1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc nước ta

79 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Vấn đề Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 660,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nêu một số công trình của các tác giả sau: "Một số vấn đề văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" của Trần Thị Hồng Loan, Tạp chí Triết học, số tháng 6/ 2002; cá

Trang 1

LUẬN VĂN:

Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi

trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc

miền núi phía Bắc nước ta

Trang 2

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng: tự nhiên - xã hội - con người là một chỉnh thể thống nhất Con người là một bộ phận của tự nhiên, con người và xã hội loài người chỉ có thể tồn tại và phát triển được trong mối quan hệ mật thiết và gắn bó hài hòa với môi trường tự nhiên Môi trường sống vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển; vừa là nơi diễn ra các hoạt động như: lao động, nghỉ ngơi, hưởng thụ, cảm nhận văn hóa và thẩm mỹ mang tính đặc trưng của con người với tư cách là một thực thể sinh học - xã hội Nói cách khác, ý nghĩa đặc biệt quan trọng - không thể thay thế - của môi trường đối với con người và

xã hội loài người là ở chỗ, nó không chỉ là nguồn cung cấp các giá trị vật chất, mà còn tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần Tuy nhiên, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng nhận thức một cách tự giác và đầy đủ những ý nghĩa, vai trò của môi trường sinh thái đối với cuộc sống Do hàng loạt những lý do khác nhau, cả khách quan và chủ quan, con người - một cách vô tình hay hữu ý, đã và đang hủy hoại ngày càng nhiều hơn môi trường sống của mình Tính nghiêm trọng của vấn đề này đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, khu vực: trở thành một trong những vấn đề mang tính toàn cầu Trước những hồi chuông cảnh tỉnh về nguy

cơ khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái đã dóng lên, nếu con người không sớm có những biện pháp tích cực nhằm điều chỉnh có ý thức những hành vi, hoạt động của mình theo hướng "thân thiện" môi trường chắc chắn sẽ phải trả giá đắt và mọi sự hối hận, tiếc nuối - khi đó sẽ trở nên quá muộn màng

Mặc dù mới đang bước vào chặng đường đầu của quá trình "tăng tốc", đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội, song Việt Nam đã phải đối mặt với những thách thức

to lớn về mặt môi trường sinh thái Tất nhiên, khía cạnh nổi trội, tính chất và mức độ của các vấn đề môi trường biểu hiện khác nhau trên mỗi vùng lãnh thổ khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là khu vực miền núi phía Bắc Do những đặc điểm tự nhiên điển hình (chiếm diện tích lớn, địa hình nghiêng dần về phía đông và bị chia cắt mạnh…), có thể nói rằng môi trường miền núi phía Bắc nước ta có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng,

Trang 3

không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này, mà còn liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các vùng hạ lưu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, trong

đó có Thủ đô Hà Nội Thực tế cho thấy, sự phát sinh cũng như tính chất nghiêm trọng của hàng loạt vấn đề liên quan đến môi trường sống ở khu vực miền núi phía Bắc đã tiệm cận đến mức báo động đỏ Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó được xác định là do trình độ dân trí còn thấp, người dân ở các vùng này đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề của những phong tục, tập quán, lối sống cũ, lạc hậu không còn phù hợp và những áp lực mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại vừa mới thâm nhập vào đây ý thức, tư tưởng của người dân chưa theo kịp với những thay đổi cơ bản trong các điều kiện kinh tế - xã hội, trong đó đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường (hay còn được gọi là ý thức sinh thái) Điều này được biểu hiện cụ thể ở những hành vi ứng xử không còn phù hợp của con người đối với môi trường sống xung quanh mình Có thể khẳng định rằng, mọi

sự cố gắng để cải thiện, bảo vệ môi trường sống ở miền núi phía Bắc sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn, chừng nào còn chưa tạo ra được sự chuyển biến tích cực, cách mạng trong nhận thức của người dân Bởi vì, Ph Ăngghen đã nhận xét: Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động, đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ Điều đó cho thấy,

việc nghiên cứu: Vấn đề xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các

dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay để hướng đến một sự phát triển bền vững là

rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận, lẫn phương tiện thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường trở thành vấn đề chung của toàn cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo khoa học ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường đã được tiến hành, nhiều tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi trường được xây dựng, triển khai hoạt động

ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh

Trang 4

công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với sự ra đời của Luật bảo vệ môi trường (năm 1993), hàng loạt văn bản dưới luật liên quan đến vấn đề này được ban hành và tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước Đặc biệt, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường được tổ chức lần thứ nhất vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác, các nhà khoa học và lãnh đạo Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của nó, đề xuất

những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy ra Chỉ thị về "Tăng

cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Bộ

Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 6/1998 đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường ở nước ta

Ngoài ra, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về môi trường được đăng tải dưới các hình thức bài tạp chí, sách chuyên khảo Có thể kể đến một số công trình của

các tác giả sau: "Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp" của Phạm Thị Ngọc Trầm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997; "Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự

phát triển xã hội" của tập thể tác giả do Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội,

2001; "Môi trường và ô nhiễm" của Lê Văn Khoa, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995; "Sinh

thái và môi trường" của Nguyễn Văn Tuyên, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997

Các công trình trực tiếp bàn đến những vấn đề môi trường của khu vực miền núi

phía Bắc hầu như còn rất ít Có thể nêu một số công trình của các tác giả sau: "Một số

vấn đề văn hóa sinh thái ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay" của Trần Thị Hồng Loan,

Tạp chí Triết học, số tháng 6/ 2002; các báo cáo khoa học của Hoàng Hữu Bình về "Các

tộc người miền núi phía Bắc Việt Nam với môi trường", của Lê Trọng Cúc về "Hiện trạng và giải pháp phát triển vùng núi phía Bắc Việt Nam", của Vương Duy Quang về

"Quan hệ xã hội truyền thống của người H'Mông với vấn đề bảo vệ và phát triển vùng

núi cao phía Bắc Việt Nam" (Được đăng tải trong "Tuyển tập các báo cáo khoa học tại

Hội nghị môi trường toàn quốc 1998", Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999)

Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến môi trường miền núi phía Bắc Việt Nam được tiếp cận và giải quyết dưới góc độ kinh tế - xã hội hơn là từ một góc độ có tính khái

Trang 5

quát, toàn diện hơn, góc độ triết học - xã hội Hơn nữa, một mảng rất quan trọng của vấn

đề trên là ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc hiện nay như thế nào, có đáp ứng được yêu cầu không còn chưa được nghiên cứu đầy

đủ, hệ thống Có thể nói, mọi hậu quả về mặt môi trường sinh thái ngày nay, xét đến cùng, là do sự kém hiểu biết của con người gây ra Từ đó suy ra, mọi sự cố gắng và nỗ lực của con người nhằm giải quyết vấn đề này chỉ đạt hiệu quả đích thực và thành công khi tất cả họ - không trừ một ai - thực sự có ý thức tham gia bảo vệ môi trường sinh thái

Vì vậy, góp phần vào việc giải quyết vấn đề môi trường sinh thái ở vùng núi phía Bắc từ khía cạnh xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc khu vực này là cần thiết Đó cũng là lý do chủ yếu để chúng tôi chọn và triển khai đề tài này trong luận văn thạc sĩ triết học của mình

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích:

Từ bình diện triết học xã hội, luận văn làm rõ thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời đưa ra một số giải pháp cơ bản, có tính định hướng đối với việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho đồng bào các dân tộc ở vùng lãnh thổ này

- Nhiệm vụ: Với mục đích trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau:

+ Một là, dựa trên quan điểm mác-xít về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã

hội và ý thức xã hội, luận văn phân tích và làm rõ ý nghĩa, tính tất yếu của việc xây dựng

ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

+ Hai là, phân tích thực trạng ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc

nước ta trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó

+ Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi

trường sinh thái cho đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc

Trang 6

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài vấn đề xây dựng thức

bảo vệ môi trường trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là xây dựng ý thức bảo

vệ môi trường của đồng bào các dân tộc vùng núi phía Bắc

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở những quan điểm của

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng về vấn đề môi trường sống; đồng thời có sự kế thừa kết quả nghiên cứu điều tra của các nhà khoa học đi trước có liên quan đến đề tài luận văn

- Phương pháp nghiên cứu: Để giải quyết các nhiệm vụ của luận văn, qua đó đạt

được mục đích đã đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, lôgic

và lịch sử, đối chiếu, so sánh trên cơ sở phép biện chứng duy vật

6 Đóng góp mới của luận văn

- Thông qua việc phân tích những vấn đề môi trường đặt ra, luận văn góp phần làm rõ thêm sự yếu kém trong ý thức của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đối với yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó

- Luận văn góp phần xác định và luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương 6 tiết

Trang 7

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về môi trường

và ý thức bảo vệ môi trường

1.1 Môi trường và vai trò của nó đối với cuộc sống của con người

1.1.1 Khái niệm về môi trường

Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu Một trong số đó là vấn đề môi trường sống Những tình trạng đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường sống, suy giảm tính đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái đang đe dọa trực tiếp sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người Vì vậy, nhiều tổ chức quốc

tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học trên khắp thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục gia tăng theo chiều hướng xấu của những vấn đề môi trường

Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng, đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp Chính vì vậy, tùy thuộc vào cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung quanh

và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự

đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan Môi trường hiểu theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất

và những điều kiện bao quanh trái đất Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và thạch quyển (địa quyển)

Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới

vật chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển Môi trường

Trang 8

sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể

Thứ ba, môi trường sống còn được hiểu là môi trường sống của con

người và xã hội loài người Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội Nói cách khác, đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên - người hóa, môi trường sinh thái nhân văn

Trên thực tế, cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, cả trên thế giới và ngay tại Việt Nam, bàn đến các khía cạnh của vấn đề này và đề xuất những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm môi trường Năm 1981, Tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm

này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo,

trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình ở nước

ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau, cũng đã đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có ý kiến cho rằng, đứng về mặt địa sinh học thì "môi trường là tất cả các yếu tố chung quanh, bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh sản của các sinh vật" Song, tác giả của quan điểm trên cũng nhấn mạnh rằng, đối với "môi trường của con người" thì cần phải được hiểu theo nghĩa rộng hơn Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên

và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm

và những hội môi trường văn hóa trong đó con người sống và khai thác bằng lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người [xem: 23, tr 7]

Cũng có ý kiến cho rằng, môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh gồm

vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người, đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống Môi trường bao gồm hai mặt: Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội [xem: 46, tr 142]

Trang 9

Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại nhấn

mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong môi trường

đó Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm tất cả những gì

ở xung quanh một đối tượng và có mối quan hệ nhất định với nó Nếu đối tượng

đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó Ngược lại,

cơ thể đó cũng luôn tác động trở lại đến môi trường Vì vậy, cơ thể sống và môi trường có mối quan hệ qua lại với nhau, tạo thành một thể thống nhất [xem: 13,

tr 240-245] Một quan niệm khác cho rằng: "Môi trường là một tập hợp các điều kiện vật lý và sinh học bên ngoài mà sinh vật tồn tại trong đó Môi trường của con người bao gồm cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, công nghệ, kinh tế chính trị, đạo đức, văn hóa, lịch sử và mỹ học" [42, tr 16]

Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học xã hội, theo chúng

tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: Môi trường là một khái

niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh một thực thể (sinh thể) hay một nhóm thực thể nào đó, giữa những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn tại những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Đối với con người và

xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà còn bao gồm cả các điều kiện xã hội Như vậy, nói đến bảo vệ môi trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của con người

và xã hội loài người Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai mặt: là một thực thể tự nhiên có những nhu cầu sống như mọi sinh vật khác, đồng thời là một thực thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên

Tóm lại, có thể thấy rằng, khái niệm môi trường sống của con người và

xã hội loài người rất rộng, trong đó bao hàm cả các điều kiện tự nhiên lẫn những điều kiện xã hội Thực tế, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ sống bằng những nhu cầu mang tính bản năng tự nhiên, hơn thế, còn tồn tại, phát triển trong hàng loạt mối quan hệ xã hội đa dạng và phong phú Tuy nhiên, với phạm

Trang 10

và chủ yếu giới hạn ở khía cạnh các điều kiện tự nhiên Nói cách khác, với tư

cách là một khái niệm công cụ, khái niệm môi trường được sử dụng trong luận văn chủ yếu theo nghĩa là môi trường tự nhiên

1.1.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người và xã hội loài người

Như chúng ta đã biết, tự nhiên, con người và xã hội là các yếu tố thống nhất trong một chỉnh thể không tách rời Trong hệ thống đó, khó có thể xác định rằng yếu tố nào là quan trọng nhất Trên thực tế, mỗi yếu tố đều có vị trí và vai trò nhất định Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và

tự nhiên, yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loài người Trái lại, sự tác động của các yếu tố con người và xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối với sự biến đổi, chiều hướng biến đổi (tích cực hay tiêu cực, phù hợp hay không phù hợp với quy luật khách quan) của tự nhiên Và do vậy, sự tác động của con người và xã hội đến tự nhiên còn quyết định luôn cả sự tồn tại, phát triển của chính bản thân mình

Có thể hiểu một cách khái quát rằng, "tự nhiên là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội" [39, tr 68]

Đối với con người và xã hội loài người, môi trường tự nhiên có một giá trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất

và tinh thần do sự lao động đó tạo nên Theo sự phân tích, đánh giá của UNESCO, môi trường tự nhiên - đối với con người - có ba chức năng cơ bản:

Thứ nhất, môi trường tự nhiên là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần

thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người

Trang 11

Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục vụ

cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần cho con người

Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả

của các hoạt động đó [xem: 23, tr 7]

Thực tế cho thấy, con người muốn tồn tại và phát triển không thể không cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánh sáng, không khí, thức ăn Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếu không có những nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên vật liệu quan trọng khác Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết đó Quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, do vậy, là "quan hệ máu thịt" Môi trường là cơ sở tự nhiên của đời sống con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội; mặc dù không giữ vai trò quyết định song nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển xã hội Trong "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", khi đánh giá vị trí, vai trò của tự nhiên đối với sự phát triển của con người và xã hội, C Mác đã khẳng định:

Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự

nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài Đó là vật liệu, trong

đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra

sản phẩm Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo

nghĩa là không có vật để cho lao động tác động vào thì lao động

không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư

liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại

về thể xác cho bản thân người công nhân [20, tr 130]

Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn không có sẵn trong tự nhiên Tuy nhiên, xét đến cùng, những thành phần để tạo

Trang 12

nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên Điều đó chứng minh rằng, tự nhiên luôn đóng vai trò là tiền đề, điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của con người Dẫu rằng khi xã hội loài người còn ở trong giai đoạn tiền sử, mông muội hay đã phát triển đến trình độ văn minh, hiện đại như ngày nay (và sẽ tiếp tục phát triển hơn nữa) thì vai trò đó của

tự nhiên vẫn không thể thay thế, không bị mất đi

Như vậy, tự nhiên là môi trường sống không thể thay thế của con người

và xã hội loài người - đó là điều chắc chắn và không có gì phải bàn cãi Song, cần phải thấy là vai trò đó của tự nhiên có tính lịch sử cụ thể Nghĩa là vai trò của tự nhiên không phải là bất biến trong mỗi giai đoạn, mỗi thời đại khác nhau của tiến trình lịch sử; trái lại, nó có thay đổi cùng với sự vận động, phát triển của xã hội loài người, trước hết là sự phát triển của lực lượng sản xuất Trong giai đoạn mà lực lượng sản xuất của xã hội còn lạc hậu, thấp kém , giàu có và phong phú và

đa dạng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí đóng vai trò hàng đầu đối với sự phát triển của xã hội Song, kể từ khi xã hội loài người bước vào nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp, trong đó khoa học, kỹ thuật và công nghệ phát triển và dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sự phát triển của xã hội bắt đầu diễn ra theo một hướng mới, tiến bộ hơn Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, con người đã làm nên những điều kỳ diệu, biến cái tưởng chừng như không thể trở thành cái có thể Sự phát triển của xã hội, do vậy, dường như ít phụ thuộc hơn vào sự giàu có hay nghèo nàn các nguồn tài nguyên Thực tế cho thấy, nhiều nước công nghiệp như Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước Tây

Âu, mặc dù rất nghèo tài nguyên và không có được những điều kiện tự nhiên thuận lợi khác, song, dựa vào nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, họ đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao và trở thành nhóm nước đứng đầu thế giới về nhiều tiêu chí kinh tế - xã hội như mức độ giàu có, thu nhập bình quân đầu người Trái lại, có nhiều nước khác, tuy được thiên nhiên ưu đãi về nhiều

Trang 13

mặt như khoáng sản, khí hậu, vị trí địa lý nhưng lại vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu

Nhưng, như vậy cũng không có nghĩa là vai trò của tự nhiên đối với cuộc sống con người và sự phát triển của xã hội loài người đang bị thu hẹp dần Thực

ra, dù rằng xã hội có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâu chăng nữa, con người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự nhiên; không thể gạt tự nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình Trái lại, xã hội càng phát triển, con người càng cần đến tự nhiên, càng gắn bó với nó nhiều hơn "Bởi lẽ, những thành phần vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của con người, mà còn là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý" [39, tr 72]

Tự nhiên vừa là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt

động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất

và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội Như chúng ta đã biết, với các loài động vật khác chỉ biết lấy từ tự nhiên những sản phẩm có sẵn như một hành vi kiếm sống mang tính bản năng, tự nhiên Trái lại, con người là một một sản phẩm hoàn thiện nhất của tự nhiên, là loại động vật cao cấp, có ý thức Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Con người không chỉ biết sử dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiên như giai đoạn sơ khai trong lịch sử hình thành và phát triển, mà còn tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên vì những lợi ích của mình

Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người, trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự tồn tại, phát triển của chính bản thân mình

Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Hoạt động của con người là một

Trang 14

quá trình "trao đổi chất" thường xuyên giữa con người với tự nhiên Trong tác phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", C Mác viết:

Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Con người

sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của

con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên [20, tr 135]

Thực tế cho thấy, kể từ bắt đầu lịch sử của mình và cho đến chừng nào còn tồn tại, xã hội loài người phải:

Gắn bó với tự nhiên nhờ có các dòng vật chất, năng lượng và thông tin, nhờ có sự kết hợp giữa lao động với thiên nhiên Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trình lao động sản xuất

ra của cải vật chất, con người đã nhận được các dòng vật chất, năng lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên, biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, với sự tồn tại và phát triển của xã hội

Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội

và tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [39, tr 72]

Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên, khai thác và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biến chúng phục

vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển của xã hội Do vậy, sản xuất là một biểu hiện đặc trưng của mối liên hệ chặt chẽ giữa tự nhiên và xã hội Trong sự tác động đó, lao động của con người, một mặt,

là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt con người với con vật, xã hội loài người với thế giới động vật; mặt khác, là yếu tố cơ bản nhất tạo nên sự thống nhất, gắn kết hữu cơ giữa xã hội và tự nhiên Nhận xét về ý nghĩa của lao động - hành vi đầu tiên và quan trọng nhất của con người, C Mác nhấn mạnh rằng: "Lao động

Trang 15

trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong

đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên" [18, tr 266]

Không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng vật chất cho sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội, môi trường tự nhiên còn là không gian diễn ra các hoạt động sống quan trọng khác của con người như nghỉ ngơi, cảm nhận và hưởng thụ những giá trị văn hóa thẩm mỹ, những nét đẹp cũng như sự tinh tế của tạo hóa Sống trong một môi trường tự nhiên hài hòa và đa dạng, con người sẽ có một đời sống tinh thần phong phú, trong sáng Nó làm cho con người thấy cuộc sống có ý nghĩa và đáng yêu hơn

Trong quá trình trao đổi chất giữa con người và tự nhiên, con người không chỉ nhận từ tự nhiên những nguồn năng lượng cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của mình và xã hội mà còn thải vào tự nhiên các chất thải của hoạt động sản xuất, sinh hoạt Nói cách khác, môi trường tự nhiên không chỉ là nguồn cung cấp các điều kiện sống mà còn đóng vai trò là nơi đồng hóa các phế thải do con người thải ra Người ta không thể hình dung được rằng, giả sử lượng chất thải khổng lồ

do các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người, từ trước tới nay, không được

xử lý mà cứ tích tụ lại thì cuộc sống của con người sẽ ra sao May mắn thay, điều

đó đã không xảy ra, ít nhất là cho đến nay Bản thân tự nhiên có cơ chế tự điều chỉnh và làm sạch của nó Chính là nhờ chức năng quan trọng này của môi trường tự nhiên mà con người và xã hội loài người đã không phải sống ngập chìm bên cạnh hàng loạt chất thải bỏ

Cũng cần phải thấy rằng, tác động của con người, xã hội đối với tự nhiên càng mạnh thì sự phụ thuộc của nó vào tự nhiên càng lớn Đây là vấn đề có tính quy luật của sự tác động qua lại giữa tự nhiên và xã hội Thực tế cho thấy, từ chỗ nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường

Trang 16

trước mức độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó Trong quá trình sản xuất, tiêu dùng , hoạt động của con người không được kiểm soát chặt chẽ, điều chỉnh phù hợp với quy luật khách quan Do vậy, sự gia tăng các hoạt động của con người đã tạo nên một sức ép vô cùng lớn đối với tự nhiên, vượt khỏi khả năng chịu đựng của nó Điều này thể hiện ở chỗ, với trình độ phát triển như hiện nay, nền sản xuất xã hội có thể sử dụng hầu hết toàn bộ các nguồn vật chất vốn có của sinh quyển, biến chúng thành nguyên liệu sản xuất và các dạng sản phẩm tiêu dùng trong xã hội Không một dạng vật chất nào mà nhận thức của con người biết tới lại không được khai thác, huy động Mặt khác, xét từ góc độ sinh thái học, hiệu quả mà nền sản xuất xã hội - dù đạt được trình độ phát triển cao như hiện nay, mang lại vẫn rất thấp Trên thực tế, nền sản xuất xã hội đã sử dụng một cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả những nguồn tài nguyên có thể và không thể tái tạo được Đồng thời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào

tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơn nữa, còn độc hại và nguy hiểm Sự phát triển của hoạt động sản xuất, và do đó, của hoạt động tiêu dùng trong xã hội, một mặt, đã khiến cho nhiều loại tài nguyên quý giá - vốn được tạo hóa tích lũy từ hàng triệu năm, đứng trước nguy cơ cạn kiệt, khan hiếm; mặt khác, gây ra tình trạng ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái

Như vậy, có thể nói rằng, sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất của con người cả về quy mô, cường độ dựa trên sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho xã hội những lợi ích vật chất to lớn, như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều, nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nhanh và với tốc độ cao Đó là những kỳ tích không thể phủ nhận trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợi ích vật chất của con người Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi cho rằng, bắt đầu từ chỗ tạo ra những cái được gọi là kỳ tích ấy, con người và xã hội loài người đồng thời phải đối mặt với sự tiềm tàng của những hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã, nếu không nói là bi kịch, của sự phát triển theo kiểu "tước đoạt", "bóc lột" tự

nhiên

Trang 17

Tóm lại, môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia Đáng tiếc

là, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng ý thức một cách đúng đắn và đầy

đủ vai trò không thể thay thế của tự nhiên Quan niệm mới về sự phát triển, trong

đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định

sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên; tạo lập môi trường nhân tạo phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và tự nhiên, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống con người; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người Để biến quan niệm mới về sự phát triển trở thành hiện thực, trước hết con người cần

phải có ý thức bảo vệ môi trường sinh thái

1.2 ý thức bảo vệ môi trường và ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường

1.2.1 ý thức xã hội và ý thức bảo vệ môi trường

Để có sự nhận thức đúng đắn về ý thức bảo vệ môi trường, trước hết, cần phải trở lại với những quan niệm của triết học mác-xít về các khái niệm cơ bản như ý thức, ý thức xã hội

theo quan niệm của triết học mác-xít, ý thức là sản phẩm đặc biệt của sự tác động qua lại giữa hai hệ thống vật chất: con người và thế giới hiện thực khách quan ý thức chỉ có thể là ý thức của con người, được hình thành và phát triển thông qua lao động và ngôn ngữ Nói cách khác, nguồn gốc trực tiếp quyết định

sự ra đời và phát triển của ý thức chính là thực tiễn xã hội C Mác và Ph Ăngghen đã khẳng định rằng, "ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là tồn tại được ý thức và tồn tại của con người là quá trình sinh sống hiện thực của con người" [19, tr 37] ý thức chính là sự phản ánh tự giác hiện thực khách quan, hay nói như Lênin, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Trang 18

Vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra

rằng, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm

những quan điểm, tư tưởng, tình cảm, truyền thống nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định Giữa tồn tại

xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, tồn tại xã hội đóng vai trò là cái thứ nhất, quyết định ý thức xã hội Nghĩa là, khi tồn tại xã hội thay đổi, sớm hay muộn, ý thức xã hội cũng thay đổi

theo Về vấn đề này, trong Lời tựa cuốn "Góp phần phê phán khoa kinh tế chính

trị", C Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ" [16, tr 15] ý nghĩa đặc biệt quan trọng rút ra từ luận điểm khoa học trên đây của

C Mác là ở chỗ, người ta chỉ có thể truy tìm và giải thích đúng đắn được nguồn

gốc hay nguyên nhân của ý thức xã hội từ trong chính những điều kiện sinh hoạt

vật chất đã sản sinh ra nó

Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, triết học Mác cũng nhấn mạnh rằng, ý thức xã hội không phụ thuộc vào tồn tại xã hội một cách thụ động mà có tính độc lập tương đối của nó Điều này được biểu hiện qua các khía cạnh sau:

Một là, ý thức xã hội có thể "vượt trước" sự phát triển của tồn tại xã hội

Sự phản ánh vượt trước này sẽ mang ý nghĩa tích cực, sáng tạo nếu phản ánh được cái lôgíc khách quan của tồn tại xã hội; ngược lại, sẽ là ảo tưởng, duy ý chí khi sự phản ánh đó chỉ là cảm nhận chủ quan, không dựa trên cơ sở lôgíc của hiện thực

Hai là, ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội Sự lạc hậu

của ý thức xã hội hoặc là do ý thức xã hội không phản ánh kịp sự phát triển của

Trang 19

tồn tại xã hội, hoặc là do sức ỳ của tâm lý xã hội (thói quen, phong tục, tập quán, lối sống )

Ba là, ý thức xã hội có tính kế thừa

Bốn là, giữa các hình thái ý thức có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn

nhau

Năm là, ý thức xã hội có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội thông

qua ý thức cá nhân của con người

Dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với xã hội và giữa con người với tự nhiên, triết học mác-xít đã phân loại ý thức xã hội thành các hình thái khác

nhau Cụ thể, đó là các hình thái: chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, ý thức

thẩm mỹ, ý thức tôn giáo và khoa học Một vấn đề đặt ra ở đây là, ý thức bảo vệ

môi trường (hay ý thức sinh thái) là gì, nó có phải là một hình thái của ý thức xã hội không và biểu hiện của nó như thế nào trong thực tiễn đời sống xã hội?

Hiện nay, trong các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản liên quan đến môi trường, chúng ta thường gặp các thuật ngữ như ý thức sinh thái, ý thức bảo vệ môi trường Theo chúng tôi, các thuật ngữ, khái niệm này là ngang bằng, tương đương nhau về mặt nội dung Có thể hiểu ý thức bảo vệ môi trường

(hay ý thức sinh thái) là sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên

và thái độ, trách nhiệm của con người đối với môi trường sinh thái được hình

thành trên cơ sở những tri thức, sự hiểu biết của con người về tự nhiên và vị trí,

vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên

Cần phải thừa nhận rằng rằng, cho đến nay, việc xác định ý thức bảo vệ môi trường (hay ý thức sinh thái) có phải là một hình thái ý thức xã hội hay không vẫn đang là một vấn đề rất phức tạp Trong hệ thống các hình thái của ý thức xã hội mà triết học Mác - Lênin đưa ra không có ý thức sinh thái Song, có

lẽ cũng không nên vì thế mà cho rằng nó không phải là một dạng thức, một hình thái của ý thức xã hội Bởi vì, một mặt, những vấn đề môi trường chỉ mới nảy

Trang 20

sinh trong khoảng giữa thế kỷ XX; mặt khác, triết học Mác - Lênin, như các nhà kinh điển khẳng định, luôn luôn là một hệ thống mở, đòi hỏi phải được thường xuyên bổ sung và phát triển

Trở lại vấn đề trên, chúng tôi tán thành với quan điểm của một số tác giả khi cho rằng, xét về mặt nội dung, ý thức sinh thái chính là sự phản ánh của tồn tại sinh thái, tức là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở một giai đoạn lịch sử nhất định, song, do mối quan hệ giữa con người với tự nhiên là một lĩnh vực rộng, bao trùm lên nhiều phương diện, khía cạnh khác của đời sống

xã hội, nên ý thức sinh thái không phải là một hình thái ý thức xã hội ngang bằng với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, khoa học , mà là

một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, bao quát các hình thái ý thức xã hội

khác [43, tr 20] ý thức sinh thái là một bộ phận của ý thức xã hội, vì về bản

chất, chúng đều có chung đối tượng phản ánh là tồn tại xã hội và về hình thức phản ánh, ý thức sinh thái cũng bao gồm cả tư tưởng, tri thức, tình cảm của con người khi phản ánh hiện thực sinh thái

Trong đời sống xã hội, ý thức bảo vệ môi trường biểu hiện trên những khía cạnh cơ bản sau:

Một là, khía cạnh chính trị Như chúng ta đã biết, môi trường sống là

ngôi nhà chung của con người, xã hội loài người Những vấn đề môi trường hiện nay - dù là lớn hay nhỏ, dù xảy ra ở nơi này hay nơi khác, đã và đang tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến mỗi người, mỗi cộng đồng và quốc gia, dân tộc Vì thế, nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và bảo vệ môi trường trở thành mối quan tâm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức xã hội và các quốc gia trên thế giới Thực tế cho thấy, nếu những vấn đề môi trường sinh thái tiếp tục gia tăng cả về phạm vi, quy mô và tính chất nghiêm trọng mà không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống con người, đến sự tồn tại và phát triển của cả cộng đồng, quốc gia Do đó,

Trang 21

nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái trở thành mục tiêu và định hướng cho hoạt động chính trị của toàn nhân loại, không loại trừ một quốc gia nào

Khía cạnh chính trị của ý thức bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội mà nó liên quan trực tiếp đến sự hình thành, phát triển của chính bản thân ý thức bảo vệ môi trường Quan niệm mới về

sự phát triển bền vững, trong đó nguyên tắc cơ bản là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi con người phải chú ý, quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh chính trị của ý thức sinh thái Bởi lẽ, đó là một trong những cơ sở quan trọng tham gia vào sự điều chỉnh hoạt động của con người theo hướng tích cực,

tự giác vì mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và "chung sống thân thiện" với môi trường sinh thái

Hai là, khía cạnh pháp luật trong ý thức bảo vệ môi trường sinh thái

Trong bối cảnh môi trường sống của con người đã và đang đứng trước nguy cơ bị khủng hoảng, mất cân bằng sinh thái , cần thiết phải có những quy định thống nhất, chặt chẽ nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình tác động vào môi trường tự nhiên Trên bình diện quốc tế, những quy định chung đó là các công ước giữa các nước về môi trường (ví dụ như Công ước chung về thay đổi khí hậu của Liên hợp quốc, Công ước về đa dạng sinh học ); ở cấp độ quốc gia là các văn bản pháp luật (Luật bảo vệ môi trường năm 1993, Luật tài nguyên nước (1998), Luật khoáng sản năm 1996 )

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường, là cơ

sở, công cụ pháp lý để nhà nước quản lý và điều tiết các hoạt động bảo vệ môi trường vì lợi ích chung của các cộng đồng dân cư, của toàn xã hội Bằng pháp luật, với những quy định được thể hiện dưới hình thức văn bản và có hiệu lực khác nhau, nhà nước điều chỉnh việc bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong sạch của mỗi người, mỗi cộng đồng và toàn dân tộc ở đây, ý thức pháp luật của công dân về bảo vệ môi trường có tầm quan trọng đặc biệt, nó thể hiện sự

Trang 22

nhận thức của mỗi người và thái độ của họ đối với các quy định chung của pháp luật

Ba là, khía cạnh đạo đức của ý thức bảo vệ môi trường ý thức bảo vệ

môi trường không chỉ biểu hiện trên các phương diện chính trị, pháp luật, mà còn thông qua mặt đạo đức (đạo đức sinh thái) của đời sống xã hội Đạo đức sinh thái được hình thành trực tiếp từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là một dạng đặc thù của đạo đức xã hội Đạo đức sinh thái là một hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực quy định và điều chỉnh hành vi ứng xử của con người đối với tự nhiên Trong lịch sử, nhiều quan điểm đạo đức khác nhau đã xuất hiện và dẫn

đến sự tồn tại của các quan điểm đạo đức sinh thái khác nhau Quan niệm đạo

đức duy sinh thái ở phương Tây cho rằng cần phải tôn trọng toàn bộ sự sống và

những yếu tố bảo đảm cho sự sống, hay toàn bộ cộng đồng sinh vật cùng với những điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại, phát triển của nó Theo quan niệm của trường phái này, hành động của con người là tốt nếu nó bảo vệ sự ổn định, toàn vẹn và vẻ đẹp của cộng đồng sinh vật; ngược lại, hành động của con người là xấu nếu nó phá vỡ trạng thái cân bằng, thống nhất vốn có của tự nhiên [xem: 4, tr 64] Quan niệm đạo đức sinh thái truyền thống ở phương Đông lại dựa trên quan niệm "Thiên - Địa - Nhân nhất thể" Giá trị lớn nhất đồng thời cũng là sự thể hiện có tính phổ biến nhất của đạo đức sinh thái truyền thống là

cái thiện Đó cũng là cơ sở của triết lý sống hài hòa với thiên nhiên, theo cách

"nương nhờ", "thuận" theo thiên nhiên

Dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, của khoa học kỹ thuật và công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của con người, xã hội hiện đại đã phát triển về mọi phương diện, với tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch

sử Tuy nhiên, đó cũng là lúc mà hoạt động của con người bắt đầu làm cho tự nhiên - cái "thân thể vô cơ" của mình bị tổn thương trước những áp lực nặng nề, vượt khỏi sức chịu đựng của nó ý thức được điều đó, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà khoa học đã gióng lên những hồi chuông cảnh tỉnh con người về những hậu quả môi trường sinh thái Sự "trừng phạt", "trả thù" của tự nhiên buộc

Trang 23

con người, muốn tiếp tục tồn tại và phát triển, phải quan tâm hơn đến khía cạnh đạo đức trong ý thức bảo vệ môi trường, phải hướng tới đạo đức sinh thái mới nhằm điều chỉnh một cách tự giác hoạt động của mình

Bốn là, khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường Như

trên đã nói, theo quan niệm của triết học mác-xít, con người không chỉ là một thực thể sinh vật mà hơn thế, còn là một thực thể xã hội và bản chất của nó là

"tổng hòa các mối quan hệ xã hội" Thực tế, để tồn tại và phát triển, con người - theo đúng nghĩa của từ này - không chỉ có nhu cầu được thỏa mãn về mặt đời sống vật chất, mặc dầu nó là tiền đề đầu tiên và cơ bản nhất, mà còn có những

nhu cầu về đời sống tinh thần Chính sự hài hòa và những cái đẹp của thế giới tự nhiên là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người Có thể nói,

khía cạnh văn hóa thẩm mỹ của ý thức bảo vệ môi trường là một giá trị định hướng khiến cho hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, ngoài ý nghĩa tìm kiếm lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, còn vươn tới thực hiện lý tưởng thẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp Nói cách khác, bảo vệ môi trường là hành động tự giác mang lại những lợi ích toàn diện, cả về vật chất lẫn tinh thần cho con người

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc xây dựng ý thức bảo vệ môi trường đối với

sự phát triển lâu bền

Như trên đã trình bày, ý thức xã hội có tính độc lập tương đối của nó so với tồn tại xã hội Vì thế, nó không chỉ chịu sự quy định của tồn tại xã hội, mà còn tác động trở lại đối với tồn tại xã hội Với tư cách là sự phản ánh hiện thực sinh thái, là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, ý thức bảo vệ môi trường có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển Điều này được biểu hiện tập trung

trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở điều khiển một cách tự giác (có ý thức) mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Trang 24

Trong quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là hoạt động sản xuất, con người đã tác động, cải biến tự nhiên một cách mạnh mẽ và thu được từ tự nhiên lượng của cải vật chất ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người và xã hội Với sự giúp đỡ của khoa học kỹ thuật, của các công cụ ngày càng tinh xảo , sức mạnh chinh phục tự nhiên của con người đã gia tăng đáng kể Lôgíc tất yếu là tính thống nhất, cân bằng vốn có của tự nhiên

bị phá vỡ Hậu quả là tự nhiên đã, đang và sẽ tiếp tục trả thù con người vì những tác động vô ý thức mà con người gây ra cho nó

Là một nhà biện chứng duy vật, Ph Ăngghen cho rằng, trong giới tự nhiên, không có cái gì xảy ra một cách đơn độc cả; trái lại, giữa các hiện tượng luôn có mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, theo ông:

Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng

ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, là mỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết là đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưng đến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được, những tác dụng thường hay phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên của nó [17, tr 654] Cảnh báo về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, ông viết:

Nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao động mới có

thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu quả tự

nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta, thì chúng ta lại

càng phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa, mới có thể hiểu biết được

những hậu quả xã hội xa xôi của những hành động ấy [17, tr

655-656]

Từ những quan điểm đúng đắn trên, Ph Ăngghen đã đưa ra một luận điểm có tính tổng kết trong mối quan hệ với tự nhiên:

Trang 25

Chúng ta hoàn toàn không thống trị được giới tự nhiên như một

kẻ xâm lược đi thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, chúng ta, với tất cả xương thịt, máu

mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên

là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là chúng ta nhận thức được quy luật tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác [17, tr 654-655]

Như vậy, có thể khẳng định rằng, để điều khiển được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trước hết, con người phải tự giác "nhận thức được quy luật tự nhiên", và trên cơ sở đó, "sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác" trong quá trình hoạt động thực tiễn của xã hội, trong đó, lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất là sản xuất vật chất Trước đây, con người vẫn giữ một quan niệm cũ cho rằng, tự nhiên là một kho của cải vô tận, có thể mặc sức khai thác,

sử dụng không bao giờ hết Song, thực tế lại không phải như con người đã lầm tưởng Sự cạn kiệt của nhiều nguồn tài nguyên không tái tạo được như đất đai, khoáng sản, các nguồn năng lượng như than đá, dầu mỏ đã chứng tỏ rằng, các tài nguyên thiên nhiên dù phong phú, giàu có và trữ lượng lớn đến đâu chăng nữa cũng không phải là vô hạn Những tri thức và sự hiểu biết mới, chính xác và đúng đắn hơn về tự nhiên đã buộc con người phải khai thác, sử dụng tài nguyên

thiên nhiên một cách tiết kiệm và hợp lý hơn Cũng vậy, cùng với sự phát triển

của nền sản xuất xã hội, con người đã đổ vào tự nhiên một khối lượng lớn mọi dạng phế thải sản xuất và sinh hoạt, khiến cho cảnh quan môi trường bị biến dạng, ô nhiễm ngày càng nặng nề và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của con người Sự phát triển của khoa học đã cung cấp những cơ sở chứng minh rằng

cơ chế điều chỉnh, sự thống nhất, tính toàn vẹn và trạng thái cân bằng động của toàn bộ sinh quyển là một chu trình sinh học Vì thế, con người đang tích cực tìm

những giải pháp hiệu quả để xử lý và giảm thiểu lượng chất thải đổ vào môi

trường, nhất là các loại chất thải độc hại, chất thải rắn có thời gian phân hủy dài

Trang 26

Tất cả những thay đổi tích cực đó trong quan niệm, hành vi của con người đã nói lên rằng, ý thức bảo vệ môi trường đang tham gia vào quá trình định hướng hoạt động thực tiễn của con người theo hướng ngày càng "tôn trọng", "thân thiện" với môi trường tự nhiên Nói cách khác, ý thức bảo vệ môi trường đóng vai trò là cơ

sở cho việc điều khiển mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Thứ hai, ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở để thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội Để duy trì sự tồn tại, phát triển của mình, con người đã,

đang và sẽ tiếp tục tác động vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất - phương thức trao đổi chất đặc thù giữa con người và tự nhiên Song, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, hoạt động sản xuất trước đây của con người đã để lại trên thân thể tự nhiên nhiều dấu ấn tiêu cực Xét từ góc độ sinh thái học, con người không chỉ khai thác bừa bãi, sử dụng lãng phí nhiều nguồn tài nguyên như rừng, đất đai, khoáng sản, nước ngọt , mà còn làm cho tự nhiên bị biến dạng theo chiều hướng ngày càng xấu đi Những cánh rừng nguyên sinh ẩn chứa sự đa dạng sinh học, đặc biệt là rừng nhiệt đới đang mất dần, nhiều vùng đất màu mỡ đã xuất hiện những dấu hiệu biến thành hoang mạc, nguy cơ cạn kiệt các nguồn năng lượng truyền thống như gỗ củi, than đá, dầu mỏ đang tiến gần trong những thập kỷ tới, mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí do chất thải của quá trình sản xuất ngày càng gia tăng chỉ là một vài nét phác họa của bức tranh môi trường ngày nay

Với những hậu quả to lớn đó, nền sản xuất xã hội - một "mắt khâu xã hội" đã làm cho chu trình trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin trong tự nhiên bị đứt đoạn, trở thành cội nguồn dẫn đến nguy cơ khủng hoảng môi trường sinh thái, trực tiếp đe dọa sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người Vấn đề đặt ra là, để giải quyết những vấn đề môi trường nảy sinh do tác động của hoạt động sản xuất, con người phải giữ vai trò quyết định

Song, làm thế nào để thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường, khi mà con người, vì sự tồn tại của chính bản thân mình, không thể không tiếp tục sản

Trang 27

xuất ra của cải vật chất, tức là tiếp tục không ngừng tác động vào tự nhiên? Với

sự nhận thức đúng đắn rằng, con người là một tiểu vũ trụ, là một bộ phận không thể tách rời trong chỉnh thể thống nhất giữa con người, tự nhiên và xã hội; đồng thời, cũng là nhằm đối phó với những bất lợi đe dọa sự tồn tại, phát triển của con người, thế giới hiện đại đã tích cực tìm kiếm và đang hướng tới một quan niệm

mới về sự phát triển: Phát triển bền vững Một trong những nguyên tắc quan

trọng, đồng thời cũng là mục tiêu cơ bản nhất của chiến lược phát triển bền vững

là cần phải giữ gìn, bảo vệ môi trường tự nhiên Điều đó có nghĩa là con người

phải thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội Bởi vì, sản xuất xã hội - dù ở

bất kỳ trình độ hay giai đoạn nào đi nữa, cũng luôn đóng vai trò là phương thức

tồn tại tất yếu của con người và xã hội loài người, nhưng trong điều kiện hiện nay, nó lại không được phép làm tổn hại môi trường ý thức bảo vệ môi trường

với tư cách là một hiện tượng xã hội phổ biến là điều kiện tiên quyết, là cơ sở để thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội

Sinh thái hóa nền sản xuất xã hội là thế nào? Nếu trước đây, hoạt động sản xuất của con người chủ yếu mang tính "tước đoạt", "bóc lột" tự nhiên, thì trong điều kiện hiện nay, với những sự hiểu biết và tri thức mới về tự nhiên, về quan hệ giữa con người với tự nhiên, hoạt động sản xuất của con người cần phải

được tiến hành trên cơ sở tôn trọng, tính toán đầy đủ những quy luật tồn tại và

phát triển của tự nhiên, đặc biệt là những quy luật bảo đảm cơ chế hoạt động

bình thường của chu trình trao đổi chất của sinh quyển Mặt khác, do chỗ là một

"mắt khâu" trong chu trình sinh học, nên ngoài chức năng vốn có là tạo ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội, nền sản xuất xã hội còn "cần phải thực hiện thêm một chức năng quan trọng nữa, đó

là chức năng tái sản xuất những tài nguyên thiên nhiên đã tiêu dùng và thải bỏ trong quá trình sản xuất, để cho chu trình được khép kín Mục đích nhằm đưa

"mắt khâu xã hội" hòa nhập thực sự vào chu trình sinh học, từ đó "tạo điều kiện và khả năng bảo vệ và cải thiện chất lượng của môi trường sinh thái" [39, tr 81]

Trang 28

Tóm lại, sự hiện diện phổ biến, thường trực của ý thức bảo vệ môi trường

là cơ sở quan trọng để không chỉ những nhà hoạch định chính sách và thiết kế các dự án phát triển kinh tế - xã hội, mà cả những người lao động luôn quan tâm đến khía cạnh môi trường, ngoài khía cạnh hiệu quả kinh tế, của quá trình sản xuất; hướng đến yêu cầu sinh thái hóa nền sản xuất xã hội Đến lượt nó, nền sản xuất xã hội được tiến hành theo quan điểm sinh thái, một mặt, cho phép bảo đảm tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người và xã hội; mặt khác, tránh được nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sống Và do vậy, nó bảo đảm một sự phát triển bền vững cho các thế hệ con người trong hiện tại và tương lai

Thứ ba, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái là cơ sở thực hiện sinh thái hóa mọi hoạt động khác của con người trong đời sống xã hội

Hoạt động sản xuất vật chất là hành vi quan trọng, cơ bản nhưng không

phải là duy nhất của con người Theo quan điểm của C Mác, bản chất con người

là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, hoạt

động của con người rất đa dạng, phong phú Sự tác động của con người đến tự nhiên biểu hiện tập trung nhất trong lĩnh vực sản xuất xã hội Song, như trên đã trình bày, quan hệ giữa con người và tự nhiên bao trùm lên tất cả các phương diện, khía cạnh của đời sống xã hội Vì vậy, để bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển bền vững của con người và xã hội, ngoài việc thực hiện mục tiêu sinh thái hóa nền sản xuất, còn cần phải thực hiện sinh thái hóa toàn bộ các hoạt động khác của con người trong các lĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, văn hóa tinh thần

ý thức bảo vệ môi trường là cơ sở góp phần hình thành trong đời sống xã hội những giá trị, chuẩn mực đạo đức sinh thái mới Sự phát triển của kinh tế thị trường, của cách mạng khoa học công nghệ và xu thế hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế , bên cạnh mặt tích cực, còn là những tác nhân chính làm cho những giá trị đạo đức sinh thái truyền thống bị phá vỡ Nếu trước đây con người yêu quý thiên nhiên vì vẻ đẹp và những giá trị vốn có của nó thì ngày nay, do những lợi

Trang 29

ích vị kỷ, cá nhân trước mắt, con người chỉ quan tâm đến những giá trị sử dụng

và thực dụng của tự nhiên Cũng không phải là quá đáng khi có ý kiến cho rằng, con người hiện tại đang sống bằng tất cả những gì "vay" được của các thế hệ tương lai Rõ ràng, để điều chỉnh những hành vi đạo đức kiểu như vậy trong quan

hệ giữa con người với tự nhiên, cần thiết phải có ý thức bảo vệ môi trường

Được sống đầy đủ và trong một môi trường trong lành là một quyền tự nhiên của mỗi con người, mỗi cộng đồng và mỗi dân tộc Song, mức độ hiện thực của quyền đó trong cuộc sống như thế nào lại không hoàn toàn phụ thuộc vào những quy định pháp luật chung, mặc dù sự hiện diện của nó (pháp luật) là tối cần thiết; trái lại, còn phụ thuộc rất lớn vào ý thức pháp luật thể hiện ở sự nhận thức, thái độ tôn trọng và chấp hành của mỗi người, cộng đồng, dân tộc đối với những quy định chung Nếu ý thức của họ càng được nâng cao thì sự tôn trọng pháp luật, tính tự giác thực hiện các yêu cầu chung càng có hiệu quả Điều này lại phụ thuộc đáng kể vào những tri thức về bảo vệ môi trường nói chung và sự hiểu biết pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng Nghĩa là, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái tham gia vào quá trình điều chỉnh hành vi của con người trong việc khai thác, sử dụng tự nhiên cũng như gìn giữ môi trường phù hợp với quy luật khách quan và những nguyên tắc chung của xã hội

Tóm lại, môi trường sinh thái là một khái niệm rộng lớn, bao gồm toàn

bộ các điều kiện tự nhiên, xã hội cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người Nó có vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thay thế Song, không phải bao giờ và ở đâu con người cũng cảm nhận sâu sắc, đúng đắn ý nghĩa to lớn của môi trường sống Trái lại, những hoạt động của con người, trước hết là hoạt động sản xuất, đã và đang tiếp tục làm cho môi trường sống của mình biến đổi theo chiều hướng xấu

Ngày nay, do tính bức bách của vấn đề, bảo vệ môi trường trở thành khẩu hiệu hành động chung của con người Tuy nhiên, để có được những hành động đúng đắn và thiết thực, trước hết con người cần phải có ý thức bảo vệ môi

Trang 30

trường Đó chính là cơ sở để điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, thực hiện sinh thái hóa nền sản xuất xã hội và các hoạt động

đa dạng khác của con người vì mục tiêu phát triển bền vững

Trang 31

Chương 2 Thực trạng môi trường và ý thức bảo vệ môi trường của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc nước ta hiện nay

2.1 Khái quát một số đặc điểm tự nhiên và xã hội cơ bản của khu vực miền núi phía Bắc

Miền núi phía Bắc Việt Nam là một khu vực rộng lớn, bao gồm lãnh thổ của 14 tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái và Quảng Ninh (có tài liệu tính cả tỉnh Phú Thọ); nằm trong vùng tọa độ 23 độ 22' vĩ độ Bắc và 102 độ kinh Đông Với

vị trí địa lý như vậy, khu vực miền núi phía Bắc nước ta nằm hoàn toàn trong vòng đai nội chí tuyến bắc bán cầu

Miền núi phía Bắc được xem là nóc nhà của Việt Nam (đỉnh núi cao nhất

là Phanxipăng nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143 m) Do cấu tạo địa chất, địa hình của phần lớn khu vực này bị chia cắt mạnh với độ dốc tương đối lớn Theo ước tính, hiện có khoảng trên 50% diện tích miền núi phía Bắc có các sườn dốc trên 20 độ

Khí hậu ở vùng miền núi phía Bắc mang tính chất nhiệt đới, biểu hiện ở chỗ lượng bức xạ mặt trời hàng năm khá lớn (khoảng 12,5 - 13,5 tỷ kcal/ha/năm) và lượng mưa tương đối cao (khoảng từ 1.300 - 7.270 mm/năm) Sự phân mùa khí hậu (mùa nóng và mùa lạnh) ở khu vực này rất rõ rệt Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11 Mùa này cũng là thời kỳ có mưa nhiều nhất trong năm, thường gây

ra lũ lụt, sạt lở ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Ngược lại, do tác động của gió mùa Đông - Bắc, mùa lạnh ở khu vực miền núi phía Bắc xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau Trong thời gian này, nhiệt độ ở đây

Trang 32

xuống thấp, nhất là ở vùng Đông Bắc Đây là thời kỳ hanh khô và ít mưa, do đó, thường dẫn đến tình trạng cạn kiệt nước ở các sông, suối và hồ chứa

Đất đai ở miền núi phía Bắc khá đa dạng về chủng loại, trong đó phổ biến

là loại đất feralít đỏ - vàng Một số nơi có những vùng đất tương đối bằng phẳng, rộng lớn, màu mỡ, hàm lượng mùn cao thích hợp cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp (trồng lúa) và chăn nuôi như ở Mường Thanh Tuy nhiên, phần lớn đất đai ở vùng núi phía Bắc bị phong hóa mạnh, nghèo chất dinh dưỡng và suy thoái nhanh

do bị xói mòn, rửa trôi Sự hạn chế của các chất vi lượng trong đất đai không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất cây trồng, mà còn tác động xấu đến sức khỏe của đồng bào thuộc cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc (gây nên bệnh bướu cổ do thiếu iốt )

Có thể nói, các yếu tố tự nhiên khí hậu, thời tiết, đất đai trên đây đã tác động, ảnh hưởng một cách khá toàn diện đến cuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, trong đó có việc tạo ra những thuận lợi cũng như những khó khăn đối với các hoạt động dân sinh và sản xuất của họ Tính đa dạng của các điều kiện tự nhiên: tính chất khí hậu nhiệt đới, theo mùa, sự phong phú của các tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái tự nhiên đã tạo cho đồng bào các dân tộc ở đây những tiềm năng kinh tế to lớn và khá toàn diện Đó là khả năng phát triển nền kinh tế tự nhiên (săn bắn, hái lượm, đánh cá) trước kia và nghề rừng hiện nay; khả năng phát triển một nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bao gồm trồng cây lương thực thực phẩm, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và thủy sản Ngoài ra, các nguồn tài nguyên năng lượng, khoáng sản, lâm sản phong phú

là những điều kiện quan trọng cho phép phát triển nhiều ngành công nghiệp Song, dẫu sao thì đó cũng mới chỉ là những ưu thế đang ở dạng tiềm năng và lộ trình để "đánh thức" chúng phục vụ cuộc sống của con người không phải là đơn giản, cũng không thể nhanh chóng trong "một sớm, một chiều"

Những khó khăn do chính đặc điểm tự nhiên của miền núi phía Bắc tạo nên cũng không phải là nhỏ Thiên tai, dịch bệnh, nạn rửa trôi và xói mòn đất đai,

Trang 33

lũ lụt xảy ra bất thường với cường độ và tần suất cao (chưa tính đến những hậu quả khác do hoạt động của con người gây ra) đang thực sự là những thánh thức to lớn đối với đồng bào các dân tộc Mặt khác, địa hình phức tạp (bị cắt xẻ mạnh,

độ dốc cao ) là những trở ngại không nhỏ đối với việc phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông thủy bộ, tiếp nhận thông tin và tiến bộ khoa học công nghệ, dẫn đến hạn chế khả năng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các vùng thuộc nội bộ khu vực, giữa khu vực miền núi phía Bắc với các vùng khác của cả nước Thực tế cho thấy, từ trước đến nay, so với các vùng, miền khác trong cả nước, miền núi phía Bắc vẫn là khu vực kém phát triển về mọi phương diện

Về mặt xã hội, khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam là điểm hội tụ của

ba luồng dân cư: luồng phía Bắc (gồm các dân tộc như Thái, Nùng, H’mông, Dao, Giáy, Hoa ), luồng phía Tây (gồm các dân tộc Khơ Mú, Lào, Lự ) và luồng phía Nam (gồm các đợt di cư của người Kinh) Vì thế, cơ cấu dân tộc ở đây khá phức tạp Hiện tại, khu vực miền núi phía Bắc là nơi sinh sống của đồng bào thuộc 31 nhóm dân tộc, chiếm 57,4% số dân tộc của cả nước Trong đó, có

27 dân tộc có số dân chiếm trên 50% dân số của dân tộc đó trên cả nước, 20 dân tộc có số dân chiếm 90% dân số thuộc dân tộc mình Các dân tộc có số dân nhỏ nhất (so với dân số của dân tộc đó trên cả nước) là dân tộc Thổ (1,44%), dân tộc Kinh (4,57%), dân tộc Hoa (29,88%) [3, tr 218] Một đặc điểm xã hội khác của khu vực miền núi phía Bắc là tính chất cư trú theo tầng (tầng thấp - chân núi, tầng trung bình - sườn núi, tầng cao - đỉnh núi) của đồng bào các dân tộc biểu hiện khá rõ nét Chẳng hạn, ở tầng thấp (có độ cao dưới 500 m) thường là vùng sinh cư của các dân tộc có số dân đông, trình độ phát triển kinh tế - xã hội tương đối khá như dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, Nùng ; tầng trung bình (có độ cao

từ 500 - 800 m) là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc Dao, Giáy, Khơ Mú ; thành phần tộc người chủ yếu sống ở tầng cao (800m trở lên) là các dân tộc H’mông, Hà Nhì, La Chí, Pà Thẻn

Trang 34

Sự phân bố dân cư ở vùng miền núi phía Bắc không đồng đều Nhiều nơi, mật độ dân số cao và tiếp tục có xu hướng gia tăng Có những vùng, do điều kiện

tự nhiên quá khắc nghiệt, mật độ dân số rất thấp, chẳng hạn như Mường Tè (Sơn La) chỉ có khoảng 16 người/km2 Trong thời gian qua, mức sinh của đồng bào các dân tộc thiểu số phía Bắc vẫn còn khá cao, trung bình là 3,8 con Bên cạnh

đó, do thực hiện chương trình phân bổ dân cư nhằm phân phối lại lực lượng lao động, bắt đầu từ năm 1960, hàng chục vạn người đã được chuyển từ các tỉnh đồng bằng lên miền núi phía Bắc để phát triển những vùng kinh tế mới Ngoài ra, trong những năm gần đây, luồng di cư tự do cũng là một nguyên nhân khiến cho dân số vùng núi phía Bắc tăng nhanh Cùng với tốc độ gia tăng tự nhiên ở mức

độ cao, các luồng di dân có kế hoạch và tự phát (gia tăng cơ học) đã đưa tốc độ tăng trưởng dân số vùng núi phía Bắc lên hơn 300% Theo đánh giá của các nhà khoa học, hiện nay dân cư sinh sống ở vùng miền núi phía Bắc là khá đông và mật

độ trung bình đạt 75 người/km2 là quá cao đối với một khu vực mà diện tích đất trồng có hạn [xem: 8, tr 231] Chính vì thế, áp lực của sự gia tăng dân số đối với môi trường tự nhiên ở đây đã và sẽ tiếp tục là một vấn đề nan giải Trên thực tế, một

số nơi đã xảy ra tình trạng cạnh tranh đất đai, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số bị đẩy lùi sâu vào rừng, khiến rừng tiếp tục bị tàn phá

2.2 Truyền thống ứng xử đối với môi trường thiên nhiên của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc

2.2.1 Lối sống hòa hợp với thiên nhiên, nương nhờ và thuận theo thiên nhiên

Chúng ta đều biết rằng, trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ với môi trường

tự nhiên, con người có vai trò, khả năng rất to lớn đối với việc khai thác, sử dụng

tự nhiên vì mục đích tồn tại, phát triển của mình Những hoạt động sản xuất cũng như dân sinh của con người hướng đến sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, hay ngược lại, tàn phá tài nguyên và hủy diệt môi trường phụ thuộc rất nhiều vào thói quen, phong tục, tập quán và những yếu tố khác, tức là phụ thuộc

Trang 35

vào văn hóa của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc Nói cách khác, điều quan trọng nhất ở đây thuộc về thái độ, hành động của từng con người, từng cộng đồng dân cư trước môi trường thiên nhiên Thái độ, hành động của con người đối với môi trường tự nhiên có tính chất "thân thiện", "hòa hợp" hay "thống trị", "tước đoạt" được quy định bởi chính lối sống, truyền thống văn hóa, phong tục tập quán vốn có

Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã xây dựng nên những lối sống, phong tục, tập quán thích ứng với điều kiện tự nhiên như làm nhà sàn, canh tác nương rẫy mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc, trong đó có nhiều yếu tố tích cực Các quy ước, quan hệ luật tục trong cách ứng xử của đồng bào đã trở thành cơ sở điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong cộng đồng Trong các quy ước, luật tục đó quy định khá

rõ ràng những điều khoản cần thiết để điều tiết hoạt động của các thành viên như, xây dựng nhà vệ sinh, nơi chăn nuôi, khu vực sản xuất, thu nhặt rác thải Ngày nay, nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp trong đời sống xã hội vẫn được đồng bào bảo lưu, gìn giữ, phát huy và tạo nên cái mà nhiều nhà khoa học gọi là "văn hóa môi trường" Thí dụ, trong ngày hội đầu xuân, người H’mông đề ra nhiều quy ước, trong đó có quy ước bảo vệ rừng và đất đai của bản Người Khơ Mú ở bản

Co Chai (Sơn La), trong những năm gần đây, có quy ước giữ gìn và bảo vệ hai loại rừng cơ bản là rừng đầu nguồn và rừng "ma" Nhờ vậy, 1 ha rừng "ma" và 5

ha rừng đầu nguồn ở ngay kề cạnh bản vẫn được bảo tồn và phát triển Tại một

số vùng, người Dao, người Cơ Tu vẫn duy trì tục lệ trồng cây quế mừng ngày sinh của các cháu nhỏ Hoặc dân tộc Dao ở vùng quế Văn Yên (Yên Bái) có một tập quán lâu đời và cũng là nét văn hóa đáng trân trọng: khi con gái, con trai đến tuổi trưởng thành, được gia đình "dựng vợ, gả chồng", theo lệ, phải trồng cho làng (bản) 10 cây quế

Lối sống hòa hợp, thân thiện với môi trường tự nhiên của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc thể hiện qua các quy ước có tính luật tục trong việc

Trang 36

có phương thức khai phá rừng theo tập quán được hình thành trên cơ sở của ý thức sống chung, hòa mình với rừng Nhờ lối sống ấy, họ đã trụ vững trên những

dải núi cao trong suốt hàng trăm năm Trong lễ "ăn thề" - nào sùng được tổ chức

thường xuyên hàng năm, người H’mông đưa ra những quy định hết sức chi tiết

về vấn đề khai phá, đốt rừng làm nương rẫy Họ thống nhất với nhau về những khu rừng chưa được phép khai thác, rừng đầu nguồn Đồng thời, họ cũng đưa ra những những hình phạt rất cụ thể để nghiêm trị những kẻ cố tình vi phạm Nhờ những luật tục rất nghiêm khắc và ý thức của từng cá nhân trước lợi ích của bản thân, của cộng đồng, rừng và đất rừng đã được đồng bào khai thác, sử dụng khá hợp lý Có ý kiến cho rằng, "phương thức khai thác rừng truyền thống của người H’mông đã thể hiện rõ hành vi đốt phá rừng của họ không phải là một hành động

tự do hoàn toàn vượt ngoài ý thức, mà đó là một động thái tự do trong khuôn khổ tập tục của cả cộng đồng" [26, tr 310] Trong nhiều dân tộc thiểu số phía Bắc, đồng bào có những quy định khá chặt chẽ - dù rằng đó chỉ là sự thỏa thuận có tính quy ước của cộng đồng, như không được chặt cây hay đốt phá rừng vào mùa khô, không được tát cạn một khúc sông, dòng suối hay đầm hồ để bắt cá Thậm chí, có nơi người ta cấm xâm phạm vào những khu rừng phòng hộ, đoạn suối đầu nguồn vốn được niềm tin có tính chất tín ngưỡng của đồng bào coi là "linh thiêng", là của "Giàng" Có thể nói, chính "một thứ "luật" bảo vệ môi trường kiểu dân gian như vậy được tuân thủ lâu đời trở thành lối sống đạo đức, một nét ứng xử của người dân trước thiên nhiên, để giữ cho sự cân bằng giữa các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái" [35, tr 39]

Trải qua hàng ngàn năm, lối sống nương nhờ vào tự nhiên, hòa hợp với

tự nhiên trở thành một giá trị truyền thống quý báu của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc, được các thế hệ kế thừa, nối tiếp và phát huy Từ bao đời nay,

để duy trì cuộc sống và hoạt động sản xuất, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã xây dựng nên một lối sống khá phù hợp với điều kiện môi trường tự nhiên Điều này thể hiện khá rõ qua tập quán sinh hoạt và lao động của nhân dân Trong việc khai thác, sử dụng đất đai, nguồn nước và khí hậu vào mục đích sản

Trang 37

xuất nông nghiệp, tùy theo địa vực cư trú và đặc điểm tự nhiên, người dân đã lựa chọn những phương thức khai thác tài nguyên thích hợp Chẳng hạn, ở các vùng thấp, đồng bào dân tộc Tày, Thái, Mường khai thác đất thành ruộng; ở vùng cao, đồng bào H’mông, Lô Lô làm nương hay nương thổ canh hốc đá Nhìn chung, trong canh tác nông nghiệp theo hình thức nương rẫy, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đều thực hiện các biện pháp luân canh, bỏ hóa nhằm sử dụng, khai thác đi đôi với bảo vệ, phục hồi tài nguyên đất Người dân cũng đã sớm biết lợi dụng dòng chảy để đưa nước vào ruộng (vùng thấp), ruộng bậc thang (vùng giữa và vùng cao) Đặc biệt, "để thích ứng với đặc điểm khí hậu, đồng bào các dân tộc đã đúc kết được nông lịch tương đối chuẩn xác và khoa học cho từng vùng và tộc người, so sánh các công việc trong sản xuất nông nghiệp của các dân tộc với các chỉ số khí hậu, thời tiết địa phương thì thấy giữa chúng có mối quan hệ tương thích với nhau Đó chính là những tri thức địa phương đảm bảo cho các dân tộc lợi dụng được khí hậu, thời tiết thuận lợi và hạn chế bớt thiên tai" [3, tr 225]

Canh tác nương rẫy là một hình thức sản xuất đặc trưng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta nói chung, ở miền núi phía Bắc nói riêng Nó cho phép đồng bào các dân tộc có thể khai thác, tận dụng những vùng đất nhỏ hẹp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm Theo sự đánh giá của một số nhà khoa học, canh tác nương rẫy là một phương thức có hiệu quả nhất đối với khu vực miền núi của các nước nhiệt đới ẩm Một đơn vị năng lượng bỏ ra có thể cho phép thu được từ 5 đến 15 đơn vị năng lượng sản phẩm Thậm chí có ý kiến còn khẳng định, khả năng tăng năng suất trong canh tác nương rẫy là thực tế và sự phát triển nông nghiệp vùng cao có thể lấy canh tác nương rẫy làm điểm xuất phát và sử dụng khoa học nông nghiệp hiện đại để tăng năng suất "Thực tế, canh tác nương rẫy đang được duy trì như một hệ nông nghiệp chủ yếu ở vùng nhiệt đới và đóng vai trò quan trọng, bởi vì nó bao trùm một vùng rộng lớn, chứa đựng sự đa dạng về truyền thống, văn hóa và con người và đang trở thành tiêu chuẩn thực tiễn, nơi mà các nhóm văn hóa, truyền

Trang 38

thống đã bị phá vỡ bởi những hoạt động khai thác của một nền văn hóa xa lạ" [8,

tr 232] Đặc biệt, phương thức canh tác ruộng bậc thang, ngăn suối dẫn nước tưới ruộng của đồng bào các dân tộc không chỉ được đánh giá như một nghệ thuật, kỹ thuật sản xuất; hơn thế, xét theo quan điểm tự nhiên và sinh thái học, nó còn là sự biểu hiện một lối sống "nương nhờ" và văn hóa ứng xử "thân thiện", "ô hòa hợp" với môi trường tự nhiên Hiện nay, chính quyền ở một số tỉnh như Lai Châu, Sơn La

đã triển khai thực hiện chương trình định canh định cư cho đồng bào các dân tộc ít người (dân tộc H’mông, Dao ) trên địa bàn, thông qua các dự án xây dựng ruộng bậc thang, nương có bờ đạt hiệu quả khá tốt Đây là một biểu hiện của sự

kế thừa, vận dụng sáng tạo và nâng lên một trình độ mới những giá trị truyền thống tích cực trong lối sống và tập quán sản xuất của nhân dân miền núi phía Bắc, nhằm khôi phục và tiếp tục phát triển mối quan hệ gắn bó vốn có giữa con người và tự nhiên

2.2.2 Nguyên nhân và kết quả của lối sống hòa hợp với thiên nhiên

Suốt một thời gian dài trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc đã tạo lập và duy trì được một lối sống "thân thiện", hài hòa với tự nhiên Sở dĩ có được điều đó là do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan Trong đó, theo chúng tôi, bao gồm một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Một là, nền sản xuất xã hội của khu vực này còn kém phát triển Trong

lịch sử, nền sản xuất của cư dân khu vực miền núi phía Bắc chưa bao giờ được đánh giá là ngang bằng, lại càng không thể là vượt trội hơn hẳn về mặt trình độ

so với các vùng miền khác (vùng đô thị, đồng bằng) của cả nước Có thể khẳng định rằng, cách đây chưa lâu, nền sản xuất của khu vực này vẫn hoàn toàn mang tính chất tự cung, tự cấp Thậm chí, cho đến nay, tính chất tự cung tự cấp vẫn là một đặc trưng nổi bật trong hoạt động kinh tế của một số dân tộc ít người, đặc biệt là những dân tộc sinh sống ở vùng sâu, núi cao Trình độ sản xuất lạc hậu, các phương tiện sản xuất chủ yếu là thủ công như dao, cuốc, búa rìu ; các hoạt

Trang 39

động kinh doanh thương mại cũng kém phát triển do không có hệ thống giao thông thuận tiện Trong điều kiện lực lượng sản xuất như vậy, sự tác động của con người đến tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất là rất hạn chế Vì thế, tự nhiên chưa bị con người khai thác triệt để, cùng kiệt; môi trường sống chưa bị ô nhiễm, biến dạng hoặc bị phá vỡ Thực tế cho thấy, sức công phá rừng (để phát nương làm rẫy ) của người dân bằng con dao, cái rìu, sức kéo trâu bò khi đó là

vô cùng nhỏ so với năng lực của những phương tiện hiện đại ngày nay như cưa máy, ô tô Mức độ rửa trôi đất đai trên những vùng đất dốc được canh tác bằng cày cuốc, chọc lỗ gieo hạt (hơn nữa thảm thực vật lại chưa bị thu hẹp) là không đáng kể so với cày máy Những sản phẩm từ rừng đại ngàn như gỗ, cây thuốc quý, động vật được khai thác phục vụ nhu cầu sinh hoạt là chủ yếu, chứ không phải vì mục đích lợi nhuận Tất cả những điều đó đã chứng minh rằng, nền sản xuất kém phát triển, mang tính tự cung tự cấp là nguyên nhân quan trọng làm cho sự tác động của con người đến tự nhiên còn nằm trong một giới hạn nhất định và có thể kiểm soát được Kết quả là việc khai thác những nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển sản xuất như rừng, đất đai, khoáng sản chưa vượt quá khả năng chịu đựng, tái tạo của nó Nhờ vậy, môi trường vẫn được duy trì trong trạng thái cân bằng

Hai là, trình độ dân trí còn thấp và dân cư thưa thớt cũng là một lý do

quan trọng Chính vì dân trí còn thấp mà phần nào cuộc sống của con người chủ yếu lệ thuộc vào tự nhiên Hoạt động sản xuất của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc tập trung vào việc lợi dụng tự nhiên hoặc khai thác các sản phẩm sẵn có trong tự nhiên Người ta chưa thể "sáng tạo" ra những công cụ, phương pháp, cách thức có thể cho phép khai thác tự nhiên được nhanh nhất, nhiều nhất như sau này - khi trình độ sản xuất cũng như dân trí được nâng cao thêm một bước Đương nhiên, dân trí thấp là một trong những cản trở sự phát triển xã hội theo chiều hướng tiến bộ, tích cực Song, theo chúng tôi, ở một mức độ nhất định, lối sống hòa hợp theo kiểu "nương nhờ" tự nhiên trước đây của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc còn được quy định bởi chính sự thấp kém của trình độ dân trí

Ngày đăng: 11/03/2014, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w