1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

cây khoai lang-các con trùng gây bệnh và những rối loạn dinh dưỡng chủ yếu

100 587 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cây Khoai Lang - Các Con Trùng Gây Bệnh Và Những Rối Loạn Dinh Dưỡng Chủ Yếu
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 20,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mọt khoai lang trưởng thành ăn trên biểu bì của thân bò và lá, Chúng cũng ăn bề mặt ngoài của củ gây ra những lỗ thủng tròn có thể phân biệt được với những chỗ đẻ trứng bởi chiều sâu của

Trang 1

TRUNG TAM UNESCO PHO BIEN KIEN THUC VAN HOA, GIAO DUC CONG DONE

NGƯỜI DỊCH : MÃI THACH HOANH

Cay Khoai lang

ác côn trùng gây bệnh & những

rối loạn (linh đưỡng chủ yếu

Ũ

Trang 2

CÂY KHOAI LANG

pape tS

NAN

Trang 3

_ , TRUNG TAM UNESCO -

PHÔ BIÊN KIÊN THỨC VĂN HÓA, GIÁO DỤC CỘNG ĐỒNG

Trang 4

CÁC CÔN TRÙNG PHÁ HOẠI KHOAI

LANG VÀ VIỆC QUẢN LÝ CHÚNG

ó rất nhiều loài côn trùng tấn công vào khoai

lang và tầm quan trọng của các loài khác nhau thì khác nhau giữa các vùng sinh thái nông nghiệp

Trong cùng một vùng, tầm quan trọng của một

loài phụ thuộc vào mùa ; nhiều côn trùng phá

hoại là một vấn đề khó khăn chủ yếu trong thời

gian khô hạn

Trong cuốn hướng dẫn này, chúng tôi chia các

loài gây hại ra thành 3 nhóm dựa theo hư hại

gây ra cho lá, thân hay rễ Sự rụng lá làm giảm năng suất phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sự tàn phá và vào giai đoạn sinh trưởng của

cây khoai lang khi xảy ra sự phá hoại Ở một

số nơi, việc trồng khoai lang để lấy thân lá chăn

nuôi có thể sẽ gặp khó khăn Cùng với việc dinh

dưỡng, những côn trùng đích xác như bọ cây và

ruồi trắng sẽ truyền lan virus Hư hại thân rộng

lớn có thể dẫn đến héo hoặc thậm chí là chết

Trang 5

cây Hư hại đối với hệ thống mạch của các mô

bào tổn thương do côn trùng đinh dưỡng, đào đường

hầm và lan tràn yếu tố sinh bệnh (pathogen) có thể làm giảm kích thước và số lượng rễ dinh dưỡng

(rễ củ) Hư hại đối với các rễ củ, là phần cây phổ biến được con người tiêu thụ, gồm hai loại

Hư hại bên ngoài dẫn tới giảm sút chất lượng Mặc dù những cú bị hư hỏng bên ngoài có thể

chỉ được bán với giá thấp hơn hoặc không bán

được, nhưng chúng vẫn có thể được tiêu thụ thường

xuyên ở các hộ nông dân Hư hỏng bên trong thường

gây tốn thất hoàn toàn

Trang 6

NHỮNG CÔN TRÙNG ĂN CỦ

MỌT KHOAI LANG

(Cylas spp - Bộ cánh cứng)

Mô tả: Giống Cylas có 3 loài đều là những

côn trùng phá hoại khoai lang; chúng được gọi

phổ biến là mọt khoai lang Cả 3 loài này đều duoc tim thay 6 chau Phi Cylas formicarius co

mặt ở châu Á và một số vùng thuộc Caribbean

Con trưởng thành của cả 3 loài này giống như

con kiến có hình thon dài có thể phân biệt được

giữa chúng với nhau

Cylas puncticollis dé phân biệt nhất vi con

trưởng thành màu đen hoàn toàn và lớn hơn hai loài kia Cylas formicarius có bụng màu đen hơi xanh và ngực màu nâu hơi đỏ €ylas brunneus

trưởng thành nhỏ và màu sắc không giống nhau

Loại phổ biến nhất có thể dễ bị nhầm lẫn với

Cylas formicarius

Trong tất cả các loài đều có trứng tròn và bóng

Trang 7

Ấu trùng không chân màu trắng và cong, nhộng màu trắng

Gây hại : Triệu chứng hư hỏng giống nhau

ở cả 3 loài Mọt khoai lang trưởng thành ăn trên

biểu bì của thân bò và lá, Chúng cũng ăn bề mặt ngoài của củ gây ra những lỗ thủng tròn

có thể phân biệt được với những chỗ đẻ trứng

bởi chiều sâu của chúng lớn hơn và sự có mặt của nút phân Âu trùng mọt phát triển đào đường hầm bên trong thân bò và củ gây hư hồng rõ

rệt Cứt mọt được thải ra trong các đường hầm

Để phản ứng lại sự gây hại, có rễ dinh dưỡng

sản sinh ra chất độc tecpen là cho củ không ăn được dù với mức †ecpen thấp và mức độ hư hỏng vật chất thấp Việc đinh dưỡng bên trong các thân

bò gây ra dị tật, đặc và dễ gãy ở những thân

bò bị tác động

Sự phân bố và tầm quan trọng : Mọt Cylas

là côn trùng phá hoại khoai lang nghiêm trọng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng sinh thái nông nghiệp khô hơn Chúng thường xuyên

là côn trùng phá hoại khoai lang tiêu biểu nhất

Sự phân bố : Cylas formicarius là côn trùng gây hại quan trọng ở Ấn Độ và Đông Nam Á, Châu

Đại Dương, Mỹ và Caribbean Ở Châu Phi, nó chỉ

được tìm thấy ở Natal, Nam Phi và một địa phương

Trang 8

ở bờ biển Kanya Cylas puncticollis và Cylas brun- neus được hạn chế trong phạm vị Châu Phi

Sinh vật học : Tất cả các loài mọt khoai lang

đều có lịch sử sống tương tự nhau Con cái trưởng thành để trứng riêng lẻ trong các khoang được đào trong thân bò hay trong các củ Khoang trứng được gắn một nút phân xám bảo vệ Âu trùng phát

triển đào đường hầm trong thân bò hoặc củ Sự hình thành nhộng diễn ra trong phạm vi đường

hầm ấu trùng Sau khi nở vài ngày, con trưởng thành lồi lên khỏi thân bò hoặc củ Vì những con

mọt cái không thể đào được, nó phải tìm các củ

để đẻ trứng vào đó bằng cách xuyên qua những

khe đất Vật chủ kế tiếp của giống mọt khoai lang

là cô Ipomoea spp

Con trưởng thành của các loài này có thể xác định giới tính dễ dàng bởi hình dạng của đoạn

râu ngoại biên, ở con đực là hình chỉ (hình trụ,

nhỏ như sợi) và giống gậy ở con cái Con đực có mặt cắt mắt to hơn con cái

Nhiệt độ thích hợp để C.formicarius hoàn thành

việc phát triển (từ trứng đến trứng) trong vòng

33 ngày là 27 - 30°C.Thời gian sống của con trưởng thành từ 2, - 3,5 tháng và con cái để trứng trong

vòng 100 - 250 trứng trong thời kỳ này Ở nhiệt

độ dưới mức thích hợp, việc phát triển kéo dài

hơn Ở 27°C, Œpuncticollis cô tổng số thời gian

Trang 9

phát triển khoảng 32 ngày, trong khi đó C brunneus

mất 44 ngày Con trưởng thành của loài thứ nhất sống trung bình 100 ngày, trái lại những con sau chết sau 2 tháng Œ puneticollis con cái đẻ 90 -

140 trứng trong thời gian sống, trái lại C brunneus con cai dé 80 - 115 trứng

Kiểm soát : Khi mật độ mọt khoai lang cao, không có biện pháp kiểm soát đơn lẻ nào đem lại sự bảo vệ tương xứng Việc hợp nhất các kỹ

thuật khác nhau, cùng với việc nhấn mạnh về ngăn chặn sự tàn phá, mang lại sự bảo vệ có

thể chống chịu được

Kiểm soát trồng trọt : Những thực tiễn trồng

trọt đã chứng minh được là tác động chống lại

mọt khoai lang và nên là nguyên tắc kiểm soát

chính Thực tiễn trồng trọt bao gồm :

e Sử dụng những nguyên liệu cây không bị

lây nhiễm đặc biệt là những đầu thân bò

® Luân canh cây trồng

s Thu dọn các cây mọc tự nhiên và những mẩu

vụn cây trồng (cải thiện điều kiện vệ sinh)

e Tháo nước vào ruộng ngâm trong 24 giờ sau

khi thu hoạch xong

se Trồng đúng thời vụ và thu hoạch nhanh chóng

để tránh thời kỳ khô hạn

Trang 10

e Thu dọn các cây ký chủ hoang dại kế tiếp

e Trồng xa những cánh đồng đã nhiễm mọt

e Vun đất vào gốc các cây trồng chính và lấp

đầy các khe đất nứt lại

e Cung cấp đủ nước tưới để ngăn chặn hoặc

làm giảm nứt nẻ đất

Xử lý nguyên liệu trồng : Nhúng nguyên

liệu trồng vào trong dung dịch Beauveria bassiana hoặc thuốc trừ sâu (như carbofuran hoặc diazinon)

trong vòng 30 phút rồi trồng có thể kiểm soát được mọt khoai lang trong vài tháng đầu của vụ trồng

Sự phong phú về tính ít mẫn cảm : Sự phong phú với miễn dịch hay mức độ đề kháng

cao là không có sẵn Một số trạng thái có mức thấp hơn để điều chỉnh các mức độ đề kháng Một

số khác thoát được mọt tan phá vì các cu cua chung sản sinh sâu dưới đất hoặc vì chúng trưởng thành nhanh và có thể thu hoạch sớm

Pheromorne giới tính : Pheromorne đặc trưng

cho cả 3 loài Cylas do mọt cái phóng thích ra và

để quyến rũ những con đực đã được xác định Phero-

morne quyến rũ thường có sẵn đối với C.forrmicar1us Các bẫy pheromorne được sử dụng như một công

cụ quản lý, kiểm soát và huấn luyện Nhiều bẫy hiệu quả đã được những người nông dân sử dụng các nguyên liệu có sẵn ở địa phương thiết kế Các

Trang 11

bay rất nhạy cảm đến nỗi nếu như bẫy không bắt

được mọt thì đó là một dấu hiệu tốt cho biết sự phá hoại không còn tồn tại nữa

Kiểm soát vi khuẩn : Các đại diện kiểm soát

vi khuẩn đầy triển vọng cho việc xuất hiện mọt khoai lang là nấm B.bassiana va Metarrhizum

anlsopllae và giun tròn Heterorhabditis spp Nam

tấn công giết chết mọt, trái lại giun tròn giết chết ấu trùng

Các sinh vật ăn mồi : Kiến, nhện, bọ kỳ và

sâu tai là những con ăn mồi quan trọng thường

xuyên nhất tấn công mọt Chúng được mô tả đầy

đủ hơn ở phần "Các kẻ thù tự nhiên"

MỌT KHOAI LANG TÂY ẤN

Euscepes postfasciatus (Bộ cánh cứng : Curculionidea)

Mô tả : Mọt trưởng thành màu nâu hơi đỏ cho tới xám hơn đen, được bao phủ bởi những vảy

và lông cứng ngắn thẳng đứng Trứng màu vàng hơi xám tới vàng Ấu trùng màu trắng Nhộng

màu hơi trắng và bất động

Phân bố : E.posffasciatus phổ biến ở Caribê

và Nam Mỹ, và thường có mặt trên những cánh

đồng và trong kho khoai lang

Trang 12

Gây hại : Con trưởng thành ăn thân và củ khoai

lang, và nhai các lỗ để chưi lên Âu trùng ăn sâu

tận trong các mô bào cây Cục bộ bên trong, các

mô bào thân và thịt bị phá huỷ thảm khốc Các

củ bị tác động người và gia súc đều không ăn được Kiểm soát : Hợp nhất quản lý việc phá hoại gồm dọn dep các củ và thân khoai lang đã bị ảnh hưởng khỏi cánh đồng sau khi thu hoạch, thu dọn các vật chủ kế tiếp và sử dụng các nguyên liệu trồng không bị nhiễm bệnh Kiểm soát sinh vật học với B.bassiana và sử dụng các giống trưởng

thành sớm cũng giảm được sự gây hại

MOT NHAM KHOAI LANG

Blosyrus sp (Bộ cánh cứng: Curculionidea)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Mọt

trưởng thành màu hơi đen hoặc hơi nâu và bề

mặt cánh trước lằn gợn Điều này làm cho chúng

giống như u đất Âu trùng màu hơi trắng và có dạng chữ C Mot trưởng thành đẻ trứng bên dưới các lá rụng Âu trùng phát triển trong đất và hình thành nhộng ở đó Mọt trưởng thành được tìm thấy trên mặt đất bên dưới các cành lá trong suốt ban ngày

Trang 13

Gây hại : Mọt trưởng thành ăn các tán lá nhưng

ấu trùng gây hại khủng khiếp hơn Trong khi kiếm

ăn dưới mặt đất, chúng đục các đường hầm nông trên những củ lớn Những đường xoi này làm giảm khả năng tiêu thụ Khi bị hư hỏng rộng, phải gọt

vỏ củ dày trước khi ăn vì phần thịt củ mất màu

chỉ ở phía dưới các đường xoI

Sự phân bố và tầm quan trọng : Loại mọt

này là côn trùng gây hại phổ biến của khoai lang

ở vùng Đông Phi và gây ra những vấn đề trầm trọng ở một số địa phương

Kiểm soát : Một số phương pháp kiểm soát trồng trọt được sử dụng để kiểm soát Cylas nên

được áp dụng trong việc làm giảm tính mẫn cảm của côn trùng này, đặc biệt luân canh và cải thiện điều kiện vệ sinh Khả năng kiểm soát sinh vật học hiện vẫn trong phạm vi điều tra

NHẬY CLEARWING

Synathedon spp (Loài bướm : Sesiidae)

Ấu trùng có thể đào đường hầm xuyên qua

thân bò vào trong củ Thông thường, chỉ đầu củ

bị tác động Côn trùng gây hại này được nêu chi

A tt

tiết ở phần "Các côn trùng ăn và đục khoét than"

Trang 14

MỌT PELOROPUS

Peloropus batatae (Bộ cánh cứng: Curculionidae)

Ấu trùng mọt Peloropus có thể đào đường hầm xuống các thân bò cho tới củ

Các loài này được nói tới trong phần "Các côn trùng ăn và đục khoét thân thứ yếu'

GIÒI TRẮNG

Giòi trắng là ấu trùng của các loài bọ hung

cánh cứng khác nhau, sống trong đất Trong giai

đoạn ấu trùng, chúng lớn và béo với bụng căng phông, bao đầu rất phát triển miệng và các chân

ngực lớn Chúng thường xuyên chấp nhận một tư

thế dạng chữ C Khi ăn, giòi trắng khoét thành những chỗ lõm nông rộng trong củ khoai lang Phần

lớn các loài ảnh hưởng tới một loạt các cây ký

chủ Việc kiểm soát thường xuyên là không nhất thiết Lựa chọn bằng tay những con giòi bị lộ ra trong thời gian chuẩn bị đất và nhổ có là hữu hiệu Có thể dùng bẫy ánh sáng để kiểm soát giòi trắng khi chúng trở thành một vấn dé kinh niên

ở khu vực địa phương

Trang 15

CÁC SINH VẬT ĂN VÀ ĐỤC THÂN

NHẬY CLEARWING

Synanthedon spp (Loài bướm : Sesiidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Con

trưởng thành đẻ các đợt từ 70 - 100 trứng hơi

vàng trên thân và cuống lá Ấu trùng đào vào trong thân ngay sau khi chúng được nở ra và đào các

đường hầm đi xuống Chúng có màu hơi trắng,

da trong và bao đầu màu nâu Chúng có thể phát

triển dài tới 2,5 em Sự hình thành nhộng điễn

ra ở trong thân chính chỉ ở trên mặt đất, nhộng màu nâu hơi xám có thể trông thấy được quá trình

chui ra từ thân căng phồng Nhậy trưởng thành

có cánh trong suốt dễ phân biệt

Gây hại : Ấu trùng đào sâu vào trong các thân

bò và thỉnh thoảng đào vào củ Thân bò chính

bị phồng lên rõ nét với những hành lang dinh dưỡng

chạy ngang qua Với sự tàn phá nặng, thân bò

gay dé dàng tại chỗ chính

Trang 16

Sư phân bố và tầm quan trọng : Ba loài

thân cận của Synanthedon thường được tìm thấy

ở khoai lang, nhưng chúng chỉ gây hại đáng chú

ý ở một số địa phương vùng Đông Phi

Kiểm soát : Vun đất thường xuyên xung quanh

các cây trồng chính làm giảm tính mẫn cảm côn

trùng này Những phương pháp kiểm soát trồng

trọt khác như đã thực hiện đối với các loài mọt

khoai lang cũng giúp kiểm soát nhậy Clearwing

SÂU ĐỤC THÂN KHOAI LANG

Omphisia anasiomasalis (Loài bướm : Pyralidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Đa

số trứng được đẻ riêng rẽ dọc theo mặt dưới và các mép lá Một số được đẻ trên thân Các giai đoạn trứng, ấu trùng, nhộng trung bình 55-56 ngày Có 6 đát hình sao ấu trùng Âu trùng vừa

mới chui ra có đầu màu nâu và thân hơi hồng hoặc hơi đỏ Sau vài ngày nó chuyển sang mượt

mịn với những dấu hiệu đen Âu trùng phát triển

đây đủ dài 30mm Các cây bị nhiễm thường có

một cột cứt hơi nâu xung quanh thân chính của chúng Trước khi hình thành nhộng, ấu trùng làm một cái hố được các biểu bì thân bao phủ Sự

Trang 17

hình thành nhộng ít nhất khoảng 2 tuần và diễn

ra ở trong kén bên trong đường hầm Con trưởng thành chui ra bằng cách phá vỡ vỏ bọc mỏng như

giấy khô của lỗ Chúng sống 5-10 ngày, con cái

đẻ trung bình 150-300 trứng Nhậy dài 15mm và

có thân và đầu màu nâu hơi đỏ, cánh màu nâu

cây và hình thành các hang sâu lấp đầy phân

Cây có thể héo và chết Việc ảnh hưởng trong suốt

giai đoạn đầu sinh trưởng cây có thể ức chế sự hình thành củ

Sự phân bố và tầm quan trọng : Sâu đục

thân là một trong những côn trùng gây hại phá

huỷ cấu trúc khoai lang chủ yếu ở vùng nhiệt đới

và cận nhiệt đới Châu Á và Thái Bình Dương

Bệnh lan rộng ở Philippin, Indonesia, Ấn Độ, Srilanka, Malaysia, Dai Loan, Hawai, va Việt Nam

những nơi bệnh trầm trọng ở vùng trung tâm quốc gia Bệnh cũng xảy ra ở Trung Quốc, Nhật, Cam-

puchia, Lào, Burma (Myanma), và Thái Lan Su

lây nhiễm trong suốt pha sinh trưởng cây có thể dẫn tới làm giảm sản lượng 30-50% hoặc hơn nửa

18

Trang 18

Kiểm soát : Sử dụng các nguyên liệu trồng

đã bị nhiễm trứng sâu đục thân hay trồng trên

cánh đồng mới cạnh cánh đồng bị nhiễm bệnh

là những phương thức chính thường xuyên lan

truyền bệnh này Xử lý nguyên liệu trồng và luân canh cây trồng là biện pháp kiểm soát hữu hiệu

Vun gốc thường xuyên làm giảm sự phá hoại của mọt khoai lang cũng góp phần ngăn chặn sự lây

nhiễm sâu đục thân Các nguồn kháng cự đã được Trung tâm nghiên cứu phát triển rau Châu Á -

Đài Loan xác định

MOT KHOAI LANG co SOc

Alcidodes dentipes va A.erroneus

(Bộ cánh cứng : Curculionidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : AI-

cidodes dentipes trưởng thành dài khoảng 1,4cm

và có các sọc trắng rõ ràng dọc theo chiéu dài

cánh trước A.erroneus trưởng thành to hơn các con thông thường và có màu đen hơi nâu với một

miếng vá hơi vàng không đều trên mỗi cánh trước

Âu trùng của cả hai loài này có màu trắng với

một bao đầu màu nâu da cam và có dạng chứ

C Âu trùng và nhộng có mặt bên trong thân khoai lang bò, đa số ở các thân chính Con trưởng thành

Trang 19

ăn thành đường trong thân bò Vòng đời giống mọt khoai lang, ấu trùng và nhộng tương tự như mọt Cylas chưa trưởng thành nhưng dát hình sao

Aleidodes sau đó lớn hơn rất nhiều

Gây hại : Ấu trùng khoét vào trong thân bò đôi khi khoét xuống cả củ Các thân bò chính bị phình to Mọt trưởng thành bao quanh thân bò

làm cây bi héo

Sự phân bố và tầm quan trọng : Alcidodes spp là côn trùng gây hại thứ yếu xuyên suốt hầu hết Đông và Trung Phi

Kiểm soát : Việc kiểm soát không đòi hỏi

thường xuyên Thường xuyên vun gốc làm giảm

tỷ lệ mắc bệnh này Các biện pháp kiểm soát trồng

trọt khác như các biện pháp đã làm với các loài mọt khoai lang cũng góp phần kiểm soát Alcidodes spp

20

Trang 20

SINH VẬT ĂN VÀ ĐỤC THÂN

KHOAI LANG THỨ YÊU

MỌT PELOROPUS Peloropus batatae (Bộ cánh cứng: Curculionidae)

Mọt dài 3-4mm, đặc, màu nâu hơi đỏ có mặt

bên trong thân và củ ở một số địa phương thuộc

Đông và Trung Mỹ Dát hình sao cuối cùng của

ấu trùng trắng dài hơn sẽ cho con trưởng thành

bé Âu trùng đào các đường hầm trong thân và

có thể dẫn xuống củ qua cổ củ Nhộng và con trưởng

thành được tìm thấy ở cuối đường hầm Vòng đời

dài hơn so với các mọt khoai lang khác 2 tháng

hoặc thậm chí là hơn 2 tháng Vì ấu trùng vào qua đường cổ củ nên củ có vẻ như không hư hại bên ngoài nhưng không ăn được vì những đường

hầm chăng chịt bên trong Việc kiểm soát là không

được đòi hỏi thường xuyên

RỆP KHOAI LANG

Physomerus grossipes (Bộ cánh cứng: Coreidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Rệp

khoai lang đẻ các đám trứng ở mặt dưới lá hoặc

Trang 21

trên thân Rệp mẹ canh giữ các trứng và bầy nhộng

non Giai đoạn trứng ít nhất khoảng 15 ngày Có

ỗð giai đoạn nhộng và tổng thời gian phát triển

hết 8ð ngày đối với con đực và 88 ngày đối với con cái Con trưởng thành đài 20mm

Gây hại : Nhộng và con trưởng thành chích

lỗ vào thân cây và các cành lá khoai lang để hút

nhựa cây làm cây héo và còi cọc

Sự phân bố và tam quan trong : Rệp khoai

lang được tìm thấy ở Đông Nam Châu AÁ, nó là côn trùng gây hại thứ yếu

Kiểm soát : Rệp thường xuyên ăn cùng nhau

với số lượng lớn, dùng tay chọn hoặc dọn các cây nhiễm là biện pháp kiểm soát có thể làm được

BO CANH CUNG RAU DAI

Loài này (Bộ cánh cứng : Cerambycidae) cho

thấy ảnh hưởng tới phần thân chính ở một số địa

phương thuộc Đông Phi Ấu trùng lớn cùng với

đầu to và chúng được tìm thấy bên trong thân

chính Chúng gây lên chỗ phông rộp trầm trọng

Việc kiểm soát chúng hiếm khi cần thiết

22

Trang 22

SAU AN TAN LA BUGM KHOA! LANG

Acraea acerata (B6 buom: Nymphalidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Trứng

màu vàng nhạt được đẻ theo từng đợt 100 - 400 trứng trên cả hai mặt lá Sâu bướm màu đen hơi xanh và có các gai phân nhánh bao phú Âu

trùng tập trung trong một mạng bao bọc bảo vệ

trong suốt 2 tuần đầu sau khi nở Sau đó chúng

bắt đầu ẩn trốn ánh sáng mặt trời trên mặt đất suốt thời gian ban ngày Nhộng màu hơi vàng

và bám đơn lẻ trên mặt dưới lá hoặc ở trên những

chỗ dựa khác

Bướm trưởng thành có bộ cánh màu da cam

với các mép màu nâu rất quyến rũ Vòng đời chiếm

27 - 50 ngày tuỳ thuộc vào nhiệt độ

Gây hại : Sâu bướm ăn các lá Sâu bướm non

ăn mặt trên cúa lá, trái lại ấu trùng già ăn toàn

bộ lá trừ các đường gân căn bản Việc rụng lá hoàn toàn có thể là hậu quả của nhiều ảnh hưởng trầm trọng

Sự phân bố và tầm quan trọng : Bướm khoai

lang là côn trùng gây hại ở Đông và Trung Phi

Nó cũng gây ra sự thúc ép đáng kể ở một số địa phương Sự bùng nổ bệnh rời rạc và có tính chất

mùa vụ và thường xảy ra vào đầu mùa khô

Trang 23

eee ee Ee ET

Kiểm soát : Nên quan sát tìm bướm khoai

lang trưởng thành và sự gây hại của nó vào đầu

mùa khô trên những cánh đồng khoai lang Những mạng chứa sâu bướm non nên được thu lượm và

tiêu huỷ hàng tuần Việc trồng sớm và thu hoạch sớm có thể tránh những ảnh hưởng trầm trọng

Trong trường hợp bệnh bủng nổ dữ dội, có thể

dùng thuốc hoá học kiểm soát như carbaryl, py- rethrum , tuy nhiên cũng cần phải xem xét những ảnh hưởng lên kẻ thù tự nhiên Các loài

ký sinh trùng khác nhau : tachinid, braconid, tò

vò tấn công giai đoạn ấu trùng Beauveria bassiana

làm lây truyền bướm khoai lang

BỌ CÁNH CỨNG MAI RÙA

Aspidomorpha spp và các loài khác (Bộ cánh cứng : Chrysomelidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Trứng

được đẻ ở mặt dưới lá khoai lang hoặc lá họ bìm

bìm khác theo từng đợt gắn chặt vào lá Trứng của một số loài được giấu trong một oothecum

mỏng như giấy Âu trùng dát mỏng và bóng đặc trưng Ở một số loài, đuôi giữ cong trên lưng và

ấu trùng có thể mang chất bài tiết và lột da trước

Nhộng ít bóng hơn ấu trùng và gắn bất động

24

Trang 24

vào lá Con trưởng thành có hình ô van rộng và

có thể trang trí rực rỡ Ấu trùng, nhộng, con trưởng

thành có mặt ở mọi nơi của tán lá Sự phát triển

từ trứng đến con trưởng thành chiếm 3 - 6 tuần

tuỳ theo loài

Gây bại : Cả con trưởng thành và ấu trùng

ăn thành những lỗ tròn rộng trên lá Sự tấn công

đôi khi đủ trầm trọng để làm trơ hoàn toàn các

lá và tróc từng mảng vỏ thân

Sự phân bố và tầm quan trọng : 4 loài

Aspidomorpha và 8 loài Chrysomelidae khác đã được ghi chép ở vùng Kenya trên khoai lang Một

vài loài khác diễn ra ở Đông Nam Châu Á gồm

Cassia circumdata va C.obtusata có mai màu xanh

: A.miliaris có mai đốm ; A.amabilis với cánh trước màu nâu hơi đỏ Bọ cánh cứng có mai được phân

bổ rộng rãi và thường xuyên phổ biến

Mặc dù gây hại của chúng hoàn toàn dễ thấy, nhưng chúng hiếm khi làm giảm năng suất Kiểm soát : Kiểm soát rất hiếm khi được cảnh

báo Thu dọn các cây cổ thuộc họ bìm bìm ở các

vùng xung quanh có thể làm giảm số lượng của chúng Một số kẻ thù tự nhiên gồm những ký sinh

trùng ấu trùng và trứng (Tetratichussp., Eulophidae; Chacidae) và các sinh vật ăn m6i (Stalilia sp., Man- trdae) đã được thông báo

Trang 25

SÂU TRÙNG RÂU KHOAI LANG

Agrius convoluli (Bộ bướm : Sphingidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Trứng

nhỏ bóng được đẻ riêng lẻ trên mọi bộ phận cây

Ấu trùng có một sừng ở phía sau dễ nhận biết

Chúng có màu sắc khác nhau từ xanh đến nâu

và những kiểu sọc rõ ràng đánh dấu Sâu bướm hình dát sao cuối cùng có thể dài tới 9,Bem

Sâu trùng râu tìm thấy chủ yếu trên những chổi non Thời kỳ ấu trùng ít nhất từ 3 - 4 tuần

Sự hình thành nhộng diễn ra trong đất mất 5 -

26 ngày tuỳ theo nhiệt độ Nhộng lớn màu nâu

hơi đỏ đặc trưng bởi các vòi nổi bật uốn cong xuống dưới Con trưởng thành là "hawkmoth" lớn màu xám với những đường đen trên cánh Sải

cánh rộng 8 - 12cm

Gây hại : Có thể làm giảm năng suất nếu rụng lá nặng nề khi cây còn non

Một con sâu bướm lớn có thể ngắt lá một cây và

một mật độ lớn ấu trùng dát sao thời kỳ cuối có

thể ngắt lá một cánh đồng sau một đêm Ấu trùng

ăn các phiến lá gây lên những lỗ bất bình thường

có thể ăn phiến lá già chỉ để lại cuống lá

Sự phân bố và tầm quan trọng : A.convolvuli diễn ra rộng khắp Bệnh không thường xuyên gây

Trang 26

hại nguy hiểm mặc dù sự bùng nổ bệnh trầm trọng

đã được thông báo ở Việt Nam

Kiểm soát : Lựa chọn kỹ các ấu trùng trên

các lá thường xuyên đem lại hiệu quả Cày xới

đất giữa các cây để làm ấu trùng lộ ra Bẫy ánh sáng có thể sử dụng để điều khiển mật độ con

trưởng thành Khi xảy ra sự tăng nhanh về số lượng con trưởng thành, việc thu dọn thường xuyên các ấu trùng nhỏ có thể giúp ngăn chặn sự tích luỹ bùng nổ mật độ các ấu trùng dát sao giai đoạn cuối tham ăn Việc sử dụng thuốc trừ sâu sẽ phá

vỡ sự tác động của các ký sinh trùng trứng và

ấu trùng ở sâu trùng râu

SÂU TRÙNG ARMY

Sprodoptera eridania, S.exigua, S.litura

(Bộ bướm : Noctuidae (buém cd)

Đặc điểm hình thái : Nhậy cái trưởng thành

của loài S.eridania màu nâu sáng với những đốm tối trên các cánh trước Con đực nhỏ hơn với những

đốm đen hoặc một thanh ngang giữa cánh trước

Các ấu trùng trong giai đoạn đầu phát triển màu

đen mượt với những đường kẻ vàng ở bên cạnh

thường sống thành bầy Giai đoạn phát triển sau,

Trang 27

ấu trùng màu xám tới xanh oliu với 2 đường sống lưng song song và chúng phân tán trên tất cả

các cây

Các trứng S.exigua màu trắng được đẻ thành

đám hình oval hoặc tròn được một lớp chất giống như nỉ bao phủ Ấu trùng trước tiên màu xanh

cỏ, sau đó chúng chuyển sang xanh hoặc nâu đen với những sọc hơi vàng trên dát sao sau đó Sự

9 ngày và phải mất khoảng 3 tuần để tiến tới thời kỳ nhộng Ấu trùng có 2 hình lưỡi liềễm đen đặc trưng trên đốt bụng thứ 4 và thứ 10, giới hạn bởi những sọc sống lưng bộ phận bên màu vàng

Ấu trùng ưa những nơi ẩm và có thể ẩn trong đất suốt ngày, chỉ tấn công cây vào buổi tối Sự

hình thành nhộng diễn ra trong đất Nhậy cái giao

hợp vài lần và sinh ra pheromorne giới tính Nhậy

đực rất nhậy cảm với pheromorn sau khi chúng

thoát ra vào ngày thứ 4 Con cái trưởng thành

có thể để nhiều tới 2000 - 3000 trứng

Gây hai : Ấu trùng dát sao thời kỳ đầu ăn

Trang 28

bằng cách cào xới bề mặt lá Từ thời kỳ dát sao

thứ 3, chúng tàn phá mô bào nhu mô lá, chỉ để lại các đường gân Thời kỳ dát sao cuối cùng S.]itura

rất phàm ăn và có thể đào sâu vào trong củ khi

củ bị phơi ra

.Sự phân bố và tầm quan trọng : Sâu trùng Army truyền lan rộng và ăn nhiều cây chủ S.ltura

giới hạn ở Châu Á, Thái Bình Dương và Australia

Kiểm soát : Nên loại trừ những cây ký chủ

là co dai Ipomoea reptans va mét vai loai co (Amaranthus sp., Passiflora foetida, Ageratum sp.)

thường xuyên là cây chu ké tiép 6 Chau A Lua

các đám trứng hoặc các lá nhiễm ấu trùng non

sống thành đám có thể là biện pháp kiểm soát

hiệu quả Sử dụng thuốc trừ sâu hay Bacillus thuringiensis có thể vào giai đoạn ấu trùng đầu

tiên khi các ấu trùng vẫn còn sống thành bầy

Công thức của các virus nhân polyhedrosis là tiện dụng Nấm nho xa màu xanh, Nomuraea riÌeyi

gây bệnh cao đối với S.ltura, và virus Borrelinavirus litura có thể gây tử vong sau một thời gian ủ bệnh 4 - 7 ngày Rệp ăn mồi, bọ cánh cứng carabid, ong bắp cày vespid, và nhện tấn công ấu trùng

và hơn 40 loài ký sinh trùng scelionid, braconid,

tò vò, và tachinid đã được biết đến

Trang 29

SAU CUON LA

Brachmia convolvuli (Bộ bướm: Gelechiidae), Herpetogramma hipponalis (Bộ bướm: Pyralidae)

và những loài khác

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Ấu

trùng của sâu cuốn lá màu den B convolvuli va

ấu trùng sâu cuốn lá màu xanh H.hipponalis đều

ăn bên trong các lá bị cuốn để lại biểu bì thấp hơn nguyên vẹn Trong một số trường hợp, chỉ

một ấu trùng được tìm thấy trên mỗi lá cuộn

Sâu cuốn lá màu đen đẻ trứng đơn lẻ hình oval

màu trắng hơi vàng trên các lá Trứng được nở

ra sau 3-5 ngày và 5 dát hình sao ấu trùng kéo

dài 2-5 ngày Trung bình tổng thời kỳ ấu trùng mất 11 ngày Âu trùng có bland nổi bật và những dấu trắng ở ngực và bụng Giai đoạn nhộng mất

4 - 7 ngày Nhậy cái sống trung bình 5 ngày Sâu cuốn lá màu xanh đẻ trứng thành các nhóm trên mặt trên của lá gần đường gân giữa Trứng

có khối chử nhật màu xanh bóng và được chất sền sệt giống vảy bao phủ Trứng nở ra sau 3 -

5 ngày và có 5ð dát hình sao Au trùng màu vàng hơi xanh với các lông cứng màu nâu rải rác và

một đầu màu nâu tối và tấm trước ngực Giai

đoạn nhộng sau 4 - 8 ngày Con trưởng thành

là nhậy màu nâu hơi vàng với những dấu nâu tối trên cánh Nhậy cái sống khoảng 3 ngày

Trang 30

Gây hại : Mép lá bị cuốn lại do B.convolvuli, H.hipponalis cuốn mép lá gấp đôi và sinh ra một

it mang Sau cuốn lá ăn hại dẫn đến vẻ bề ngoài của các lá giống như ren với những gân lá chính còn nguyên vẹn để lại

Sự phân bổ và tầm quan trọng : Sâu cuốn

lá phân bố rộng khấp từ Châu Á tới Châu Phi

Kiểm soát : Tỉ lệ ong bắp cày braconid ký sinh cao là phổ biến Sâu tai và các sinh vật ăn

mồi khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc

duy trì kiểm soát tự nhiên Nếu hoạt động của các kẻ thù tự nhiên không bị phá vỡ do Việc sử dụng thuốc trừ sâu, thì việc kiểm soát hiếm khi

cần thiết Sử dụng các nguyên liệu trồng không

bị lây nhiễm là một biện pháp hiệu quả làm giảm

tính mẫm cảm sâu cuốn lá

Sâu cuốn lá màu nâu, Ochyrotica concursa (Bộ

bướm : Pyralidae) và sâu cuốn lá sọc hồng Anticrota

omatalis (Bộ bướm : Pyralidae) đã được thông báo

ở Philippin Các ấu trùng màu xanh của sâu cuốn

lá pyralid, Tabidia aculealis xới thị lá từ phía

bên trong của các lá bị cuốn Chúng thích các

lá đã phát triển hoàn toàn và nhộng được tìm thấy trong các ngăn lá Bệnh được thông báo ở Indonexia và hiếm khi gây nên những hư hại nghiêm trọng

Trang 31

BO CANH CUNG STROBIDERUS

Strobiderus aequatorialis (Bộ cánh cứng : Chrysomelidae)

Loại bọ này nhỏ, màu hơi vàng, dài 5 - 7mm

có ở Đông Phi Con trưởng thành đục lỗ các lá

và gây hư hại tương tự như bọ cánh cứng mai

rùa Các phương pháp kiểm soát không thường

Con trưởng thành ăn lá khoai lang nhưng quan

trọng nhất là gây hại củ và thân (xem phần "Sinh

vật an cu")

THUnHH27 c— cưng net

TS nh Fak Fo Pacrsn ed Leerage 2afacerres cpnrre re

Trang 32

CÁC SINH VẬT ĂN LÁ THỨ YẾU

Ở Châu Phi cả nhộng và con trưởng thành Z.vari-

egatus có thể ngắt lá khoai lang Sự bùng phát hiếm khi xảy ra và việc kiểm soát ít khi cần

Một loài ở Châu Á, châu chấu dạng mặt nghiêng

ăn tạp có màu xanh sáng và nổi bật nhờ đầu chóp nón và các râu ngắn Kích thước dài 30 - 4Ömm Châu chấu cái khoai nước, Œesonula zonocena

mundata (Bộ cánh thẳng : Aecrididae) được tìm thấy

ở Đông Nam Châu Á Nó đục xuyên qua cuống

lá của cây chủ để đẻ trứng Chúng được bao phủ

bởi một chất dính màu nâu hơi đỏ Con trưởng

thành màu nâu nhạt tới xanh dài 30mm và có

những sọc đen chạy dài từ mắt tới đầu cánh Các

chân sau màu đen và xương chày hơi xanh với

các gai bịt đầu trắng Khoai nước và cây lan dạ

hương nước cũng là những cây chủ

Trang 33

CÁC SINH VẬT TRUYỀN LAN VIRUS

xanh hơi vàng tới đen có hoặc không có cánh Rệp

có thể sinh sản vô tính dẫn đến tăng mật độ rất

nhanh Một vài thế hệ diễn ra trong cùng năm Gây bại : Rệp gây hại cho cây bằng cách hút nhựa sống từ những chổi đang phát triển Những-

triệu chứng bệnh là các lá non nhàu, khum hình chén, và cuộn cong xuống Nhiễm nặng, sinh lực

cây mất đáng kể

Vì rệp ăn và di chuyển từ cây này sang cây khác trên cánh đồng nên chúng truyền lan virus Virus được rệp truyền lan quan trọng nhất là virus

đốm lông khoai lang Các dạng cánh có thể đi được

khoảng cách dài và giới thiệu virus vào những

Trang 34

vùng mới A.gossypii có phạm vi vật chủ rộng rãi

gồm cây bông, bầu bí và cây rau đậu

Sự phân bố và tầm quan trọng : Rệp Aphis

có ở toàn thế giới Tác động chủ yếu của chúng trên khoai lang như vật chú trung gian lan truyền virus Kiểm soát : Kiểm soát đặc biệt cần thiết Sinh vật ăn mồi như bọ cánh cứng ladybird, lacewing (Chrysoperla sp.) va surphid lam giam mật độ rệp

tự nhiên Trường hợp bệnh phát nặng, những người nông dân có xu hướng dùng thuốc trừ sâu, tuy nhiên nên sử dụng với sự đề phòng lớn vì chúng

có thể làm giảm mật độ kẻ thù tự nhiên và có

thể góp phần bùng phát rệp mạnh hơn

RUỒI TRẮNG

Bemisia tabaci (Bộ cánh đêu : Aleyrodidae)

Đặc điểm hình thái và sinh vật học : Con

cái B.tabaci đẻ trứng ở mặt dưới lá Toàn bộ các

giai đoạn nhộng đều màu trắng hơi xanh, hình

oval, giống như vảy và đôi khi sáng bóng Con trưởng thành nhỏ và được bao phủ bởi lớp phấn

xáp màu trắng Sự phát triển một thế hệ mất

3 - 4 tuần

Trang 35

Gây hại : Mật độ ruồi trắng cao có thể gây

vàng và hoại tử các lá bị nhiễm Sự gây hại là

quan trọng hơn khi có một vật truyền virus đặc

biệt virus đốm nhẹ khoai lang .tabaci có phạm

vi vật chủ rộng lớn gồm bông, cà chua và sắn

Sự phân bố và tầm quan trọng :Anh hưởng

chính trên khoai lang của B tabaci, mét loài có

mặt khắp thế giới, như một vật chủ trung gian

của các bệnh về virus

Kiểm soát : Các phương pháp kiểm soát không thường xuyên cần đến Việc kiểm soát ruôi trắng

không phải là biện pháp hiệu quả thường xuyên

trong việc giới hạn tính mẫn cảm virus mà chúng

Sinh vật học : Erinose có mặt ở Đông Phi

và Mỹ Vấn đề được nói nhiều ở những vùng độ cao so với mực nước biển thấp hơn có khí hậu

Trang 36

nóng khô Nghiên cứu cho thấy năng suất có thể

bị giảm

Kiểm soát : Kiểm soát thông qua chọn lựa

nguyên liệu trồng không nhiễm ve bét và cải tạo

điều kiện vệ sinh cánh đồng tốt Tuy nhiên điều

này có thể không có đủ ảnh hưởng, vì mật độ ve bét có thể tăng dần lên

Eriophyes gastrotrichus (Cai ghé : Eriophyidae)

Đặc điểm hình thái : Những thân bò bị nhiễm

tồn tại các mụn cây vú lá giống như túi trên các

lá, cảnh và thân Trước tiên những mụn cây vú

lá màu xanh sáng, nhưng càng về sau chúng trở nên nâu Ve bét trầm trọng trong một số giai đoạn phát triển sống cùng nhau bên trong mỗi mụn cây

vú lá Khi xảy ra lây nhiễm nặng, lá trở lên nhăn nhúm và mất hình dạng

Binh vật học : Erinose do ve bét mụn cây

vú lá gây ra có mặt ở PhilippIn và Papua New Guinea

Kiểm soát : Nên sử dụng nguyên liệu trồng

sạch bệnh cùng với việc cải thiện điều kiện vệ

sinh cánh đồng tốt và tiêu diệt cỏ dại mà chúng hoạt động như những ký chủ

Trang 37

CAC KE THU TU NHIEN CUA

CON TRUNG HAI KHOAI LANG

ac kẻ thù tự nhiên của những vật gây hại

khoai lang đã có sự quan tâm nghiên cứu nhất định Mối quan hệ sinh thái và sinh vật học của

chúng được biết đến rất ít chủ yếu cho các sinh vật ăn mồi chung nhất như kiến, và cho các sinh bệnh nấm của mọt khoai lang

Những sinh vật ăn mồi chung nhất thường là

những nhóm rất quan trọng của những cá thể kiểm

soát sinh vật học trong hệ thống nông nghiệp vì chúng có thể chuyển từ loại mổi này sang loại mồi khác Những thói quen dinh dưỡng linh hoạt của chúng cho phép chúng phản ứng lại như một vật gây hại thay thế vật gây hại khác theo các thời hạn tương đối phong phú Các loài ăn cổ gây

nên những thiệt hại nhỏ không đáng kể về mặt

kinh tế đóng một vai trò sinh thái quan trọng trong

hệ thống nông nghiệp bởi việc cung cấp định đưỡng

38

ee

woe were ee RS pe ree ee PET

pee pees err = =

_— “ST eee ee SA =

Trang 38

ea

để duy trì mật độ của những loài có lợi ở mức

độ có thể ngăn chặn bùng nổ vật gây hại

Ở Châu Á, nơi khoai lang thường xuyên được trồng luân canh với lúa, nhiều sinh vật ăn mỗi thông thường nhất được tìm thấy phổ biến trên

những cánh đồng lúa vẫn còn trong tồn tại dai

dẳng trong vụ khoai lang tiếp sau (Muốn biết thêm

thông tin về phần này, xem Shepard et al 1987)

SÂU TAI

Sâu tai (Dermaptera : Forfieuliidae) cô đặc điểm đôi càng giống như gọng kim phía sau được sử

dụng để phòng thú Con trưởng thành có thể sống vài tháng và hoạt động chủ yếu vào buổi tối Chung

đục các đường hầm vào trong thân tới ấu trùng

Chúng thỉnh thoảng bò lên cành để bắt mỗi các

ấu trùng cuộn lá Chúng có thể tiêu thụ 20 - 30

con mồi hàng ngày

NHỆN

Tầm quan trọng của nhện như những sinh vật

ăn mồi đã được chứng minh rõ ràng đối với lúa,

Trang 39

nhưng vai trò của chúng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ trong nhiều cây trồng khác nhau và chỉ biết chút ít về sự đóng góp của chúng đối với

việc kiểm soát sinh vật học của những côn trùng

gây hại khoai lang

Nhện linh miêu Oxyopøes sp và nhện Wolflycosa

sp rất phong phú trên những cánh đồng khoai lang Chúng không chăng tơ nhưng thích săn mồi

trực tiếp Nhện chăng tơ cũng rất phổ biến

PHEIDOLE VÀ KIỄN ĂN MỖI KHÁC

Những người nông dân Cuba thực hành làm tang lén Pheidole megacephala (Myrmicinae) và

Tetramorium guinensis (Myrmicinae) dé kiém

soát mọt khoai lang C.formicarius Một vài loài kiến - Pheidole sp., Irdomyrmex anceps (Dolicho- derinae), va Anoplolepis longipes (Formicinae) -

đã được thừa nhận là những sinh vật ăn mọt

khoai lang ở Indonexia Mặc dù vai trò của nó

là sinh vật ăn các vật gây hại khoai lang khác

vẫn chưa được biết đến, nhưng kiến Pheidole đã

được biết về ảnh hưởng tới các giai đoạn môi nhỏ

như trứng và ấu trùng dát sao giai đoạn đầu

Trang 40

này vẫn chưa được thừa nhận là sinh vật ăn các vật gây hại khoai lang, nhưng đã có tài liệu ghi

các ý kiến tham khảo về thói quen ăn môi của một số loài Một ví dụ là Myrmicaria sp thường tìm thấy các sâu bướm đang tấn công trên các

cánh đồng và đang lết vào tổ

BỌ CÁNH CỨNG

Carabid là một trong những loài thân cận quan trọng nhất của bọ cánh cứng ăn môi Đa số carabid trong các hệ thống nông nghiệp là những loài

cư trú ở mặt đất và ăn các côn trùng khác đang sống hoặc nhộng ở trong hoặc trên mặt đất Một

vi dụ về carabid ăn mồi được xác nhận từ những

cánh đồng khoai lang ở Indonexia là Pheropsopus

Ngày đăng: 11/03/2014, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w