1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc

101 3,5K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Người hướng dẫn P. PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn hóa
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản Không rõ
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Âm nhạc, những làn điệu dân ca cũng bị xem thường hoặc chỉ là thú vui của người cao tuổi...do đó, “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng những giá trị mớ

Trang 1

LUẬN VĂN:

Báo chí với việc tuyên truyền

giá trị văn hóa truyền thống của các

dân tộc thiểu số vùng tây bắc

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giá trị bản sắc văn hóa dân tộc được coi là tấm giấy thông hành để mỗi con người bước ra với cộng đồng nhân loại mà không bị trộn lẫn Điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập với thế giới trong xu thế toàn cầu hóa

Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Xét về bản chất, lịch sử dân tộc ta ngay từ thời dựng nước là lịch sử không ngừng đấu tranh chống ngoại xâm để dành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩm chất cao cả và thiêng liêng nhất của bản sắc văn hóa dân tộc, đó là tinh thần yêu nước thương nòi Chủ nghĩa yêu nước của văn hóa dân tộc ta không chỉ biểu lộ ở lòng dũng cảm, đức hy sinh mà còn ở tinh thần đoàn kết, nhân ái, yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hóa Việt Nam đã vượt qua thế bị động để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình

Trong quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng mặt trận văn hóa mà cốt lõi của nó là bản sắc văn hóa dân tộc Hơn 80 năm qua định hướng dân tộc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt những văn kiện của Đảng về văn hóa, văn nghệ Nghị quyết 5 của Ban chấp TW khóa VIII đã đánh dấu bước phát triển mới về đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Với phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là

Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người…tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao… [31, tr.54]

Có thể nói Nghị quyết TW V là nguồn cảm hứng, nâng cao tinh thần của nhân dân ta bước vào thế kỷ mới, làm cho văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực

Trang 3

của sự phát triển đất nước Nghị quyết cũng chỉ rõ “ nền văn hóa Việt Nam là nền văn

hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam” [31, tr.57]

Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng, được coi là “phên dậu” của tổ quốc Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi đây

đã diễn ra nhiều trận đánh và chiến dịch quân sự ác liệt mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu năm xưa Địa hình Tây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Dãy núi Hoàng Liên Sơn cao đến 1500m dài tới 180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên 3000m, vùng Tây Bắc có 2 con sông lớn

đó là sông Đà và sông Thao (Tức là sông Hồng) Thượng nguồn của sông Mã cũng trên vùng Tây Bắc Với đặc điểm địa hình như vậy đã tạo nên cho vùng Tây Bắc không gian văn hóa dân tộc đặc sắc, nổi bật nhất là văn hóa dân tộc Thái với những điệu múa xòe uyển chuyển, quyến rũ với trang phục dân tộc độc đáo, kín đáo nhưng gợi cảm, với những trái Còn, trái Pa Pao chao liệng khi xuân đến, Và với những phiên chợ tình thơ mộng, lãng mạn của dân tộc Mông Ngoài ra vùng Tây Bắc còn có gần 30 dân tộc anh em các dân tộc thiểu số, sống đoàn kết hòa thuận muôn đời bên nhau

Vùng Tây Bắc Việt Nam có một nền văn hóa cội nguồn đa dạng, độc đáo, được kết tinh từ đời này sang đời khác Đó là một trong những nội lực to lớn của đất nước Nhưng hiện nay, giá trị bản sắc văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc đang xuất hiện xu hướng bị đồng hóa về văn hóa, từ nghi thức sinh hoạt, lễ hội tín ngưỡng, phong tục tập quán, đến những bộ trang phục truyền thống các dân tộc giờ đây ít được lớp trẻ chuộng dùng, tiếng nói riêng của từng dân tộc cũng bị pha trộn, nhiều lớp trẻ không biết nói của dân tộc mình Âm nhạc, những làn điệu dân ca cũng bị xem thường hoặc chỉ là thú vui

của người cao tuổi do đó, “Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và

xây dựng những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số”

[31, tr.65] cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng cũng đã đề cập tới

Với vai trò là một kênh thông tin quan trọng, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng bộ, chính quyền các

Trang 4

tỉnh vùng Tây Bắc, hệ thống báo chí đã có những đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến đông đảo nhân dân góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân các dân tộc, nhất là trong công tác tuyên truyền việc giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Bằng sức mạnh của mình, báo chí tác động vào nhận thức của công chúng, của xã hội, tạo ra ý thức cao về vị trí vai trò của văn hóa trong phát triển, từ đó xây dựng nên những ước muốn gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nhằm tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát triển đất nước, tiến lên giàu đẹp, văn minh Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng việc tuyên truyền văn hóa các dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí vùng Tây Bắc thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế như: nội dung thể hiện chưa phong phú, đa dạng, chậm đổi mới, chưa hấp dẫn, đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa có chuyên môn sâu, cũng như sự am hiểu về văn hóa các dân tộc thiểu số còn bất cập Nền kinh tế thị trường do Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã gặt hái được kết quả bước đầu đáng phấn khởi Tuy nhiên, những hệ lụy do mặt trái của cơ chế thị trường gây ra cũng không phải là nhỏ, đang tác động trực tiếp vào đời sống văn hóa của nhân dân, có nguy cơ làm sói mòn đạo đức dân tộc, hủy hoại những giá trị dân tộc mà ông cha ta bao đời nay dầy công vun đắp

Tây Bắc là một vùng có cơ cấu dân tộc thiểu số cùng chung sống khá đa dạng với gần 30 tộc người Qua cơ cấu dân tộc của Tây Bắc cho thấy nơi đây có một nền văn hóa rất phong phú và đa dạng Mỗi dân tộc có nét đẹp, giá trị bản sắc văn hóa riêng Trước tình hình đó, cần phải có những nghiên cứu cụ thể, khoa học tìm ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyền truyền bảo tồn những bản sắc văn hóa

dân tộc thiểu số Cho nên tôi chọn đề tài: Báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa

truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc nhằm nghiên cứu vấn đề giữ gìn

giá trị truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 5

Trong những năm qua, vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa đã có nhiều công trình nghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ, mỗi nhà khoa học lại có cách nhìn và tiếp cận vấn đề khác nhau Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

- Công trình nghiên cứu của Phan Ngọc (2002):Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội; Trần Ngọc Thêm (1996): Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt

Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Trần Văn Bính (2004): Văn hóa các dân tộc Tây Bắc- Thực trạng và những vấn đề đặt ra,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nông Quốc

Chấn, Hoàng Tuấn Cư, Vi Hồng Nhân (1996): Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các

dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb văn hóa dân tộc, Hà Nội; Trần Quốc Vượng (2003): Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội; Hoàng Vinh (1997): Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa các dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội; Hoàng Nam (1998): Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người văn hóa Việt Nam,Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội; Bảo tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam (2003): Trang phục

các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày- Thái;

Các luận văn đại học và sau đại học có đề tài liên quan đến truyền thống văn hóa dân tộc

Chu Đức Kìu (1993): Khảo sát đội ngũ nhà báo dân tộc ít người Cao Bằng lịch sử và

thực trạng”, Luận văn tốt nghiệp đại học, Hà Nội

La Vũ Quang (1993): Một số vấn đề về tiếp tục nâng cao chất lượng hiệu quả thông

tin, tuyên truyền với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở buổi phát thanh đại gia đình các dân tộc Việt Nam Luận văn tốt nghiệp đại học Hà Nội

Giàng Seo Pùa năm (1994): Những bước đi ban đầu của chương trình phát thanh tiếng

Mông (Đài tiếng nói Việt Nam), Tiềm năng và xu hướng phát triển”, Luận văn tốt nghiệp đại

học, Hà Nội

Nguyễn Thu Liên (1997): Vấn đề giũ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong các chương

trình phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, Luận án thạc sỹ báo chí, Học viện báo chí và

tuyên truyền quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội

Đặng Đình Quang( 1997): Hoạt động thông tin báo chí Tỉnh Lào Cai trong thời kỳ đổi

mới, Luận văn thạc sĩ báo chí, Hà Nội

Trang 6

Nguyễn Xuyên An Việt (2001): “ Thông tin về miền núi và dân tộc trên sóng VTV1 -

Đài truyền hình Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội

Đỗ Thanh Phúc (2005): “ Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trên

sóng truyền hình của Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh Hòa Bình”, Luận văn thạc sỹ truyền

thông đại chúng

Trịnh Liên Hà Quyên (2006): “ Báo Văn hóa với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn

hóa trong giai đoạn hiện nay” Luận văn thạc sỹ truyền thông đại chúng, Hà Nội

Tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu về vấn đề bảo tồn bản sắc, giá trị truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số, song chưa có công trình nào nghiên cứu, đề cập đánh giá một cách khách quan, khoa học đến việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc trên hệ thống báo chí, hy vọng sẽ góp thêm một cách nhìn trong việc tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Đi vào phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số

- Khảo sát Đài Phát thanh - Truyền hình Sơn La, Báo Sơn La, tạp chí văn nghệ Suối Reo về việc tuyên truyền các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên hệ thống báo chí vùng Tây Bắc

Trang 7

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, tác giả sẽ chỉ tập trung khảo sát, đánh giá những bài viết liên quan đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc và độc đáo của dân tộc thiểu số, thông qua các chuyên trang, chuyên mục cụ thể của hệ thống các loại hình báo chí Sơn La Với thời lượng một năm rưỡi (từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009), với những tài liệu tin, bài thu thập liên quan đến vấn đề nghiên cứu là cơ sở nhận xét đánh giá khách quan cho

đề tài nghiên cứu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí và văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số; những đường lối, chủ trương về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước Mặt khác còn được tiến hành nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết truyền thông và cơ sở lý luận báo chí Đề tài còn dựa vào lý thuyết đặc điểm của văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số để nghiên cứu, đánh giá

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Thống kê các bài viết liên quan đến tuyên truyền giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên Báo Sơn La, tạp chí văn nghệ Suối Reo, chương trình phát thanh, truyền hình trong thời gian từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 6 năm 2009 Trên cơ sở

đó đánh giá, phân tích rõ hơn vai trò, vị trí của báo chí Sơn La với vấn đề tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học với đối tượng là công chúng báo chí Sơn La để tăng thêm tính khách quan cho đề tài

5 Đóng góp của đề tài

Đây là công trình đầu tiên về công tác báo chí với việc tuyên truyền những giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, cho nên đề tài sẽ có ích cho đối tượng lãnh đạo, quản lý báo chí hiểu hơn về vai trò, vị trí, thực trạng của hệ thống báo chí trong việc sản xuất các chương trình nhằm giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa các

Trang 8

dân tộc thiểu số trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, từ đó có những chính sách phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hiệu quả hơn Đề tài cũng có thể là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu

số nói chung vùng Tây Bắc nói riêng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 11 tiết

Trang 9

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN GIÁ TRỊ VĂN HÓA

TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Văn hóa

Nói về văn hóa đó là tổng thể những nét đặc trưng tiêu biểu nhất của một xã hội, thể hiện trên các mặt vật chất, tinh thần, tri thức và tình cảm, biểu hiện sức sống, sức sáng tạo của một dân tộc Ta có thể thấy ở văn hóa nổi lên những đặc trưng cơ bản nhất là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thống và tính lịch sử

Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội Do

đó, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản Cơ sở của hoạt động văn hóa là khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện và cái mỹ Có thể coi

đó là ba trụ cột vĩnh hằng của sự phát triển văn hóa nhân loại Chừng nào cái cái chân, cái thiện, cái mỹ bị lãng quên chừng đó văn hóa sẽ xuống dốc… [ 35, tr.12]

Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “Văn hóa” được những nhà nhân loại học phương tây

sử dụng như là một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới cơ thế giới có thể chia ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất, và văn hóa của

họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B Taylo là đại diện của họ Theo ông, văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được, với tư cách là một thành viên của xã hội

Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hóa thay đổi theo (F.Boas) ý nghĩa văn hóa được qui định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”,

vì thế sự khác nhau về mặt văn hóa từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí,

Trang 10

lực Đó cũng là “tương đối luận của văn hóa Văn hóa không xét ở góc độ cao thấp mà

xét ở góc độ khác biệt [66, tr.18]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, thì văn hóa chỉ gắn liền với con người

và xã hội loài người Cội nguồn của sự tồn tại phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo của con người V.I.Lênin, người kế tục sự nghiệp của C Mác và Ph Ăngghen từ quan điểm xem xét văn hóa với tư cách là sự phát triển bản chất của con người đã nhấn mạnh, phân tích sâu thêm mặt xã hội của văn hóa với cách tiếp cận từ hình thái kinh tế Người nhấn mạnh tính nhân loại, tính giai cấp, tính kế thừa của văn hóa Đặc biệt xem cách mạng văn hóa như một bộ phận hữu cơ của cách mạng xã hội chủ nghĩa

Khi tiếp nhận tư tưởng cách mạng của Mác-Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, tinh hoa văn hóa thế giới và các giá trị văn hóa dân tộc, từ năm 1943 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát ý nghĩa của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như

mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương pháp sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [28, tr.17] Cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm những gì không phải

là của thiên nhiên mà liên quan tới con người trong quá trình tồn tại, phát triển quá trình con người làm nên lịch sử…” [66, tr.21]

Hoặc theo định nghĩa của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất,

Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét

về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân,

Trang 11

tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo những công trình vượt trội lên bản thân [66, tr.23-24]

Văn hóa có nhiều cách hiểu khác nhau, trên cơ sở phân tích những định nghĩa về văn hóa PGS TSKH: Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau:

Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” Định nghĩa này

đã nêu bật được bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: Tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh [66, tr.22]

Như vậy, văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự

phát triển “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực

thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Chăm lo văn hóa là chăm lo nền tảng tinh thần của

xã hội…” [28, tr.212]

Cho đến nay, mọi người chưa phải mọi người đã đồng ý với nhau tất cả về định nghĩa văn hóa Từ năm 1952, một số nhà dân tộc học người Mỹ đã trích lục được trên dưới ba trăm định nghĩa về văn hóa của các tác giả khác nhau trên thế giới phát ra từ trước

đó cho đến lúc bấy giờ Từ đó đến nay chắc chắn số định nghĩa đã tăng lên rất nhiều tuy nhiên không phải lúc nào các định nghĩa đưa ra cũng có thể thống nhất, hòa hợp, bổ sung cho nhau, nhưng tựu chung các định nghĩa đều khẳng định rằng, văn hóa là một nhân tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển của con người và của loài người Thiếu nó, loài người không phát triển Và khi đó xã hội loài người sẽ vĩnh viễn chỉ là một bầy đàn những con vật biết đứng trên hai chân mà thôi Như vậy, trong khi có nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về văn hóa, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà văn hóa lại cùng khẳng định vai trò của văn hóa trong phát triển, coi văn hóa là yếu tố cơ bản, là động lực của phát triển

Từ “Văn hóa” trong vô vàn cách hiểu, cách định nghĩa về văn hóa ta có thể qui về

hai cách hiểu chính Theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử văn hóa được xem là bao gồm những gì do con người sáng tạo ra Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn

Trang 12

Cái đặc trưng cốt lõi của văn hóa, cái làm cho văn hóa có sức mạnh phục vụ phát triển là bản sắc riêng có của mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc Chính bản sắc riêng ấy mới tạo ra sự đa dạng, phong phú của các nền văn hóa trên thế giới, mới kích thích nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu, hòa nhập lẫn nhau giữa các nền văn hóa, nhằm làm cho mình giàu có hơn, phong phú hơn Và nhờ vậy nền văn hóa thế giới từ đó càng đa dạng và phong phú Quá trình này là quá trình sáng tạo – sáng tạo ra những giá trị mới phục vụ đời sống con người Nhờ sáng tạo mà các nền văn hóa có sức mạnh chi phối sự phát triển, tạo ra sự phát triển Một nền văn hóa đồng phục sẽ giết chết sự sáng tạo, mà cũng vì thế mà giết chết sự phát triển

Văn hóa chính là kết tinh của nhiều giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội Một năm, một thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ không dễ tạo nên cơ sở của một nền văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc có thể có những sức mạnh riêng về kinh tế, quân sự, tài nguyên, môi trường, nhưng sức mạnh về văn hóa có ý nghĩa đặc biệt Nó tác động trực tiếp và lâu dài đến nhiều hoạt động xã hội Theo một nhà nghiên cứu nước ngoài, Liên hợp quốc có 193 quốc gia thì chỉ có 34 dân tộc có nền văn hóa có bản sắc trong đó có Việt Nam Sức mạnh của văn hóa được tổng hợp từ nhiều nhân tố, nhiều điều kiện chính trị, xã hội nội tại không thể vay mượn được Có thể một dân tộc chịu những ảnh hưởng của một nền văn hóa, văn nghệ của một dân tộc khác nhưng ở một mức độ nhất định, nhưng không thể áp đặt Văn hóa qui luật của nó là trao đổi Khuynh hướng đóng cửa hạn chế giao lưu văn hóa là trái qui luật Tuy nhiên, văn hóa là yếu tố nội sinh, không thể chuyển giao như chuyển giao công nghệ từ nước này, dân tộc này sang dân tộc khác được

Như vậy, “Văn hóa đóng một vai trò to lớn trong sự phát triển xã hội, văn hóa là

nền tảng, là mục tiêu, là động lực và là hệ điều tiết của sự phát triển xã hội” [61, tr.160]

1.1.2 Văn hóa truyền thống

Cùng với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước ngàn đời của dân tộc

Chúng ta đã có một nền văn hóa lâu đời, độc đáo, đa dạng, là thành quả nghìn năm đấu tranh, lao động sáng tạo của các dân tộc Việt Nam Khi nói tới văn hóa truyền thống, chủ yếu chúng ta muốn nói đến thành quả văn hóa do

Trang 13

cha ông chúng ta đã xây đắp và phát triển trong quá khứ và nó đã làm nên cái bản sắc, cái độc đáo, cái đặc trưng của văn hóa dân tộc ta [28, tr.105]

Như vậy, giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc là những gì tinh túy nhất, quí báu nhất Có thể nói bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, tính nhất quán so với chính mình trong quá trình phát triển, đặc biệt trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa

Giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc cũng chính là những nét riêng có của tinh thần, bản lĩnh, tâm hồn, tính cách dân tộc, là tâm lý, là sức mạnh nội sinh của từng nền văn hóa của mỗi dân tộc Bản sắc văn hóa truyền thống còn là sức sống bên trong của dân tộc, là quá trình thường xuyên tự ý thức, tự khám phá, tự tái tạo, tự điều chỉnh và tự tiếp nhận, từ đó tạo cho dân tộc mình có những giá trị văn hóa riêng mà nền văn hóa khác không có

Những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc đó được hình thành trong sự chi phối của những qui luật văn hóa chung của nhân loại, nhưng mang những nét riêng có của mỗi dân tộc, làm cho nó trở thành hấp dẫn, độc đáo cần học hỏi, tiếp thu Bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc thể hiện trong truyền thống của mỗi dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc hình thành và phát triển theo những điều kiện xã hội và kinh tế, chính trị và thể chế Nó cũng phát triển theo quá trình xâm nhập văn hóa, theo xu hướng tiến hóa chung của nhân loại chủ yếu trên hai mặt mang tính thống nhất vừa giữ vững phát huy cái hay, cái đẹp vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Đúng với tư tưởng

Hồ Chí Minh về văn hóa “Phương Đông hay phương Tây, có cái gì hay, có cái gì tốt

phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam” [28, tr.22]

1.2 TÂY BẮC - MỘT VÙNG ĐẤT GIÀU GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.2.1 Tây Bắc - Vùng đất có tầm quan trọng về địa lý - Kinh tế - Chính trị

Trang 14

Vùng Tây Bắc bao gồm các tỉnh, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên có đường biên giới giáp với các nước bạn Lào và Trung Quốc, Với gần 30 dân tộc anh em: Kinh, Thái, H’Mông, Mường, LaHa, Tày, Dao, Kháng, Sinh Mun, Khơ

mú, Lào, Hoa, … cùng sinh sống, là một vùng rộng lớn có địa chính trị, kinh tế- văn hóa độc đáo, có vị trí chiến lược đối với sự phát triển của đất nước cả về an ninh -quốc phòng - kinh tế, xã hội và văn hóa Đây là cửa ngõ đường bộ và các tỉnh biên giới cũng là án ngữ các quốc gia phương Bắc tiến xuống Đông Nam Á Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch phản động, từ trước tới nay luôn lợi dụng vị trí hiểm trở, những khó khăn tạm thời về kinh tế - xã hội để thực thi các thủ đoạn chia rẽ dân tộc, thực hiện “ diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng nước ta Vì thế, vị trí quan trọng này luôn được các nhà cầm quân trong lịch sử và được Đảng xác định

là then chốt trong cuộc đấu tranh cách mạng dành độc lập dân tộc cho đến công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày hôm nay

Trong sự nghiệp đổi, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc, cùng đất nước tiến lên công nghiệp hóa- hiện đại hóa Bên cạnh sự phát triển chung của đất nước, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về mở cửa, giao lưu hội nhập kinh tế quốc

tế, Khu vực Tây Bắc cũng đang đứng trước thời cơ và thách thức lớn, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững chủ quyền an ninh quốc gia, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ về đời sống văn hóa trong đời sống đồng bào các dân tộc Tây Bắc Từ chủ trương và sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước sự cố gắng nỗ lực của chính quyền địa phương và nhân dân, đời sống kinh tế văn hóa, xã hội của người dân Tây Bắc đã có nhiều khởi sắc Sản xuất nông nghiệp từ chỗ mang tính tự cung, tự cấp đã chuyển sang hàng hóa sản xuất khá phổ biến ở các vùng gắn với thị trường trong nước và quốc tế, cơ cấu cây trồng, chăn nuôi đã được chuyển đổi ở nhiều địa phương Sự đầu

tư của nhà nước vào các công trình kinh tế trọng điểm như: Nhà máy thủy điện Hòa Bình, nhà máy thủy điện Sơn La hiện có công xuất lớn nhất Đông Nam Á, hệ thống

Trang 15

giao thông nối liền các tỉnh vùng Tây Bắc, giao thông tới các trung tâm huyện, thị

xã, thành phố Hệ thống bưu điện, chợ, trường học được mở rộng đến từng cụm xã, bản Nhiều thôn, bản đã có đội văn nghệ quần chúng, nhiều bản đã trở thành bản văn hóa có sức hấp dẫn đối với khách du lịch trong nước và quốc tế Trình độ dân trí của các đồng bào các dân tộc được nâng lên

Để đi khảo sát vào những thành tựu phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Bắc, tác giả luận văn xin đi sâu vào Sơn La, đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây Bắc Trong những năm đổi mới, nhất là từ khi có nghị quyết 22- Bộ chính trị “ Về một số chủ trương chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội miền núi” (Ngày 27 tháng

11 năm 1989), chỉ thị 39/1998/CT-TTg của thủ tướng chính phủ về việc đẩy mạnh công tác văn hóa thông tin ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, cùng hàng loạt các chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện tốt chính sách dân tộc, Sơn La đã có những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế- xã hội Hiện nhịp độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) của Sơn La đạt 7,8% Bình quân lương thực đầu người đạt 400kg, chăn nuôi gia súc, tăng trưởng từ 2-5% năm Sản xuất lượng thực giữ vững được thế ổn định và tiếp tục phát triển Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 25,5 vạn tấn năm 2008 Thế trận cây công nghiệp hàng hóa chủ lực hiện nay của Sơn La được củng cố và phát triển, tạo vùng nguyên liệu chế biến và xuất khẩu Độ che phủ của rừng năm 1996 là 21,5% tăng lên 50% năm 2008, giá trị xuất khẩu công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 33,5% Mạng lưới điện quốc gia đã đến được 99% cơ sở xã, phường, thị trấn, thành phố

Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, các dân tộc Tây Bắc nói chung Sơn

La nói riêng đang có những bước tiến đáng kể về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Các cơ sở kinh tế mới, hệ thống trường phổ thông nội trú được quan tâm thỏa đáng

Vì thế, các dân tộc đã khẳng định tính vững chắc, niềm tin tuyệt đối vào con đường đổi mới của Đảng, Nhà nước ta hiện nay Sơn La đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chống mù chữ và đang củng cố kết quả đó Về y tế hiện nay

đã loại trừ bệnh phong trong toàn tỉnh, trên 2200 bản có cán bộ y tế Trên lĩnh vực thông tin, báo chí, xuất bản phát triển về cả chiều sâu và bề rộng, góp phần tích cực

Trang 16

vào việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, củng cố khối đại đoàn kết cổ vũ thực hiện công cuộc đổi mới Hiện nay Sơn La có 450 bản văn hóa, gần 60.000 gia đình văn hóa, có trên 650 đội văn nghệ quần chúng, 70% dân số được xem truyền hình, 80% dân số được nghe hệ thống Đài phát thanh Trung ương và địa phương

Từ những nét cơ bản về kinh tế, xã hội của Sơn La cho thấy, đời sống văn hóa, xã hội của đồng bào các dân tộc Sơn La cũng như miền núi Tây Bắc hôm nay

đã có sự thay đổi đáng kể Những gì đạt được từ chiến lược phát triển kinh tế, xóa

đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước hôm nay là do “Đảng bộ các tỉnh Tây Bắc

không chỉ quan tâm đến mặt kinh tế mà còn đặc biệt quan tâm chăm lo đến đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, phát huy văn hóa dân tộc và tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc anh em” [53,

tr.39], đây chắc chắn sẽ là động lực để đồng bào Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng vững bước phát triển, đi lên

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa các tỉnh miền núi Tây Bắc thực chất cũng là quá trình hình thành và phát triển con người - nguồn lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của bà con các dân tộc Tây Bắc

1.2.2 Tây Bắc vùng đất của những trang sử anh hùng

Tây Bắc, là địa bàn miền núi, nhiều dân tộc, có truyền thống văn hóa lâu đời từ thời dựng nước và giữ nước Đồng bào các dân tộc Tây Bắc, trừ một bộ phận cư trú ở vùng thấp, còn phần lớn sống ở vùng núi cao, biên giới nơi không chỉ có nhiều tiềm lực

to lớn về kinh tế mà còn có vị trí chính trị xung yếu, là tiền đồn quan trọng cho bảo vệ tổ quốc Người dân Tây Bắc với bản chất chịu thương, chịu khó, cần cù lao động sáng tạo, yêu quê hương đất nước Do phải thường xuyên đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt, chống kẻ thù ngoại xâm, tinh thần đoàn kết cộng đồng đã tạo nên sức mạnh của thiết chế

xã hội truyền thống

Xưa kia ông cha ta đã dựa vào địa thế hiểm trở và tinh thần chiến đấu của các dân tộc mà dựng cờ tụ nghĩa hay chiến đấu lâu dài chống lại các thế lực bành trướng và xâm lược nước ngoài và trong các cuộc kháng chiến sau này miền núi vẫn luôn là địa bàn chiến lược quan trọng trong công cuộc dành tự do và thống nhất tổ quốc

Trang 17

Thời kỳ chống Bắc thuộc, Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, người dân vùng Tây Bắc đã cùng nhau đoàn kết với người miền xuôi đấu tranh chống giặc ngoại xâm Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta, đồng bào các dân tộc Tây Bắc luôn đoàn kết một lòng theo Đảng, theo Bác chống thực dân Pháp, vùng Tây Bắc đã trở thành căn cứ cách mạng quan trọng của Trung ương và của Chính phủ ta Thời kỳ này phong trào Việt Minh phát triển mạnh ở đây, thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc Tây Bắc khẩn trương chuẩn bị đón thời cơ dành chính quyền Ngược dòng lịch sử, năm 1943, tại nhà ngục Sơn La, người thanh niên cách mạng dân tộc Thái Lò Văn Giá, đã cùng với chi bộ nhà tù tổ chức cuộc vượt ngục thành công đưa nhiều đồng chí là tù chính trị trở lại hoạt động, lãnh đạo phong trào cách mạng chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công khởi nghĩa toàn quốc Trong đó có đồng chí Nguyễn Lương Bằng Sau khi trở về người thanh niên này đã hy sinh anh dũng

Cũng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, các dân tộc miền núi đã hết lòng ủng hộ và hy sinh quên mình cho kháng chiến đi đến thắng lợi Trong chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm xưa đã có sự góp sức, góp của không nhỏ của đồng bào các dân tộc Tây Bắc Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), nhân dân các dân tộc Tây Bắc lại đồng lòng đứng lên, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng vượt qua muôn vàn khó khăn, ra sức lao động sản xuất, góp phần là hậu phương lớn của Miền Nam ruột thịt Ở Tây Bắc chỉ trong bốn năm từ năm 1965-1968 Tây Bắc đã có 159.818 thanh niên các dân tộc lên đường tòng quân ra mặt trận, trong đó có 2% là nữ và nhiều con em các dân tộc thiểu số Trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, bàn chân của con em các dân tộc thiểu số đã in khắp các chiến trường, trong số đó có rất nhiều người đã không bao giờ trở về

Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, song các thế lực thù địch vẫn lợi dụng địa bàn hiểm trở, cư dân thưa thớt, đặc biệt lợi dụng dân tộc Tây Bắc có những mối quan hệ láng giềng và quan hệ họ hàng thân thiết với đồng bào dân tộc ngoài biên giới hoạt động chống phá cách mạng nước ta, mục đích nhằm vô hiệu hóa các chủ trương, chính sách

dân tộc của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, trước “Đường lối chính trị đúng đắn của

Đảng ta đã từng bước cảm hóa mạnh mẽ và thu hút được tất cả các dân tộc thiểu số Tây

Trang 18

Bắc đi theo con đường đấu tranh và xây dựng để có dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [53, tr.45]

Với truyền thống yêu nước và lòng tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng của

Đảng, tiếp bước cha, anh, “Các dân tộc, tộc người sống trên vùng Tây Bắc đã tìm thấy

sức mạnh của mình, con đường phát triển của mình trong sức mạnh và con đường phát triển chung của cả cộng đồng các dân tộc nước ta,” [53, tr.43] luôn thực hiện tốt chính

sách của Đảng, Nhà nước, định canh, định cư, xóa bỏ cây thuốc phiện truyền thống, thực hiện nhận đất, nhận rừng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, đưa các giống mới vào gieo trồng, tích cực xóa đói, giảm nghèo, xóa nạn mù chữ,

mở mang y tế, phát triển giao thông, vận tải, phát thanh - truyền hình, thông tin văn hóa…Đảng bộ các dân tộc Tây Bắc đặc biệt quan tâm phát triển nền văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số làm cho nó thực sự nở hoa kết trái góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc Nền văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc không chỉ tồn tại, đứng yên mà đã và đang luôn luôn vận động phát triển trong

sự giao lưu, tác động lẫn nhau Quá trình giao lưu ấy đã thúc đẩy mạnh mẽ sự xích lại gần nhau, tăng thêm mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc ở nước ta

1.2.3 Tây Bắc vùng đất giàu bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Văn hóa Tây Bắc là trầm tích lịch sử kéo dài và nối liền từ tiền - sơ sử cho đến ngày nay Các đặc điểm địa lý tự nhiên và lịch sử xã hội của vùng đất này đã tạo nên một

vị thế và đặc điểm văn hóa riêng, có những đóng góp quan trọng vào tiến trình văn hóa dân tộc Nói đến Tây Bắc là nói đến một vùng văn hóa đa dạng, phong phú, giàu hương sắc và đậm đà bản sắc dân tộc, bởi mảnh đất này là nơi hội tụ sinh sống từ lâu đời của hàng chục dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hóa mang sắc thái riêng và hết sức quý giá Đến Tây Bắc, dễ dàng được chứng kiến cách sống đặc trưng của văn hóa nhà sàn, đắm mình trong những điệu múa nón, múa chuông, múa Cống Tốp, Au eo… và các làn điệu dân ca trữ tình đằm thắm hòa quyện cùng tiếng đàn tính, đàn môi, khèn bè, Pí thiu, Pí ót… Đêm đêm, bên bếp lửa nhà sàn, trong hương vị rượu cần ngây ngất, sẽ được nghe những bản trường ca, tình ca bất hủ, giàu chất sử thi và thấm đẫm tính nhân văn về quá trình tạo mường lập bản, chống giặc ngoại xâm, về tình yêu quê hương

Trang 19

đất nước, tình yêu đôi lứa và đạo lý làm người Tây Bắc nổi tiếng với kiến trúc nhà sàn

Thái độc đáo, thơ mộng bằng chất liệu gỗ, nứa, tranh tre, mà điển hình là “khau cút” sinh

động vươn cao ở hai đầu chái nhà và các họa tiết hoa văn hình thoi, hình trám thể hiện ở hàng lan can hay trên các khung cửa sổ, tạo nên sự hài hòa tinh tế và phù hợp với cảnh quan thiên nhiên miền núi Nghề thủ công truyền thống của các dân tộc Sơn La có từ lâu đời, điển hình là nghề dệt thổ cẩm với các hình trang trí hoa, thú, chim rất trang nhã và sinh động; Nghề đan lát mây tre, sản xuất gốm của đồng bào Thái, Mường, Dao, Khơ mú; Luyện sắt làm vũ khí và các dụng cụ sản xuất của đồng bào Mông Trong các dịp lễ tết, ngày hội, cộng đồng các dân tộc Tây Bắc có nhiều trò chơi dân gian rất thú vị như ném còn, kéo co, đua ngựa, bắn nỏ, chơi quay, ném Pa pao… Những phong tục tập quán,

lễ hội của cộng đồng các dân tộc Tây Bắc như : “sên bản, sên mường”, “lên nhà mới”, “lễ hội gội đầu”, “mừng cơm mới”, “cầu mưa”…cũng rất độc đáo và hấp dẫn Tất cả những giá trị văn hóa truyền thống đó đã tạo nên bản sắc riêng và là hành trang quý giá của các dân tộc Tây Bắc cần phải được bảo vệ gìn giữ và phát huy, bởi văn hóa của mỗi dân tộc

chính là “phần hồn” của dân tộc ấy, nó là thứ không thể thay thế được, nếu để mất bản

sắc văn hóa thì không còn chính dân tộc đó nữa Ý thức rõ điều đó, nhiều năm qua Đảng

bộ và nhân dân các tỉnh Tây Bắc đã chủ động xây dựng và thực hiện chiến lược bảo tồn

và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Để đi khảo sát những kết quả đạt được trong công tác bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số của các tỉnh vùng Tây Bắc, chúng tôi xin đi sâu vào tỉnh Sơn La, đây là một tỉnh trung tâm của miền núi Tây Bắc Trong những năm đổi mới, đặc biệt là từ khi thực hiện nghị quyết Trung ương lần thứ V khóa VIII của Đảng, Sơn La đã tổ chức kiểm kê, điều tra, khảo sát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng các di tích lịch sử và văn hóa, đến nay đã kiểm kê được 37 di tích lịch sử cách mạng, 36 di tích khảo cổ học, 14 di tích danh thắng, 3 di tích kiến trúc nghệ thuật, trong số này, đến nay

có 10 di tích được xếp hạng Quốc gia, 29 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Công tác nghiên cứu khoa học, đề xuất các phương án bảo tồn được đẩy mạnh, các đề tài nghiên cứu cấp

tỉnh về bảo tồn di sản văn hóa đã được thực hiện như: Đề tài nghiên cứu “Văn hóa thời

tiền- sơ sử Sơn La”; Đề tài “Nghiên cứu bổ sung và viết thuyết minh giới thiệu một số di

Trang 20

tích lịch sử văn hóa dọc Quốc lộ 6 tỉnh Sơn La” Những kết quả nghiên cứu này đã được

áp dụng vào thực tiễn, kịp thời bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa, tiêu biểu là Khu di tích Nhà tù Sơn La, Di tích lịch sử văn hóa Quế Lâm Ngự Chế- Đền thờ Vua Lê Thái Tông, Di tích lịch sử Ngã ba Cò Nòi, Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Mường Và, Tháp Mường Bám, Thắng cảnh Hang Dơi Mộc Châu Các di tích này đang được bảo tồn và khai thác rất hiệu quả, hàng năm thu hút được hàng nghìn lượt người tham quan, học tập góp phần vào việc giáo dục truyền thống, ý thức phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội của người dân Sơn La, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa với các vùng miền trong cả nước

Công tác sưu tầm, gìn giữ các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng luôn được quan tâm, chú trọng Hàng trăm di vật thời Tiền sử, sơ sử đã được tìm thấy tại nhiều địa phương như Mường Chanh (Mai Sơn); Thôm Mòn (Thuận Châu) và một số xã thuộc các huyện ven sông Đà như Mường La, Bắc yên, Phù Yên, Quỳnh Nhai Gần 2000 bản sách được ghi chép bằng chữ Thái cổ thuộc nhiều thể loại như Sử thi, Trường ca, Truyện thơ dân gian… Nhiều hiện vật của nghề thủ công, mỹ nghệ truyền thống đã được sưu tầm, trưng bày, khai thác Đặc biệt, nhằm bảo vệ các di sản vùng lòng hồ Thủy điện Sơn

La, những năm qua Sơn La đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiến hành điền dã, khảo sát thực địa phát hiện được 27 di tích, bước đầu đã xác định được tính chất, niên đại của các di tích, di chỉ khảo cổ, đó là: 03 di tích thời kỳ Phong kiến; 07

di chỉ khảo cổ học thời đại kim khí; 09 di chỉ thời đại đá mới; 08 di chỉ thời đại đá cũ Tất cả những di tích và di chỉ này đang được khẩn trương xây dựng phương án bảo tồn và phát huy Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc của các dân tộc Sơn La tưởng chừng như đã bị thất truyền hoặc đang có nguy cơ thất truyền và biến dạng, đã và đang được sưu tầm, phục dựng, gìn giữ và phát huy Tuy nhiên, khôi phục các lễ hội truyền thống nhưng phải biết lựa chọn để nâng niu, bảo tồn những giá trị tinh thần, những nét đẹp văn hóa trong các lễ nghi, sửa đổi những yếu tố không còn phù hợp,

mở rộng quy mô các lễ hội để cho các lễ hội trở thành điểm hội tụ văn hóa của cộng đồng Cho đến nay, Sơn La đã có 01 lễ hội với quy mô Khu vực, đó là Ngày hội Văn

Trang 21

hóa các dân tộc Tây Bắc Nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, tiêu biểu như các lễ hội:

Lễ hội Hoa Ban, Lễ hội Cầu mưa của dân tộc Thái; Lễ hội Pang A Nụn Pan của dân tộc La Ha; Lễ hội Mương A Ma của dân tộc Xinh Mun; Lễ hội Xen Pang Ả của dân tộc Kháng… Các làng nghề truyền thống như: Dệt Thổ cẩm Thèn Luông- Chiềng Đông- Yên Châu; Gốm Mường Chanh - Mai Sơn, cũng được phục hồi và phát triển.Việc tích cực sưu tầm, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc trong tỉnh đã góp phần làm cho các thế hệ con em các dân tộc Sơn

La hiểu biết thêm về truyền thống lịch sử - văn hóa của vùng đất mà cha ông đã khai phá và dựng xây, từ đó thêm tự hào, gắn bó với quê hương

Có thể nói ý thức tộc chính là đặc điểm, trình độ mức sống của mỗi dân tộc, được kết tinh thành những giá trị văn hóa Văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc là kết quả giao lưu của nhiều dân tộc ở nhiều vùng đất khác nhau, ngoài những nét đặc trưng tiêu biểu và tiếp thu tinh hoa văn hóa, các dân tộc Tây Bắc vẫn giữ được bản sắc của vùng núi Tây Bắc nơi tuyến đầu tổ quốc, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa đó trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

1.3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TÂY BẮC

1.3.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước tác động tới Tây Bắc

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định hệ thống chính sách đồng bộ, trong đó có chính sách dân tộc, các văn bản chính sách

có ý nghĩa lớn đối với miền núi phía Bắc, nói riêng là nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (ngày 27-11-1989) về một số chủ trương chính sách lớn về phát triển kinh tế miền núi, các văn kiện đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII, IX, lần thứ X vừa qua

Thông qua hệ thống các văn bản từ văn kiện của Đảng, Chính Phủ, cũng như các văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được quan tâm

cả trong phương diện hoạch định chính sách, đến việc thể chế hóa và thực hiện trong đời sống chính sách dân tộc

Trang 22

Về kinh tế, nội dung nhiệm vụ trong chính sách dân tộc miền núi phía chính là chủ trương phát triển kinh tế xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo điều kiện cho các dân tộc phát huy tiềm năng và nguồn lực, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa miền núi và miền xuôi

Về phương diện chính trị, thực hiện chính sách bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp

đỡ lẫn nhau và cùng phát triển Đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như đa số đều có quyền làm chủ, có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, có quyền lợi và trách nhiệm xây dựng thể chế chính trị, phát huy vai trò hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu

số Dân chủ hóa đời sống chính trị đã được thực hiện ở các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số Ý thức chính trị, văn hóa chính trị mà trước hết là những thông tin, tri thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền lợi và nghĩa vụ công dân được chú ý quan tâm trong chính sách dân tộc

1.3.2 Nghị quyết Trung ương V khóa VIII của Đảng với vấn đề phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Bắc

Trong lịch sử phát triển của xã phát triển xã hội của loài người nói chung và của Việt Nam nói riêng đã chứng minh và khẳng định bất cứ một triều đại nào, một chế độ chính trị nào, một Đảng nào muốn giữ được vai trò thống trị và lãnh đạo toàn xã hội đều đặc biệt quan tâm đến văn hóa

Nền văn hóa chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chủ đạo Nền văn hóa ấy bắt nguồn từ lịch sử vẻ vang của dân tộc Phương châm phát triển văn hóa Việt Nam phải xuất phát từ nguyên tắc cơ bản: nền văn hóa của chúng ta là của nhân dân

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc bao hàm các nội dung bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số tạo nên sự thống nhất trong sự đa dạng của nền văn hóa Việt Nam

Với Hồ Chí Minh, nền văn hóa của chúng ta phải đặt lợi ích của dân tộc và nhân dân là trên hết Đó là nền văn hóa thấm đầy tính nhân văn Những người làm công tác văn hóa, văn nghệ phải chủ động đa dạng hóa phương pháp và phong cách sáng tác, luôn

Trang 23

luôn tìm tòi sáng tạo để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật đáp ứng được mong đợi của nhân dân Các nghị quyết của Đảng khuyến khích các nhà văn hóa và các nghệ sĩ tìm tòi nhiều hơn nữa, sáng tạo nhiều hơn nữa trong hoạt động nghệ thuật, đồng thời, phải ngăn chặn những xu hướng văn hóa nghệ thuật suy đồi, phi đạo đức Mọi hoạt động văn hóa đều phải hướng về nhân dân, vừa góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho nhân dân, vừa phải lắng nghe nhân dân để tiếp tục có những sáng tạo văn hóa nghệ thuật mới

Từ nhận thức tầm quan trọng và vị trí vai trò của văn hóa truyền thống của dân tộc

ta với tinh hoa văn hóa nhân loại, những sức mạnh tiềm tàng vô cùng to lớn có thể huy động phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nứớc Trong quá trình lãnh đạo cách mạng trong kháng chiến cũng như xây dựng đất nước, Bác Hồ, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng và phát huy cao độ vai trò của văn hóa Ngay từ năm 1943 đồng chí Trường Chinh- lúc đó là Tổng Bí thư của Đảng lúc đó đã viết đề cương văn hóa, với phương châm “ dân tộc - khoa học - đại chúng” Hiến pháp năm 1992 có tới 5 điều nói về văn hóa, xác định một lần nữa nguyên tắc phát triển của nền văn hóa Việt Nam

“dân tộc - hiện đại - nhân văn”, nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng, bình yên cho dân

tộc

Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trở thành nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc là mục tiêu cơ bản được đại hội VII của Đảng đề ra từ năm 1991 Mục tiêu này tiếp tục được khẳng định và nhấn mạnh tại đại hội VIII năm 1996, tới tháng 7 năm 1998 lại được nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ V nêu lên như một trong những quan điểm chỉ đạo cơ bản của sự nghiệp xây dựng sự nghiệp văn hóa của đất nước ta suốt trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết Trung ương V khóa VIII đã chỉ rõ phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau:

Một là, phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức

độc lập, tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Trang 24

Hai là, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào

từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người

Ba là, phương hướng chung chỉ rõ mục đích của xây dựng và phát triển nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, nhằm tạo ra

Trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp

Trình độ dân trí cao, khoa học phát triển

Phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa , vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, tiến bước vững chắc lên Chủ nghĩa xã hội

Nghị quyết lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa VIII cũng khẳng định 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với văn hóa:

Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

Ta hiểu chăm lo phát triển văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội, nếu thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không thể có sự phát triển bền vững, dù tiện nghi vật chất dồi dào đến đâu thì xã hội cũng không thể tránh khỏi suy thoái

Phát triển kinh tế - xã hội là để đạt được độc lập, tự do, hạnh phúc, đời sống được

ấm no hạnh phúc Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện, chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỷ cương, biến thành nguồn nội sinh quan trọng nhất của phát triển

Hai là, nền Văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản

Trang 25

tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc không có nghĩa là giữ mãi, hoặc khôi phục những gì đã lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ

Ba là, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng

đồng các dân tộc Việt Nam

Việt Nam có 54 dân tộc anh em chung sống, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng tạo nên tính đa dạng, phong phú của văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, một đặc điểm rất quan trọng của quá trình phát triển các dân tộc Việt Nam là đoàn kết, thống nhất

Sự thống nhất mà đa dạng của nền văn hóa Việt Nam còn bao gồm những sáng tạo văn hóa của những người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài luôn hướng về cội nguồn, cố gắng gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Bốn là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, do Đảng lãnh

đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa của toàn dân mà nền tảng là khối đại đoàn kết dân tộc và đó cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa

Bất cứ chế độ nào cũng có đội ngũ tri thức của giai cấp cầm quyền Trong nền văn hóa của mỗi chế độ bao giờ cũng có một đội ngũ tri thức Đội ngũ những nhà văn hóa Ông cha ta nói “Thiên tài là nguyên khí của quốc gia Văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, trước hết là của nhân dân lao động, trong đó đội ngũ tri thức gắn bó với nhân dân có vai trò quan trọng, nhất là trong việc sáng tạo ra nền văn hóa đỉnh cao

Năm là, văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp

cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng

Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị văn hóa ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình đầy khó khăn [31, tr.58]

Người hoạt động văn hóa là chiến sỹ kiên cường trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, trong việc giữ gìn những di sản quí báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh với các hủ

Trang 26

tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện “Diễn biến hòa bình”

Nghị quyết chỉ rõ 10 nhiệm vụ cụ thể đó là:

Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những đức tính cao đẹp; Xây dựng môi trường văn hóa trong sạch và lành mạnh; Phát triển sự nghiệp văn học nghệ thuật; Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa; Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học -công nghệ; Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; Thực hiện chính sách văn hóa đối với tôn giáo; Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa; Củng cố, xây dựng và

hoàn thiện thể chế văn hóa; Nghị quyết còn chỉ rõ: Cùng với “Xây” phải “Chống”, điều

cần làm là kiên quyết loại bỏ những kẻ thoái hóa, biến chất về đạo đức ra khỏi tổ chức Đảng và cơ quan nhà nước Nghiêm trị bọn tội phạm, ngăn chặn và đẩy lùi những hoạt động phản văn hóa, các sản phẩm văn hóa độc hại Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng Đảng ta luôn đề cao việc bảo tồn và phát huy những di sản tốt đẹp của dân tộc Văn kiện hội nghị V Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII nhấn mạnh:

Coi trọng và bảo tồn phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc Đi đôi với việc sử dụng ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình Phát hiện bồi dưỡng, tổ chức lực lượng sáng tác, sưu

tầm, nghiên cứu văn hóa, văn học nghệ thuật là người dân tộc thiểu số [31,

tr.65-66]

Hiện nay việc thực hiện tốt nghị quyết Trung ương lần thứ 5 khóa VIII của Đảng,

và học tập triển khai thực hiên nghị quyết của đại hội khóa IX, khóa X, vấn đề văn hóa các tộc người, nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa, cho cán bộ và nhân dân các dân tộc thiểu số, xây dựng các thiết chế văn hóa phù hợp, phát triển văn hóa tộc người trong mối quan hệ kết hợp truyền thống và hiện đại, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hoạt động trên

Trang 27

lĩnh vực văn hóa là người dân tộc thiểu số; đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, chống

“Diến biến hòa bình’’ dưới nhiều hình thức trong đó có hình thức “giao lưu” văn hóa, đồng hóa văn hóa

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và có nhiều chủ trương chính sách nhằm phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số song thực trạng đời sống kinh tế - xã hội miền núi và vùng các dân tộc thiểu số sinh sống hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, các di sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử văn hóa miền núi dần dần xuống cấp và bị mai một, mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu

số còn thấp Bên cạnh đó, việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân tộc thiểu

số đang gặp nhiều trở ngại trước thách thức của quá trình toàn cầu hóa Một bộ phận dân tộc thiểu số, những giá trị văn hóa cũng đã chịu ảnh hưởng làm mất đi những nét đẹp văn hóa riêng như trang phục, nhà ở, ngôn ngữ, cưới hỏi, ma chay đã bị “Kinh hóa” không còn hiếm hiện tượng thanh niên nam, nữ dân tộc không còn tha thiết với những hình thức âm nhạc nghệ thuật của dân tộc mình

Như vậy, vấn đề đặt ra là cùng lúc bảo tồn vốn cổ, kết hợp cũ, mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới cho dân tộc tức là thực hiện sự định hướng về nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số hiểu được ý nghĩa, vai trò của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình, tiếp thu, kế thừa và truyền lại cho muôn đời sau những giá trị văn hóa tốt đẹp ấy Chính những nhận thức ấy

là yếu tố quan trọng xây dựng lên những định hướng giá trị đúng đắn cho một nền văn hóa mới hiện đại, dân tộc và nhân văn của Việt Nam

1.4 VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC TUYÊN TRUYỀN NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TÂY BẮC

1.4.1 Đặc điểm công chúng báo chí Tây Bắc

* Đặc điểm dân cư, dân số và quan hệ tộc người

Các dân tộc - tộc người ở Tây Bắc cư trú xen kẽ nhau và phân tán ở nhiều vùng trong mỗi tỉnh Tình trạng cư trú xen kẽ này tạo điều kiện để các dân tộc - tộc người xích lại gần nhau, đẩy mạng giao lưu, giao tiếp trên các lĩnh vực, mặt khác cũng gây những

Trang 28

khó khăn trong quản lý xã hội - tộc người bởi sự khác nhau về phong tục, tập quán, lối sống

Tình trạng cư trú xen kẽ và phân tán không đồng đều nhau trên từng địa bàn cụ thể tạo nên sự đa dạng trong bức tranh phân bố tộc người và cũng tạo nên những khó khăn phức tạp cần giải quyết trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhất là trong quản lý kinh tế, văn hóa và quản lý xã hội tộc người Có thể thấy được số các dân tộc thiểu số cư trú trên những địa bàn chiếm trong các lĩnh vực kinh

tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái

Đặc điểm trong quan hệ dân tộc - tộc người ở Tây Bắc là có truyền thống đoàn kết gắn bó từ lâu đời Truyền thống đoàn kết, thống nhất trong cộng đồng các dân tộc ở Tây Bắc đã được phát huy cao độ trong các cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc thống nhất tổ quốc và đang được phát huy trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, hiện nay giữa các dân tộc còn có sự chênh lệch lớn trên nhiều phương diện Về văn hóa: trình độ văn hóa, trình độ dân trí nói chung còn thấp, có sự chênh lệch lớn giữa các vùng trong một tỉnh, nhất là đồng bào vùng cao, vùng sâu, xa còn hạn chế nhiều Phong tục tập quán, luật tục, tâm lý, lối sống của các tộc người bên cạnh những yếu tố tích cực, còn chiếm giữ nhiều yếu tố tiêu cực, lạc hậu ở các mức độ khác nhau

Những đặc điểm trên đây về dân số, dân cư và mối quan hệ dân tộc chưa phải là tất cả, song đó là những đặc điểm nổi bật cần được xem xét, tính đến trong giải quyết các vấn đề dân tộc, và quan hệ dân tộc, hoạch định và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trên con đường đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đó cũng là những vấn đề đòi hỏi các cơ quan thông tin đại chúng cần phải nắm vững và hiểu sâu sắc, để có được cách thức, phương pháp, chiến lược tuyên truyền “trúng” “đúng” theo định hướng của Đảng trong thời kỳ mới

1.4.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí

Cũng như miền núi phía Bắc, người dân miền núi Tây Bắc ngoài những đặc điểm chung có những đặc điểm riêng Về tính cách, lối sống, cư dân ở Tây Bắc là những người

Trang 29

thật thà, chất phác có lòng yêu quê hương đất nước nồng nàn, có tinh thần đoàn kết tương thân, tương ái, sống cởi mở, thẳng thắn, chân thành, giản dị Người dân Tây Bắc cũng có tâm lý sùng bái các nhân vật thần thánh, những người có công với cộng đồng,

có tập tục thờ cúng gia tiên, có tư tưởng phong phú dệt lên những truyền thuyết đầy màu sắc huyền thoại và sinh động Nói như vậy, song đồng bào các dân tộc Tây Bắc cũng có nhiều hạn chế do việc sử dụng ngôn ngữ riêng ở các tộc người khác nhau, nên việc giao lưu học hỏi khó khăn, nhất là các dân tộc lạc hậu ở vùng sâu xa như H’Mông Một đặc điểm nữa là người dân thích hoạt động thực tiễn hơn tư duy và nhận thức, khả năng tiếp nhận thông tin khoa học kỹ thuật, tiếp nhận thông tin báo chí còn nhiều khó khăn Bản tính bảo thủ, cố hữu, cục bộ dân tộc địa phương, tự do, lòng tự tôn dân tộc thái quá đã khiến cho việc tiếp thu cái mới, tiến bộ diễn ra rất chậm, nhiều thủ tục, nhiều thói quen lạc hậu không dễ dàng thay đổi Tâm lý học hành không có chủ định vẫn tồn tại không ít trong dân cư

Nhằm nâng cao nhận thức, khả năng tư duy của người dân vùng núi Tây Bắc, nhất

là vùng sâu vùng xa, Đảng ta đã có nhiều chính sách ưu đãi, đẩy mạnh các hoạt động đưa văn hóa về cơ sở, phát triển hoạt động báo chí, phát thanh truyền hình Hiện nay miền núi Tây Bắc cũng đang thực hiện có hiệu quả chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, chống tái mù chữ, đây cũng là những yếu tố thúc đẩy việc tiếp nhận thông tin báo chí của đông đảo các dân tộc, kể cả vùng sâu vùng xa Phải khẳng định rằng từ những năm 90 trở lại đây đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã được nâng lên rõ rệt, ngoài việc được tiếp nhận món ăn tinh thần mới hấp dẫn là truyền hình, báo in đã được chuyển đến vùng sâu xa một cách nhanh nhất

Từ những việc làm cụ thể đẩy mạnh thông tin về cơ sở, đồng bào các dân tộc Tây Bắc hiện nay đã được đón nhận món ăn tinh thần phong phú đa dạng hơn Song thực tế khách quan, trình độ nhận thức, tâm lý vẫn là những hạn chế trong tiếp nhận thông tin Vì vậy, nhu cầu của đồng bào hiện nay đòi hỏi nhiều và sâu về thông tin, cũng là đòi hỏi về phương pháp chiến lược tuyên truyền đối với cơ quan báo chí như chủ trương quan điểm

của Đảng ta đã chỉ rõ: Các dân tộc “Cùng phát triển” bên nguyên tắc: “Bình đẳng, đoàn

kết, tương trợ”

Trang 30

Có thể nói báo chí là một phần không thể thiếu của xã hội, bản thân nó có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa xã hội Với chức năng tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội, báo chí giúp nâng cao nhận thức văn hóa cho người dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, hình thành và không ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội Báo chí chính là một trường học xã hội rộng rãi cung cấp kiến thức mọi mặt cho đời sống con người dưới dạng vừa bao quát, vừa cụ thể lại dễ dàng tiếp nhận Xã hội ngày càng phát triển không ngừng và tất nhiên đời sống văn hóa xã hội cũng không ngừng vận động đòi hỏi con người phải bổ sung và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình Hơn thế nữa, tuyên truyền phổ biến về văn hóa cũng là mục đích và

nhiệm vụ của báo chí

Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa VIII đã đánh giá

“Thông tin đại chúng phát triển nhanh về số lượng và qui mô, về nội dung và hình thức,

về in, phát hành, truyền dẫn, ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội” [31, tr.44]

Đối với công tác tuyên truyền về bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc, nhất là bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, báo chí Tây Bắc nói riêng, báo chí Việt Nam nói chung giữ vai trò như là một chiếc cầu nối giữa nét đẹp của dân tộc này với dân tộc khác, xóa bỏ đi khoảng cách, làm cho văn hóa các dân tộc ngày càng có điều kiện giao lưu với nhau Từ việc giao lưu đó, mỗi dân tộc ý thức về bản sắc văn hóa dân tộc mình và tiếp thu được những nét đẹp, thuần phong mỹ tục, những nhân tố tích cực và phê phán loại bỏ những gì đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc

Báo chí không chỉ phản ánh được những nguyên nhân cũng như thực trạng của văn hóa, mà còn giới thiệu được những giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu với bạn bè quốc tế, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam, thông qua đó báo chí cũng đã giới thiệu được đến độc giả của mình hiểu và nắm bắt được những nét tinh túy của văn hóa dân tộc

Tuy nhiên hiện nay xuất hiện xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa làm mai một văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc từ nghi thức, ăn, mặc, ở, tập quán tiếng nói đã bị pha trộn, âm nhạc dân tộc bị xem thường, những bộ trang phục không còn hấp dẫn với thế hệ trẻ

Trang 31

Để giữ vững và phát huy vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền giữ gìn và bảo tồn văn hóa các dân tộc, tự thân mỗi cơ quan báo chí, mỗi cán bộ phóng viên cần nâng cao chất lượng báo chí, nâng cao sự am hiểu về văn hóa dân tộc, luôn đổi mới hình thức cũng như nội dung tuyên truyền phù hợp với thời cuộc, để giá trị văn hóa các dân tộc Tây Bắc mãi trường tồn với thời gian

Có thể nói, từ những đặc điểm kinh tế, xã hội, điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm truyền thống văn hóa, tâm lý nhu cầu, đặc điểm công chúng Tây Bắc, thời gian qua báo chí trung ương và địa phương đã phát triển bề rộng, ngày càng nâng cao hiệu quả tuyên truyền - đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nói chung và Tây Bắc nói riêng

Trang 32

Chương 2 KHẢO SÁT BÁO CHÍ SƠN LA TRONG VIỆC TUYấN TRUYỀN

GIÁ TRỊ VĂN HểA TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC

THIỂU SỐ VÙNG TÂY BẮC

2.1 KHẢO SÁT BÁO CHÍ SƠN LA

2.1.1 Đài Phỏt Thanh - Truyền Hỡnh Sơn La

2.1.1.1 Vài nột về sự hỡnh thành và phỏt triển của Đài Phỏt thanh - Truyền hỡnh Sơn La

Ngày 26/9/1977 Đài phát thanh Sơn La chính thức đ-ợc thành lập trên cơ sở một phần cán bộ và kỹ thuật của Đài phát thanh khu Tây Bắc Những năm đầu mới thành lập với nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật và đội ngũ cán bộ, song với

nỗ lực to lớn, các đồng chí lãnh đạo, các thế hệ cán bộ qua các thời kỳ đã v-ợt qua những khó khăn ban đầu để đ-a sự nghiệp của ngành b-ớc tiếp những năm phát triển

Ngay từ ngày đầu tiên phát sóng các ch-ơng trình phát thanh (tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng Mông và ca nhạc các dân tộc), các ch-ơng trình của Đài phát thanh Sơn La luôn là nhu cầu không thể thiếu, là nguồn thông tin kịp thời nhất đến với

đồng bào các dân tộc các bản, xã vùng sâu, vùng xa

Nội dung, hình thức các ch-ơng trình phát thanh luôn đ-ợc cải tiến, nâng cao phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của ng-ời nghe đài chủ yếu là đồng bào các dân tộc ít ng-ời Góp phần định h-ớng trong công tác t- t-ởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong quá trình chuyển từ cơ chế bao cấp sang những năm đổi mới, tạo không khí phấn khởi tin t-ởng của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, phát triển kinh tế bằng chính tiềm năng vốn có của địa ph-ơng

Liên tục từ ngày đầu tiên phát sóng đến nay đài duy trì đều đặn mỗi ngày

120 phút 4 ch-ơng trình phát thanh và gần đây ch-ơng trình phát thanh tiếng Thái, tiếng Mông đ-ợc phát thêm trên hệ FM Đài PT - TH Sơn La luôn nhận đ-ợc th- của ng-ời nghe đài, nhất là bà con dân tộc Mông vùng cao yêu cầu tăng thời l-ợng các ch-ơng trình

Trang 33

Hòa chung với b-ớc phát triển chung của ngành Phát thanh - truyền hình cả n-ớc,

đúng vào ngày 26/8/1989 kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng Sơn La, những thiết bị truyền hình đầu tiên đã đ-ợc lắp đặt, tiếp sóng và phát lại thành công tại trung tâm thị xã Sơn La Sau một thời gian ngắn thử nghiệm, với sự quan tâm trực tiếp của lãnh

đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự năng động của lãnh đạo ngành, tháng 3 năm 1992 ủy ban nhân dân tỉnh Sơn la đã quyết định đổi tên Đài phát thanh Sơn la thành Đài phát thanh - truyền hình Sơn La Từ đó ngành b-ớc vào một giai đoạn phát triển mới là cơ quan báo nói, báo hình và thực hiện chức năng quản lý sự nghiệp phát thanh-truyền

hình từ tỉnh đến các đài huyện, trạm cơ sở

Liền sau đó ở trung tâm 9 huyện thị trong tỉnh đều đ-ợc lắp đặt trạm thu, phát sóng truyền hình mở rộng diện phủ sóng ở các vùng trung tâm đông dân sinh sống

Nh- vậy từ chỗ chỉ có các ch-ơng trình phát thanh của Đài phát thanh - truyền hình tỉnh và Đài truyền thanh - truyền hình các huyện thị, sau những năm 90 mạng l-ới các đài truyền thanh, trạm phát sóng FM, trạm thu phát lại truyền hình đã v-ơn ra

đến các trung tâm xã, đến nhiều xã vùng cao, biên giới

Duy trì đều đặn mỗi tuần 7 ch-ơng trình thời sự truyền hình, ch-ơng trình văn nghệ và phim mỗi ngày Nội dung ch-ơng trình truyền hình cũng không ngừng

đ-ợc đổi mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khán giả truyền hình Hiện nay trong các ch-ơng trình truyền hình sau phần thời sự về các hoạt động trong tỉnh đang duy trì tốt các chuyên mục trong tháng Khắc phục tình trạng thiếu tin cơ sở, Phòng biên tập

Đài phát thanh - truyền hình tỉnh phối hợp tốt với các Đài truyền thanh - truyền hình các huyện thị thực hiện trang truyền hình từ cơ sở, đồng thời mỗi tuần ban biên tập

đài tỉnh xây dựng ch-ơng trình chọn lọc gửi băng phát ở các huyện trong tỉnh

Đặc biệt từ đầu năm 2000 đến nay, Đài phát thanh truyền hình tỉnh cũng nh-

Đài truyền thanh-truyền hình các huyện đã thực hiện khá tốt các ch-ơng trình phát thanh-truyền hình trực tiếp phản ánh tại chỗ các sự kiện chính trị lớn của tỉnh và của huyện nh-: Các kỳ họp của HĐND, đại hội Đảng các cấp, các cuộc kỷ niệm, lễ mít tinh

Trang 34

lớn của tỉnh, huyện Đến nay, việc thực hiện các ch-ơng trình phát thanh-truyền hình trực tiếp đã trở thành việc làm th-ờng xuyên của toàn ngành

Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Đài truyền hình Việt Nam Từ tháng 1/2002, hàng tháng Đài đã xây dựng 2 ch-ơng trình truyền hình tiếng Mông gửi phát th-ờng xuyên trên VTV5 của Đài THVN Bắt đầu từ tháng 3 năm 2002 Đài phát thanh truyền hình Sơn La xây dựng mỗi tháng 2 ch-ơng trình truyền hình tiếng Mông gửi phát ở 13 đài trạm truyền hình có đồng bào Mông trên

địa bàn toàn tỉnh

Đài truyền thanh-truyền hình các huyện, thị duy trì tốt bản tin thời sự tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng Mông Đáp ứng yêu cầu của ng-ời xem truyền hình, đ-ợc phép của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đài truyền thanh-truyền hình 11 huyện xây dựng mỗi tuần một bản tin thời sự truyền hình đ-ợc đông đảo bạn xem truyền hình ủng hộ hoan nghênh

Qua nội dung các ch-ơng trình phát thanh, truyền thanh, truyền hình từ Đài tỉnh đến các đài huyện, thị luôn bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng của cấp ủy, chính quyền địa ph-ơng Nội dung các ch-ơng trình ngày càng phong phú, bám sát cơ sở, nêu g-ơng điển hình trên nhiều lĩnh vực,

đồng thời cũng đảm bảo tính Đảng, tính quần chúng phê phán những biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội mà Đảng, Nhà n-ớc ta quan tâm, đấu tranh đẩy lùi

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ phúng viờn

Đài Phỏt thanh - truyền hỡnh Sơn La cú trụ sở chớnh tại 125 đường Nguyễn Lương Bằng – Thành phố Sơn La tỉnh Sơn La, với cơ cấu tổ chức Giỏm đốc Đài phụ trỏch chung cụng tỏc của toàn ngành, một phú giỏm đốc phụ trỏch nội dung và một phú giỏm đốc phụ trỏch kỹ thuật, cỏc phũng ban chuyờn mụn gồm cú: Phũng Biờn tập, Phũng phúng viờn, Ban Văn nghệ, Phũng hành chớnh, Phũng tài vụ Và 12 Đài truyền thanh-truyền hình huyện thị trực thuộc sự quản lý trực tiếp của ngành

Đến nay trên 80% số cán bộ công nhân viên toàn ngành đã qua đào tạo và đào tạo lại qua các tr-ờng chính trị cao cấp, trung cấp lý luận của Trung -ơng và của tỉnh; Qua các khoá nghiệp vụ báo chí , kỹ thuật phát thanh, truyền hình hoặc theo học tại

Trang 35

chức một số tr-ờng đại học chuyên ngành khác Trong đó 41/261 có trình độ đại học, 79/261 có trình độ trung cấp, còn lại là công nhân kỹ thuật và ngành nghề khác 7 cán

bộ có trình độ cao cấp lý luận 35 trung cấp lý luận, phấn đấu đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh của ngành phát thanh-truyền hình cả n-ớc

2.1.1.3 Cụng tỏc sản xuất tổ chức chương trỡnh

Duy trì đều đặn mỗi tuần 7 ch-ơng trình thời sự truyền hình, ch-ơng trình văn nghệ và phim mỗi ngày Nội dung ch-ơng trình truyền hình cũng không ngừng

đ-ợc đổi mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khán giả truyền hình Hiện nay trong các ch-ơng trình truyền hình sau phần thời sự về các hoạt động trong tỉnh đang duy trì tốt các chuyên mục trong tháng Khắc phục tình trạng thiếu tin cơ sở, Phòng biên tập

Đài PT - TH tỉnh phối hợp tốt với các Đài TT - TH các huyện thị thực hiện trang truyền hình từ cơ sở, đồng thời mỗi tuần ban biên tập đài tỉnh xây dựng ch-ơng trình chọn lọc gửi băng phát ở các huyện trong tỉnh

Đặc biệt từ đầu năm 2000 đến nay, Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh cũng nh- Đài truyền thanh-truyền hình các huyện đã thực hiện khá tốt các ch-ơng trình Phát thanh - Truyền hình trực tiếp phản ánh tại chỗ các sự kiện chính trị lớn của tỉnh và của huyện nh-: Các kỳ họp của HĐND, đại hội Đảng các cấp, các cuộc kỷ niệm, lễ mít tinh lớn của tỉnh, huyện Đến nay, việc thực hiện các ch-ơng trình phát thanh-truyền hình trực tiếp đã trở thành việc làm th-ờng xuyên của toàn ngành

Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Đài truyền hình Việt Nam Từ tháng 1/2002, hàng tháng Đài đã xây dựng 2 ch-ơng trình truyền hình tiếng Mông gửi phát th-ờng xuyên trên VTV5 của Đài THVN Bắt đầu từ tháng 3 năm 2002 Đài phát thanh truyền hình Sơn La xây dựng mỗi tháng 2 ch-ơng trình truyền hình tiếng Mông gửi phát ở 13 đài trạm truyền hình có đồng bào Mông trên

địa bàn toàn tỉnh

Đài truyền thanh-truyền hình các huyện, thị duy trì tốt bản tin thời sự tiếng phổ thông, tiếng Thái, tiếng Mông Đáp ứng yêu cầu của ng-ời xem truyền hình, đ-ợc phép của Tỉnh Uỷ, UBND tỉnh Đài truyền thanh - truyền hình 11 huyện xây dựng

Trang 36

mỗi tuần một bản tin thời sự truyền hình đ-ợc đông đảo bạn xem truyền hình ủng hộ hoan nghênh

Nội dung các ch-ơng trình phát thanh, truyền thanh, truyền hình từ Đài tỉnh

đến các đài huyện, thị luôn bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng của cấp uỷ, chính quyền địa ph-ơng Nội dung các ch-ơng trình ngày càng phong phú, bám sát cơ sở, nêu g-ơng điển hình trên nhiều lĩnh vực, đồng thời cũng đảm bảo tính Đảng, tính quần chúng phê phán những biểu hiện tiêu cực, tệ nạn xã hội mà Đảng, Nhà n-ớc ta quan tâm, đấu tranh đẩy lùi

Đi đôi với chú trọng đổi mới nội dung tuyên truyền trên sóng phát thanh -truyền thanh - truyền hình đảm bảo đúng quan điểm đ-ờng lối, chính sách của Đảng, Nhà n-ớc; công tác kỹ thuật của ngành cũng đã có b-ớc phát triển khá nhanh Những năm đầu mới thành lập còn dùng máy phát sóng công suất với 2KW của Đài phát thanh khu Tây Bắc để lại Các thiết bị thu, in ch-ơng trình đều đã qua quá nhiều năm sử dụng, đến nay đã đ-ợc nâng công suất 11Kw trên 2 sóng 63m và 305m

Về máy phát hình hiện nay ở Đài tỉnh có 3 máy phát đồng thời 3 kênh, gồm 1 máy phát hình Ha Rit công suất 1KW - 1 máy phát VTC công suất 2 KW - 1 máy phát VTC công suất 1KW Đảm bảo chất l-ợng tiếp phát lại mỗi ngày 22 giờ/ngày các ch-ơng trình của VTV1-VTV2-VTV3-VTV5 và ch-ơng trình truyền hình địa ph-ơng Trên tháp truyền hình cao 100 m đặt trên đồi Khau Cả còn thu phát lại ch-ơng trình phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam trên kênh sóng FM và phát đồng thời ch-ơng trình phát thanh tiếng Thái, tiếng Mông của Đài Sơn La

Ở trung tâm 9 huyện đều đ-ợc lắp đặt máy phát hình công suất từ 20 đến 1000

w Tính đến hết 6 tháng đầu năm 2002 này toàn tỉnh có 41 trạm thu phát sóng truyền hình với máy phát hình công suất từ 20 đến 1000w, 8 trạm TVRO với khoảng trên 68%

số hộ dân đ-ợc xem truyền hình; Trong đó trạm phát hình Khau Tú (Thuận Châu) độ cao 1100 m so với mặt biển và trạm phát hình đ-ợc đặt trên đồi cao trên vùng thảo nguyên Mộc Châu, độ cao 1020 m đã phát huy đ-ợc lợi thế nâng diện phủ sóng cho 2 vùng đông dân c- nhất tỉnh

Trang 37

Từng b-ớc đổi mới thiết bị kỹ thuật theo h-ớng hiện đại, những năm gần đây công tác quản lý khai thác thiết bị, dàn dựng các ch-ơng trình phát thanh -truyền hình truyền dẫn phát sóng luôn đảm bảo chất l-ợng, hạn chế tối đa thời gian mất sóng, khắc phục kịp thời sự cố kỹ thuật

2.1.2 Bỏo Sơn La

2.1.2.1 Vài nột về sự hỡnh thành và phỏt triển của Bỏo Sơn La

Cỏch đõy 45 năm, ngày 3.1.1964, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đó ra quyết định chuyển

tờ Tin thành tờ bỏo Đảng với tờn gọi “ Sơn La đổi mới” Ngày 3.2/1964 bỏo: Sơn La Đổi Mới xuất bản số đầu tiờn Tờn gọi “Sơn La đổi mới” cú từ năm 1964 đến năm 1976 đõy

là thời kỳ tờ bỏo gắn liền với cuộc khỏng chiến chống chiến tranh phỏ hoại bằng khụng quõn của giặc Mỹ, vỡ sự nghiệp giải phúng Miền Nam thống nhất đất nước

Những ngày đầu chống chiến tranh leo thang phỏ hoại của giặc Mỹ (6-1965), Tũa soạn sơ tỏn cỏch thành phố 10 km, phải đi qua nhiều trọng điểm đỏnh phỏ ỏc liệt của mỏy bay Mỹ Khi đú toàn cơ quan cú 6 người, kể từ cấp dưỡng đến Tổng Biờn tập, chưa một

ai được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ bỏo chớ, phúng viờn vừa bỏm sỏt trận địa chụp ảnh, viết tin bài nờu cỏc gương sỏng, thụng bỏo kịp thời tin thắng trận - bắn rơi mỏy bay Mỹ - cho mỗi số bỏo, vừa kiờm cả biờn tập, sửa mo rỏt tại nhà in Thời gian này, cựng với tờ Sơn La đổi mới cú thờm một tờ được dịch và viết bằng chữa Thỏi cổ in theo phương phỏp Paraphin trờn bàn đỏ (một vài năm sau được đỳc bằng bản chỡ để in) tờ bỏo song ngữ được phỏt hành tuần 1 kỳ - số lượng hạn hẹp từ 400-600 tờ/kỳ, đõy thực sự là nguồn động viờn kịp thời phong trào thi đua sản xuất, chiến đấu của chiến sĩ, nhõn dõn cỏc dõn tộc trong tỉnh

Năm 1975, miền Nam hoàn toàn được giải phúng, cả đất nước thống nhất và đi lờn chủ nghĩa xó hội Tũa soạn Bỏo Sơn La được chuyển từ nơi sơ tỏn (bản Sàng, Hỏt Lút, huyện Mai Sơn) về thành phố Cựng với thời gian này, “Sơn La đổi mới” đổi tờn thành Bỏo Sơn La tuần ra hai kỳ thứ ba và thứ sỏu với số lượng phỏt hành 800 tờ/kỳ

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ phúng viờn

Trụ sở chớnh của bỏo Sơn La được đặt tại 190-192 đường Tụ Hiệu thành phố Sơn

La Ban Biờn tập gồm cú Tổng Biờn tập và 3 phú Tổng biờn tập phụ trỏch thư ký tũa soạn

Trang 38

và phụ trách phóng viên Đến nay tuyệt đại đa số cán bộ phóng viên - biên tập viên của

cơ quan Báo đã qua đào tạo theo tiêu chuẩn và phát huy tốt vai trò trong công tác Hiện nay 28/29 cán bộ phóng viên - biên tập viên chính thức của tòa soạn có trình độ đại học;

1 đ/c có trình độ cao đẳng đang theo học đại học; 8 đ/c có trình độ Cao cấp lý luận chính trị; 14 đ/c có trình độ trung cấp lý luận và tương đương, đó là con số nói lên nhiều cố gắng của tòa soạn Hàng năm Báo Sơn La có hàng trăm cộng tác viên, trong đó 30% là cộng tác viên tích cực thường xuyên cộng tác với Báo

Để nâng cao chất lượng, hình thức của các ấn phẩm, Báo Sơn La luôn coi công tác giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ phóng viên là điều kiện số một Nét nổi bật những năm qua là tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng xây dựng tờ báo Từ Ban Biên tập đến các bộ phận đều đề cao ý thức tổ chức kỷ luật, ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trên mặt trận tuyên truyền

Đến nay, tòa soạn vẫn tiếp tục chủ trương về công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ, thường xuyên củng cố tổ chức, thực hiện tốt quy chế hoạt động, quy chế dân chủ trong cơ quan Nhiều đồng chí có 2 bằng đại học (Đại học báo chí và Cử nhân chính trị hoặc chuyên ngành khác)

2.1.2.3 Công tác xuất bản

Trước đây việc chế bản phải thông qua Nhà in, chất lượng công nghệ cũ, nay việc thiết kế ma két, trình bày đều được chủ động làm trên máy vi tính tại tòa soạn Đặc biệt việc đưa vào sử dụng quét ảnh đã nâng cao chất lượng ảnh in và tính thời sự trên báo lên rất nhiều lần Trong những năm gần đây tờ báo có nhiều đổi mới, nội dung hình thức được cải tiến, chất lượng thông tin nhanh, nhạy, kịp thời, đáp ứng yêu cầu của cấp ủy, của nhân dân và bạn đọc

- Năm 1997, báo chủ động làm ảnh dương bản tại cơ quan

- Năm 1998, xuất bản thêm tờ Tin ảnh Sơn La, tháng 1 số với 2.500 tờ/kỳ

- Năm 1999, hoàn thành việc chế bản vi tính tại tòa soạn

- Năm 2000, báo tăng 8 trang/kỳ, khổ 29 x 42 cm Nâng kỳ phát hành tờ Tin ảnh Sơn La 1 tháng 2 số 3.200 tờ/kỳ Tháng 8 năm 2008 nâng lên 3.700 tờ/kỳ

Trang 39

- Năm 2001, hoàn thành việc nối mạng LAN

- Năm 2003, báo tăng 3 kỳ/tuần, với 4/8 trang, in 2 màu và đến nay 8/8 trang in 2 màu

- Năm 2006, báo Điện tử Sơn La chính thức hòa mạng

Đến hết năm 1999: Báo Sơn La có số lượng phát hành 3.000 tờ/kỳ 8 trang, khổ 29

x 42 cm Được sự chỉ đạo của tỉnh tòa soạn xuất bản tờ Tin ảnh Sơn La, 3 tháng một số in

4 màu, với số lượng 2.500 tờ phát hành đến các xã, bản vùng sâu trong tỉnh Các khâu, bình chế bản đã được thực hiện qua vi tính tại tòa soạn Tháng 1.2003, Báo Sơn La phát hành 3 kỳ/tuần với số lượng 5.000 tờ/kỳ, tờ Tin ảnh phát hành tháng 2 số với 3.200 tờ/kỳ Hàng năm Báo Sơn La có hàng trăm cộng tác viên, trong đó 30% là cộng tác viên tích cực thường xuyên cộng tác với Báo

2.1.3 Tạp chí văn nghệ Suối Reo

2.1.3.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của tạp chí văn nghệ “Suối Reo”

Trong thời thực dân Pháp xâm lược với dã tâm, muốn dùng nơi “Rừng thiêng, nước độc” để khuất phục những người tù Cộng sản, làm nhụt ý chí giành độc lập của nhân dân các dân tộc Việt Nam, ngay từ những ngày đầu của thế kỷ XX thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng một nhà tù tại trung tâm hành chính Sơn La Năm 1930, chúng mở rộng nhà tù lên gấp ba lần so với kế hoạch ban đầu và đưa những tù nhân chính trị đầu tiên lên tù đầy tại đây Theo con số thống kê, có 1.007 lượt chiến sỹ cách mạng bị thực dân Pháp giam cầm trong nhà tù Sơn La Trong số đó, nhiều đồng chí sau khi thoát khỏi nhà tù, cống hiến trí tuệ sức lực cho cách mạng, trở thành những đảng viên cộng sản trung kiên, cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước Nêu cao tinh thần cách mạng, ý chí đấu tranh kiên cường vì sự nghiệp giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Một trong những sự kiện lớn lao ở nhà ngục Sơn La những năm 40-45 là việc ra đời Chi bộ nhà tù, đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với phong trào cách mạng Sơn La- chuyển từ đấu tranh tự phát- sang đấu tranh tự giác, có sự lãnh đạo thường xuyên liên tục của Đảng Anh hùng liệt sỹ Lò Văn Giá là tấm gương tiêu biểu Trong ngục tù tăm tối

ấy, dưới gông xiềng, đòn roi, hình phạt dã man, ngặt nghèo của kẻ thù, ánh sáng của

Trang 40

Đảng vẫn được nhen lên lớn mạnh và tỏa sáng Trong hoàn cảnh ấy báo Suối Reo- cơ quan ngôn luận của Chi bộ nhà tù ra đời, trở thành cẩm nang lãnh đạo, là lời cổ vũ, động viên, củng cố niềm tin lãnh đạo đối với các tổ chức cơ sở Đảng, với phong trào cách mạng Sơn La Cuối năm 1943, Chi bộ nhà tù đã tổ chức thành lập Hội người Thái cứu quốc (Côn tay chât mương) mà nòng cốt là các tổ thanh niên cứu quốc được thành lập đã tập hợp đông đảo quần chúng tham gia Việt Minh Hội người Thái cứu quốc đã sử dụng mọi hình thức tuyên truyền để vạch tội ác của phát xít Nhật – Pháp Thời gian này, Hội người Thái cứu quốc đã xuất bản tờ báo “Lắc Mương” ( dịch tiếng Thái: Trụ cột của đất nước) bằng hai thứ chữ Thái và Quốc ngữ Tuy hình thức thô sơ viết tay, in thạch, nhưng báo “Lắc mương” đã nêu cao tính chiến đấu, vạch rõ tội ác của đế quốc và tay sai, kêu gọi đoàn kết dân tộc, chống giặc cứu nước

Có thể khẳng định “ Suối Reo” và “ Lắc Mương” là những tờ báo cách mạng đầu tiên ở Sơn La, chính là những mạch nguồn, khơi thủy - cho dòng chảy báo chí Đảng bộ Sơn La

Kế thừa và phát huy tinh thần của báo “ Suối Reo” năm xưa, tạp chí văn nghệ “Suối Reo” được đổi tên từ tạp chí Văn nghệ Sơn La từ tháng 02 năm 2003 đến nay hiện là cơ quan ngôn luận của Hội Văn học- Nghệ thuật tỉnh Sơn La, là nơi giới thiệu hoạt động sáng tạo của văn nghệ sỹ, là nơi để anh, chị, em hội viên rèn luyện, nâng cao chất lượng hoạt động sáng tạo, là tấm gương phản ánh chân thực nhất hoạt động của Hội Văn học- Nghệ thuật và hội viên

Sau những bước tiến có tính lịch sử Hội Văn học – Nghệ Thuật tỉnh Sơn La đã có bước bộ tiến trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Tạp chí “Suối Reo” luôn giữ vững định hướng hoạt động, bám sát các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân các dân tộc, giữ gìn phẩm chất của người làm công tác văn học nghệ thuật trước những biến động và khó khăn của cuộc sống Văn nghệ sỹ tỉnh nhà luôn hướng về cơ sở, thực tiễn công cuộc đổi mới của đất nước, của tỉnh để sáng tạo ra những tác phẩm văn học nghệ thuật phản ánh sự tiến bộ, thay đổi của cuộc sống mới, mang đậm

đà bản sắc văn hóa của các dân tộc góp phần giữ gìn, kế thừa và phát huy tinh hoa văn

Ngày đăng: 11/03/2014, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Văn Ân (sưu tầm và dịch) (2005), Mo kể chuyện đẻ đất, đẻ nước, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo kể chuyện đẻ đất, đẻ nước
Tác giả: Đinh Văn Ân (sưu tầm và dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (1999), Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới, Nxb Lý luận - chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb Lý luận - chính trị
Năm: 1999
3. Bác Hồ với đồng bào dân tộc (2006), Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với đồng bào dân tộc
Tác giả: Bác Hồ với đồng bào dân tộc
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2006
4. Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam (2002), Trang phục các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày - Thái, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang phục các tộc người thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt - Mường và Tày - Thái
Tác giả: Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
12. GS.TS, Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Tây Bắc thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: GS.TS, Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
13. Bộ Giáo dục – Đào tạo (2005), Giỏo trỡnh tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giỏo trỡnh tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Bộ Giáo dục – Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
15. Bộ Văn hóa - Thông tin (2002), Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Nxb Công ty in và văn hóa phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Nxb Công ty in và văn hóa phẩm
Năm: 2002
16. Bộ Văn hóa - Thông tin (2003), Văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Nxb Công ty in và văn hóa phẩm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác văn hóa - thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: Nxb Công ty in và văn hóa phẩm
Năm: 2003
17. Bộ Văn hóa - Thông tin (2004), Tiếp tục đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Kỷ yếu Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 2004
18. Bộ Văn hoá Thông tin (2004), Kỷ yếu báo Đảng địa phương, góp phần tuyên truyền và tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương V khóa VIII về"xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu báo Đảng địa phương, góp phần tuyên truyền và tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương V khóa VIII về "xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Bộ Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
20. Nông Quốc Chấn (1993), Dân tộc và văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc và văn hóa
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1993
21. Nông Quốc Chấn, Hoàng Tuấn Cư, Vi Hồng Nhân (1996), Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn, Hoàng Tuấn Cư, Vi Hồng Nhân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
22. Nông Quốc Chấn (chủ biên), Phan Đăng Nhật, Lâm Tiến, Dương Thuấn (1997), Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nông Quốc Chấn (chủ biên), Phan Đăng Nhật, Lâm Tiến, Dương Thuấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
23. Bùi Chỉ (2000), Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực dân gian Mường Hòa Bình
Tác giả: Bùi Chỉ
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
24. TS. Hoàng Đình Cúc, TS. Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: TS. Hoàng Đình Cúc, TS. Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
25. Hoàng Sơn Cường (1998), Lược sử văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Sơn Cường
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
26. Phan Hữu Dật (2004), Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
27. Đức Dũng (2003), Lý luận báo Phát thanh, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận báo Phát thanh
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2003
28. PGS.TS Đinh Xuân Dũng (2004), Mấy cảm nhận về văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy cảm nhận về văn hóa
Tác giả: PGS.TS Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
29. TS. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2001), Báo chí những điểm nhìn thực tiễn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn thực tiễn
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Khảo sát số lượng tin bài trên sóng phát thanh (2008-2009) - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 2.1 Khảo sát số lượng tin bài trên sóng phát thanh (2008-2009) (Trang 41)
Bảng 2.2: Khảo sát số lượng tin bài trên sóng truyền hình (2008-2009) - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 2.2 Khảo sát số lượng tin bài trên sóng truyền hình (2008-2009) (Trang 42)
Bảng 2.3: Khảo sát số lượng tin bài trên Báo Sơn La (2008-2009) - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 2.3 Khảo sát số lượng tin bài trên Báo Sơn La (2008-2009) (Trang 43)
Bảng 3.4: Vấn đề tuyên truyền những giá trị văn hóa truyền thống trên báo chí Sơn - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 3.4 Vấn đề tuyên truyền những giá trị văn hóa truyền thống trên báo chí Sơn (Trang 79)
Bảng 3.5: Theo quí vị báo chí Sơn La có cần phải xây dựng các chuyên mục, chuyên - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 3.5 Theo quí vị báo chí Sơn La có cần phải xây dựng các chuyên mục, chuyên (Trang 80)
Bảng 3.6: Vấn đề tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 3.6 Vấn đề tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số (Trang 82)
Bảng 3.8: Quí vị nhận xét nội dung và hình thức tuyên truyền - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 3.8 Quí vị nhận xét nội dung và hình thức tuyên truyền (Trang 83)
Bảng 3.9: Phóng viên có cần phải đi nâng cao kiến thức và tìm hiểu sâu về giá trị - báo chí với việc tuyên truyền giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số vùng tây bắc
Bảng 3.9 Phóng viên có cần phải đi nâng cao kiến thức và tìm hiểu sâu về giá trị (Trang 85)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w