1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bình luận, đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện

19 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 45,22 KB
File đính kèm 13-NGUYỄN THÙY DƯƠNG-1115080048-D15LK01.zip (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI KHOA LUẬT TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Lớp tín chỉ: D15LK01 Học kỳ 1 Năm học 20212022 Đề tài: Bình luận, đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thùy Dương Mã SV: 1115080048 Ngàythángnăm sinh: 15052001 Lớp niên chế: D15LK01 Họ và tên giảng viên: Ths. Vũ Hoàng Anh. HÀ NỘI 2021 MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 5 1. Khái niệm trả lại đơn khởi kiện 5 2. Đặc điểm của việc trả lại đơn khởi kiện 5 3. Điều kiện, căn cứ để trả lại đơn khởi kiện 6 CHƯƠNG 2: BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN 8 1. Phân tích quy định của BLTTDS năm 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự. 8 2. Thực tiễn về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự : Bản án 272017DSST ngày 13102017 về kiện tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. 11 3. Đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự. 12 3.1. Điểm mới: 12 3.2. Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trả lại đơn khởi kiện: 12 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Lớp tín chỉ: D15LK01 Học kỳ 1 Năm học 2021-2022

Đề tài:

Bình luận, đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi

kiện

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thùy Dương

Mã SV: 1115080048

Ngày/tháng/năm sinh: 15/05/2001

Lớp niên chế: D15LK01

Họ và tên giảng viên: Ths Vũ Hoàng Anh.

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO PHÁP

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 5

1 Khái niệm trả lại đơn khởi kiện 5

2 Đặc điểm của việc trả lại đơn khởi kiện 5

3 Điều kiện, căn cứ để trả lại đơn khởi kiện 6

CHƯƠNG 2: BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN 8

1 Phân tích quy định của BLTTDS năm 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự 8

2 Thực tiễn về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự : Bản án 27/2017/DSST ngày 13/10/2017 về kiện tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. 11

3 Đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự 12

3.1 Điểm mới: 12

3.2 Hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trả lại đơn khởi kiện: 12 KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

Quyền được khởi kiện vụ án dân sự là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo hộ Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25-11-2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016

đã cụ thể hóa quyền này

Mặc dù ghi nhận quyền khởi kiện, nhưng pháp luật cũng quy định chủ thể tiến hành khởi kiện phải thỏa mãn các điều kiện khởi kiện mới được tòa án tiến hành thụ lý giải quyết đơn kiện nhằm đảm bảo trật tự trong công tác pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo vụ việc được xét xử, giải quyết khách quan, công bằng Nếu không thỏa mãn điều kiện khởi kiện, điều kiện để được thụ lý, thuộc các trường hợp trả lại đơn khởi kiện thì Tòa án sẽ ra thông báo trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện Đây là quy định vừa đảm bảo quyền lợi cho các bên trong quan hệ tranh chấp, cũng đồng thời đảm bảo cho hoạt động giải quyết của Tòa án có hiệu quả, dứt khoát và triệt để

Trả lại đơn khởi kiện là bước rất quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện có

ý nghĩa rất lớn, góp phần đáng kể trong quá trình giải quyết vụ án một cách dễ dàng, tạo điều kiện cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách

kịp thời Vậy nên, em chọn đề tài “Phân tích và đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự” để hoàn thành bài tiểu luận.

Trang 5

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THEO PHÁP LUẬT TỐ

TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

1 Khái niệm trả lại đơn khởi kiện

Khởi kiện vụ án dân sự là việc người có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án có thẩm quyền xem xét, giải quyết và bảo vệ quyền lợi của mình trong vụ án dân sự Các

vụ án dân sự thường gặp là tranh chấp đất đai, hôn nhân gia đình, thừa kế, lao động, kinh doanh thương mại, vv…Người khởi kiện thể hiện các yêu cầu khởi kiện của mình thông qua đơn khởi kiện Đơn khởi kiện là văn bản, trong đó, đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền hoặc lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại

Khi nộp đơn khởi kiện đến Tòa án, thông qua quá trình tiếp nhận và xử lý đơn của Tòa án, đơn khởi kiện của người khởi kiện sẽ được thụ lý nếu thỏa mãn các quy định pháp luật về điều kiện và căn cứ thụ lý vụ án hoặc sẽ bị trả lại nếu không đáp ứng được các yêu cầu về điều kiện thụ lý đơn

Như vậy, trả lại đơn khởi kiện là việc Tòa án sau khi xem xét thụ lý vụ án đã trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện bởi thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lý vụ án Việc trả lại đơn khởi kiện trong tố tụng dân sự là hành vi của Thẩm phán Tòa án nhân dân khi được Chánh án Tòa án phân công xem xét đơn khởi kiện

2 Đặc điểm của việc trả lại đơn khởi kiện

- Thứ nhất, chủ thể trả lại đơn khởi kiện là Thẩm phán

Khi người khởi kiện gửi đơn khởi kiện tại Tòa án và được Tòa án tiếp nhận xử

lý đơn khởi kiện Căn cứ vào các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nếu đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án theo quy định Trường hợp ngược lại phải trả lại đơn khởi kiện căn cứ theo Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì trong thời hạn 03 ngày Chánh án phân công một Thẩm phán để xem xét đơn khởi kiện

Và thực tế hiện nay là các Chánh văn phòng – Thẩm phán của các Tòa án hiện nay được phân công xem xét đơn Như vậy, chủ thể trong trường hợp xem xét đơn không đủ các điều kiện để thụ lý thì người trực tiếp trả lại đơn, kèm theo các tài liệu chứng cứ kèm theo cho đương sự, thông qua Thông báo trả lại đơn khởi kiện và nêu rõ

lý do trả lại đơn khởi kiện trong thông báo để đương sự được biết Thông báo này sẽ được gửi cho người khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp để biết Trong thời hạn quy định người khởi kiện có quyền khiếu nại Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị đối với việc Thông báo trả lại đơn khởi kiện

Trang 6

- Thứ hai, chủ thể bị trả lại đơn khởi kiện là người khởi kiện.

Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện tại Tòa án và được Tòa án tiếp nhận đơn Trong trường hợp bị trả lại lại đơn khởi kiện thì chủ thể bị trả lại đơn khởi kiện hoặc người đại diện hợp pháp của họ Đối với đặc điểm này nếu thuộc trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện thì chính chủ thể khởi kiện là người khởi kiện bị trả lại đơn và hồ sơ kèm theo đơn khởi kiện

Trường hợp này Tòa án khi trả lại đơn và hồ sơ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện thì phải photo hồ sơ lại để dự phòng trường hợp giải quyết khiếu nại Khi người khởi kiện nhận lại đơn và hồ sơ kèm theo đơn khởi kiện được lập biên bản giao nhận giữa các bên để xác định thời hạn để người khởi kiện có quyền khiếu nại đối với quyết định trả lại đơn khởi kiện

- Thứ ba, người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án

Một đặc điểm khác của trả lại đơn khởi kiện là người khởi kiện có quyền khởi kiện lại vụ án được quy định cụ thể theo khoản 3, Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự

2015 Như vậy, trường hợp quy định để quyền lợi của người khởi kiện được bảo đảm

Vì tại thời điểm nộp đơn khởi kiện trước đó họ chưa đủ điều kiện để khởi kiện vụ án nên bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện Nhưng đến thời gian sau đó người khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện thì họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, thụ lý và giải quyết yêu cầu của mình

- Thứ tư, việc trả lại đơn khởi kiện bị khiếu nại bởi người khởi kiện và kiến nghị của Viện kiểm sát cùng cấp

Việc đương sự có quyền khiếu nại đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện

Để Tòa án xem xét lại đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện Để đảm bảo khách quan thì Chánh án phân công một Thẩm phán khác để mở phiên họp, có Viện kiểm sát

để xem xét lại đối với Thông báo trả lại đơn khởi kiện trước đó Đặc điểm này thể hiện

sự kiểm sát của Kiểm sát viên từ khâu tiếp nhận đơn khởi kiện và người khởi kiện thực hiện quyền khiếu nại của mình để Tòa án xem xét lại Thông báo trả lại đơn khởi kiện đúng hay sai Hạn chế được thời gian, công sức đi lại liên hệ của đương sự Từ những đặc điểm trên, cho thấy rằng việc trả lại đơn khởi kiện là một quá trình tố tụng Để Tòa

án xem xét từ khâu tiếp nhận đơn và thụ lý vụ án đảm bảo giải quyết đúng thẩm quyền

3 Điều kiện, căn cứ để trả lại đơn khởi kiện

Hoạt động xem xét đơn khởi kiện, ra quyết định trả lại đơn khởi kiện là một trong những hoạt động tố tụng của Tòa án được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự Để

có thể thực hiện việc trả lại đơn khởi kiện, thì Tòa án cần phải xem xét những điều kiện và áp dụng những căn cứ mà pháp luật cho phép

Trang 7

Điều kiện để Tòa án trả lại đơn khởi kiện là đơn khởi kiện thuộc các trường hợp trả lại đơn mà pháp luật có quy định như người khởi kiện không thỏa mãn yêu cầu về chủ thể khởi kiện, nội dung và hình thức của đơn khởi kiện không đảm bảo đúng quy định pháp luật; qua xem xét nội dung đơn khởi kiện cho thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, hoặc người khởi kiện không thực hiện theo đúng các yêu cầu của Tòa án đối với việc sửa chữa, bổ sung đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí cho yêu cầu khởi kiện của mình hoặc người khởi kiện tự nguyện rút đơn khởi kiện

Sau khi xem xét, đánh giá đơn khởi kiện của người người kiện thì căn cứ để thực hiện việc trả lại đơn khởi kiện chính là các quy định pháp luật về trả lại đơn khởi kiện được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền, các hoạt động trả lại đơn, xử lý hậu quả đối với việc trả lại đơn khởi kiện

Trang 8

CHƯƠNG 2 BÌNH LUẬN, ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS NĂM 2015 VỀ TRẢ

LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN

1 Phân tích quy định của BLTTDS năm 2015 về Trả lại đơn khởi kiện vụ

án dân sự.

Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện được quy định tại điều 192 BLTTDS

2015, cụ thể như sau:

a Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trừ

trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn đương sự có quyền khởi kiện lại như: ly hôn, thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện

b Hết thời hạn quy định tại khoản 2 điều 195 của BLTTDS 2015 mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án; trừ trường hợp người khởi

kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan,

sự kiện bất khả kháng Đây là những trường hợp thẩm phán được phân công xem xét đơn đã chấp nhận đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí nhưng quá thời hạn 7 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ, người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án mà không thuộc trường hợp có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng

c Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại điều 186 và điều

187 BLTTDS 2015 hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Theo đó, theo

Điều 2 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, người khởi kiện không có quyền khởi kiện được hiểu là:

- Người khởi kiện không khởi kiện nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc cơ quan, tổ chức mà mình là người đại diện hợp pháp hoặc của cá nhân khác, công cộng và Nhà nước

- Người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng

tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự

d Chưa có đủ điều kiện là trường hợp các đương sự có thỏa thuận trước hoặc pháp luật có quy định về các điều kiện để khởi kiện (kể cả quy định về hình thức, nội

dung đơn khởi kiện) nhưng đương sự đã khởi kiện khi còn thiếu 1 trong số các điều kiện đó Chẳng hạn như theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì các tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải cơ sở Như vậy, trước khi khởi

Trang 9

kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai thì người khởi kiện phải chủ động gửi đơn đến

Uỷ ban nhân dân xã để đề nghị giải quyết và hào giải ở cơ sở nếu chưa qua thủ tục hòa giải ở cơ sở thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện với căn cứ chưa đủ điều kiện khởi kiện Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án

e Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Đây là trường hợp nội

dung đơn yêu cầu giải quyết không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS 2015 Việc trả lại đơn khởi kiện khi vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là trường hợp theo quy định của pháp luật vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức khác

f Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Đây là trường hợp đã nhận được yêu cầu về bổ

sung đơn khởi kiện của thẩm phán nhưng họ không tiến hành sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều 193 BLTTDS 2015 Theo quy định tại khoản 1 điều 189 BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện đơn khởi kiện phải có các nội dung chính quy định tại khoản 4 điều BLTTDS, nếu thiều 1 trong các nội dung chính này thì thẩm phán yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện Nếu không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 điều 193 BLTTDS 2015

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không

có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa

vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

“Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS được xác định như sau: theo Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn Khoản 1, 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về trả lại

Trang 10

đơn khởi kiện và hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao:

 Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú, tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;

 Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

 Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hoặc theo quy định của pháp luật nước, vùng lãnh thổ nơi họ đang cư trú;

 Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức

có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật;

Trường hợp cơ quan, tổ chức có quốc tịch nước ngoài thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp hoặc theo pháp luật nơi cơ quan, tổ chức đó có quốc tịch

Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ,cụ thể địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định tại điểm đ, e khoản 4 Điều

189 BLTTDS thì Tòa án phải thụ lý vụ án

Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người

bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng sau khi thụ lý vụ án Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ đúng của họ Trường hợp nguyên đơn đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không cung cấp được đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ đúng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật Tòa án đã tiến hành thu thập, xác minh theo yêu cầu của nguyên đơn nhưng vẫn không xác định được đúng địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa

án áp dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLLTTDS để đình chỉ giải quyết vụ

án dân sự, trừ những trường hợp sau đây:

 Trường hợp người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người

bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú

ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú mà sau 24 tháng kể từ ngày chuyển đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú mà không làm thủ tục thay đổi nơi đăng

Ngày đăng: 13/10/2022, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Tố tụng dân sự, Nxb.CAND, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng dân sự
Nhà XB: Nxb.CAND
[4] Học viện tư pháp, Giáo trình luật Tố tụng dân sự, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng dân sự
Nhà XB: Nxb. CAND
[6] Lê Thị Duyên, “ Trả lại đơn khởi kiện theo pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam”, Trường Đại học Trà Vinh, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả lại đơn khởi kiện theo pháp luật Tố tụng dân sựViệt Nam
[1] Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Quốc hội, 2011 Khác
[5] Bản án 27/2017/DSST ngày 13/10/2017 về kiện tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, Tòa án nhân dân Huyện Krông Pắc - Đăk Lăk, ngày ban hành:13/10/2017 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w