TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOA LUẬT o0o BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ Đề tài 01 Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam Bài tập nhóm 1 Lớ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-o0o -BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ
Đề tài 01: Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn hoạt động tương trợ tư
pháp hình sự của Việt Nam
Bài tập nhóm 1 Lớp:
Hà Nội, 10/2022
Mục lục
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ _4 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
A.Một số vấn đề pháp lý về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam: _4
I.Lý luận về tương trợ tư pháp hình sự: _4 1.Khái niệm, đặc điểm tương trợ tư pháp hình sự: _4 2.Nguyên tắc về tương trợ tư pháp hình sự: 5 3.Nội dung tương trợ tư pháp hình sự: 6 4.Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp hình sự: 6 II.Tương trợ tư pháp hình sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
và pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự: 7 1.Điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam là thành viên: _7 2.Điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam
là thành viên: 8 3.Pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự: _9
B Thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam: 10
I.Thực tiễn thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam: _10 III.Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tiễn trong hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam: 11
KẾT LUẬN: 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: _13
Trang 3Đề tài 01: Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp
hình sự của Việt Nam
Bài làm
ĐẶT VẤN ĐỀ
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A.Một số vấn đề pháp lý về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam:
I.Lý luận về tương trợ tư pháp hình sự:
1.Khái niệm, đặc điểm tương trợ tư pháp hình sự:
Khái niệm:
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận pháp luật và thực tiễn tư pháp của Việt Nam
và một số nước về tương trợ tư pháp có thể khái quát chung về tương trợ tư pháp
hình sự như sau: Tương trợ tư pháp về hình sự là việc các quốc gia giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong việc điều tra, truy tố hoặc các thủ tục tố tụng khác trong các vấn
đề về hình sự thông qua các cơ quan có thẩm quyền của mỗi quốc gia trên cơ sở điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà các quốc gia ký kết hoặc tham gia hoặc nguyên tắc “có đi có lại”.
Đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về nguyên
tắc đều do pháp luật của mỗi quốc gia quy định Pháp luật Việt Nam quy định các cơ quan thực hiện tương trợ tư pháp bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Bộ Công an, Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
và một số cơ quan khác có liên quan Phía nước ngoài cũng có các cơ quan có thẩm quyền tương ứng được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia.
Thứ hai, về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, bao gồm các hành vi tố
tụng riêng biệt do các bên thỏa thuận hợp tác giúp đỡ lẫn nhau Điều này cũng đồng nghĩa với bản chất của vấn đề tương trợ tư pháp là việc hỗ trợ cho nhau trong thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt như tống đạt giấy tờ, thực hiện ủy thác điều tra, thu thập chứng cứ, dẫn độ tội phạm, thi hành án
Thứ ba, cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốc tế
(song phương hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liên quan
về tương trợ tư pháp Điều ước quốc tế giữa các nước liên quan về tương trợ tư pháp được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thì tương
Trang 4trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thực hiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc “có đi có lại” được nhiều nước áp dụng phổ biến
Thứ tư, mục đích của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của các quốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế, tội phạm
có tính chất quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nước ta và các quốc gia hữu quan
2.Nguyên tắc về tương trợ tư pháp hình sự:
Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia luôn phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia
Vì vậy, tương trợ tư pháp nói chung và tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng cũng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này bao gồm:
Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của các quốc gia
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế
Nguyên tắc bảo đảm mục đích hợp tác
Nguyên tắc định danh kép
Song song với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tương trợ tư pháp về hình sự còn phải tuân theo những nguyên tắc được quy định trong pháp luật quốc gia Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật tương trợ tư pháp năm 2007 đã quy định một số nguyên tắc đối với tương trợ tư pháp nói chung và tương trợ tư pháp hình sự nói riêng như sau:
Thứ nhất, tương trợ tư pháp về hình sự phải phù hợp với Hiến pháp, pháp
luật của Việt Nam: Đây là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình hợp tác trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho tương trợ tư pháp luôn tuân thủ chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đảm bảo tôn trọng những quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi nước
Thứ hai, tương trợ tư pháp về hình sự phải phù hợp với điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên: Để đảm bảo yêu cầu chính trị, đối ngoại và phòng, chống tội phạm; hài hòa hóa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, Việt Nam
đã ký kết, tham gia các điều ước quốc tế đa phương và các hiệp định song phương
về tương trợ tư pháp hình sự
Trang 5Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc
“có đi có lại” “Có đi có lại” là một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng và phổ biến Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ dành sự đối xử một cách tương xứng với những gì quốc gia kia dành cho quốc gia mình Nguyên tắc "có đi có lại" được áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ khi giữa các quốc gia đó chưa ký kết điều ước quốc tế song phương, hoặc không cùng tham gia điều ước quốc tế đa phương nhưng có yêu cầu hợp tác trong lĩnh vực nào đó
Các nguyên tắc trên đây luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo
cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của công dân, góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia
3.Nội dung tương trợ tư pháp hình sự:
Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự là toàn bộ những vấn đề liên quan đến việc thực hiện tương trợ tư pháp hình sự, được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia cũng như các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên Việc quy định rõ nội dung tương trợ tư pháp về hình sự giúp cho các quốc gia xác định đúng thẩm quyền tương trợ tư pháp của mình, từ đó thực hiện hoạt động này một cách hiệu quả, đúng pháp luật
Pháp luật Việt Nam quy định khá cụ thể về nội dung tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm các hoạt động như: tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến
vụ án, triệu tập người làm chứng, người giám định, dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ; thu thập, cung cấp chứng cứ; truy cứu trách nhiệm hình sư, trao đổi thông tin và một số hoạt động khác như nhận dạng hoặc xác định nơi ở, trả lại tài sản hoặc phân chia tài sản do phạm tội mà có Đây
là những nội dung quan trọng của tố tụng hình sự
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng như các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ có đầy đủ chứng cứ, tài liệu cũng như thông tin cụ thể hơn để giải quyết một vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam hoặc ngược lại Xuất phát từ chủ quyền quốc gia, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không thể thực hiện các hoạt động trên nếu không có
sự hợp tác, trợ giúp của các cơ quan có thẩm quyền của nước liên quan vì nó vượt khỏi phạm vi về thẩm quyền tài phán quốc gia của Việt Nam
4.Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp hình sự:
Tương trợ tư pháp về hình sự có vai trò quan trọng không chỉ với mỗi quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế:
Trang 6Thứ nhất, tương trợ tư pháp về hình sự góp đấu tranh phòng chống tội
phạm nói chung, tội phạm có yếu tố nước ngoài nói riêng.Thông qua tương trợ tư pháp về hình sự góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài
Thứ hai, tương trợ tư pháp về hình sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân mỗi quốc gia Tội phạm nếu không được các quốc gia hợp tác để trừng trị sẽ kéo theo những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho cộng đồng quốc tế, trong
đó có những thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của riêng mỗi công dân Vì vậy, tương trợ tư pháp hình sự là yếu tố quan trọng trong việc bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong mỗi quốc gia
Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự góp phần giữ vững an ninh quốc gia.
Trước tình hình tội phạm ngày càng phức tạp với phạm vi hoạt động trên toàn cầu, an ninh quốc gia sẽ dễ dàng bị xâm hại Đặc biệt là với Việt Nam, khi các quy định của pháp luật còn lỏng lẻo là cơ hội cho tội phạm từ các nước khác xâm nhập, ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh quốc gia Vì vậy, tương trợ tư pháp là hoạt động không thể thiếu để ngăn chặn tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia
Thứ tư, tương trợ tư pháp hình sự thúc đẩy mối quan hệ giữa các quốc gia.
Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng
có lợi giữa các nước, thông qua đó, các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức thực hiện công tác này có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm, mở rộng sự hiểu biết
về công tác chuyên môn Điều đó là hoàn toàn cần thiết và có lợi cho công cuộc hội nhập quốc tế, củng cố và nâng cao vai trò và vị thế của các cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia trên trường quốc tế
II.Tương trợ tư pháp hình sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự:
1.Điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam là thành viên:
Khái niệm
Điều ước quốc tế đa phương là điều ước quốc tế có từ 3 nước hoặc tổ chức quốc tế trở lên ký kết hoặc tham gia
Đặc điểm
Trang 7Nhìn chung các quy định về tương trợ tư pháp hình sự đượcghi nhận trong các công ước đều có tính chất chung, định hướng các nguyên tắc hợp tác về tương trợ tư pháp, chứ không có các quy định có tính chuyên môn, cụ thể
Ví dụ: Trong khuôn khổ hợp tác đa phương khu vực, Việt Nam là thành viên của hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN năm 2004
Đây là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự giữa các quốc gia ASEAN Đến nay, tất cả các nước thành viên ASEAN đã là thành viên của Hiệp định này
Mục đích của Hiệp định là tạo ra một công cụ pháp lý chung cho các nước ASEAN trong việc phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Hiệp định được xây dựng theo sáng kiến của Malaysia, gồm 32 điều quy định những vấn đề liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự như lĩnh vực và hình thức tương trợ, hợp tác trong vấn đề thu nhập chứng cứ, tống đạt giấy tờ, thủ tục xác minh, phong toả, thu giữ tài sản
do phạm tội mà có,
Bên cạnh các nội dung điều chỉnh nêu trên, Hiệp định còn qui định những nội dung cụ thể khác về thu thập chứng cứ và quyền từ chối cung cấp chứng cứ,
về tịch thu và tương trợ trong tịch thu tài sản, tiền bạc, vấn đề chi phí tương trợ tư pháp, vấn đề đảm bảo sự có mặt của một người tại quốc gia yêu cầu và các vấn đề thủ tục khác
Sự ra đời của Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự ASEAN là một bước tiến quan trọng và đầy ý nghĩa trong hợp tác quốc tế đấu tranh chống tội phạm có tính quốc tế ở khu vực trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Để đạt được mục đích nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, các quốc gia thành viên ASEAN cần gạt bỏ các trở ngại và bất đồng, tiếp tục tìm kiếm sự đồng thuận để tiến tới kí kết các hiệp định đa phương khu vực về dẫn độ tội phạm và chuyển giao người bị kết án trong tương lai, đảm bảo một ASEAN vững mạnh, ổn định
và đoàn kết trong tiến trình hướng tới xây dựng một khu vực ASEAN thịnh vượng và hạnh phúc
2.Điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp hình sự mà Việt Nam
là thành viên:
Khái niệm:
Trang 8Điều ước quốc tế song phương là điều ước quốc tế có hai nước hoặc tổ chức quốc tế kỷ kết Hiệp định tương trợ tư pháp song phương giữa Việt Nam với các nước là loại điều ước quốc tế khá phổ biến trong lĩnh vực tương trợ tư pháp Tính đến 2018 có 21 hiệp định có quy định về tương trợ tư pháp về Hình sự với các nước
Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc, kí ngày 15/9/2003
Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ailen về tương trợ tư pháp về hình sự, kí ngày 13/01/2009
Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa In-đô-nê-xi-a, kí ngày 27/6/2013
Nội dung:
Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền tương trợ tư pháp hình sự: Hầu hết các
Hiệp định tương trợ tư pháp đều quy định Tòa án, Viện kiểm sát và các cơ quan khác có thẩm quyền về hình sự của mỗi nước sẽ tương trợ nhau trong việc giải quyết các vấn đề về hình sự Phía Việt Nam có thể là Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phía nước ngoài là Bộ Nội
vụ, Bộ Tư pháp hoặc Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Thứ hai, về phạm vi tương trợ tư pháp: Các hiệp định đều quy định tương
trợ tư pháp về hình sự bao gồm các hoạt động như thu thập chứng cứ hoặc lấy lời khai; cung cấp thông tin, tài liệu, hồ sơ và vật chứng; nhận dạng hoặc xác định nơi ở của người, nơi có đồ vật; tống đạt giấy tờ; thực hiện yêu cầu khám xét và thu giữ
Thứ ba, các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp: Theo
quy định của các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có thể từ chối tương trợ tư pháp về hình sự trong trường hợp việc thực hiện yêu cầu của bên ký kết yêu cầu có thể làm tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia, chế độ nhà nước, trật tự xã hội, hoặc trái với pháp luật trong nước của bên ký kết được yêu cầu hoặc cơ quan được yêu cầu của một bên ký kết không có thẩm quyền thực hiện yêu cầu, cũng như không thể chuyền giao yêu cầu này cho bất
kỳ cơ quan có thẩm quyền nào khác
Trang 9Thứ tư, áp dụng pháp luật trong hoạt động tương trợ tư pháp: khi thực hiện
ủy thác tư pháp, cơ quan tư pháp của nước ký kết được yêu cầu áp dụng pháp luật của nước mình Trong trường hợp có đề nghị của cơ quan tư pháp của nước ký kết yêu cầu, cơ quan tư pháp của nước ký kết được yêu cầu có thể áp dụng pháp luật của nước ký kết yêu cầu, nếu pháp luật được áp dụng không trái với pháp luật của nước ký kết được yêu cầu
Thứ năm, hình thức tương trợ tư pháp về hình sự: Tương trợ tư pháp về
hình sự được thực hiện thông qua ủy thác tư pháp bằng văn bản Nội dung của văn bản được quy định cụ thể trong từng hiệp định tương trợ tư pháp, trừ trường hợp Bên được yêu cầu chấp nhận yêu cầu tương trợ bằng hình thức khác trong các trường hợp khẩn cấp
Thứ sáu, các hiệp định còn quy định chi phí tương trợ tư pháp về hình sự.
Theo đó, bên được yêu cầu phải chịu chi phí tương trợ, trừ một số chi phí do bên yêu cầu chịu như: lệ phí và chi phí chuyên gia, dịch tài liệu; các chi phí gắn với việc chuyên chở các nhân viên dẫn giải hoặc hộ tống
3.Pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp hình sự:
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng dành một chương riêng để quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hình sự Trong đó quy định phạm vi, nguyên tắc hợp tác, cơ quan có thẩm quyền hợp tác và một số hoạt động hợp tác quốc tế cụ thể
Đặc biệt, việc tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự phải tuân thủ Luật tương trợ tư pháp năm 2007, có hiệu lực từ ngày 01/7/2008 Luật gồm 7 chương với 71 điều, trong đó bao gồm những quy định chung quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, áp dụng pháp luật, nguyên tắc tương trợ
tư pháp , ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp, uỷ thác tư pháp và hình thức thực hiện tương trợ tư pháp, hợp pháp hóa lãnh sự và việc công nhận giấy tờ, tài liệu
uỷ thác tư pháp
Chương 3 của Luật Tương trợ Tư pháp 2007 quy định riêng phần hoạt động Tương trợ Tư pháp Hình sự về các vấn đề như: phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự; hồ sơ uỷ thác về hình sự; văn bản uỷ thác tư pháp về hình sự; yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện uỷ thác tư pháp
về hình sự cho nước ngoài; thủ tục tiếp nhận và xử lý uỷ thác tư pháp về hình sự của nước ngoài; tống đạt giấy triệu tập người làm chứng, người giám định; dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ; cung cấp thông
Trang 10tin; việc sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự; yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, giao nộp hồ sơ, vật chứng của vụ án cho nước ngoài; xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam tại Việt Nam; thực hiện uỷ thác tư pháp của nước ngoài về điều tra đối với công dân nước ngoài tại Việt Nam; chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam
B Thực tiễn hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam:
I.Thực tiễn thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam:
Theo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp hình sự), từ thời điểm Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 có hiệu lực thi hành
(ngày 01/7/2008) đến nay, Việt Nam đã tiếp nhận 18 yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của các quốc gia ASEAN, trong đó có 03 yêu cầu của Campuchia, 06 yêu cầu của Lào, 02 yêu cầu của Malaysia, 02 yêu cầu của Singapore và 05 yêu cầu của Thái Lan Các yêu cầu của nước ngoài đều được các cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam; 03 yêu cầu mới tiếp nhận thời gian gần đây vẫn đang tiến hành thực hiện
Ở chiều ngược lại, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã lập và gửi
196 yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự đến các quốc gia ASEAN, trong đó có 31 yêu cầu gửi Campuchia, 06 yêu cầu gửi Indonesia, 107 yêu cầu gửi Lào, 26 yêu cầu gửi Malaysia, 05 yêu cầu gửi Philippines, 06 yêu cầu gửi Singapore và 15 yêu cầu gửi Thái Lan Tỷ lệ yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của Việt Nam được các
quốc gia khác trong ASEAN thực hiện xong hoặc thực hiện một phần chỉ đạt khoảng 60% Việc này xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu như sau:
Hiện nay, Việt Nam chỉ có 02 điều ước quốc tế song phương về tương trợ
tư pháp hình sự với Lào và Indonesia, do vậy, tỷ lệ thực hiện tương trợ tư pháp hình sự của 02 quốc gia này cho Việt Nam thường đạt cao (tỷ lệ yêu cầu tương trợ
tư pháp hình sự của Việt Nam được các cơ quan có thẩm quyền của Lào giải quyết lên đến gần 90%) Đối với các quốc gia còn lại, yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế đa phương, tuy nhiên, các điều ước quốc tế này chưa thực sự là công cụ pháp lý giúp hài hòa hóa có hiệu quả pháp luật trong nước của các quốc gia thành viên trong lĩnh vực tương trợ tư pháp hình sự, dẫn đến hiệu quả thực hiện không cao