khởi nghĩa vũ trang đi đến thắng lợi cần phải phát triển lựclượng cách mạng, tiến hành xây dựng căn cứ địa cách mạng

Hội nghị cũng chú trọng công tác đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng

c Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược

Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo BCH Trung ương Đảng đã giải quyết mục tiêu số một của cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực hiện mục tiêu ấy.Đường lối đúng đắn gương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đã dẫn đường cho nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân Chủ trương đúng đắn của Hội nghị thực sự là kim chỉ nam đối với hoạt động của Đảngcho tới thắng lợi cuối cùng năm 1945

Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra đời Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điều cụ thể để thực hiện 2 điều cơ bản là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, dân Việt Nam được sung sướng, tự do Thông qua Mặt trận Việt Minh, Đảng mở rộng các tổ chức quần chúng và lãnh đạo phong trào đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Phong trào Việt Minh phát triển mạnh nhất ở Bắc Kỳ sau đó lan rộng tới Trung kỳ và Nam kỳ

Chuẩn bị về lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng: Sau khởi nghĩa Bắc Sơn (27-9-1940), đội du kích Bắc Sơn được duy trì và đổi tên thành Cứu Quốc quân Ngày 22-12-1944 Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ở Nguyên Bình (Cao Bằng) do đồng chí Võ Nguyên Giáp lãnh đạo Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phát triển mau chóng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vũ trang, xây dựng cơ sở cách mạng, thúc đẩy và cổ vũ phong trào đấu tranh cách mạng trong cả nước

Đảng và Hồ Chí Minh chỉ đạo việc thành lập các chiến khu và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn-Vũ Nhai và căn cứ Cao Bằng

Năm 1943, Đảng công bố Đề cương Văn hóa Việt Nam – khẳng định Văn hóa là một trong ba mặt trận cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến tới xây dựng nền văn hóa mang 3 tính chất: dân tộc, khoa học và đại chúng

Song song với việc lãnh đạo quần chúng đấu tranh chống Pháp – Nhật Đảng đã dày công chuẩn

bị lực lượng trên cả ba phương diện lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng, văn hóa tư tưởng để tiến tới giải phóng dân tộc khi thời cơ đến

2 Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

a Phát động Cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần

Phát động Cao trào kháng Nhật cứu nước:

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới II đã đi vào giai đoạn kết thúc Quân đồng minh chuẩn bị tiến vào Đông Nam Á Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn Ngày 9-3-1945, Nhật nổ súng lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương, Pháp chống cự rất yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng.Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta Nội dung:

– Chỉ thị đã nhận định: Nhật đảo chính Pháp sẽ tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa chưa thực sự chín muồi, tuy nhiên nó sẽ làm cho những điều kiện tổng khởi nghĩa mau chóng chín muồi

– Xác định kẻ thù là Nhật, khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” Đồng thời chủ trương phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho khởi nghĩa

– Phương châm đấu tranh: phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa

Trang 10

– Dự báo thời cơ:

+ Quân Đồng minh vào Đông Dương đánh Nhật, quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồngminh để phía sau sơ hở

+ Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập hoặc Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940 và quân đội viễn chinh Nhật mất tinh thần

Cao trào kháng Nhật cứu nước đã thu được những kết quả quan trọng, là tiền đề trực tiếp đưa tới thắng lợi của tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945

Đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền bộ phận:

– Từ giữa tháng 3-1945 trở đi, Cao trào kháng Nhật cứu nước đã diễn ra rất sôI nổi, mạnh mẽ và phong phú về nội dung, hình thức

– Tháng 3/1945 tù chính trị nhà giam Ba Tơ khởi nghĩa, đội du kích Ba Tơ ra đời Đây là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên do Đảng tổ chức và lãnh đạo ở miền Trung

– Để chỉ đạo phong trào, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ được triệu tập (5/1945) đã quy định thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng bán vũ trang Đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích, xây dựng 7 chiến khu trong cả nước: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung ở Bắc Kỳ; Trưng Trắc, Phan Đình Phùng ở Trung Kỳ; Nguyễn Tri Phương

ở Nam Kỳ

– Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh về Tân Trào, Tuyên Quang Ngày 4/6/1945 theo chỉ thị của Người

“Khu giải phóng” được thành lập gồm Cao-Bắc-Lạng-Thái-Tuyên-Hà và một số vùng phụ cận Khu giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cách mạng cả nước và là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới

– Ở Đồng Bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, phong trào “phá kho thóc giải quyết nạn đói” đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng tham gia biến thành cuộc khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều địa phương Trong thời gian ngắn, Đảng đã động viên được hàng triệu quần chúng tiến lên trận tuyến cách mạng

b Đảng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước

– Điều kiện phát động tổng khởi nghĩa (thời cơ tổng khởi nghĩa) :

Chiến tranh thế giới II kết thúc, thắng lợi thuộc về phe Đồng minh, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh không điều kiện (9-5-1945), phát xít Nhật đi gần đến chỗ thất bại hoàn toàn, chính phủ thânNhật Trần Trọng Kim hoang mang cực độ Tình thế cách mạng trực tiếp xuất hiện

Quân đội các nước đế quốc với danh nghĩa đồng minh chuẩn bị vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật

Vấn đề giành chính quyền được đặt ra như một cuộc chạy đua nước rút với quân Đồng minh.– Ngày 13-8-1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước từ tay phát xít Nhật, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương

Hội nghị cũng quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền

– Ngày 16-8-1945, Đại hội Quốc dân họp tại Tân Trào, tán thành quyết định tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng do Hồ chí Minh làm Chủ tịch Ngaysau Đại hội Quốc dân, Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước: “giờ quyết định vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng lên đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vũng dậy khởi nghĩa giành chính quyền Từ ngày 14-8: Giải phóng quân tiến công các đồn Nhật ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái Ngày 14 đến ngày 18: Giành chính quyền ở Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Phúc Yên, Thanh Hoá, Thái Bình

Trang 11

Ngày 19-8: Giành chính quyền ở Thủ đô Hà Nội Ngày 23-8: Khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế Ngày 25-8: Quân Nhật ở Sài Gòn thất thủ Ngày 28-8: Ta giành chính quyền trong cả nước.

Uỷ ban dân tộc giải phóng tuyên bố tự cải tổ thành Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Chỉ trong vòng 15 ngày (14 đến 28-8) cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân

Ngày 30-8: vua Bảo Đại thoái vị và giao nộp ấn, kiếm, áo bào cho đại diện Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà

Ngày 2-9: Tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời

c Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám

Kết quả và ý nghĩa:

– Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiền xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong hơn 80 năm, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế suốt 1000 năm và ách thống trịcủa phát xít Nhật

– Ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thànhngười tự do, người làm chủ vận mệnh của mình

– Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai

– Nâng cao lòng tự hào dân tộc, để lại những bài học kinh nghiệm quý cho phong trào đấu tranh giành độc lập và chủ quyền

– Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã chọc thủng một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời kỳ sụp đổ và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ

– Chứng minh cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin và những sáng tạo của Hồ Chí Minh

về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này

là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới

15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”

Nguyên nhân thắng lợi:

– Kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã bị Liên Xô và quân Đồng minh đánh bại, quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu, Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã Đảng Cộng sản Đông Dương đã chớp thời cơ phát động tổng khởi nghĩa giành thắng lợi mau chóng, ít đổ máu

– Có sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng ta, của Hồ Chí Minh với đường lối cách mạng đúng đắn, dày kinh nghiệm, đoàn kết, thống nhất, nắm bắt đúng thời cơ, kiên quyết, khôn khéo.– Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, đoàn kết và thống nhất trong Mặt trận Việt Minh

– Quần chúng có quá trình chuẩn bị đấu tranh lâu dài (15 năm), được tập dượt qua ba cao trào cách mạng rộng lớn, tạo thành lực lượng chính trị hùng hậu có lực lượng vũ trang làm nòng cốt

Bài học kinh nghiệm:

Một là, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến

Hai là, toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh công-nông

Ba là, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù

Bốn là, kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để đập tan bộ máy Nhà nước cũ, lập ra bộ máy Nhà nước của nhân dân

Trang 12

Năm là, nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ

Sáu là, xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền

12 Phân nguyên nhân thắng lợi, tính chất và kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945

1 nguyên nhân thắng lợi.

Thắng lợi của cách mạng tháng tám là kết quả tổng hợp của những

nhân tố bên trong và nhân tố bên ngòai, là kết quả sự lãnh đạo đúng đắn của

đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh kết hợp với trí sáng tạo, tinh thần dũng cảm

và sức mạnh đầu tranh của nhân dân ta, là kết quả cảu ba cao trào cách mạng

1930-1931, 1936-1939, 1939-1945; sự lãnh đạo cuả đảng là nhân tố quyết

định thắng lợi của cách mạng tháng 8

-thắng lợi của cách mạng t8 là thắng lợi của đường lối giương cao

ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ

chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là

chủ yếu nhất, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế

quốc, phải thực hiện từng bước với khẩu hiệu thích hợp, sự chỉ đạo chiến

lược tài tình cuả đảng đánh dấu bước trưởng thành của đảng ta

-Thắng lợi cảu cmt8 chủ yếu và trước hết là thắng lợi cuả đaọ quân

chủ lực cách mạng là công nhân và nông dân- thành phần chiếm số đông

nhất của dân tộc, lực lượng hăng hái và triệt để nhất có tác dụng quyết định,

thành công của cmt8 cmt8 là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân trong cả

nước

-Thắng lợi của cmt8 còn là thắng lợi của chủ trương lợi dụng

những mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc

và thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền, các

hạng tay sai của Pháp và của Nhật

-Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cm

một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước

của nhân dan

-Thắg lợi của cmt8 là thắng lợi cuả nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ

thuật chọn đúng thời cơ

-Thắng lợi của cmt8 là thắng lợi của việc xây dựng một đảng MacLenin có đường lối đúng đắn, bảo đảm thông suốt và quán triệt đường lối đó

trong thực tiễn chuẩn bị khởi nghĩa và khởi nghĩa, làm cho tổ chức đảng có

chất lượng cao, tinh gọn, trong sạch, vững mạnh và ăn sâu bám rễ trong

Trang 13

3.Ý nghĩa lịch sử

-Cmt8 là bước nhảy vọt vĩ đại đánh dấu một cuộc biến đổi cực kỳ

to lớn trong lịch sử tiến hóa của dân tộc ta Nó đập tan sự thống trị của thựcdân trong 87 năm, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.-Cmt8 năm 1945 thắng lợi là một trong những bước ngoặt vĩ đại

nhất trong lịch sử dân tộc Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷnguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nhân dân ta từ người nô lệ trỏthành ng` chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Nước ta từ một nướcthuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nứơc độc lập, một nước dân chủnhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á

-Cmt8 thắng lợi đã sáng tạo ra những kinh nghiệm lịch sử góp phần

xây dựng kho tàng lý luận về Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở mộtnước thuộc địa, nửa phong kiến, đồng thời để lại nhiều kinh nghiệm quý báucuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp, chống Mỹ

-Cmt8 đã chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của

chủ nghĩa đề quốc, mở ra thời kỳ suy sụp, tan rã của chủ nghĩa thực dân cũtrên toàn thế giới

+ Nói về ý nghĩa lịch sử vĩ đại của CMT8 năm 1945, Chủ tịch Hồ

Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta cóthể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng

có tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dântộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo CM thànhcông, đã nắm chính quyền toàn quốc”

2.Bài học kinh nghiệm

Kinh nghiệm của CMT8 rất phong phú, dưới đây là một số bài học

chủ yêu:

-giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm

vụ chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc làchủ yếu, nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đếquốc, phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp

-xây dựng khối liên minh công-nông-trí thức vững chắc làm cơ sở

để xây dựng và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, đã tạo ra sức mạnh ápđảo, tòan dân nổi dậy trong CMT8, làm tê liệt sức đề kháng của kẻ thù-lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù: mâu thuẫn giữa chủ

nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc phát xít, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đếquốc và thế lực địa chủ phong kiến, mâu thuẫn trong hàng ngũ ngụy quyền

và các hàng ngũ tay sai của Pháp và của Nhật Kết quả của việc lợi dụng đó

đã làm cô lập cao độ được bọn đế quốc phát xít và bọn tay sai phản động,tranh thủ hoặc trung lập những phần tử lừng chừng, làm cho cách mạng cóthêm lực lượng dự bị hùng hậu đông đảo, làm cho CMT8 giành thắng lợinhanh gọn, ít đổ máu, giảm bớt được những trở ngại hy sinh ko cần thiết.-Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách

mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhànước của dân, do dân và vì dân

Ngay từ khi ra đời , Đảng đã khẳng định con đường duy nhất để

Trang 14

đánh đổ chính quyền của đế quốc và phong kiến là con đường bạo lực cách

mạng Bạo lực của CMT8 được sử dụng một cách thích hợp ở chỗ: kết hợp

chặt chẽ lực lượng chính trị với lực lương vũ trang, kết hợp nổi dậy của quần

chúng với tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng ở cả nông thôn lẫn

thành thị, trong đó đòn quyết định là các cuộc nổi dậy ở Hà Nội, Huế, và Sài Gòn: kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh kinh tế và chính trị,

hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ thấp đến

cao, từ một vài địa phương lan ra cả nước, từ khởi nghĩa từng phần tiến lên

tổng khởi nghĩa, dần dần làm biến đổi lực lượng so sánh giữa ta và địch, tạo

ra ưu thế áp đảo, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp thống trị

-Nắm thời cơ, chớp đúng thời cơ được coi là nghệ thuật lãnh đạo

CMT8, dự đoán thời cơ đúng, xây dựng lực lượng có hiệu quả, hành động

mau lẹ kịp thời, kiên quyết và khôn khéo khi thời cơ xuất hiện

xây dựng đảng Mác_lênin vững mạnh, thống nhất ý chí hành động,

trung thành vô hạn với dân tộc và giai cấp

13: Chủ trương và diễn biến của cuộc đấu tranh bảo vệ & xây dựng chính quyền cách mạng thời

18 Phân tích đặc điểm của miền Bắc khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

19 Phân tích tính chất của xã hội miền Nam sau năm 1954 và nội dung cơ bản Nghị quyết 15

tháng 1/1959 Ý nghĩa của Nghị quyết này với cách mạng miền Nam

Tính chất xã hội miền Nam

Mỹ và bè lũ tay sai:

- Mỹ đã hất cảng Pháp hòng biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sựcủa chúng, lập phòng tuyến ngăn chặn CNXH lan xuống Đông – Nam châu Á, đồng thờilấy miền Nam làm căn cư để tiến công miền Bắc, tiền đồn của CNXH ở Đông – Namchâu Á, hòng đè bẹp và đẩy lủi CNXH ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước XHCNkhác, phá hoại phong trào độc lập và hòa bình dân tộc dân chủ ở Đông Dương

- Mỹ và chính quyền Ngô Ðình Diệm tìm mọi cách phá bỏ Hiệp định, cự tuyệt hiệpthương tổng tuyển cử, đàn áp đẫm máu những người cộng sản, cán bộ kháng chiến vàngười dân yêu nước sử dụng đấu tranh chính trị, đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình Tìnhhình này diễn ra trong một thời gian dài làm cho phong trào đấu tranh cách mạng bị tổnthất nặng nề

Xã hội miền Nam có những mâu thuẫn sau:

- Mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với bọn đế quốc xâm lược, chủ yếu là đế quốcMỹ

Trang 15

- Mâu thuẫn giữa nhân miền Nam, trước hết là nông dân với giai cấp địa chủ

Mâu thuẫn giữa nhân dân ta ở miền Nam với bọn đế quốc Mỹ xâm lược cùng tập đoànthống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, đại diện cho bọn địa chủ phong kiến

và tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất

Lực lượng tham gia cách mạng ở miền Nam là giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản

dân tộc và những nhân sĩ yêu nước

Động lực cách mạng miền Nam là giai cấp công dân nông dân, tiểu tư sản lấy liên minh công

nông làm cơ sở

Lực lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân

Đối tượng của cách mạng miền Nam là đế quốc Mỹ Nhưng trong giai cấp tư sản mại bản có bọn

thân Mỹ và có bọn thân Pháp Trong giai cấp địa chử có bọn dựa hẳn vào Mỹ - Diệm, ít nhiềután thánh đọc lập và dân chủ Do đó, giữa chúng có mâu thuẫn về quyền lợi và phân hóa về chínhtrị ở các mức độ khác nhau

 Đường lối chung của cách mạng VN: Tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiếnlược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở miền Nam, thống nhất tổ quốc Về cách mạng miền Nam, thống nhất Tổquốc Về cách mạng miền Nam,

Trình bày hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ 15 ( 1/1959)

I Nguyên nhân dẫn đến hội nghị

1 Tình hình đất nước lúc bấy giờ

Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử đã kết thúc thắng lợi, Hiệp nghị Giơnevơ (20/7/1954) được ký kết Tuy nhiên nước ta bị tạm thời chia làm hai miền:

+ Miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH

+ Còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ

=> Nhân dân Việt Nam chẳng những phải củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, phải củng cố miền Bắc đã được độc lập, mà còn phải giải phóng miền Nam

2 Sự cần thiết của Nghị quyết 15

Trong hai năm 1957-1958, Ðảng đã có những cuộc họp bàn về cách mạng Miền Nam nhưng chủ trương, biện pháp đấu tranh vẫn chưa thay đổi, phong trào cách mạng tiếp tục bị

Nhận được những kiến nghị khẩn thiết của các tổ chức Ðảng và của cán bộ, đồng bào, chiến sĩ Miền Nam yêu cầu phải nhanh chóng thay đổi hình thức đấu tranh, trên cơ sở xem xét thực tế tình hình, Bộ Chính trị đã cử ra một tổ tập trung nghiên cứu, đề xuất chủ trương, hình thức và phương pháp đấu tranh mới cho cách mạng Miền Nam để đưa phong trào cách mạng thoát khỏi tình thế hiểm nghèo, phát triển đi lên

II Nội dung hội nghị trung ương lần thứ 15:

 Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng triệu tập Hội nghị lần thứ 15 Dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị đã kiểm điểm tình hình trong nước từ khi Hiệp định Geneva được ký kết và đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta

 Dựa vào những đặc điểm tình hình của nước ta lúc bấy giờ, Hội nghị đã chỉ ra 2 mâu thuẫn cơ bản :

1 Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến, và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị ở miền Nam và một bên là dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam, bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam

2 Mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc

Trang 16

=> 2 mâu thuẫn trên thể hiện sự đối kháng rất gay gắt

- Hội nghị Trung ương lần thứ 15 đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắclẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau, nhằm phương hướng chung là giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội

 Hội nghị Trung ương đề ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hoà bình

1 Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là củng cố và phát huy thắng lợi đã giành được, là xây dựng cơ sở vững chắc để thực hiện thống nhất nước nhà

2 Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến

ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà

 Hội nghị xác định: "Miền nam đã trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ

 Xã hội miền Nam có hai mâu thuẫn

 Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc phong kiến,thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thanh cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dânchủ và giàu mạnh

 Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết nhân dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gâychiến tranh, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ,thành lập một chính quyền liên hiệp dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vữnghòa bình độc lập, thực hiện thống nhất yêu nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tíchcực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới

 Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là lấy sức mạnh của quần chúng,dựa vào lực lượng chính tị của quần chúng chủ yếu là kết hợp với lực lượng vũ trang đểđánh đổ ác thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền Cách mạng củanhân dân

 Phải thành lập một Mặt trận dân tộc dân chủ thật rộng rãi ở miền Nam, lấy liên minhcông nông làm cơ sở, cần có sách lược lợi dụng mâu thuẫn giữa các bộ phận trong hàngngũ kẻ thù, phân hóa và cô lập cao độ đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngô Đình diệm Sửdụng kết hợp những hình thức đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp,phối hợp chặt chẽ phong trào ở đô thị với phong trào ở nông thôn và cùng căn cứ Cầnkiên quyết giữ vững đường lối hòa bình, thống nhất nước nhà Song, vì đế quốc Mỹ là tên

đế quốc hiếu chiến đầu sỏ nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có thể chuyểnthành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ, thành chiến tranh cách mạng Lúc đó Đảng tanhận định rằng, kẻ địch cũng có thể liều lĩnh mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc,nên trong khi lãnh đạo, Đảng phải chuẩn bị chu đáo và chủ động đối phó, kiên quyếtđánh bại chúng hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc

 Củng cố và xây dựng Đảng bộ miền Nam thật vững mạnh, không ngừng nâng cao nănglực lãnh đạo của các cấp các đảng bộ đối với sự nghiệp cách mạng miền Nam, đảm bảohoạt động bí mật, tang cường mối quan hệ khăng khít giữa Đảng và quần chúng

Trang 17

 Về khả năng phát triển của tình hình, Nghị quyết dự báo: đế quốc Mỹ là tên đế quốc hiếu chiến nhất, cho nên trong bất kỳ điều kiện nào, cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc khởi nghĩa vũ trang trường kỳ và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta

 Về lực lượng cách mạng, Nghị quyết xác định: lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, lấy liên minh công nông làm cơ sở

III Ý nghĩa của hội nghị

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 BCH Trung ương khoá II (tháng 1-1959) có tầm quan trọng đặcbiệt trong sự phát triển của cách mạng miền Nam Nó phản ánh đúng và giải quyết kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong việc khẳng định phương pháp đấu tranh dùng bạo lực cách mạng để tự giải phóng mình là đúng đắn, phù hợp với tình thế cách mạng đã chín muồi, khi địch

đã dùng bạo lực phản cách mạng thẳng tay giết hại cán bộ và nhân dân ta

- Nghị quyết đánh dấu bước trưởng thành của Đảng, thể hiện sâu sắc tinh thần độc lập tự chủ, năng động sáng tạo trong đánh giá so sánh lực lượng giữa ta và địch, trong vận đụng lý luận Mác

- Lênin vào cách mạng miền Nam

- Nghị quyết 15 đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, đã xoay chuyển tình thế, dẫn đến cuộc "Đồng khởi" oanh liệt của toàn miền Nam năm 1960, là tiền đề quan trọng dẫn đến thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Đáp ứng đúng yêu cầu lịch sử, là căn cứ để Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc, tạo điều kiện đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

20 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam được Đại

hội III (9-1960) của Đảng vạch ra

21 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chung xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở miền

Bắc được Đại hội III (9/1960) của Đảng vạch ra

25 Phân tích nội dung cơ bản đường lối chung xây dựng XHCN trong thời kỳ quá độ được Đại

hội IV (12/1976) của Đảng vạch ra

26 Phân tích nguyên nhân, diễn biến và ý nghĩa của hai cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền biên

giới phía Tây Nam và phía Bắc của tổ quốc

CHIẾN TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIÊN GIỚI PHÍA TÂY NAM

1 Bối cảnh và nguyên nhân của cuộc chiến tranh

a.Tập đoàn Pôn Pốt đã phản bội lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết, hữu nghị của nhân dân hai nước Việt Nam – Campuchia, thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam

Trang 18

- Từ lâu, nhân dân Việt Nam – Campuchia đã xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết cùng chống kẻthù chung, đặc biệt đã kề vai sát cánh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc

- Tuy nhiên, do bị các thế lực phản động, thù địch nước ngoài kích động, lợi dụng, từ nhữngnăm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1970 -1975), quân Pôn Pốt đã tiến hành một số vụtiến công, bắt cóc giết hại cán bộ, bộ đội Việt Nam hoạt động ở chiến trường Campuchia,đồng thời gây chia rẽ nội bộ những người cộng sản Campuchia

- Thực hiện âm mưu chiến lược phá hoại mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu giữa 3nước Campuchia - Việt Nam - Lào nói chung và giữa hai nước Việt Nam - Campuchianói riêng; tháng 4/1975, sau khi lên nắm quyền, tập đoàn Pôn Pốt đã phản bội lại sựnghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết, hữu nghịcủa nhân dân hai nước, thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia và xâm lược biêngiới Tây Nam của Việt Nam

- Đêm ngày 30/4/1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm hai năm ngày giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất đất nước, tập đoàn Pôn Pốt đã mở cuộc tiến công trên toàntuyến biên giới tỉnh An Giang, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giớiTây Nam của Việt Nam

b Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam buộc phải đứng lên thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình, đập tan hành động xâm lược của kẻ thù, bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt

- Sau chiến thắng năm 1975, nhân dân Việt Nam tha thiết mong muốn hòa bình để khôiphục và phát triển đất nước Chúng ta đã thực hiện chủ trương giảm quân thường trực kể

cả các quân khu ở phía Nam để tập trung cho nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh,khôi phục và xây dựng, phát triển đất nước

- Trước những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt, đáp lời kêugọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dânCampuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệchính đáng và thiêng liêng của mình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; đồng thời cùng với lực lượng vũ trang và nhândân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, giúp đỡ những người cách mạng chân chínhCampuchia làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội

2 Tóm tắt diễn biến cuộc chiến tranh

Cuộc chiến tranh diễn ra theo 2 giai đoạn:

a Giai đoạn 1 (từ ngày 30/4/1977 đến ngày 05/01/1978): Quân Pôn Pốt mở các cuộc tiến công quy mô lớn sang lãnh thổ Việt Nam; cùng với việc tổ chức lực lượng vũ trang đánh lui quân địch, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục nỗ lực ngoại giao nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình

- Với dã tâm xâm lược, mở đầu cuộc chiến tranh, Pôn Pốt liên tiếp mở 3 cuộc tiến côngquy mô lớn sang lãnh thổ Việt Nam:

 Ngày 30/4/1977, chúng đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bảnlàng, trường học, cơ sở sản xuất của ta, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới

và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam Các cuộc tiến công và pháo kích của quân Pôn Pốt vào An Giang tính đến ngày 19/5/1977 đã giết hại 222 người và làm 614 người dân Việt Nam bị thương, phá nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân,

Trước hành động xâm lược trắng trợn của quân Pôn Pốt, các lực lượng biên phòng và dânquân, du kích các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Gia, Nhân Hưng… đã anh dũng chiến đấu, ngănchặn địch

Trang 19

Ngày 23/5/1977, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho lực lượng vũ trang ở phía Nam:

“Kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ta, không dung thứ bất cứ sự xâm lấn nào củalực lượng khiêu khích phản động Campuchia vào lãnh thổ ta; đồng thời tôn trọng chủquyền lãnh thổ của Campuchia Tìm mọi cách làm nhụt tinh thần của bọn khiêu khích.Tuyên truyền vận động nhân dân bạn và tranh thủ sự đồng tình của dư luận, tạo điều kiện

ổn định một bước biên giới với Campuchia Đập tan âm mưu chia rẽ các nước anh emtrên bán đảo Đông Dương”

 Từ ngày 25/9/1977, quân Pôn Pốt tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địa phương

mở cuộc tiến công lớn thứ 2 đánh sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An,Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam

Trước diễn biến mới của cuộc chiến tranh, do ta chưa tổ chức được tuyến phòng thủ biêngiới, Bộ Tổng Tham mưu quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của

Bộ đánh lui các cuộc tiến công của quân Pôn Pốt ở nhiều khu vực trên biên giới, giành lạinhững khu vực bị lấn chiếm, sau đó lui về củng cố lực lượng

 Phát hiện ta đã lui quân về phía sau, ngày 15/11/1977, quân Pôn Pốt lại mở cuộc tiếncông mới nhằm đánh chiếm thị xã Tây Ninh

Trước tình hình đó, từ 5/12/1977 đến 5/01/1978, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 và Quân khu

7, Quân khu 9 tập trung 8 sư đoàn mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1,đường 2, truy kích quân Pôn Pốt sâu vào đất Campuchia 20-30km; đánh thiệt hại 5 sưđoàn, làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch

- Với âm mưu thủ đoạn nham hiểm “vừa ăn cướp, vừa la làng”, tập đoàn Pôn Pốt đưa chiếntranh biên giới ra trước dư luận thế giới: Ngày 31/12/1977, chúng ra tuyên bố vu khốngQuân đội Việt Nam “tiến công xâm lược Campuchia dân chủ” nhằm cô lập Việt Namtrên trường quốc tế

- Cũng trong ngày 31/12/1977, Chính phủ ta ra tuyên bố về vấn đề biên giới Việt Nam Campuchia, nêu rõ lập trường và nguyên tắc của ta là: Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ mình; luôn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnhthổ của Campuchia, làm hết sức mình để bảo vệ tình đoàn kết chiến đấu và hữu nghị ViệtNam - Campuchia; vạch trần âm mưu thủ đoạn và những tội ác man rợ của tập đoàn PônPốt đối với đồng bào ta ở các tỉnh vùng biên giới Tây Nam

Tinh thần xây dựng, lập trường chính nghĩa của Đảng, Nhà nước ta mong muốn giảiquyết vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam - Campuchia thông qua đàm phán hòabình, tôn trọng lẫn nhau được dư luận thế giới đồng tình ủng hộ Tuy nhiên, mọi nỗ lựcngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới của Chính phủ ta đều bị tậpđoàn Pôn Pốt từ chối Chúng tiếp tục phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Namnước ta

b Giai đoạn 2 (từ ngày 06/01/1978 đến ngày 07/01/1979): Tập đoàn phản động Pôn Pốt tiến hành xâm lược trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, Quân tình nguyện Việt Nam mở cuộc tổng phản công và cùng quân dân Campuchia tiến công đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt

- Tháng 01/1978, Pôn Pốt đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tụctiến công lấn chiếm, bắn pháo vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bàota

- Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu điều động Sư đoàn 341 tăng cường cho Quân khu

9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giới TâyNam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước tathực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao

Trang 20

- Ngày 05/02/1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố bađiểm: (1) Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; (2)Hội đàm tiến tới kí hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, kí hiệp ước về biên giới; (3) Thoảthuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế.

- Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pôn Pốt tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và choquân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta đã kiên quyếtđánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm

- Từ ngày 26/3/1978, các đơn vị Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pôn Pốt lùi

xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó Đòn phản công quyết liệtcủa Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩy quân Pôn Pốtvào tình thế khó khăn và tác động lớn đến tình hình chính trị nội bộ Campuchia; đồngthời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia pháttriển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26/5/1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộphận lực lượng quân Pôn Pốt Lực lượng cách mạng Campuchia đã lập được những khucăn cứ du kích có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần ViệtNam, từng bước hình thành sự chỉ đạo thống nhất

- Ngày 15/6/1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về chống lại cuộc chiếntranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, trong

đó quyết định phát động chiến tranh nhân dân, kiên quyết phản công và tiến công địchmột cách chủ động, liên tục bằng mọi lực lượng

- Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông ngày26/5/1978, quân Pôn Pốt vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượngcách mạng Campuchia vẫn đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi Để hỗ trợ cho lực lượngcách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô

1979, từ ngày 14/6 đến 30/9/1978, ta mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1,đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phậnquan trọng sinh lực địch, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực quân Pôn Pốt, đẩylùi hầu hết quân Pôn Pốt ra khỏi đất Việt Nam

- Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11/1978, Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cáchmạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xâydựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo

- Ngày 06 và 07 tháng 12/1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâmtổng phản công - tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo

vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cáchmạng Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt diệt chủng, giành chính quyền về taynhân dân

- Ngày 23/12/1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạngCampuchia mở cuộc tổng phản công - tiến công trên toàn tuyến biên giới

- Ngày 26/12/1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ.Đến ngày 31/12/1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt,thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm

- Ngày 02/01/1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trụcđường tiến về Phnôm Pênh cơ bản bị tiêu diệt và tan rã Ngày 05 và 06 tháng 01/1979,trên tất cả các hướng, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truykích và tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh

Trang 21

- Ngày 06/01/1979, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoànkết dân tộc cứu nước Campuchia bắt đầu tổng công kích vào Thủ đô Phnôm Pênh Sau 2ngày tổng công kích, ngày 07/01/1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng.

- Ngày 08/01/1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập và ra tuyênbố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòanhân dân Campuchia Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận nước Cộng hòa nhân dânCampuchia

- Ngày 17/01/1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng PônPốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, TâyBắc Campuchia

- Từ ngày 23/12/1978 đến 17/01/1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũtrang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 18 sư đoàn quân Pôn Pốt, diệt 12nghìn tên, bắt 8.800 tên, gọi hàng 3.200 tên và làm tan rã tại chỗ 44 nghìn tên; giải phóngtrên 4 triệu dân Campuchia, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật quân sựcủa quân Pôn Pốt; đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt từ trung ươngđến cơ sở

- Trong thời gian gần hai năm chiến tranh, quân Pôn Pốt giết hại và bắt hơn 30 nghìn dânthường tại các xã biên giới của Việt Nam, 400 nghìn người dân mất nhà cửa, trên 3 nghìnnhà bị bỏ hoang; nhiều nhà thờ, trường học, chùa chiền bị chúng đốt phá

3 Ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng

a Đối với Việt Nam

Thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc có ý nghĩa rất to lớn đốivới Việt Nam: Một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thầnđại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, sẵn sàng đập tan bất kỳ âm mưu và hành độngchống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnhthổ của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bóthủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội vànhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia

b Đối với Campuchia

Chiến thắng ngày 7/01/1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nướcCampuchia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộnghòa nhân dân Campuchia; cứu nhân dân Campuchia ra khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyềnđược sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước vàdân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp

c Đối với quốc tế

Thắng lợi vĩ đại ngày 7/01/1979 là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam Campuchia, thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn nghĩa vẹn tìnhgiữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia Với thắng lợi ngày 7/01/1979, quan hệ hai nước ViệtNam - Campuchia chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ khôi phục, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghịtruyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập,chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau vì sự phát triển

-và phồn vinh của mỗi nước

- Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông

Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độđộc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủnghĩa phát xít mới

Trang 22

CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

I Nguyên nhân

- Trung Quốc từ lâu luôn coi Việt Nam như vùng đất màu mỡ muốn xâm chiếm nên luôntìm đủ mọi phương pháp để nuốt chửng và bành trướng , âm mưu trở thành cường quốckhống chế Châu Á- Thái Bình Dương

- Trong khoảng thời gian Việt Nam tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược,bảo vệ nền độc lập, trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc tuy có những vavấp nhất định, nhưng nhìn tổng thể, quan hệ hợp tác hữu nghị trên cơ sở của chủ nghĩaMác-Lênin, chủ nghĩa quốc tế vô sản vì hòa bình, ổn định và lợi ích của hai nước vẫn làdòng chủ đạo

- Sau khi đất nước Việt Nam được thống nhất, thái độ của Trung Quốc với Việt Nam cónhiều chuyển biến tiêu cực Trung Quốc chú trọng tăng cường xung đột biên giới nhưmột trong ba mũi giáp công gây sức ép với Việt Nam sau 1975: Pol Pot tấn công ở TâyNam, xung đột biên giới và vấn đề Hoa kiều, cắt viện trợ, bỏ qua các dự án công trìnhhợp tác và triệu hồi Chuyên Viên từ thời điểm ngày 3/7/1978 gây nên tình hình căngthẳng, phức tạp giữa hai nước trên vùng biên giới phía Bắc Việt Nam

II Diễn biến

1 Bất chấp nỗ lực giải quyết căng thẳng bằng con đường hòa bình của ta, dưới sự chỉ đạocủa nhà cầm quyền Trung Quốc, từ 3 giờ 30 phút ngày 17/2/1979, quân Trung Quốc sử dụng pháo binh bắn phá một số mục tiêu trong lãnh thổ của nước ta, sau đó huy động lực lượng lớn (hơn 600 nghìn quân) tiến công sang

- Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (HoàngLiên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng

ta là Quảng Ninh và Hà Tuyên

- Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 17/2/1979, Chính phủ ta đã ra

tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đã đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước và khẳng định:

“Quân và dân Việt Nam không có con đường nào khác phải dùng quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả”.

Trên mặt trận Lạng Sơn (Quân khu 1)

 Mở đầu cuộc tiến công, quân xâm lược Trung Quốc sử dụng 3 Quân đoàn dự bị, có 160

xe tăng, xe bọc thép, 350 pháo cơ giới, chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chắt (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng) và khu vực thị trấn Đồng Đăng

 Các lực lượng vũ trang địa phương của Việt Nam ở Lạng Sơn đã tổ chức chặn đánh các mũi tiến công của quân Trung Quốc suốt ba ngày (từ 17 đến 20/2) ở phía Tây đường 1A

và đường 1B Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt

 Ngày 27/2, phía Trung Quốc huy động Quân đoàn 54 dự bị vào hỗ trợ các Quân đoàn 43,

55 tiến công từ ba hướng Đồng Đăng, Cao Lộc, Lộc Bình, nhằm mục tiêu thị xã Lạng

Ngày đăng: 13/10/2022, 17:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thực tế tình hình đặt ra mộ tu cầu khách quan có tính sống cịn - Đề cương tự luận lịch sử đảng việt nam
h ực tế tình hình đặt ra mộ tu cầu khách quan có tính sống cịn (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w