1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO LỊCH sử ĐẢNG xây DỰNG ĐẢNG QUA các THỜI kỳ CÁCH MẠNG SAU đại học

125 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Tham Khảo Lịch Sử Đảng Xây Dựng Đảng Qua Các Thời Kỳ Cách Mạng Sau Đại Học
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng
Thể loại chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 631 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Chuyên đề 1 1 1 1 2 1 3 XÂY DỰNG ĐẢNG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 1945) Đặc điểm tình hình, mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng thời kỳ 1930 1945 Chủ trương, biện pháp xây dựng.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Chuyên đề 1:

Trang 2

Chuyên đề 1 XÂY DỰNG ĐẢNG THỜI KỲ ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930-1945)

MỤC TIÊU

- Về kiến thức: chuyên đề nhằm cung cấp cho học viên những kiến

thức về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền

- Về kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được trang bị, học viên rút ra được

những vấn đề cần thiết để giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác xâydựng Đảng hiện nay

- Về tư tưởng: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê

nghiên cứu khoa học, quán triệt sâu sắc các vấn đề cơ bản lịch sử xây dựngĐảng trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

có tác động tích cực đến phong trào cách mạng Việt Nam những năm

1930-1935 và với sự kiện lịch sử ĐCSVN ra đời đầu năm 1930 đã sẵn sàng lãnhđạo cách mạng, ngay sau khi ra đời đã có ngay Cương lĩnh hành động, bí mậtđưa Cương lĩnh đến với quần chúng là điều kiện quan trọng thúc đẩy phong

trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ Như vậy, yêu cầu, nhiệm

vụ đặt ra đối với cách mạng Việt Nam thời kỳ này là phải nhanh chóng tập

hợp quần chúng, làm cho lực lượng trở nên đông đảo, vận động quần chúngđấu tranh từng bước, vì các mục tiêu trước mắt để đi tới mục tiêu cuối cùng.Đồng thời, trong điều kiện đấu tranh bị địch khủng bố, đàn áp, tổn thất về lực

Trang 3

lượng, nhất định phải nhanh chóng khôi phục lực lượng và các cơ sở cáchmạng, không ngừng củng cố, tăng cường vững chắc lực lượng của mình Hậuquả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và nguy cơ một cuộc khủnghoảng kinh tế mới làm cho mâu thuẫn xã hội ở các nước TBCN thêm sâu sắc.Những mâu thuẫn không thể điều hoà được trong nội bộ của chủ nghĩa đếquốc dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa phát-xít Sự ra đời của chủ nghĩa phát-xít đặt loài người trước nguy cơ nghiêm trọng: nhân loại đứng bên bờ vựcthẳm của thảm hoạ chiến tranh Do vậy, phong trào đấu tranh chống phát -xít,chống chiến tranh nổi lên ở nhiều nước Phong trào được sự chỉ đạo chặt chẽcủa Quốc tế cộng sản III Gắn cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạngthế giới, thực hiện chủ trương của Quốc tế cộng sản III, trong những năm

1936-1939, Đảng nhấn mạnh: Mục tiêu chiến lược vẫn là chống đế quốc và

phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày; song mụctiêu trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phátxít và

chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình, vì thế, kẻ thù chủ yếu được xác định là bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng Trong thời kỳ này, yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với cách mạng Việt Nam là tiến hành xây

dựng mặt trận thống nhất rộng rãi chống phát-xít và chiến tranh phát-xít, sửdụng các hình thức đấu tranh phong phú, linh hoạt trong cuộc đấu tranh vì hòabình, dân chủ, dân sinh; qua đó, tập dượt lực lượng, phát triển lực lượng,chuẩn bị tiến lên đấu tranh giành chính quyền khi có thời cơ

Tuy nhiên, bất chấp nỗ lực đấu tranh của các lực lượng tiến bộ trên thếgiới, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, bắt đầu bằng sự kiện ngày 1-9-1939, phát-xít Đức tấn công Ba Lan Lợi dụng tình hình chiến tranh, Chínhphủ Pháp thi hành hàng loạt các biện pháp thẳng tay đàn áp các lực lượng dânchủ trong nước và phong trào cách mạng ở thuộc địa Mặt trận nhân dân Pháp

bị tan vỡ, ĐCS Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật

Ở Việt Nam, bộ máy đàn áp được tăng cường Chúng thủ tiêu những gì

mà nhân dân ta giành được trong thời gian trước Thực dân Pháp tiến hành cải

tổ bộ máy cai trị, tăng cường lực lượng cảnh sát, mật thám, phát-xít hoá bộmáy, đàn áp phong trào cách mạng

Trang 4

Lợi dụng sự thất thủ và đầu hàng của các đế quốc có thuộc địa ở châu

Á, phát-xít Nhật nhanh chóng cướp lấy thuộc địa Ngày 22-9-1940, Nhật Bảncho quân vượt biên giới Việt-Trung đánh vào Lạng Sơn chính thức xâm lượcĐông Dương Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng và dâng Đông Dươngcho Nhật Từ đó, nhân dân Việt Nam sống rên xiết dưới ách áp bức Nhật-Pháp Sau khi chiếm Đông Dương, quân phiệt Nhật không lật đổ bộ máy thựcdân Pháp, mà sử dụng nó như một công cụ thực hiện ý đồ của chúng, dựngnên Chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim Quân Nhật cướp ruộng đất của nôngdân, nhổ lúa để trồng đay và thầu dầu phục vụ nhu cầu chiến tranh, cùng vớithực dân Pháp thực thi ở Đông Dương một nền kinh tế độc quyền phục vụchiến tranh Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, thực dân Pháp thực hiện nhiềubiện pháp tuyên truyền lừa bịp, phản động, một mặt, chống lại ảnh hưởng củaNhật, mặt khác, ngăn chặn phong trào yêu nước của nhân dân ta Còn phát xítNhật ra sức tuyên truyền cho thuyết “Đại Đông Á”, mở trường dạy tiếngNhật, lập viện văn hoá, đặt các cơ quan thông tin, du lịch, tổ chức trao đổi cácđoàn văn hóa, giáo dục, y tế, tôn giáo giữa Nhật và Việt Nam, nắm một số tờbáo tay sai, làm công cụ tuyên truyền, đề cao chúng

Đầu năm 1945, sau khi trải qua 4 năm chiến tranh quyết liệt, Chiếntranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Hồng quân Liên Xô tiếnnhư vũ bão về phía sào huyệt của phát- xít Đức và chúng sắp bị tiêu diệt ỞThái Bình Dương, quân Nhật bị đẩy lùi khỏi Miama và Philipin Phát -xít Nhật

ở vào tình thế khốn quẫn, chuyển sang phòng ngự và bị thất bại liên tiếp Ở ĐôngDương, lực lượng Pháp theo phái Đơgôn đang chờ quân Đồng minh vào đểnổi dậy đánh Nhật Mâu thuẫn giữa Nhật- Pháp trở nên gay gắt Để phòng hậuhọa, 8 giờ tối 9-3-1945, Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp Trong thời gianngắn, quân Pháp tan rã và đầu hàng Sự câu kết Nhật- Pháp chấm dứt Sau đảochính, chính sách cai trị Đông Dương của Nhật vẫn không có gì thay đổi Nhậtgiữ nguyên bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương để phục vụ chúng Lúc này, yêucầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải xây dựng lực lượng mọi mặt,

có đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu

Trang 5

cầu khách quan của thực tiễn và tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chớplấy thời cơ, giành chính quyền về tay nhân dân.

Một cách tổng quát, với những nhiệm vụ cách mạng to lớn đặt ra trongthời kỳ 1930-1945, vấn đề xây dựng Đảng vững mạnh trên các phương diệnnội bộ Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng trở nên vô cùng quan trọng vàđược coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Xây dựng Đảng thời kỳ nàytrên các phương diện chủ yếu cần thích ứng với nhiệm vụ cách mạng, tìnhhình thực tiễn của từng giai đoạn cách mạng, để đi tới mục tiêu cuối cùng:Giành chính quyền thắng lợi, giành độc lập, tự do cho nhân dân

2 Chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng thời kỳ 1930-1945

a Về tư tưởng

Trong các chỉ thị, nghị quyết của Đại hội và các kỳ Hội nghị Trungương của Đảng những năm 1930-1945, đều nhấn mạnh những nguyên tắc vànội dung cơ bản xây dựng Đảng về tư tưởng chủ yếu sau:

Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác – Lêninlàm gốc, đại biểu cho quyền lợi chính, lâu dài và chung cho giai cấp vô sản ởĐông Dương, lãnh đạo giai cấp vô sản Đông Dương ra tranh đấu để đạt đượcmục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản

Phải luôn nâng cao trình độ lý luận cho Đảng trên cơ sở trên nền tảng

tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin Đảng đấu tranh khắc phục mọi tư tưởng

“tả” khuynh, cô độc, hẹp hòi và những tư tưởng hữu khuynh trong Đảng vềviệc nhận thức và chấp hành đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh.Kiên quyết, triệt để chống bọn tơrôtkit ở Đông Dương Cần chống lại những

di tích tiểu tư sản, đầu cơ, biệt phái, xây dựng nền tảng tư tưởng bônsevichvững chắc Đảng chỉ rõ: Xây dựng một nền tư tưởng bônsevich không phải làchỉ tuyên truyền suông về chủ nghĩa cộng sản, về lý luận Mác – Lênin, màphải luôn luôn nhận thức rằng, lý luận Mác – Lênin là vũ khí đấu tranh, là lýluận hành động cách mạng của giai cấp vô sản

Đảng cũng chủ trương mở rộng các cuộc học tập chủ nghĩa Mác-Lênintrong các cấp đảng bộ, qua đó bám sát thực tiễn, tổng kết hoạt động thực tiễn

để học tập ưu điểm, tránh và sửa khuyết điểm (được gọi là cuộc vận động tự

Trang 6

chỉ trích bônsơvích) Cuộc vận động tự chỉ trích bônsơvích phải được coi là

một công tác thường trực Mỗi đảng bộ cấp trên phải chỉ đạo các đảng bộ cấpdưới trực thuộc thực hiện vận động tự chỉ trích, đồng thời, kéo đông đảo quầnchúng tham gia vận động tự chỉ trích Một công tác quan trọng nữa là phảichống lại những nhận thức sai lầm về tính chất giai cấp của Đảng1 Bên cạnh

đó, Trung ương và các đảng bộ phải tìm mọi phương pháp để mở rộng việctuyên truyền sách lược của Đảng trong quần chúng lao động (đặc biệt là thôngqua sách, báo) Nhiệm vụ này phải thi hành đồng thời với nhiệm vụ kiểm trasách báo rất nghiêm ngặt, làm cho nền tư tưởng và hành động được thốngnhất, tiêu diệt ngay những xu hướng chia rẽ, cơ hội từ lúc mới nảy nở

hệ với giai cấp vô sản trên thế giới Nhiệm vụ này được Đảng tiếp tục xácđịnh trong Luận cương tháng 10-1930 Luận cương chính trị khẳng định lạinhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược cách mạng mà Cương lĩnh cáchmạng đầu tiên đã nêu lên (vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; hai giai đoạncủa cách mạng tư sản dân quyền; lực lượng chính của cách mạng; phươngpháp cách mạng), đồng thời, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận của cáchmạng Việt Nam (đề cập đến vấn đề thời cơ cách mạng, chỉ ra điều kiện để bỏqua giai đoạn phát triển TBCN tiến thẳng lên CNXH, chỉ rõ nội dung xâydựng Đảng) Tuy nhiên, Luận cương còn nặng về đấu tranh giai cấp, không đặtnhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu Nhược điểm này của Luận cương đã kịp thời

được Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế đồng minh khắc phục Chỉ thị

Trang 7

đã nhấn mạnh lại tư tưởng chiến lược cách mạng đúng đắn của Chính cươngvắn tắt, Sách lược vắn tắt; phê phán những nhận thức sai lầm trong của Đảngkhi tách rời vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp, phê phán nhận thức không

đúng về vấn đề đoàn kết dân tộc Đặc biệt, văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới công bố tháng 10-1936 đã tiếp tục giải quyết một cách thấu

đáo, sáng tạo mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ với tư tưởngchủ đạo: Chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng củamột dân tộc mà đánh cho được toàn thắng

Trong những năm 1936-1939, các hội nghị của BCH Trung ương Đảng(Hội nghị lần thứ 3 (3-1937); lần thứ 4 (9-1937); Hội nghị toàn thể (3-1938)…) đãtiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể;giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của cách mạng; bổ sung, hoàn chỉnh

từng bước các chủ trương và biện pháp đấu tranh Tuy mục tiêu chiến lược vẫn là

chống đế quốc, chống phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dâncày, song nhiệm vụ quan trọng nhất trong giai đoạn này là tập hợp rộng rãi mọi lựclượng chính trị, dù là bé nhỏ, bấp bênh hoặc tạm thời; sử dụng các hình thức tổchức và đấu tranh linh hoạt, phù hợp với mục tiêu cụ thể của cách mạng, nhằmđộng viên quần chúng đấu tranh chống phát – xít, chống chiến tranh, vì hòa bình vàdân sinh, dân chủ

Như vậy, từ năm 1930 đến năm 1939, nhận thức, quan điểm của Đảng

về chiến lược, phương pháp cách mạng, về đấu tranh giành chính quyền đã cónhững bước phát triển đáng kể, mặc dù nhiệm vụ đấu tranh giành chính quyềnlúc này chưa được đặt ra trực tiếp

Trong những năm 1939 -1941, khi tình hình quốc tế và trong nước cónhững biến chuyển, Đảng đã nhanh chóng nắm bắt, phân tích tình hình, đưa ra

và hoàn thiện đường lối đấu tranh giành chính quyến qua các Hội nghị Trungương (11- 1939), (11-1940), (5-1941) Các Hội nghị đã xác định:

(1)- Nêu cao nhiệm vụ GPDT, giành độc lập hoàn toàn cho đất nước: Chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu vì đế quốc Pháp, Nhật là kẻ thùchủ yếu Nhiệm vụ chống phong kiến đặt ra thực hiện từng bước và phải đặtdưới nhiệm vụ GPDT Điều đó là đúng đắn, phù hợp với diễn biến chung của

Trang 8

tình thế, phù hợp với nguyện vọng chung của toàn thể dân tộc Lúc này, tạmthời chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, song nông dân vẫn khônggiảm bớt sự hăng hái tranh đấu mà vẫn nỗ lực tranh đấu mạnh hơn vì trongcuộc tranh đấu GPDT họ cũng được hưởng nhiều quyền lợi to tát

(2)- Về vấn đề lực lượng:

+ Để đoàn kết và huy động được sức mạnh của toàn dân thực hiện mục

tiêu GPDT, Hội nghị Trung ương 6 chủ trương xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi và vững chắc Đó là Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế

Đông Dương (11- 1939) thay cho Mặt trận dân chủ trước đó Hội nghị Trungương 7 thành lập Mặt trận dân tộc chống phát – xít; tháng 5-1941, Hội nghịTrung ương quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh)

(3)- Về phương pháp cách mạng:

+ Từ kinh nghiệm của các cuộc khởi nghĩa, của hoạt động của Cứuquốc quân, của đội du kích ở Bắc Sơn - Vũ Nhai, các Hội nghị đã khẳng địnhvấn đề khởi nghĩa vũ trang: Cuộc cách mạng Đông Dương phải tiến hànhbằng một cuộc khởi nghĩa võ trang Các Hội nghị cũng chỉ ra những điều kiệnkhách quan, chủ quan để khởi nghĩa bằng vũ trang và dự liệu những bước đi

để thúc đẩy những điều kiện đó phát triển chín muồi; đồng thời khẳng định:

Ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phươngcũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa

(4)- Đảng hết sức chú trọng phân tích tình thế cách mạng cả trong nước

và quốc tế để chủ động chuẩn bị về mọi mặt thúc đẩy thời cơ cách mạng:

+ Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 và tháng 11- 1940 đã đề cập tớitình thế và thời cơ để cách mạng tiến lên giành thắng lợi

+ Đặc biệt Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 đã dự báo Liên Xô thắngtrận, quân Trung Quốc phản công, quân Nhật đang mắc sự phản công của Anh

- Mỹ và đặt ra yêu cầu cần thiết và cấp bách cho sự chuẩn bị điều kiện chuyểnbiến cuộc cách mạng phải chuẩn bị ngay từ bây giờ Tình hình thế giới sẽ biếnchuyển ghê gớm làm cho tình hình Đông Dương thay đổi có lợi cho cáchmạng Ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hộithuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù

Trang 9

+ Sau Hội nghị Trung ương 8, Đảng và Hồ Chí Minh tiếp tục theo sát sựphát triển của tình hình thế giới và trong nước để dự liệu thời cơ cách mạng.

(5)- Vấn đề chính quyền và hình thức tổ chức nhà nước

+ Khi xác định cuộc cách mạng là CMGPDT nghĩa là phải giành lấyđộc lập, tự do cho dân tộc thì một vấn đề rất cơ bản và chủ yếu đặt ra là vấn

đề hình thức tổ chức nhà nước phải xây dựng khi giành được độc lập

+ Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 chủ trương chưa đưa khẩu hiệu

lập “Chính phủ Xô- viết công nông binh'' là hình thức chính phủ riêng của dânchúng lao động, mà lựa chọn hình thức “Chính phủ cộng hoà dân chủ”, làhình thức chính phủ chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ vàtrong phong trào GPDT Đó là sự lựa chọn đúng đắn phù hợp với điều kiện cụ

thể của xã hội Việt Nam Chương trình Việt Minh tiếp tục xác định rõ hơn về hình thức nhà nước Đó là Nhà nước “cộng hoà dân chủ” - Nhà nước cách

mạng của dân, do dân, vì dân và do ĐCS lãnh đạo

• Như vậy, bước vào cao trào GPDT những năm 1939 - 1945, Đảng và

Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam chưa phảilà cách mạng tư sản dân quyền với nhiệm vụ giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, cũng chưa phải là cách mạng XHCN mà là cách mạng giải phóng dân tộc

giành cho được độc lập hoàn toàn, rồi từng bước thực hiện mục tiêu ruộngđất, mở đường tiến dần lên CNXH Đó là quy luật vận động, phát triển củacách mạng nước ta và khẳng định sự đúng đắn, tính triệt để của CMGPDT

do ĐCS lãnh đạo

- Những nội dung đường lối CMGPDT mà các Hội nghị Trung ương 6,

7, 8 xác định là một hệ thống toàn diện, đồng bộ những vấn đề chiến lược,sách lược và phương pháp cách mạng, chủ động về nắm bắt tình thế và thời

cơ cách mạng Điều cần đặc biệt nhấn mạnh là Đảng và Hồ Chí Minh đã làm

rõ sự thống nhất trong mục tiêu giành độc lập cho dân tộc và giành chínhquyền về tay nhân dân để đi đến sự lựa chọn hình thức chính quyền nhà nướcthích hợp

Tháng 3-1945, khi Nhật đảo chính Pháp, Đảng kịp thời ra Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12-3-1945), bổ sung đường lối

Trang 10

đấu tranh giành chính quyền Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt

và duy nhất của cách mạng Đông Dương lúc này là phát-xít Nhật, kịp thờiphát động cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp trên cả nước, làm rõ hơn

về tình thế và thời cơ cách mạng, phân tích những điều kiện cụ thể để khởinghĩa có thể nổ ra và giành thắng lợi Chỉ thị thể hiện sự nhận định sáng suốtcủa Đảng, từ đó có những chủ trương kiên quyết, kịp thời, nhờ đó dấy lên mộtcao trào cách mạng, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi

Hội nghị Tân Trào (14-8-1945) xác định đúng đắn thời cơ cách mạng(trong một khoảng thời gian ngắn, sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh đếntrước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, đó là lúc so sánh lực lượng có lợinhất cho cách mạng Việt Nam) Hội nghị cũng chỉ rõ nguyên tắc chỉ đạo Tổngkhởi nghĩa: Thống nhất, tập trung, kịp thời; phải đánh chiếm ngay những nơichắc thắng, không kể thành phố hay nông thôn; phối hợp giữa quân sự vàchính trị; phải làm tan rã tinh thần quân địch trước khi đánh… Đại hội quốcdân Tân Trào (15-8-1945) nhiệt liệt ủng hộ chủ trương tổng khởi nghĩa của

Đảng, quyết định lập Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam tức Chính phủ lâm

thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, sẵn sàng tiếp quản, lãnh đạo đấtnước khi cách mạng thắng lợi, tránh không để xuất hiện một “khoảng trốngquyền lực” Như vậy, Đảng đưa ra đường lối cách mạng giải phóng dân tộcđúng đắn, được hoạch định trên tư duy chính trị, lý luận cách mạng khoa học

và thực tiễn sinh động đất nước Đường lối thể hiện sự sáng suốt, tư duy biệnchứng của Đảng trong việc nhận định tình hình, sự nhạy bén trong điều chỉnhchủ trương, trong dự báo, xác định và nắm bắt thời cơ, huy động được sứcmạnh toàn dân tộc, tạo điều kiện cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi mộtcách nhanh chóng, ít đổ máu

c Về tổ chức

Xây dựng cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống tổ chức

Ở Trung ương, Bộ máy lãnh đạo với ba bộ được hình thành: Bộ Tuyên truyền, Bộ Tổ chức kiêm Giao thông, Bộ Tài chính Trung ương còn lập Ban

Trang 11

Đảng vụ làm công tác văn phòng Bộ máy lãnh đạo của Đảng những năm

1934-1935 đã thêm một cấp lãnh đạo mới - Chấp uỷ2 Đảng chú trọng kiệntoàn một bước bộ máy lãnh đạo cao cấp của Đảng

Bộ máy tổ chức của Đảng hoạt động theo nguyên tắc dân chủ tập trung,kết hợp giữa bí mật và công khai, có một đường dây thông tin liên lạc kịpthời, bí mật, được tổ chức chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địaphương Cách làm việc của các cấp bộ Đảng tuân thủ nguyên tắc “tập đoànchỉ huy, cá nhân phụ trách”, nhằm tránh nạn bao biện, đánh trống bỏ dùi, cánhân manh động, hay mệnh lệnh chủ nghĩa Cách thức tổ chức các cơ quanlãnh đạo thích hợp với điều kiện bí mật, do vậy, việc phân quyền và phâncông trách nhiệm khá rõ rệt; mỗi đảng bộ phải có hai, ba mối giao thông khácnhau với đảng bộ khác (đồng cấp hay khác cấp), để đề phòng khi mất mối nàythì còn mối khác Việc chấn chỉnh, củng cố các cơ quan lãnh đạo của Đảng từTrung ương đến cơ sở cũng được đặt ra

Công tác cán bộ và xây dựng cấp ủy

Thời kỳ này, Đảng chú trọng tìm tòi, bồi dưỡng, coi trọng công tác đàotạo cán bộ Đây được coi như vấn đề then chốt trong công tác xây dựng Đảng.Việc sắp xếp cán bộ dựa trên phẩm chất, năng lực Đó là nguyên tắc cất nhắccán bộ quan trọng nhất

Để cung cấp cán bộ cho phong trào yêu nước đang phát triển, bên cạnhviệc mở một số lớp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cấp tốc, ngắn ngày, có chươngtrình phù hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tế, để đào tạo cán bộ về chính trị,quân sự, binh vận, Đảng đồng thời tổ chức cho một số cán bộ đảng viên củaĐảng vượt ngục, trở về địa phương hoạt động

Xây dựng đội ngũ đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng

Các đảng bộ các cấp gấp rút củng cố, mở rộng và phát triển chi bộĐảng, đồng thời thống nhất tổ chức của toàn Đảng, xây dựng hệ thốngchi bộ cơ sở rộng khắp trong các nhà máy, xí nghiệp, nông thôn, rừngnúi… Đảng chủ trương phát triển đảng viên, thành lập các chi bộ trong tù

và củng cố công tác của các chi bộ này Mở rộng mạng lưới tổ chức cơ sở

uỷ (khu uỷ); Tổng uỷ (xã uỷ); Chi uỷ (chi bộ).

Trang 12

Đảng, không thể thiếu các đảng viên nòng cốt cán Do vậy, công tác tổchức cho đảng viên vượt ngục, trở lại hoạt động được coi trọng Đây làbước đi sáng tạo, là con đường ngắn nhất củng cố Đảng, bởi những đảngviên bị bắt và được tổ chức cho vượt ngục đều là những đồng chí hạt nhântrung kiên của Đảng, có kinh nghiệm hoạt động

Công tác phát triển Đảng được gắn với phong trào đấu tranh của quầnchúng Không ngừng xây dựng, phát triển lực lượng, đặc biệt trong các thời

kỳ 1936-1939; 1939-1945 – thời kỳ chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa

Bảo vệ chính trị nội bộ Đảng

Công tác bảo vệ nội bộ cũng được lưu ý Các đảng bộ địa phương

đã chủ trương “thanh đảng”, “thanh hội”, để thanh trừ những phần tử đãđầu hàng, phản bội, những người không phải thành phần công nông rakhỏi Đảng Xiết chặt kỷ luật, kiên quyết khai trừ khỏi Đảng những phần

tử đi trái đường lối chính trị chung của Đảng, của Quốc tế cộng sản,những người không phục tùng nghị quyết, điều lệ, phá hoại kỷ luật củaĐảng Yêu cầu đối với đảng viên là phải luôn tôn trọng kỷ .luật củaĐảng, phải luôn phê và tự phê bình

d Về phương thức lãnh đạo của Đảng

* Điều kiện, yếu tố chi phối phương thức lãnh đạo của Đảng những năm 1930-1945

Đảng phải hoạt động trong điều kiện bị bộ máy thống trị của thực dânPháp và triều đình phong kiến thực hiện chính sách đàn áp và khủng bố cực

kỳ gắt gao với những thủ đoạn dã man, tàn bạo Để bảo tồn lực lượng, nhằmthực hiện nhiệm vụ vận động, giác ngộ, tổ chức quần chúng đấu tranh giànhchính quyền, Đảng phải hoạt động bí mật trong sự giúp đỡ, bảo vệ, che chởcủa nhân dân cả nước Đặc điểm bao trùm là hoạt động theo nguyên tắc bímật đã chi phối phương thức lãnh đạo của Đảng

* Những đặc điểm cơ bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng

Chủ trương tập hợp lực lượng đông đảo

Ngay từ khi mới thành lập, để thực hiện mục đích lãnh đạo nhân dângiành độc lập dân tộc, Đảng đã đề ra sách lược tập hợp, đoàn kết hết thảynhững tầng lớp nhân dân có thể tập hợp được, bao gồm trước tiên là dân cày

Trang 13

nghèo, tranh thủ các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, trung nông; Đảng còn phảitranh thủ cả phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản dân tộc chưa bộc lộ mặtphản cách mạng, hoặc chí ít thì cũng trung lập họ Sách lược tập hợp nhân dânlúc đó còn bao gồm cả việc đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấpcông nhân quốc tế, nhất là giai cấp công nhân Pháp, làm tăng thêm lực lượngcách mạng trong nước Đây là sách lược nhằm phân hoá hàng ngũ kẻ thù, tậphợp tối đa những lực lượng yêu nước trong nước, sự ủng hộ của cách mạngquốc tế, thực hiện thêm bạn, bớt thù, làm cho lực lượng yêu nước và cáchmạng ngày càng đông đảo, mạnh mẽ hơn Tuy có lúc (trong Luận cươngtháng 10-1930), Đảng còn bị chi phối bởi nhận thức “tả’ của Quốc tế cộng sảnIII, khộg đánh giá đúng vai trò cách mạng của giai cấp tiểu tư sản, mặt yêunước của tư sản dân tộc và một bộ phận giai cấp địa chủ, từ đó không đề raliên minh giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, tay sai, songnhược điểm này đã nhanh chóng được khắc phục.

Đề ra những khẩu hiệu cách mạng sáng tạo và linh hoạt

Để tập hợp quần chúng nhân dân vào các phong trào yêu nước và phongtrào cách mạng do Đảng lãnh đạo, hoặc những phong trào đấu tranh dưới ảnhhưởng của Đảng, Đảng đã đề ra những khẩu hiệu cách mạng sáng tạo và linhhoạt, vừa đáp ứng yêu cầu của quy luật khách quan và yêu cầu của chiến lượccách mạng của Đảng, vừa phù hợp với yêu cầu, tâm tư, nguyện vọng của cáctầng lớp nhân dân khác nhau, đồng thời phù hợp với trình độ giác ngộ chính trịcủa nhân dân

Khẩu hiệu cách mạng là ngọn cờ tập hợp quần chúng bị áp bức bóc lột,nếu đáp ứng được những đòi hỏi nói trên, nó sẽ có sức mạnh to lớn, lôi cuốnhàng triệu quần chúng vào các phong trào rộng lớn Theo tinh thần ấy, Đảng

ta đã đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, coi đó là khẩu hiệu hànhđộng cao nhất của cách mạng Đặt khẩu hiệu giải phóng dân tộc lên hàng đầu

là một chủ trương sáng suốt của Đảng, trên cơ sở nhận thức đúng mâu thuẫngay gắt nhất của xã hội Việt Nam lúc đó (mâu thuẫn dân tộc chứ không phảimâu thuẫn giai cấp) Bên cạnh đó, khi thực hiện những mục tiêu trước mắtcủa cách mạng, Đảng cũng có những khẩu hiệu phù hợp, động viên quần chúng

Trang 14

đấu tranh (ví dụ: công nhân đòi làm việc ngày 8 giờ, chống cúp phạt, ngược đãi,đòi chữa bệnh; nông dân đòi giảm sưu cao, thuế nặng, giảm tô, giảm tức; ngườibuôn bán nhỏ đòi giảm thuế khoá, chống phạt vạ; trí thức đòi giải quyết việc làm,đối xử bình đẳng v.v…).

Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của Đảng mềm dẻo, linh hoạt

Trong những năm 1930-1939, công tác tuyên truyền, vận động quầnchúng của Đảng nhằm mục tiêu tập hợp đông đảo, lực lượng cho cách mạng,

tổ chức quần chúng thành một khối thống nhất, đấu tranh vì những mục tiêutrước mắt, giành thắng lợi từng bước, để đi đến giành thắng lợi toàn phần Côngtác tuyên truyền, vận động của Đảng đã được đưa vào các nhà máy, xí nghiệp,các vùng nông thôn, giác ngộ lý tưởng cách mạng cho quần chúng lao khổ vớinhiều hình thức phong phú: Truyền đơn, sách báo, diễn thuyết… và vì thế, có tácdụng tích cực Đường lối, chủ trương của Đảng đã đến được và thấm sâu vàoquần chúng

Vào những năm sau 1939, khi họa phát xít trực tiếp đe doạ ĐôngDương, Đảng đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, đặt ra mục tiêucao nhất là chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát xít, giành độc lập dântộc; việc chống phong kiến, địa chủ, tư sản được thực hiện phù hợp với yêucầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc

Việc phát động các phong trào hành động cách mạng của Đảng đã đượcnhằm đúng vào những vấn đề bức xúc, nóng bỏng của xã hội, ví dụ phongtrào “phá kho thóc giải quyết nạn đói” trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám đãthổi bùng lên khí thế đấu tranh của quần chúng Điều đó chứng tỏ rằng, Đảngnắm bắt đúng yêu cầu cách mạng, nêu được khẩu hiệu hành động đi vào lòngngười, đáp ứng yêu cầu phát triển của quy luật vận động khách quan

Tập hợp nhân dân vào các tổ chức thích hợp, phù hợp với tính chất, đặcđiểm và trình độ giác ngộ, khả năng đấu tranh của mỗi giai tầng

Ngoài việc đề ra khẩu hiệu cách mạng đúng đắn, Đảng còn lãnh đạophong trào của các tầng lớp nhân dân thông qua việc giải quyết thành côngcác hình thức tổ chức lực lượng, tập hợp quần chúng đa dạng, phong phú

Trang 15

linh hoạt Trong những năm 1936 – 1939, do yêu cầu của nhiệm vụ cáchmạng, các tổ chức yêu nước cần được mở rộng cho nhiều người Việt Namtham gia để chống đế quốc, chống phát xít, do đó phải giảm bớt tính đấutranh giai cấp của các tổ chức Theo nhận thức trên, Thanh niên cộng sảnđoàn được đổi tên thành Thanh niên dân chủ, Hội cứu tế đổi tên thành Hộicứu tế bình dân; Công hội đỏ thành Công hội, Nông hội đỏ thành Nông hội,

… Các Hội quần chúng khác cũng phát triển rầm rộ, như hội cấy, hội gặt,hội lợp nhà, hội hiếu hỷ …

Sau năm 1939, khi sự tồn vong của dân tộc được đặt lên hàng đầu,Đảng phải động viên nhân dân đấu tranh dưới khẩu hiệu cứu nước trong mặttrận Việt Minh, trong những tổ chức Cứu quốc Trong bối cảnh ấy, các tổ chứcquần chúng đều mang tên “Cứu quốc”: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứuquốc, Nhi đồng cứu quốc, Phụ lão cứu quốc… Đây là những hình thức tậphợp quần chúng hiệu quả, tập hợp tối đa mọi giai tầng, mọi lứa tuổi, mọithành phần… tạo nên một lực lượng đông đảo; là một trong những điều kiệnquan trọng cho thắng lợi của cách mạng

Hình thức lãnh đạo phong phú, linh hoạt

Nhờ tuyên truyền, vận động giác ngộ quần chúng, qua việc đa dạng hoácác hình thức tập hợp nhân dân trong các phong trào, các tổ chức thích hợp,Đảng đã chuẩn bị những điều kiện tổ chức nhân dân vào các cao trào đấutranh, khởi nghĩa giành chính quyền Quá trình đó là quá trình Đảng khôngngừng vận dụng các hình thức lãnh đạo linh hoạt, tạo nên các cao trào đấutranh yêu nước và cách mạng hết sức phong phú Đó là quá trình gắn bó giữavận động tuyên truyền từng con người với công tác vận động của tổ chức; gắn

bó giữa giác ngộ tư tưởng với đấu tranh, qua đấu tranh lại làm cho quầnchúng giác ngộ thêm lên Đó cũng chính là quá trình kết hợp giữa đấu tranh bímật với đấu tranh công khai và bán công khai, giữa tuyên truyền với tuyêntruyền võ trang, với hình thức sơ khai của lực lượng võ trang, trên khắp cácđịa bàn từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi

3 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân

Trang 16

3.1 Thành tựu, hạn chế trong xây dựng nội bộ Đảng

a Trong xây dựng Đảng về tư tưởng

Chủ nghĩa Mác – Lênin được tuyên truyền, học tập sâu rộng trong đảngviên, quần chúng Chủ trương, đường lối của Đảng được đưa vào quần chúng.Trong những năm 1930-1931, các đảng viên bị địch bắt bớ, tù đầy đã thànhlập nên những chi bộ ở nhà tù đế quốc, đồng thời tổ chức cho các đảng viêncủa mình trau dồi, nghiên cứu lý luận (học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, đườnglối của Đảng…), nâng cao trình độ (học ngoại ngữ, học văn hóa…) và traođổi kinh nghiệm hoạt động cách mạng Các đảng viên của Đảng đã giữ vững

ý chí, chí khí cách mạng khi bị địch khủng bố ác liệt Các chi bộ Đảng trongsinh hoạt đã kịp thời nhắc nhở đảng viên chống lại những “bệnh” nguy hạicho đảng như chủ nghĩa cơ hội, vụ lợi

Các đảng bộ đã mở rộng tự chỉ trích bônsơvích trong các cấp, để nângcao trình độ chính trị toàn Đảng và để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin đượctrong sạch, giữ thái độ không thoả hiệp với các xu hướng đầu cơ, chống mọi

sự cải biến chủ nghĩa Mác - Lênin Nhờ đó, nền tảng tư tưởng của Đảng đượccủng cố Như vậy, nhờ chú trọng kịp thời công tác xây dựng Đảng về tưtưởng, Đảng trưởng thành hơn về cả tư tưởng –lý luận và tư tưởng – chính trị.Khối đoàn kết trong Đảng được củng cố; một số nhận thức sai lầm trongĐảng được uốn nắn kịp thời; những rạn nứt trong tư tưởng và hành động củaĐảng dần được hàn gắn, tạo sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng

Tuy vậy, một số ảnh hưởng của tư tưởng phi mác-xít vẫn còn chưađược chống triệt để; trình độ tư tưởng – lý luận của đảng viên chưa được nângcao toàn diện; công tác tuyên truyền còn chưa rộng khắp

b Trong xây dựng Đảng về chính trị

Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương cách mạng đúng đắn Đó là đặtnhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; các nhiệm vụ khác (dân chủ) phảiđược thực hiện rải ra, phục tùng nhiệm vụ dân tộc Bởi, nếu nhiệm vụ dân tộc

mà không được giải quyết, thì các quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến ngànnăm cũng không đòi lại được Thành công lớn của Đảng thời kỳ này là Đảng

đã linh hoạt tùy tình hình cụ thể, nhạy bén trong phân tích thực tiễn, kết hợp

Trang 17

mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài, đưa ra chủ trương tổ chức tập hợp,xây dựng, tập dượt và phát triển lực lượng chính trị của quần chúng, kết hợpcác hình thức, loại hình đấu tranh phong phú, đa dạng khác nhau, đưa cáchmạng tiến kịp với những chuyển biến khách quan, tạo nên thế và lực của cáchmạng, thực hiện thắng lợi giành chính quyền về tay nhân dân.

Bên cạnh đó, có những lúc không nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dântộc là hàng đầu; không thấy hết mặt tích cực cách mạng của tiểu tư sản, tưsản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ ở một nước thuộc địa Cũng phải nhấnmạnh rằng, tuy có lúc nhận thức của Đảng vẫn rơi vào tình trạng “tảkhuynh” do ảnh hưởng của Quốc tế cộng sản III, song Đảng đã nhanhchóng vượt qua sai lầm, nhận thức đúng tình hình thực tế, đưa ra chủtrương, biện pháp đúng trong lãnh đạo cách mạng

c Trong xây dựng Đảng về tổ chức

Hệ thống tổ chức của Đảng được thực hiện theo đúng Điều lệ mới đã

được thông qua tại Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 Trước sự khủng bốtàn bạo của kẻ thù, Đảng vẫn đứng vững, phát triển, số lượng đảng viên chẳngnhững không giảm, mà còn tiếp tục tăng lên Đảng đã thiết lập lại các tổ chứccủa mình bị địch phá Các tổ chức cơ sở Đảng thậm chí đã phát triển đến tậnLào, thượng du Bắc Kỳ và ở Cao Miên Phong trào đấu tranh của quần chúngtiếp tục vươn lên

Công tác phát triển Đảng được tổ chức liên tục, thường xuyên đến ngàyCách mạng tháng Tám thành công Trong thời gian ngắn, số lượng đảng viêntăng lên rõ rệt Khi mới thành lập, Đảng có khoảng hơn 300 đảng viên (chưatính số đảng viên nước ngoài, chủ yếu là người Trung Quốc – khoảng 419người) với hơn 50 chi bộ Đến tháng 12-1930, tổng số đảng viên trong cảnước có 2.995 đồng chí, sinh hoạt trong 255 chi bộ khắp cả nước Còn đếntháng 4-1931, toàn Đảng đã có 2.400 đảng viên với hơn 250 chi bộ Đầu năm

1932, toàn Đảng có 2.100 đảng viên, do bị địch giết nên không còn bao nhiêu,nhưng đến năm 1933, toàn Đảng đã có 1.850 đảng viên và đến năm 1934,tổng số đảng viên là 1.300 Đến cuối năm 1939, Đảng có 2.300 người với gần

300 chi bộ được phân bố trong khắp cả nước Từ 2.850 đảng viên năm 1943,

Trang 18

đến năm 1944 đã tăng lên 3.150, còn đến khi Cách mạng tháng Tám thànhcông, Đảng đã có 5000 đảng viên; số chi bộ tăng từ 300 năm 1943 tới gần 400vào năm 1944.

Tổ chức cơ sở Đảng được tăng cường, nội bộ Đảng được bảo vệ, nhiềuđảng bộ mới được thành lập Công tác tổ chức nội bộ Đảng có nhiều bướctiến: Kiện toàn tổ chức cấp Xứ uỷ; công tác cán bộ có bước chuyển; trong đó,công tác bảo vệ nội bộ Đảng được làm tương đối tốt, thanh trừ những phần tửxấu chui vào Đảng, các phần tử đảng viên đã thoái hoá, biến chất, đầu hàng,phản bội Thanh trừ về cơ bản đúng đối tượng, không võ đoán, mơ hồ

Bên cạnh đó, nhiều đảng bộ không chú trọng phát triển đảng viên trongquần chúng công nhân, không chú ý đưa các đảng viên tiên tiến thuộc thànhphần công nhân vào các cấp lãnh đạo, ngay cả tành phần công nhân trong Đảngcũng không đáng kể Đến năm 1941, thành phần trong Đảng là: 25% là vô sản;5% là phụ nữ; 70% là nông dân và tiểu tư sản Cơ cấu chưa cân đối đó chưaphản ánh được tính chất vô sản của Đảng Nhiều chi bộ còn hoạt động chưa tốt.Nhiều nơi chưa có chi bộ, hoặc có nhưng tan rã, mà không gây dựng lại Vẫnchưa xây dựng được nhiều tổ chức cơ sở Đảng trong nhà máy, xí nghiệp, hầm

mỏ, thành thị Tổ chức Đảng còn lẫn lộn với tổ chức quần chúng, nên kẻ địch

dễ chui vào Công tác cán bộ cũng có vấn đề, thiếu cán bộ chuyên môn

Lề lối làm việc của nhiều đảng bộ còn phân tán, thiếu tính tập thể, buônglỏng kỷ luật, cách thức làm việc còn thủ công, chưa biết nắm trọng tâm, trọngđiểm trong công tác Một số đảng bộ địa phương tách rời công tác tổ chức vớicông tác đấu tranh Chủ trương “thanh Đảng” của Xứ uỷ Trung Kỳ – “thanh trừtrí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” là một chủ trương sai lầm

Công tác phát triển đảng viên mới chưa đúng điều lệ; hệ thống tổ chức bịchia cắt, ít liên hệ được với nhau, còn nhiều khe hở; lực lượng chi bộ và đảng viênphân bổ không đều, chưa vươn tới được những điểm trọng yếu của phong trào;nội bộ một số tổ chức Đảng chia rẽ Những khuyết điểm này cũng là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến những tổn thất cho Đảng và cho phong trào cáchmạng Việt Nam

d Thành tựu, hạn chế trong phương thức lãnh đạo của Đảng

Trang 19

Đảng đã Đưa cán bộ vào xí nghiệp, về nông thôn xây dựng cơ sở, pháttriển tổ chức đảng và tổ chức quần chúng, tuyên truyền, phổ biến đường lối,chính sách của Đảng, uốn nắn những khuynh hướng lệch lạc và cổ vũ quầnchúng đấu tranh Nhờ đề ra các khẩu hiệu cách mạng đúng đắn, mà Đảng đãlàm dấy lên một khí thế cách mạng sôi sục của hàng chục triệu quần chúng,thu hút quần chúng vào các phong trào đấu tranh với những yêu cầu, mụcđích cao, thấp khác nhau, từ đòi quyền dân sinh, dân chủ tiến tới giác ngộchính trị và đấu tranh lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành tự do, độc lậpcho Tổ quốc.

Việc lựa chọn và đưa ra khẩu hiệu đấu tranh là một quá trình vận dụng,phân tích tình hình thực tế, tương quan lực lượng chính xác, thể hiện việc vậndụng chiến lược, sách lược linh hoạt Trong những giai đoạn, những thời kỳ khácnhau, đối với các giai tầng khác nhau, Đảng đã đưa ra những khẩu hiệu đấu tranhphù hợp

Tóm lại, công tác xây dựng Đảng được hoạch định một cách quy củ,

khoa học, dựa trên việc phân tích khá toàn diện tình hình thực tế trên các mặtkinh tế, chính trị, xã hội; phân tích những thành công, sai lầm của Đảng trongthời gian đó Từ đó, Đảng đưa ra đường lối cách mạng đúng đắn, lãnh đạothực hiện nhiệm vụ cách mạng đạt hiệu quả, xây dựng nền tảng tư tưởng vữngchắc, chống lại những khuynh hướng “tả” trong Đảng; tổ chức đại hội, xây dựng

bộ máy Trung ương tuyên truyền, học tập các nghị quyết của Đảng, phát triểnđảng viên, đào tạo cán bộ Trong quá trình lãnh đạo các phong trào, các tổ chứcyêu nước và cách mạng, bằng những phương pháp linh hoạt, sáng tạo, Đảng đãcắm rễ, bám sâu, bám chắc trong quần chúng, do đó Đảng đã có thể tồn tại tronglòng quần chúng, thực hiện phương thức lãnh đạo từ quần chúng mà ra và trở vềvới quần chúng

Bên cạnh đó, ở nhiều lúc, công tác vận động, tuyên truyền chưa đượcchú trọng đối với một số tầng lớp; cách thức vận động cũng còn cứng nhắc,chưa thực sự phù hợp với trình độ nhận thức của tầng lớp được vận động

Trang 20

Công tác vận động quần chúng, tập hợp lực lượng cách mạng cũng cònchưa thực sự ăn sâu vào thực tiễn ở một số địa bàn, nhất là những địa bản cóđồng bào dân tộc thiểu số.

Có những thời điểm, khẩu hiệu cách mạng chậm được thay đổi cho phùhợp với mục tiêu cách mạng

Trong hoạt động của các hình thức tập hợp lực lượng cũng còn chưasâu sát, vì vậy, đôi khi làm giảm hiệu quả tập hợp quần chúng

3.3 Nguyên nhân hạn chế trong công tác xây dựng Đảng những năm 1930-1945

Thứ nhất, Đảng CSVN ra đời ở nước nông nghiệp lạc hậu; cán bộ Đảng

nhận thức còn thấp, thành phần nông dân đông, Đảng lại hoạt động trong điềukiện, hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm

Thứ hai, còn nhiều khi không quán triệt đầy đủ những nguyên lý phổ

biến của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng, không giữ vững nguyêntắc, thiếu lập trường, quan điểm giai cấp vững vàng, không thấy được ảnhhưởng của thành phần giai cấp xuất thân đối với tư tưởng, ý thức con người

Thứ ba, chủ trương, công tác xây dựng Đảng nhiều khi không xuất

phát đầy đủ từ thực tiễn cách mạng nước ta và thực tiễn xây dựng Đảng ta,không nắm vững những đặc điểm của quá trình ra đời và trưởng thành củaĐảng ta

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Nội dung công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đấu tranh giànhchính quyền?

2 Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tácxây dựng Đảng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền?

Trang 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Tài liệu tham khảo bắt buộc:

1 Lê Mậu Hãn, Đảng Cộng sản Việt Nam, các Đại hội và Hội nghị Trung ương, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2000.

2 Nguyễn Trọng Phúc, Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011),

Nxb, Chính trị quốc gia, H.2012

3.Mạch Quang Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1995

- Tài liệu tham khảo không bắt buộc:

1 Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng

Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Nghị quyết Hội nghị các khóaVI, VII, VIII, IX, X và XI (Phần viết về công tác

5 Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh –

Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I,1920-1945, Nxb.

Sự thật, H 1982

Trang 22

Chuyên đề 2 XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ (1945-1975)

MỤC TIÊU

- Về kiến thức: chuyên đề nhằm cung cấp cho học viên những kiến

thức về công tác xây dựng Đảng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ

- Về kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được trang bị, học viên rút ra được

những vấn đề cần thiết để giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác xâydựng Đảng hiện nay

- Về tư tưởng: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê

nghiên cứu khoa học, quán triệt sâu sắc các vấn đề cơ bản lịch sử xây dựngĐảng trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

NỘI DUNG

1 Xây dựng Đảng trong kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược (1945-1954)

1.1 Đặc điểm tình hình và nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thànhlập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng Đấtnước bị các thế lực đế quốc, phản động bao vây và chống phá quyết liệt PhíaBắc vĩ tuyến 16, có gần 20 vạn quân Tưởng và lực lượng Việt quốc, Việt cách PhíaNam vĩ tuyến 16, có gần 2 vạn quân Anh – lực lượng hậu thuẫn cho thực dânPháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn (23-9-1945), mở đầu cuộc xâm lược nước

ta lần thứ hai Trên toàn đất nước còn có khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờgiải giáp Một số quân Nhật đã thực hiện lệnh của quân Anh, cầm súng cùngvới quân Anh dọn đường cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miềnNam Lúc này, các tổ chức phản động "Việt quốc", "Việt cách", Đại Việt ráoriết hoạt động Chúng dựa vào thế lực bên ngoài để chống lại cách mạng

Trong lúc đó, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức nghiêmtrọng về kinh tế, xã hội Nạn đói ở miền Bắc do Nhật, Pháp gây ra chưa được

Trang 23

khắc phục Ruộng đất bị bỏ hoang Công nghiệp đình đốn Hàng hóa khanhiếm, giá cả tăng vọt, ngoại thương đình trệ Tình hình tài chính rất khó khăn,kho bạc chỉ có 1,2 triệu đồng, trong đó quá nửa là tiền rách Ngân hàng ĐôngDương còn nằm trong tay tư bản Pháp Quân Tưởng tung tiền quốc tệ và quankim gây rối loạn thị trường Hơn 95% số dân không biết chữ, các tệ nạn xãhội do chế độ cũ để lại hết sức nặng nề Trong những năm đầu sau Cách mạngTháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa có nước nào công nhận

và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta Đất nước bị bao vây bốn phía,vận mệnh dân tộc như "ngàn cân treo sợi tóc" Tổ quốc lâm nguy!

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có một số thuận lợi cơ bản:

Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đấtnước Toàn dân tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch HồChí Minh, đoàn kết xung quanh Đảng, quyết tâm xây dựng, bảo vệ chínhquyền và chế độ mới, quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ nền độc lập, thốngnhất của Tổ quốc Chính quyền nhân dân do Đảng lãnh đạo dù còn non trẻnhưng đã trở thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở và được toàn dân ủng

hộ Lực lượng vũ trang mặc dù còn non trẻ, nhưng xuất thân từ nhân dân, vìnhân dân mà chiến đấu, được Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng

và lãnh đạo trực tiếp, có tinh thần yêu nước, tinh thần chiến đấu cao Đảng từhoạt động bí mật trở thành Đảng cầm quyền, Đảng có uy tín, có lãnh tụ sángsuốt, được toàn dân tin tưởng, có hệ thống tổ chức trong toàn quốc, có đườnglối và phương pháp đúng, vững tay chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam

Đặc điểm tình hình trên đã đặt ra cho cách mạng Việt Nam trong nămđầu sau khi giành chính quyền nhiệm vụ nhanh chóng ổn định tình hình chínhtrị- xã hội, xây dựng, củng cố thực lực đất nước về mọi mặt, trong đó chútrọng nhiệm vụ xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ, bàitrừ những lực lượng phản cách mạng, cải thiện đời sống nhân dân, làm chomình trong cùng một lúc không phải đương đầu với nhiều kẻ thù, tranh thủthời gian chuẩn bị mọi điều kiện trong khả năng có thể cho cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược mà Đảng ta lường định là khó tránh khỏi

Trang 24

Sau hơn một năm xây dựng đất nước về mọi mặt, đã củng cố được một

hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tăng cường khối đoànkết dân tộc Trong một thời gian rất ngắn, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộnghoà đã hoàn toàn hợp hiến, là đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam đểthực hiện chức năng đối nội và đối ngoại Đời sống nhân dân được cải thiệnđáng kể Bằng sự đóng góp của nhân dân, Ngân khố quốc gia được tăngcường, bước đầu xây dựng nền tài chính độc lập của nước Việt Nam Về mọimặt, nhân dân ta được hưởng những quyền dân sinh, dân chủ Cuộc kháng chiếncủa nhân dân Nam Bộ được đẩy mạnh Như vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn,nhưng về cơ bản, chúng ta đã chuẩn bị những cơ sở để bước vào cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược

Với dã tâm xâm lược đất nước ta một lần nữa, tháng 11-1946, thực dânPháp bội ước, trở mặt tiến hành cuộc tấn công đánh chiếm Hải Phòng, LạngSơn và Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh quy mô xâm lược toàn bộ nước ta

và toàn bộ Đông Dương Suốt trong tháng 11-12/1946, thực dân Pháp liên tụcgây hấn và sự kiện thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi Chính phủ ta phải phá

bỏ công sự trong thành phố, giải giáp lực lượng vũ trang và giao cho chúngquyền kiểm soát, giữ gìn trật tự Hà Nội đã như giọt nước làm tràn ly, khảnăng hoà hoãn đã hết Tình hình vô cùng khẩn cấp buộc ta phải đứng lênkháng chiến 20 giờ ngày 19-12-1946, mệnh lệnh chiến đấu bắt đầu Quân dânThủ đô đã nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến trong toàn quốc

Lúc này, nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân là “vừa kháng chiến,vừa kiến quốc”, đưa ra đường lối kháng chiến chống Pháp đúng đắn, phù hợpvới điều kiện thực tiễn của đất nước; lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến đi tớithắng lợi Đây là nhiệm vụ quan trọng và rất khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực cao

độ của Đảng, của nhân dân, đặc biệt sự nỗ lực cao độ trong chủ trương, côngtác xây dựng Đảng vững mạnh về mọi phương diện, đủ sức, đủ tầm lãnh đạocuộc kháng chiến đi tới thắng lợi

Trang 25

1.2 Chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng

a Về tư tưởng

Học tập nâng cao trình độ lý luận, kiên định chủ nghĩa Mác-Lêninđược coi là nguyên tắc quan trọng trong xây dựng Đảng về tư tưởng – lý luận.Đảng chủ trương tổ chức cho đảng viên nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin

Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin được các đảng viên học tập, nhằm nângcao trình độ chính trị và lý luận của toàn Đảng; nâng cao nhận thức, nâng caophẩm chất đạo đức cách mạng của người đảng viên

Về tư tưởng –chính trị, học tập, tuyên truyền đường lối của Đảng đượcđặt thành chủ trương lớn với yêu cầu: Đảng viên của Đảng phải tinh thôngđường lối, chính sách và chủ trương hàng ngày của Đảng Giáo dục ý thứckháng chiến trường kỳ và gian khổ, nhưng nhất định thắng lợi; giáo dục tư tưởngphục vụ nhân dân cho cán bộ, đảng viên Công tác tuyên truyền về đường lối đấutranh giải phóng dân tộc, đường lối kháng chiến của Đảng cũng được đẩymạnh trong quần chúng nhân dân, động viên nhân dân hăng hái tham gia cáchmạng Tháng 7-1952, Trung ương Đảng quyết định tiếp tục đào tạo một số cán bộ

lý luận để sau này tăng cường cho công tác huấn luyện, tuyên truyền Cuộc vậnđộng chỉnh Đảng trong hai năm 1952-1953 đã giúp cho cán bộ đảng viên quán triệtthêm đường lối cách mạng và quan điểm kháng chiến lâu dài, dựa vào sức mình làchính; khắc phục một bước những lệch lạc “tả” khuynh, “hữu” khuynh Trong hainăm 1952-1953, công tác tuyên truyền đường lối cải cách ruộng đất được đẩymạnh Trung ương Đảng cũng tập trung bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức,trình độ hiểu biết cho cán bộ đảng viên trong tình hình mới, nhằm làm tốt công táccải cách ruộng đất Vào cuối cuộc kháng chiến, công tác tuyên truyền, động viêncán bộ, đảng viên, nhân dân nỗ lực, cố gắng phát huy mọi điều kiện, sức mạnh,động viên mọi lực lượng cho thắng lợi của cuộc kháng chiến được tăng cường mộtbước và mang lại hiệu quả cao

b Về chính trị

Trước yêu cầu đặt ra đối với cách mạng Việt Nam, trong tình thế đất

nước lâm nguy, ngày 25-11-1945, BCH Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc chủ trương nêu cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên

Trang 26

hết”, vạch rõ những nhiệm vụ chiến lược và cần kíp, xác định cách mạng ĐôngDương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng với kẻ thù chính làthực dân Pháp xâm lược Cách mạng Việt Nam có nhiệm vụ cơ bản, trước mắt làcủng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nộiphản, cải thiện đời sống nhân dân Nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ, củng cố chínhquyền cách mạng Chỉ thị vạch ra những biện pháp cụ thể để thực hiện các

nhiệm vụ trên Một cách tổng quát, Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” của Ban

thường vụ trung ương Đảng thể hiện tư tưởng chiến lược mới của Đảng, đã giảiquyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chuyển hướng chiến lược và sáchlược cách mạng trong thời kỳ vừa mới giành được chính quyền, đưa đất nướcvượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

Tháng 12-1946, trước hành động cướp nước ta một lần nữa của thực

dân Pháp, Đảng đã ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946) Văn kiện này cùng với Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến củaChủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946) và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí

Trường Chinh (1947) đã đề ra đường lối kháng chiến với những nét lớn:

- Cuộc kháng chiến nhằm vào kẻ thù chính là bọn thực dân phản độngPháp đang dùng vũ lực cướp lại nước ta, giành độc lập tự do và thống nhấtthực sự, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủnhân dân

- Cuộc kháng chiến chống Pháp là tiếp tục sự nghiệp của cuộc Cáchmạng Tháng Tám, nên nó có tính chất dân tộc giải phóng Lúc này, nhiệm vụgiải phóng dân tộc là yêu cầu nóng bỏng và cấp bách nhất

- Cuộc kháng chiến chống Pháp còn mang tính chất dân chủ mới Trongquá trình kháng chiến, phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ và thực chấtcủa vấn đề dân chủ lúc này là từng bước thực hiện “người cày có ruộng”

- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc kháng chiến toàn dân,toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính:

+Toàn dân: Là chiến lược quan trọng, cơ bản, cốt lõi nhất, xuyên suốttoàn bộ cuộc kháng chiến, nhằm tạo ra sức mạnh to lớn đối trọng với bọnxâm lược Pháp Dùng sức mạnh toàn dân để tiến hành kháng chiến ở khắpmọi nơi, mọi lúc Chủ trương được đề ra dựa trên lý luận của chủ nghĩa

Trang 27

Mác-Lênin “cách mạng là sự nghiệp của toàn dân” và so sánh lực lượng giữata-địch.

+ Toàn diện là phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân đểđánh giặc trên mọi phương diện:

Về chính trị, đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, dân nhất trí, động viên

nhân lực, vật lực, tài lực của cả nước; đoàn kết với hai dân tộc Lào,Campuchia anh em, với nhân dân Pháp, với các nước châu Á và các dân tộc

bị áp bức, các dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân chủ trên thế giới, cô lập kẻthù, tranh thủ thêm nhiều bầu bạn, củng cố chế độ cộng hoà dân chủ, lập ra Uỷban kháng chiến các cấp

Về quân sự, cuộc kháng chiến sẽ trải qua ba giai đoạn: phòng ngự, cầm

cự, phản cộng; triệt để dùng “du kích vận động chiến”, tiến công địch khắp nơi,vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng; tản cư nhân dân ra xa vùng chiến sự

Về kinh tế, toàn dân tăng gia sản xuất, tự túc, tự cấp, xây dựng kinh tế

theo hướng “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; ra sức phá kinh tế địch, khôngcho chúng lấy chiến tranh nuôi chiến tranh

Về văn hoá, đánh đổ văn hoá nô dịch, ngu dân xâm lược của thực dân

Pháp, xây dựng nền văn hoá mới, xoá nạn mù chữ; thực hiện cần, kiệm, liêm,chính; động viên các nhà văn hoá tham gia kháng chiến

+ Đánh lâu dài: Ta thực hiện chủ trương này để làm cho những chỗ yếu

cơ bản của địch ngày càng bộc lộ, chỗ mạnh của địch ngày một hạn chế; chỗyếu của ta từng bước được khắc phục, chỗ mạnh của ta ngày một phát huy.Chủ trương này được đề ra dựa trên âm mưu của địch: đánh nhanh, thắngnhanh và so sánh lực lượng giữa ta - địch

+ Tự lực cánh sinh: Dựa vào sức lực của toàn dân, vào đường lối củaĐảng, vào các điều kiện nhân hoà, địa lợi, thiên thời của đất nước ta, đồngthời ra sức tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ quốc tế để chiến thắng kẻ thù

- Triển vọng của cuộc kháng chiến: Cuộc kháng chiến sẽ lâu dài, giankhổ, song nhất định thắng lợi

Trong suốt năm 1947 đến đầu năm 1951, các HNTƯ của Đảng liên tụcđược nhóm họp, đánh giá tình hình sau ngày kháng chiến bùng nổ, bàn nhữngnhiệm vụ: Đẩy mạnh mặt trận quân sự, công tác chính trị, kinh tế, văn hoá, nhằm

Trang 28

thúc đẩy kháng chiến tiến lên giai đoạn mới; phát triển, củng cố các đoàn thể; tổchức các Hội, đoàn, các cơ quan chuyên môn của Hội, đoàn; xây dựng lựclượng, xây dựng kinh tế, xây dựng và chuẩn bị cho Đại hội lần thứ II của Đảng;chuẩn bị chuyển sang tổng phản công Như vậy, Nghị quyết các Hội nghịTrung ương từ năm 1945-1951 đã đề ra chủ trương “kháng chiến, kiến quốc”,xây dựng đất nước về mọi mặt, đưa ra đường lối kháng chiến chống Pháp đúngđắn, chỉ đạo thực hiện, đưa cuộc kháng chiến vào thế ổn định và chuyển sangthế phản công.

Tháng 2-1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tổ chức, tiếptục làm rõ hơn nhiệm vụ cách mạng Việt Nam:

- "Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: Dân chủ nhân dân,một phần thuộc địa và nửa phong kiến"

- Đối tượng của cách mạng Việt Nam: Có hai đối tượng, đối tượngchính hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp

và bọn can thiệp Mỹ Đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này làphong kiến phản động

- Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn

đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏnhững di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng,phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho CNXH"

Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau Nhiệm vụ chính lúc này là hoànthành giải phóng dân tộc, phải tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến đểquyết thắng quân xâm lược

- Lực lượng của cách mạng Việt Nam gồm có: Giai cấp công nhân, giaicấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc Ngoài ra, còn có nhữngthân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đóhọp lại thành nhân dân mà nền tảng là công, nông và lao động trí thức Giaicấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng

- Tính chất của cách mạng Việt Nam là CMDTDCND Cách mạng Việt

Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, nhất định sẽ tiến lên CNXH.Đây là một quá trình lâu dài, và đại thể trải qua ba giai đoạn:

Trang 29

+ Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc + Giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phongkiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹnghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân

+ Giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho CNXH,tiến lên thực hiện CNXH

Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau mà mật thiết liên hệ xen lẫn vớinhau Nhưng mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm

- Chính cương cũng nêu rõ 15 chính sách lớn của Đảng để đẩy mạnhkháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc gia

- Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hoà bình và dân chủ, phảitranh thủ sự giúp đỡ của các nước XHCN và nhân dân thế giới, của TrungQuốc, Liên Xô; thực hiện đoàn kết Việt –Trung -Xô và đoàn kết Việt- Miên-Lào

Sau Đại hội lần thứ II, Đảng tập trung vào việc đẩy mạnh cuộc kháng chiến

đi đến thắng lợi, giải quyết những vấn đề do yêu cầu thực tiễn cuộc kháng chiến đặt

ra trên tất cả mọi mặt Từ tháng 3-1951 đến tháng 7-1954, có 6 HNTƯ được tổchức, đưa ra chủ trương, biện pháp để thực hiện những nhiệm vụ sau: Giải quyếtnhững nhiệm vụ kinh tế, tài chính để bồi dưỡng sức dân, bảo đảm cung cấp choquân đội; chủ trương tiêu diệt địch, đánh mạnh hơn nữa để giải phóng Tổ quốc vàbảo vệ hoà bình thế giới phát triển lực lượng ba thứ quân, tăng cường công tác địchvận; củng cố nội bộ, đẩy mạnh công tác trong vùng địch chiếm đóng; chỉnh đảng,chỉnh quân; thực hiện chính sách ruộng đất và tiến hành cải cách ruộng đất ngaytrong kháng chiến Chủ trương cải cách ruộng đất thể hiện rõ nét tại Hội nghị lầnthứ 4 BCHTƯ (1-1953) Tháng 11-1953, Hội nghị cán bộ toàn quốc lần thứ 1 củaĐảng chính thức tuyên bố thi hành chính sách ruộng đất Tháng 12-1953, Quốc hội

thông qua Luật cải cách ruộng đất, tiến hành cải cách ruộng đất ở vùng tự do.

Như vậy, suốt những năm 1945-1954, Đảng đã đề ra đường lối chính trịđúng đắn với nội dung cốt lõi “kháng chiến kiến quốc”, hướng tới mục tiêu thựchiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ và giải phóng Tổ quốc Đường lối chính trị đã trởthành một trong những nhân tố quan trọng đưa kháng chiến đến thắng lợi

Trang 30

Từ năm 1946, khi kháng chiến chống Pháp bắt đầu, Trung ương quyếtđịnh giải tán các Xứ uỷ (trừ Xứ uỷ Nam Bộ), thành lập các chiến khu và khu chophù hợp tình hình mới Như vậy, hệ thống tổ chức bộ máy dọc của Đảng vẫn là 6cấp, nhưng cấp Xứ uỷ được thay bằng cấp Khu uỷ Toàn quốc có 12 khu Đồngthời, việc thành lập các bộ, ban, tiểu ban chuyên môn của Đảng cũng được chútrọng (Bộ Tổ chức, Bộ Tài chính…; Ban Công vận, Ban Thanh vận…) songsong với việc thành lập các chi bộ đặc biệt (chi bộ chỉ đạo trực tiếp những côngviệc cần kíp của kháng chiến như chi bộ Văn phòng Trung ương, báo Sự thật…).

Từ giữa năm 1948, công tác kiện toàn cấp uỷ được đẩy mạnh Bộ máyĐảng có bảy cấp (Trung ương – Liên khu uỷ (Xứ uỷ) – Khu uỷ (Liên Tỉnh uỷ

ở miền Nam) - Tỉnh uỷ – Huyện uỷ – Xã uỷ – Chi uỷ Ngoài ra, còn lập các

đặc biệt khu do Trung ương trực tiếp điều hành và lập tiểu ban nghiên cứu của

Đảng trong các tổ chức chính quyền Thời kỳ này, bộ máy tổ chức của Đảngkhá gọn nhẹ; duy trì hai hệ thống tổ chức bí mật và bán công khai của Đảng,phối hợp hoạt động bí mật với sự hoạt động công khai, điều hoà hai hoạt động

ấy, coi công tác hoạt động bí mật vẫn là gốc

- Xây dựng bộ máy lãnh đạo và đội ngũ cán bộ

Công tác củng cố bộ máy Đảng tiếp tục là vấn đề trọng yếu (đặc biệt là

từ năm 1948 trở đi) Đảng chú trọng củng cố bộ máy Đảng trong quân đội,làm cho Đảng lãnh đạo quân đội được sát sao, nhờ thế, việc xây dựng Đảngtrong quân đội trở thành nề nếp Các quân khu uỷ lần lượt được tổ chức Hệ

Trang 31

thống tổ chức Đảng trong quân đội được hoàn chỉnh từ Trung ương quân uỷ đếnchi bộ Đảng

- Xây dựng đội ngũ đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng

+ Đội ngũ đảng viên

Nhanh chóng phát triển Đảng, tuyển thêm đảng viên trở thành một yêucầu cấp thiết, được coi là công tác thường xuyên của Đảng Trong điều kiệnkháng chiến, việc phát triển Đảng được quán triệt theo nguyên tắc: Tránh lốiphát triển ô hợp Trong hai năm 1948-1949, đã kết nạp hơn 50 vạn đảng viên.Đến đầu năm 1951, số lượng đảng viên phát triển tới 76 vạn Phát triển Đảngtrong quân đội được chú trọng Đến cuối năm 1946, toàn quân đội có 8.000 đảngviên Nói chung, các đảng viên được kết nạp phần lớn là trung thành, hăng háihoạt động Tuy nhiên, do nhiều khi kết nạp cẩu thả, nên cũng còn có những đảngviên kém ý thức Đảng, kém ý thức giai cấp; không ít những kẻ cơ hội, lợi dụng

Đảng, mưu cầu lợi ích cá nhân Vì thế, năm 1950, Trung ương đã ra Chỉ thị về

việc tạm ngừng kết nạp đảng viên mới trong toàn Đảng (trừ trường hợp đặcbiệt), để tập trung năng lực vào việc củng cố hàng ngũ, giáo dục đảng viên đãđược kết nạp từ trước Việc tạm ngừng kết nạp đảng viên mới được thực hiệnđến cuối năm 1953

Đồng thời với việc phát triển đảng viên, nâng cao chất lượng đội ngũđảng viên thường xuyên được đặt ra Đảng chủ trương đấu tranh chống chủnghĩa cơ hội, cải lương trong cán bộ đảng viên, đồng thời cần nhanh chóngloại trừ những bệnh, những khuyết điểm như bè phái, địa phương chủ nghĩa,quân phiệt, quan liêu, hẹp hòi, ich kỷ, tự mãn, kiêu ngạo, phạm quyền, bao

biện, xung đột, kỷ luật không nghiêm Năm 1951, Đảng ra Chỉ thị “Về cuộc vận động chấn chỉnh Đảng” với nội dung: Học tập kết hợp với kiểm thảo, phê bình

và tự phê bình để nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm của đảng viên

+ Tổ chức cơ sở Đảng

Trong những năm 1945-1946, Đảng đẩy mạnh xây cơ sở Đảng trongngười Pháp ở Đông Dương; mở rộng hoạt động của Hội nghiên cứu chủ nghĩaMác ở Đông Dương, để thu hút quần chúng Từ năm 1948, một hình thức chi

bộ độc đáo được thành lập - chi bộ tự động Đây là loại hình chi bộ linh hoạt

trong lãnh đạo mọi mặt công tác, ứng phó được với mọi hoàn cảnh và tình thế

Trang 32

đặt ra Việc tổ chức chi bộ tự động đã phát huy tính chủ động, sáng tạo, nângcao chất lượng hoạt động và trình độ lãnh đạo của chi bộ Bên cạnh đó, quátrình xây dựng chi bộ tự động cũng được gắn liền với việc nâng cao kỷ luậtcủa Đảng Đảng luôn nhắc nhở các tổ chức Đảng phải sinh hoạt cho đều, khôngđược rời rã, loạc choạc.

Năm 1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tổ chứctrong điều kiện thế và lực của ta đã mạnh hơn nhiều so với những năm đầu khángchiến Chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng về tổ chức của Đại hội là một bướcphát triển mới Đại hội II chỉ rõ:

Về tổ chức, Đảng được tổ chức theo “nguyên tắc dân chủ tập trung và

có kỷ luật rất nghiêm, kỷ luật tự giác”

Về đảng viên, tất cả những người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không

phân biệt nam nữ, chủng tộc, thừa nhận Chính cương, Điều lệ Đảng, hoạtđộng trong một tổ chức cơ sở Đảng, phục tùng kỷ luật Đảng, đóng nguyệt phícho Đảng, đều được nhận là đảng viên

Hệ thống tổ chức của Đảng được Đại hội II xác định một các rõ ràng cả

về nguyên tắc tổ chức đến bộ máy Đảng Tổ chức bộ máy Đảng phải căn cứvào đơn vị sản xuất, công tác, hành chính, các đảng bộ khi mới thành lập phảiđược cấp trên cách một cấp chuẩn y Theo Điều lệ lần này, tổ chức của ĐLĐVNgồm 6 cấp, từ BCH Trung ương đến Chi uỷ Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng

là Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc Điều lệ cũng xác định chi bộ là tổ chức nềntảng của Đảng, đồng thời đưa ra quy định về các cơ quan Trung ương củaĐảng (Đại hội đại biểu toàn quốc, BCH Tw, Bộ Chính trị ), về Ban kiểm tracác cấp, về đảng đoàn, về tài chính của Đảng… rất chặt chẽ, rõ ràng

Về thành phần, Đảng có thành phần là công nhân, nông dân, trí thức

cách mạng, thật hăng hái và giác ngộ cách mạng

Từ 1951 trở đi (sau Đại hội II), khi thế và lực của cuộc kháng chiến lên

cao, công tác đưa Đảng ra công khai và việc sắp xếp lại chi bộ theo Điều lệ Đảng mới, tiến hành chỉnh đốn cơ sở Đảng được chú trọng một bước Chỉ thị “Về cuộc vận động chấn chỉnh Đảng” (12-1951) hướng dẫn tiến hành chỉnh đốn các chi bộ,

với trọng tâm chỉnh đốn tổ chức (thực hiện biên chế, sắp xếp lại bộ máy và lề lối

Trang 33

làm việc của các chi bộ; tến hành chia lại các chi bộ đông đảng viên theo Điều lệmới) Trong hai năm 1952-1953, Đảng cũng đã tiến hành phát triển cơ sở Đảngtrong lực lượng vũ trang, trong các làng xã, xí nghiệp Công tác thành lập chi bộ,phát triển đảng viên trong quân đội, công an được chú trọng, tiến hành thườngxuyên và đẩy mạnh từ sau năm 1951 Trung ương quyết định lập chế độ cấp uỷđảng để thực hiện sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối của Đảng trong quânđội Đối với công an, do tầm quan trọng của ngành này, nên công tác cán bộ đượcĐảng hết sức chú ý, sắp xếp cán bộ, làm cho nội bộ công an trong sạch, cử nhữngcán bộ cốt cán, trung thành, tin cẩn, để bổ sung cho công an.

+ Bảo vệ chính trị nội bộ Đảng

Đề phòng bọn khiêu khích tay sai của Pháp chui vào Đảng phá hoại, côngtác bảo đảm kỷ luật Đảng, tăng cường kiểm tra, giám sát trong Đảng cũng lànhững vấn đề được các Hội nghị Trung ương thường xuyên nhắc nhở cho cácđảng bộ, chi bộ tích cực chăm lo thực hiện Từ năm 1951, Đảng chú trọng thựchiện việc cải thiện thành phần tổ chức của chi bộ, đưa những phần tử không xứngđáng, không chịu sửa chữa sai lầm ra khỏi Đảng Công tác chấn chỉnh các chi bộnông thôn cũng thường xuyên được tiến hành, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng nhữngđảng viên dùng danh nghĩa Đảng đục khoét, hà hiếp dân, đầu hàng, đầu thú, làmtay sai cho địch, làm hại cách mạng và ảnh hưởng đến uy tín của Đảng

d Phương thức lãnh đạo của Đảng

Những điều kiện tác động đến phương thức lãnh đạo của Đảng

Sau Cách mạng tháng Tám (1945), Đảng trở thành Đảng cầm quyền.Điều đó đòi hỏi một sự chuyển biến căn bản về địa vị xã hội, nhiệm vụ, nộidung và phương thức lãnh đạo của Đảng

Về địa vị xã hội, Đảng từ chỗ tồn tại và hoạt động không hợp pháp, bị

đặt ngoài vòng pháp luật, bị truy lùng, khủng bố, phải hoạt động bí mật, đã trởthành Đảng lãnh đạo xã hội, hoạt động công khai, hợp pháp Trong điều kiệnmới, Đảng có thuận lợi lớn trong lãnh đạo cách mạng, song cũng rất dễ sinh

ra chủ quan, tự mãn, duy ý chí, dễ phạm sai lầm

Về nhiệm vụ lịch sử, Đảng chuyển sang lãnh đạo nhân dân đấu tranh

giữ vững chính quyền, bảo vệ những thành quả do cách mạng mang lại và xâydựng xã hội mới

Trang 34

Về nội dung lãnh đạo, từ chỗ chỉ lãnh đạo đấu tranh chính trị (và võ trang)

để giành chính quyền, Đảng chuyển sang lãnh đạo toàn diện đời sống xã hội, baogồm mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đốingoại… Như vậy, nội dung lãnh đạo của Đảng mở rộng hơn gấp nhiều lần, từ nộitrị đến ngoại giao, từ vĩ mô đến vi mô, bao trùm trên khắp vùng miền của Tổ quốc

Về phương thức lãnh đạo, lúc này Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của

mình đối với xã hội thông qua Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể quần chúng

và các tổ chức tự quản do nhân dân tự nguyện lập ra, hoạt động theo pháp luật

Về phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn 1945 – 1954

Một là, Đảng đã áp dụng phương thức lãnh đạo tài tình, vừa giữ vững

nguyên tắc bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc, vừa mềm dẻo, linhhoạt, sáng tạo Đó là đưa Đảng vào hoạt động không công khai dưới danhnghĩa tuyên bố tự giải tán, để tránh sự tập trung phá hoại của các thế lực thùđịch Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 là một sách lược khôn khéo để tạođiều kiện cho Đảng có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, giankhổ Tiến hành Tổng tuyển cử đầu tiên, bầu ra Quốc hội và xây dựng đượcHiến pháp mới dân chủ, tiến bộ, xây dựng và củng cố bộ máy chính quyềnNhà nước từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dângồm 3 thứ quân, trấn áp các lực lượng phản động, xây dựng Luật lao động,thực hiện giảm tô, giảm tức, chia ruộng cho nông dân nghèo, xây dựng đờisống mới, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất là những biện pháp hữu hiệu,nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn một cách hiệu quảnhất

Nhờ công tác tuyên truyền vận động, công tác tổ chức công phu, tỉ mỉ,thích hợp và có hiệu quả cao của cả hệ thống Đảng, Chính phủ, Mặt trận và cácđoàn thể quần chúng yêu nước…Đảng đã phát động được phong trào cả nước

ra sức thi đua sôi nổi diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm Như vậy, tư tưởngtriệt để dựa vào dân là nét nổi bật trong phương thức lãnh đạo của Đảng trongthời kỳ này

Hai là, Đảng đã tổ chức lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh, cuộc

kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ chống thực dân Pháp và can thiệp

Trang 35

Mỹ dưới khẩu hiệu tự lực cánh sinh, trường kỳ kháng chiến, vừa kháng chiến,vừa kiến quốc Phương thức lãnh đạo của Đảng lúc này tập trung nắm chắclực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân

du kích) Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến, bám sát quần chúng ở vùng tự do,cũng như vùng địch tạm chiếm, bám sát cơ sở chiến đấu và sản xuất, vậndụng sáng tạo và tài tình nghệ thuật chiến tranh nhân dân Cuối cùng, Đảnglãnh đạo thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, giải phóng nửanước, tạo ra hậu phương vững chắc là miền Bắc XHCN, tạo tiền đề cho sựnghiệp đấu tranh thống nhất đất nước sau này

Để lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi, Đảng đã tập hợp, đoàn kết toàn dân

Về tập hợp và đoàn kết toàn dân, Đảng đã hướng dẫn và tổ chức Hội liên hiệpquốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) để tập hợp đông đảo nhân sĩ, trí thức,các tầng lớp nhân dân yêu nước, động viên lòng yêu nước và nhiệt tình của họtham gia kháng chiến Tiếp theo đó, Đảng đã thống nhất Việt Minh với LiênViệt thành Mặt trận Việt Minh Liên Việt, đồng thời tăng cường củng cố, mởrộng, phát huy vai trò của Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Việt Nam

Tóm lại, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi là thắng lợi của việc

không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, biết phát huy sứcmạnh toàn dân, đi từ yếu đến mạnh, phá tan chiến lược đánh nhanh, thắngnhanh của địch, bẻ gẫy âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, thực hiệnkháng chiến trường kỳ và đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế

2 Xây dựng Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nươc (1954-1975)

2.1 Đặc điểm tình hình, nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng

Sau tháng 7-1954, phong trào cách mạng thế giới tiến tục có những bướcphát triển Sự lớn mạnh của Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác trong hệ thốngXHCN là chỗ dựa vững chắc của cách mạng Việt Nam Phong trào giải phóng dântộc cuồn cuộn dâng cao ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ- Latinh, hệ thống thuộc địacủa chủ nghĩa đế quốc bị thu hẹp và đi vào quá trình tan rã Cuộc đấu tranh cho dânsinh, dân chủ và hoà bình ở các nước TBCN phát triển rộng khắp và liên tục So

Trang 36

sánh lực lượng trên thế giới ngày càng thay đổi có lợi cho CNXH, cho lực lượngcách mạng Cách mạng thế giới lúc này đang ở thế tiến công

Tuy nhiên, trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và hệ thốngXHCN xuất hiện những bất đồng ngày càng nghiêm trọng và những sai lầm

về tư tưởng chính trị Biến động lớn nhất của các nước XHCN là sự chia rẽ vàxung đột giữa Liên Xô và Trung Quốc về quan điểm chính trị, về vị thế vàảnh hưởng quốc tế, về lợi ích dân tộc Điều đó đã dẫn tới sự phân hoá trongphe XHCN, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong phong tràogiải phóng dân tộc Chủ nghĩa xét lại và cơ hội xuất hiện ở nhiều nước XHCN

và phong trào cộng sản quốc tế Ở những nước XHCN khác nhau, thực hiệnxây dựng CNXH theo nhiều mô hình khác nhau Tại Trung Quốc đã diễn raphong trào đại nhảy vọt, tiếp đó là cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản

Đế quốc Mỹ thay đổi chiến lược toàn cầu, từ đối đầu chuyển sang hoàhoãn với Liên Xô, Trung Quốc và lợi dụng mâu thuẫn giữa hai nước đó đểchống phá phong trào giải phóng dân tộc Trong việc thực hiện âm mưu bá chủthế giới, Việt Nam trở thành đối tượng xâm lược trọng điểm của đế quốc Mỹ

Theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, nước ta tạm thời bị chia cắt làmhai miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời Quân đội ta tập kết

ra Bắc, đối phương rút vào Nam Sau hai năm, hai miền sẽ hiệp thương thựchiện Tổng tuyển cử vào tháng 7-1956 để thống nhất đất nước Như vậy, cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, nhưng chưađạt tới mục tiêu giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc Đất nước

bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời

kỳ quá độ lên CNXH, đồng thời thực hiện nhiệm vụ dân chủ, chủ yếu là manglại ruộng đất cho nông dân Miền Bắc tuy có hoà bình, nhưng lại phải đối đầuvới nhiều khó khăn, thách thức về kinh tế- xã hội; sự đe doạ của chiến tranhxâm lược do đế quốc Mỹ gây ra và mưu đồ phá hoại của nhiều kẻ thù

Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và Chính quyền Ngô Đình Diệm đã côngkhai xé bỏ Hiệp định Giơnevơ, tàn sát, giam cầm hàng chục vạn cán bộ, đảngviên và quần chúng cách mạng, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, tiếnhành đàn áp dã man phong trào cách mạng, phá hoại Tổng tuyển cử

Trang 37

Tình hình trên làm cho cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954 vừa cónhững thuận lợi cơ bản, lại vừa có những khó khăn phức tạp, mà đặc điểm nổibật là nước ta bị chia ra làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau.Yêu cầu đặt ra cho cách mạng Việt Nam là tranh thủ các yếu tố thuận lợi, vượtqua khó khăn, nhanh chóng ổn định tình hình miền Bắc, tiếp tục hoàn thànhnhiệm vụ của cuộc CMDTDCND trên cả nước Thực hiện nhiệm vụ đó, việc xácđịnh đường lối chiến lược đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, đưa cách mạngViệt Nam tiến lên phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn mới và xu thếphát triển chung của thời đại, hoàn thành mục tiêu thống nhất nước nhà vừa làyêu cầu khách quan, vừa là đòi hỏi bức thiết Nhiệm vụ đó chỉ có thể hoàn thànhkhi xây dựng Đảng vững mạnh trên mọi phương diện, tăng cường sức chiến đấucủa Đảng Vì thế, đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng đối với cáchmạng Việt Nam.

2.2 Chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng

a Xây dựng Đảng về tư tưởng

Trong những năm 1954-1957, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng vẫn làmột trong những công tác được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị quan tâm Việcthống nhất tư tưởng trong toàn Đảng về tình hình và nhiệm vụ mới có vị trí quantrọng Cần phải đẩy mạnh giáo dục tư tưởng cho cán bộ đảng viên, tăng cường lãnhđạo tư tưởng, củng cố Đảng, chống lại những tư tưởng hữu khuynh, sợ gian khổ, sợ

Mỹ trực tiếp can thiệp thì ta sẽ thất bại Vì thế, Đảng chủ trương tăng cường đấutranh với những tư tưởng “tả” khuynh trong thời kỳ đình chiến và thời kỳ mới vàothành phố, bởi tư tưởng này rất nguy hại đến sự củng cố và đoàn kết trong Đảng

Những năm 1957-1959, do một số không ít cán bộ đảng viên chưa nhận thứcđúng đắn và đầy đủ một số vấn đề căn bản của cách mạng; chủ nghĩa cá nhân vẫntồn tại phổ biến, nên cần công tác cần kíp lúc này là củng cố lập trường giai cấp vôsản, nâng cao ý thức tư tưởng, giác ngộ XHCN và ý thức đấu tranh thống nhấtnước nhà cho cán bộ đảng viên, làm cho tư tưởng của cán bộ đảng viên tiến kịp vớitình hình nhiệm vụ; đồng thời, cần phê phán chủ nghĩa cá nhân Theo định hướngnày, công tác giáo dục tư tưởng, nâng cao phẩm chất cho cán bộ đảng viênđược tiến hành Kết quả là đã có những chuyển biến rõ rệt về mặt lập trường, tưtưởng, khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng được củng cố Cũng trong những năm

Trang 38

này, các lớp bồi dưỡng về lập trường tư tưởng, bồi dưỡng về chủ nghĩa Mác –Lênin, về đường lối chính trị, đường lối giai cấp, đường lối cán bộ… cho đảng viêncũng thường xuyên được tiến hành Tính đến cuối năm 1959, các trường bồi dưỡng

lý luận của các khu đã bồi dưỡng cho trên 3.482 cán bộ sơ cấp; các trường của cáctỉnh bồi dưỡng lý luận cho 17.120 cán bộ xã; có hơn 400 cán bộ trung cao cấp đangđược đào tạo, bồi dưỡng về lý luận ở các trường chính trị Trung ương Những lớpbồi dưỡng cán bộ đảng viên của Đảng về nghiệp vụ, văn hóa, chuyên môn… đãtăng cường năng lực làm việc của cán bộ đảng viên Các sinh hoạt chính trị để giácngộ lập trường giai cấp, chính trị – tư tưởng được mở ra cho các tổ chức cơ sở Đảngcũng có tác dụng tích cực

Tháng 9-1960, Đại hội lần thứ III của Đảng nhóm họp, đánh dấu một bướcphát triển quan trọng về lý luận xây dựng Đảng trên phương diện tư tưởng Đại hộichỉ rõ: Phải ra sức học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tăng cường giáo dục tư tưởngtrong Đảng, đấu tranh khắc phục những khuyết điểm, những hạn chế còn tồn tạitrong Đảng; ra sức giáo dục cho đảng viên thấm nhuần thế giới quan Mác – Lênin

và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa; nâng cao trình độ lý luận Mác – Lênintrong cán bộ đảng viên bằng cách đưa ra kế hoạch dài hạn giáo dục lý luận mộtcách có hệ thống trong toàn Đảng, đi đôi với tổng kết kinh nghiệm cách mạng;nâng cao không ngừng trình độ tư tưởng của đảng viên Đại hội cũng khẳng định

sự cần thiết phải chĩa mũi nhọn đấu tranh vào tư tưởng tư sản và tiểu tư sản, đấutranh chống xu hướng chính trị hữu và “tả”, những hiện tượng dao động về chính trịcủa đảng viên; bài trừ những bệnh còn tồn tại trong Đảng như chủ nghĩa cá nhân,chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa tự do…

Sau Đại hội III của Đảng, công tác giáo dục chính trị – tư tưởng chođảng viên được đặc biệt chú trọng Tháng 2-1961, Bộ Chính trị mở cuộc vậnđộng, chỉnh huấn, nhằm bồi dưỡng và xây dựng tư tưởng XHCN cho đảngviên Đây là cuộc vận động tư tưởng lớn nhất từ sau năm 1954 Mục tiêu củacuộc vận động là tuyên truyền những quan điểm cơ bản của Đảng về sựnghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc cho đảng viên; đồng thời chống nhữngbệnh thường mắc trong Đảng: Bệnh chủ nghĩa cá nhân, tự do vô kỷ luật, thiếutinh thần trách nhiệm, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lãng phí, bảo thủ, rụt rè…

Trang 39

Để làm cho cuộc vận động thực sự hiệu quả, tháng 4-1961, Hội nghị lần thứ 4

BCH Trung ương quyết định mở cuộc “Vận động xây dựng chi bộ và đảng viên bốn tốt”3 Cũng trong năm 1961, công tác chống tham ô lãng phí, xâydựng đạo đức đảng viên được đẩy mạnh Như vậy, với hai cuộc vận động kểtrên, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng là nhằm vào mục đích nâng caonhận thức chính trị của toàn Đảng, bồi dưỡng, xây dựng tư tưởng XHCN vàtạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng của toàn Đảng theo yêucầu bốn tốt

Trong những năm 1960-1965, ảnh hưởng bởi tư tưởng xét lại, cơ hội, ởmột bộ phận đảng viên bộc lộ tư tưởng hữu khuynh; sự đoàn kết nhất trí trongnhiều cấp uỷ và tổ chức Đảng chưa được tăng cường đầy đủ Đây cũng là mộttrong những thiếu sót lớn nhất của công tác giáo dục chính trị – tư tưởng Nhằmkhắc phục hạn chế này, tháng 12-1963, Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương đãphê phán những tư tưởng hữu và “tả” khuynh, tư tưởng giáo điều trong Đảng,nhắc nhở đảng viên nắm vững đường lối, chính sách của Đảng về cách mạngXHCN ở miền Bắc và CMDTDCND ở miền Nam Tháng 3-1965, Hội nghị lầnthứ 11 BCH Trung ương Đảng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường công tác tưtưởng và tổ chức trong thời kỳ mới Về tư tưởng, đảng viên phải ra sức xây dựng

ý chí quyết chiến, quyết thắng đế quốc Mỹ và tay sai, sẵn sàng hoàn thàn mọinhiệm vụ cách mạng

Trong giai đoạn 1965-1968, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chođảng viên được các cấp uỷ đảng quan tâm, gắn với cuộc vận động xây dựngchi bộ bốn tốt Khoảng 60% đảng viên được học tập về đường lối, chủ trươngcủa Đảng, học tập các bài học kinh nghiệm xây dựng Đảng Thông qua cácđợt vận động, học tập, phần lớn đảng viên đã tiến hành tự phê bình trước quầnchúng Các đảng viên được học tập về lý luận, được rèn luyện trong sản xuất,chiến đấu, công tác, nên đại bộ phận có phẩm chất cách mạng vững vàng, cótinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm trong công tác, phát huy tốt vai tròtiên phong của mình Đặc biệt, trong những năm 1967-1968, mặc dù cónhững biến động trên thế giới (sự kiện Tiệp Khắc), trong nước (Tết Mậu

3 Bốn tốt: Lãnh đạo sản xuất tốt; lãnh đạo thực hiện chính sách tốt; củng cố, phát triển Đảng tốt; vận động quần chúng tốt.

Trang 40

Thân), song đại đa số cán bộ đảng viên đã tỏ ra vững vàng về chính trị – tưtưởng, nhất trí với nhận định và đường lối của Trung ương, có thái độ độc lập,

tự chủ, tin tưởng và đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng

Từ năm 1969–1975, để hoàn thành nhiệm vụ chính trị tích cực khôiphục, phát triển kinh tế, xây dựng miền Bắc vững mạnh, dồn sức chi viện chocách mạng miền Nam, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thống nhấtnước nhà, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng được đẩy mạnh lên một bướcmới Trung ương Đảng hết sức chú trọng công tác giáo dục tư tưởng cho cán

bộ, đảng viên Nhiệm vụ đặt ra là phải giáo dục cho đảng viên luôn luôn bámsát tình hình và nhiệm vụ; chống chủ quan khinh địch, xả hơi, ngại khó, sợ hysinh, gian khổ, tự do, tuỳ tiện, thiếu ý thức trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷluật… Sự cần thiết phải giáo dục cho cán bộ, đảng viên tinh thần làm chủ tậpthể, chủ động tiến công, quan điểm quần chúng, quan điểm độc lập tự chủ, tựlực cánh sinh, không trông chờ ỷ lại vào bên ngoài… luôn luôn được nhấnmạnh Các cấp ủy thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

về chủ nghĩa Mác – Lênin, về lý luận chính trị Công tác giáo dục tư tưởngcho đảng viên được nâng lên một tầm mức mới, khi Trung ương Đảng ra Chỉ

thị quán triệt và học tập tác phẩm “Nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (xuất bản 3-2-1969) Trong hai năm 1969-1970, Đảng đã mở cuộc vận động làm theo Di chúc của Chủ

tịch Hồ Chí Minh, mở các cuộc vận động phát huy dân chủ, nâng cao chấtlượng đảng viên…Những cuộc vận động này đều có tác dụng tích cực Đặc

biệt, tháng 12-1970, Ban Bí thư ra Nghị quyết 210 “Về công tác giáo dục lý luận chính trị và tư tưởng đối với cán bộ đảng viên”, coi công tác giáo dục

chính trị – tư tưởng là một trong những biện pháp cần kíp trước mắt Trungương Đảng yêu cầu cán bộ đảng viên phải luôn vững vàng, nâng cao cảnhgiác, kêu gọi toàn dân đoàn kết quanh Đảng, đoàn kết quốc tế, nêu cao tinhthần phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do, vì CNXH, quyết tâm giành thắng lợihoàn toàn Trên thực tế, sau khi thực hiện, lập trường, quan điểm giai cấp, tínhkiên định cách mạng, lòng tin vào đường lối của Đảng… của cán bộ đảngviên được củng cố, nâng cao; khối đoàn kết, nhất trí trong Đảng được tăngcường Từ năm 1973-1975, toàn Đảng đã tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị,

Ngày đăng: 13/10/2022, 12:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Trọng Phúc, Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011), Nxb, Chính trị quốc gia, H.2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011)
3.Mạch Quang Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995.- Tài liệu tham khảo không bắt buộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản ViệtNam," Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Nghị quyết Hội nghị các khóaVI, VII, VIII, IX, X và XI (Phần viết về công tác xây dựng Đảng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc vàNghị quyết Hội nghị các khóaVI, VII, VIII, IX, X và XI
3. Tiểu ban tổng kết công tác xây dựng Đảng; Tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975- 1995, Lưu hành nội bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia . H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác xây dựngĐảng thời kỳ 1975- 1995
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia . H. 1995
4. Mạch Quang Thắng, Đảng Cộng sản Việt Nam-Những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, Nxb Lao Động, H, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam-Những vấn đề cơ bảnvề xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Lao Động
5. Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh – Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I,1920-1945, Nxb.Sự thật, H. 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I,1920-1945
Nhà XB: Nxb.Sự thật
1. Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w