MỤC LỤC Trang Chuyên đề 1 1 1 1 2 CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX Việt Nam dưới ách cai trị của thực dân Pháp Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dâ.
Trang 1MỤC LỤC
Trang Chuyên đề 1:
1.1
1.2
CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
Việt Nam dưới ách cai trị của thực dân PhápPhong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ViệtNam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
4
413
Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩaMác - Lênin, xác định những luận điểm cách mạng giảiphóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
Sự ra đời các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản ViệtNam
Trang 2Chuyên đề 1 CUỘC KHỦNG HOẢNG VỀ CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC Ở VIỆT
NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX
MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Giúp học viên nhận thức sâu sắc hơn về xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX; chính sách cai trị tàn bạo của thực dânPháp và các phong trào yêu nước ở Việt Nam trước khi Đảng CSVN ra đời
- Về kỹ năng: Qua nghiên cứu chuyên đề, cung cấp cho học viên
phương pháp phân tích, luận giải những vấn đề lịch sử khách quan, khoa học
- Về tư tưởng: góp phần nâng cao niềm tin vào con đường cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã lựa chọn
NỘI DUNG
1 Việt Nam dưới ách cai trị của thực dân Pháp
1.1 Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp đối với Việt Nam
Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam trong bối cảnh chế độ phong kiếndưới sự trị vì của triều đình nhà Nguyễn đang lâm vào khủng khoảng sâu sắc.Triều Nguyễn được xác lập từ sự thắng thế của một tập đoàn phong kiến phảnđộng dựa vào sự giúp đỡ của tư bản nước ngoài, nên ngay từ đầu đã đối lậpsâu sắc với nhân dân Từ năm 1802 đến năm 1858 triều Nguyễn lại tiếp tụcnhững chính sách bảo thủ, phản động, kìm hãm dân tộc ta trong vòng lạc hậu,
cô lập Việt Nam với thế giới Chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng trượtdài trên con đường khủng hoảng suy vong trầm trọng Trong lúc đó, tư bảnPháp đang ráo riết đẩy mạnh âm mưu xâm lược nước ta Trước tình thế cực kìnghiêm trọng đó, chỉ có thể cứu vãn được độc lập dân tộc nếu nhà cầm quyềnsớm biết mở đường cho xã hội tiến lên, điều chỉnh những xung đột giữa cácgiai cấp trong xã hội, biết chấn chỉnh quân đội, cố kết nhân tâm Nhưng rõràng những chính sách đối nội, đối ngoại của triều Nguyễn đã làm hao mònsức dân, nội bộ dân tộc chia rẽ sâu sắc Trước nguy cơ xâm lược của thực dânPháp, triều Nguyễn vì quyền lợi giai cấp, đã huy động những lực lượng quân
sự lớn để trấn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân; các cuộc hành quân liên
Trang 3miên đó một mặt làm cho chính lực lượng quân sự của triều đình bị suy yếudần, mặt khác cũng làm hủy hoại khả năng kháng chiến của dân tộc
Bên cạnh đó, những chính sách đối ngoại sai lầm của triều Nguyễn(như cấm đạo, tàn sát dân theo đạo Thiên chúa và các giáo sĩ) càng tạo thêm
cớ cho tư bản Pháp đánh chiếm Việt Nam Đây chính là nguyên nhân sâu xadẫn đến việc nước ta mất vào tay thực dân Pháp vào giữa thế kỷ XIX Thực tếlịch sử đã cho thấy rằng khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, trước tình thếtồn vong của dân tộc, vua quan triều Nguyễn đã nhanh chóng bỏ rơi vai tròlãnh đạo nhân dân kháng chiến, trượt dài trên con đường thỏa hiệp, đầu hàngPháp, để rồi bắt tay với Pháp trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân.1
Ngày 1-9-1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lược và từngbước thôn tính Việt Nam Triều đình nhà Nguyễn từng bước thoả hiệp và điđến đầu hàng hoàn toàn (bằng các Điều ước năm 1862, 1874, 1883, 1884)
Với Điều ước Patơnốt năm 1884, nước ta trở thành “một xứ thuộc địa, dân ta
là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”2
Về chính trị:
Sau khi đánh chiếm Việt Nam, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trịthực dân và tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêngcũng như Đông Dương nói chung một cách có hệ thống và trên quy mô lớn,nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trườngtiêu thụ hàng hóa
Năm 1887, chính phủ Pháp thành lập Liên bang Đông Dương (lúcđầu Việt Nam và Campuchia, đến năm 1899 bao gồm cả Lào) Pháp thựchiện chính sách chia để trị, Việt Nam bị chia cắt thành 3 kì, với chế độ caitrị khác nhau
Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên Toàn quyền, thay mặt Chínhphủ Pháp để cai trị Đông Dương về mọi mặt Dưới Toàn quyền là: Thống đốcNam Kì, Thống sứ Bắc Kì, Khâm sứ ở 3 xứ Trung Kì, Lào và Cămpuchia Cơ
1 Tuy nhiên, về khách quan, không thể vì vậy mà phủ định một số đóng góp của triều Nguyễn trong quá trình trị vì đất nước ( đặc biệt là giai đoạn triều đại phong kiến độc lập), như: tổ chức được bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương khá chặt chẽ, hoàn chỉnh (Cải cách Minh Mệnh); tổ chức công việc khai hoang lấn biển mở mang bờ cõi; tổ chức biên soạn lịch sử dân tộc, địa lý quốc gia; góp phần hoàn thành quá trình thống nhất đất nước; để lại một số di sản vật thể và phi vật thể có giá trị văn hóa cho dân tộc…
Trang 4quan quyền lực cao nhất là Hội đồng Tối cao Đông Dương, do Toàn quyềnlàm chủ tịch, các ủy viên Hội đồng hầu hết là người Pháp, chỉ có 2 ngườiViệt Nam Nam Kì là đất thuộc địa do Thống đốc người Pháp đứng đầu.Đứng đầu tỉnh là công sứ người Pháp Để giúp việc cho bộ máy cai trị củaPháp, thực dân Pháp vẫn giữ hệ thống chính quyền phong kiến ở dưới làng
xã, có xã trưởng, hương trưởng và Hội đồng kì hào Trung Kì là xứ bảo hộtrên danh nghĩa vẫn duy trì triều nhà Nguyễn, nhưng quyền hành thực sựnằm trong tay Khâm sứ, Chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung Kì Khâm sứ cóquyền chủ tọa cả Hội đồng Cơ mật và Hội đồng phủ Tôn nhân Mỗi bộ đều
có một viên chức Pháp đại diện cho Khâm sứ nắm gọi là Hội lí Các quanlại triều đình chỉ được bổ dụng sau khi Khâm sứ chuẩn y Đứng đầu tỉnh làviên công sứ người Pháp có cơ quan tòa công sứ giúp việc Ở Trung Kì vẫntồn tại hệ thống tổ chức quan lại cũ của Nam triều, từ cấp tỉnh xuống đếncác phủ, huyện, châu (cho miền núi), còn ở dưới cấp xã vẫn là bộ máyhương lý, kỳ hào cũ Bắc Kì có cơ quan cai trị cao nhất là phủ Thống sứ
do Thống sứ người Pháp đứng đầu, có Hội đồng bảo hộ giúp việc Hệthống chính quyền Bắc Kì từ cấp tỉnh trở xuống về đại thể giống như ởTrung Kì
Hầu hết các quan viên nắm quyền cai trị từ cấp xã trở lên đều thuộc giaicấp địa chủ phong kiến cấu kết làm tay sai cho thực dân Pháp Từ cấp tỉnh, xứ
và liên bang Đông Dương thì quyền lực đều tập trung vào tay những quanchức người Pháp Vua tôi nhà Nguyễn chỉ là bù nhìn, được hưởng một số phụcấp, lương bổng do thực dân Pháp chi trả
Thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách “dùng người Việt trị ngườiViệt”, ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp,vừa binh lính người bản xứ Trực tiếp điều khiển quân đội ở Đông Dương làviên tổng chỉ huy người Pháp Ngoài quân đội chính quy còn có đội lính khốxanh chuyên để đàn áp các cuộc khởi nghĩa, hoặc canh giữ các nhà tù, phục
vụ ở các đạo quan binh ở trên miền biên giới Tại kinh thành Huế, các tỉnh,các phủ, huyện, châu còn có lính cơ và lính lệ ở các làng xã có những tuầnphu, lực lượng nửa vũ trang dưới quyền của trương tuần và lí trưởng Ngoài
Trang 5ra, cả 3 xứ còn có tổ chức đội thân binh dưới quyền của bọn Việt gian phảnđộng làm nhiệm vụ đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân.
Về văn hoá - giáo dục:
Thực dân Pháp thực hiện chính sách “ngu dân” về mặt giáo dục, đầuđộc về mặt văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bộ máy thống trịthực dân Thực dân Pháp hạn chế đến mức tối đa việc phát triển giáo dục, kìmhãm nhân dân Việt Nam trong vòng ngu dốt Thời gian đầu vẫn duy trì Nhohọc với chế độ khoa cử lỗi thời nhằm lợi dụng học thuyết Khổng Mạnh đểcủng cố trật tự xã hội, lôi kéo giai cấp phong kiến làm chỗ dựa xã hội vàchính trị cho chúng Từng bước đóng cửa hệ thống giáo dục phong kiến trên
ba kỳ (Nam Kỳ: năm 1867; Bắc Kỳ: năm 1915, Trung Kỳ: năm 1919) Saukhi xóa bỏ hệ thống giáo dục phong kiến, tiến hành mở các trường học mới(trường Pháp - Việt) một cách nhỏ giọt, nhằm mục đích đào tạo tầng lớp côngchức, nhân viên cần thiết cho guồng máy chính trị và để phục vụ cho khai hóabóc lột kinh tế Đồng thời chúng đẩy mạnh tuyên truyền ca ngợi chính sách
“khai hóa” của nhà nước “bảo hộ”, du nhập văn hóa đồi trụy, khuyến khíchnhững tệ nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện hút Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sungcho công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần cònlại”3
Để kìm kẹp, bóc lột nhân dân Việt Nam, hệ thống tòa án, nhà tù củathực dân Pháp xây dựng dày đặc khắp cả nước Nhà tù nhiều hơn trường học.Tỉnh nào cũng có ty cảnh sát, từ huyện trở lên đều có trại giam Riêng ở Bắc
Kì, năm 1909 ngân sách để “giữ gìn trật tự” gấp 4 lần tiền chi cho giáo dục, y
tế, nông nghiệp, công chính
Về kinh tế:
Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộcđịa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới I (1914-1918), chúng tiến hànhchương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tưtrên quy mô lớn, tốc độ nhanh
Trang 6Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914).
Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất của tư bản Pháp ở ViệtNam gồm 3 khâu chính có quan hệ mật thiết với nhau:
- Thiết lập chế độ thuế khoá hết sức nặng nề, bằng cách tăng các thuế
cũ (trực thu) gồm thuế đinh, thuế điền và đặt ra nhiều loại thuế mới (gián thu)trong đó 3 thuế chủ yếu là rượu, muối, thuốc phiện
- Xây dựng hệ thống giao thông nối liền các khu vực khai thác với các
đô thị, các cảng để phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa và nguyên liệu
- Đầu tư vào một số ngành kinh tế (khu vực của tư bản Pháp), chủ yếu
là hai ngành công nghiệp nhẹ và mỏ để vừa phục vụ nhu cầu thiết yếu cho đờisống bọn thực dân vừa khai thác vơ vét các tài nguyên khoáng sản (than đá,thiếc, ) chở về Pháp hay bán ra thị trường thế giới
Về nông nghiệp, một mặt thực dân Pháp khuyến khích, tạo cơ hội chobọn quan lại, địa chủ cướp đoạt ruộng đất của nông dân các làng xã, mặt khácbản thân chúng cũng ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồnđiền trồng lúa, trồng cây công nghiệp Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất củanhà nước chuyển sang nhà nước "bảo hộ", khâm sứ, thống sứ, thống đốc cóquyền ký giấy cấp đất Sau khi chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, tư bản Phápvẫn duy trì phương thức bóc lột phong kiến: theo lối phát canh thu tô (thu lợinhuận nhanh nhất), vì vậy đã kìm hãm nông nghiệp Việt Nam trong vòng lạchậu Đồng thời chúng ra sức vơ vét thóc gạo để xuất khẩu, bóc lột nông dân tamột cách tàn nhẫn
Về công nghiệp, chỉ chú trọng đến các ngành công nghiệp khai thác để vơvét thật nhiều nguyên liệu Phương châm của Pháp là hạn chế mở mang côngnghiệp Việt Nam, chỉ xây dựng một số ngành công nghiệp nhẹ để sản xuất tại chỗnhững loại hàng bán ngay ở Việt Nam mà không cạnh tranh với ngành côngnghiệp Pháp
Về thương nghiệp, thiết lập một chế độ thuế quan chặt chẽ, theo đóhàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam được miễn thuế hoàn toàn, còn hàng hóacác nước khác phải theo quy chế thuế quan như nhập vào nước Pháp Vì vậy,
Trang 7Việt Nam trở thành thị trường độc chiếm của Pháp và các ngành nghề truyềnthống của nhân dân Việt Nam ngày càng bị mai một.
Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929)
Nước Pháp ra khỏi chiến tranh với tư cách là một nước thắng trận,nhưng bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế bị sa sút nghiêm trọng, vốn đầu
tư vào thị trường Nga bị mất trắng Vì vậy, tư bản Pháp một mặt tăng cườngbóc lột nhân dân lao động trong nước, mặt khác đẩy mạnh đầu tư khai tháccác thuộc địa, trong đó Đông Dương được coi là thuộc địa quan trọng nhất
Nội dung cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của tư bản Pháp về cơ bảnkhông khác cuộc khai thác lần thứ nhất, nhưng về quy mô, tốc độ và vốn đầu
tư lớn gấp nhiều lần
Về đầu tư: tập trung chủ yếu vào đồn điền cao su và ngành khai thác mỏ
Về thuế: đẩy mạnh việc tăng thuế, thuế trực thu năm 1914 là 15,5 triệuđồng, năm 1924 tăng lên 23,5 triệu đồng.Thuế gián thu năm 1920 là 27 triệuđồng, năm 1929 tăng lên 37,8 triệu đồng
Nhìn chung, chính sách khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp là tăngcường mọi thủ đoạn để bóc lột vơ vét của cải của nhân dân ta, nhưng vẫn hạnchế công nghiệp Việt Nam phát triển, đặc biệt là công nghiệp nặng, nhằm cộtchặt Đông Dương vào nền công nghiệp nước Pháp và biến Đông Dươngthành thị trường độc chiếm của tư bản Pháp
1.2 Sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của Việt Nam dưới tác động của các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Về kinh tế:
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hìnhkinh tế Việt Nam có sự biến đổi: sự xâm nhập của phương thức sản xuấtTBCN làm tan rã dần nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp; đồng thời kinh tếhàng hoá cũng có điều kiện phát triển Quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ,hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dânmới Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức
tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến.Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận
Trang 8siêu ngạch Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tưbản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vònglạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế Pháp Đó là phương thức sản xuấtTBCN dưới hình thái thực dân, được đánh dấu bằng sự kết hợp giữa phươngthức bóc lột tư bản với phương thức bóc lột phong kiến trên xương máu củanhân dân ta, chủ yếu là nông dân.
Về xã hội: các giai cấp cũ phân hóa, giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện Các giai cấp là nông dân và địa chủ phân hóa rõ rệt:
Nông dân do thuế và nạn cướp ruộng đất bị bần cùng hoá trên quy môrộng hơn, dẫn tới tình trạng phá sản không lối thoát ngày càng trầm trọng Sauhai cuộc khai thác thuộc địa, giai cấp nông dân vẫn tiếp tục bị bần cùng hóa bởichính sách thuế khóa và nạn cướp ruộng đất của đế quốc và phong kiến Vìvậy, mâu thuẫn giữa nông dân với đế quốc và phong kiến càng ngày càng gaygắt Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc
và phong kiến, đặc biệt sâu sắc nhất với đế quốc và bọn tay sai phản động Họvừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu vềđộc lập dân tộc là bức thiết nhất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranhkiên cường bất khuất là lực lượng to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh
mẽ Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại và có sự lãnh đạo của một đội tiênphong cách mạng, sẽ phát huy vai trò là lực lượng kiên trung, đông đảo trong
sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Địa chủ Việt Nam bị phân hóa: Một bộ phận địa chủ có tinh thần yêunước, tiếp tục đi với nhân dân chống Pháp; một bộ phận địa chủ được sự dungdưỡng của thực dân ngày càng có thế lực, là chỗ dựa đắc lực cho thực dânPháp Do đó, sự câu kết giữa giai cấp địa chủ với thực dân Pháp càng đượccủng cố vững chắc hơn để phục vụ cho việc đàn áp, bóc lột nhân dân ta triệt
để hơn
Những giai cấp, tầng lớp mới ra đời:
Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác
thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng dochúng nắm giữ Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi
Trang 9thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ choviệc xâm lược và bình định của chúng ở nước ta.Trong cuộc khai thác thuộcđịa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành Đếncuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanhchóng về số lượng, từ 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929),trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200công nhân đồn điền Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượngchỉ chiếm khoảng 1% số dân, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khátập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền.
Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giai cấpcông nhân Việt Nam có những điểm riêng như: phải chịu ba tầng lớp áp bứcbóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phần lớn vừa mới từ nông dân
bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân.Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộthuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh Sinh ra và lớn lên ởmột đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là truyền thống yêunước chống ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa tiên tiến trongtrào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cáchmạng của mình
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đạidiện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, cótinh thần cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế Họ là một động lựccách mạng mạnh mẽ và khi liên minh được với giai cấp nông dân và tiểu tưsản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấutranh vì độc lập tự do Khi được tổ chức lại và hình thành được một đảng tiênphong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để làchủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộcđấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc
Tầng lớp tư sản (gồm những chủ đại lí tiêu thụ hàng hóa Pháp; nhữngthầu khoán; chủ thầu; chủ xưởng ) và tầng lớp tiểu tư sản thành thị (gồm cáctiểu thương, tiểu chủ, viên chức, học sinh, sinh viên, nhà giáo ) xuất hiện.Từ
Trang 10sau Chiến tranh thế giới thứ nhất các tầng lớp này có điều kiện phát triển vàtrở thành một giai cấp xã hội thực sự Nhưng trong hoàn cảnh thuộc địa củaPháp, giai cấp tư sản Việt Nam không có điều kiện phát triển mạnh mẽ và độclập mà phân thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc.
Tư sản mại bản là một bộ phận nhỏ gồm những nhà đại lí cho tư bảnnước ngoài, những nhà thầu khoán hay những nhà doanh nghiệp có quan hệbuôn bán với nước ngoài Vì vậy, lợi ích kinh tế của bộ phận này gắn chặt vớilợi ích kinh tế của tư bản thực dân
Tư sản dân tộc bao gồm các nhà tư sản Việt Nam trong các lĩnh vựckinh tế, đặc biệt trong thương nghiệp Bộ phận tư sản dân tộc ít về số lượngcũng như vốn liếng, họ bị chèn ép từ nhiều phía, từ tư sản Pháp đến các nhà
tư sản ngoại kiều Vì vậy, phần lớn tư sản dân tộc Việt Nam cũng có tinhthần dân tộc, nhưng khi đế quốc mạnh thì họ thể hiện thái độ không kiênđịnh, thỏa hiệp
Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương,
tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những ngườilàm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau về kinh tế và cáchsinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị
đe dọa phá sản, thất nghiệp Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đếquốc và phong kiến áp bức, bóc lột và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng.Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúcvới những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trịtinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đãthức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo
và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng,nhất là ở đô thị Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọngtrong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Như vậy, chính sách thốngtrị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông Dương nói chung là mộtchính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằmđem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục,chứ không phải đem đến sự "khai hoá văn minh" – như luận điệu của chủ
Trang 11nghĩa thực dân tuyên truyền Để thực hiện được “sự khai hóa” ấy, chính quốcphải "điều quân đội, súng liên thanh, súng cối và tàu chiến đến, người ta ralệnh giới nghiêm Người ta bắt bớ và bỏ tù hàng loạt Đấy! Công cuộc khaihoá nhân từ là như thế đấy!"4
Nước Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc về chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thànhmột xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phongkiến, song khi đã thành thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của xãhội đó
Trong lòng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hìnhthành những mâu thuẫn đan xen nhau, song mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu làmâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Sựthống trị, áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phảnkháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gaygắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức Trái lại, sự xung đột, đấutranh về quyền lợi riêng của mỗi giai cấp trong nội bộ dân tộc được giảmthiểu và không quyết liệt như cuộc đấu tranh dân tộc
Những biến đổi bên trong đã tạo cơ sở vật chất xã hội cho việc tiếp thunhững tư tưởng mới ở bên ngoài: tư tưởng cách mạng tư sản Pháp 1789,phong trào Duy tân Nhật Bản 1868, cuộc vận động Duy tân 1898, cách mạngTân Hợi của Trung Quốc 1911, đặc biệt là cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917 Bối cảnh lịch sử đó đã tác động, làm chuyển hướng phong trào yêunước những thập kỷ đầu thế kỷ XX
2 Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
2.1 Phong trào yêu nước dưới ngọn cờ phong kiến
Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược tại cửa biển Đà Nẵng 9-1858) đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của một bộ phận quân triều đình
(1-và nhân dân địa phương Thất bại trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh ở
Trang 12Đà Nẵng, tháng 2 năm 1860, quân đội Pháp quay về đánh phá thành GiaĐịnh, sau đó mở rộng đánh chiếm các tỉnh Nam Bộ Trước thái độ chần chừ,
do dự của triều đình nhà Nguyễn, các văn thân sĩ phu yêu nước ở Nam Kì đãchủ động tổ chức nhân dân là “những người dân ấp, dân lân” đứng lên chốngPháp xâm lược Điển hình là các phong trào: phong trào của Trương Địnhđược nhân dân Nam Kì suy tôn “Bình Tây đại nguyên soái), phong tràoNguyễn Trung Trực với lời tuyên bố khẳng khái: “Bao giờ người Tây nhổ hết
cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”, phong trào của Võ DuyDương, Nguyễn Hữu Huân Khi thực dân Pháp tấn công ra Bắc Kì lần thứ nhất(1873), lần thứ hai (1882-1883) đều vấp phải sự kháng cự quyết liệt của một bộphận quan lại chủ chiến và đông đảo nhân dân từ Trung Kì đến Bắc Kì Từ Tổngđốc Nguyễn Tri Phương đến Tổng đốc Hoàng Diệu ở thành Hà Nội, đến TrầnTấn, Đặng Như Mai ở Nghệ Tĩnh “quyết đánh cả Triều lẫn Tây” hàng trămcuộc đấu tranh thể hiện tinh thần quật cường bảo vệ nền độc lập của dân tộc củanhân dân ta chống lại sự xâm lược của ngoại bang Nhưng, trước thách thứcnghiêm trọng đến sự tồn vong của dân tộc và chủ quyền quốc gia, triều đình nhàNguyễn đã hoang mang, do dự, không đủ ý chí, năng lực đưa ra những kế sáchđúng đắn để tập hợp lực lượng, huy động sức dân, ngược lại, đã từng bước bỏrơi ngọn cờ kháng chiến, lần lượt kí các hàng ước với thực dân Pháp Phong tràochống Pháp dưới sự lãnh đạo của giai cấp phong kiến nói chung thất bại Sau khithực dân Pháp thôn tính Việt Nam, phong trào đấu tranh vũ trang chống Phápcủa nhân dân Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với qui mô rộng lớnhơn, quyết liệt hơn Giai đoạn này có 2 phong trào nổi bật:
Phong trào Cần Vương (1885-1896)
Sự kí kết Hiệp ước Patơnôt 1884 đánh dấu sự đầu hàng của triềuNguyễn, nhưng một bộ phận phong kiến yêu nước đã khởi xướng cùng vớinhân dân tiếp tục vũ trang chống Pháp Đó là phong trào Cần Vương do TônThất Thuyết dẫn đầu (1885-1896) Ông liên tiếp phế truất 3 vua liên tiếp sauvua Tự Đức (vì sớm bộc lộ tư tưởng thân Pháp), lập Hàm Nghi lên ngôi (8-1884) Sau một thời gian bí mật chuẩn bị lực lượng, xây dựng hệ thống cácđồn Sơn phòng dọc theo sườn đông Trường Sơn, chuyển vũ khí và lương thực
Trang 13ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị), đêm 4 rạng sáng 5-7-1885, phái chủ chiếntrong triều đã chủ động tấn công vào các căn cứ chiếm đóng của Pháp tại kinhthành Huế Thất bại trước sự phản công của Pháp, Tôn Thất Thuyết phải rước
vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị, rồi lấy danh nghĩa nhà vua ra Chiếu
Cần Vương (13-7-1885), kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân trong nước nổi
dậy đánh Pháp Lời kêu gọi ấy đã phát động một cao trào yêu nước chốngPháp rầm rộ trong cả nước, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chống thực dânPháp và chống phong kiến đầu hàng
Giai đoạn từ 1885-1888: Triều đình được sự phò tá của Tôn Thất
Thuyết, của Đề đốc Lê Trực, Tri phủ Nguyễn Phạm Tuân chiến đấu ở vùngnúi Quảng Bình, sau phải vượt Trường Sơn, qua đất Hạ Lào, rồi trở về vùngsơn phòng ấu Sơn (Hà Tĩnh) Mặc dù vua Đồng Khánh theo lệnh của Toànquyền Pôn Be (Paul Bert) đã xuống dụ kêu hàng, nhưng “Triều đình HàmNghi” vẫn kiên quyết chiến đấu Trong giai đoạn này, phong trào Cần Vươngtrải rộng từ địa bàn Trung Kì đến cả Bắc Kì và Nam Kì
Giai đoạn từ 1888-1896: Sau khi vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt
(1-11- 1888) và đày sang Angiêri (Bắc Phi), phong trào Cần vương vẫn tiếptục, mặc dù có giảm số lượng các cuộc khởi nghĩa, nhưng lại hình thànhnhững trung tâm kháng chiến lớn Tại Thanh Hoá có khởi nghĩa Ba Đình,Hùng Lĩnh Tại Hưng Yên có khởi nghĩa Bãi Sậy Cuộc khởi nghĩa tiêu biểunhất, kéo dài suốt thời Cần Vương là cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh)dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng Với lối đánh du kích kết hợp với lốiđánh lớn có chiến tuyến cố định, cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã gây choPháp nhiều tổn thất Thực dân Pháp được phong kiến đầu hàng tiếp sức đãphải dùng nhiều thủ đoạn, cả dụ dỗ, mua chuộc đến trấn áp, để đối phó vớiphong trào Ngày 28-12-1895 Phan Đình Phùng tạ thế ở Núi Quạt (Hà Tĩnh),
23 bộ tướng của ông cũng bị Pháp bắt và xử tử tại Huế Đến đầu năm 1896phong trào Cần Vương chấm dứt
Sự thất bại phong trào Cần Vương đồng thời kết thúc vai trò lịch sử củagiai cấp phong kiến trong phong trào giải phóng dân tộc Dù thất bại, nhưng
có thể khẳng định rằng phong trào Cần Vương - thực chất là phong trào yêu
Trang 14nước của nhân dân cả nước chống thực dân Pháp xâm lược và phong kiến đầuhàng - là sự kế tục, sự nối liền truyền thống yêu nước của nhân dân ta từ cuốithế kỷ XIX với những cố gắng có kết quả cao hơn vào đầu thế kỷ XX.
Phong trào tự phát của nông dân, điển hình là khởi nghĩa Yên Thế
Đến cuối năm 1884, thực dân Pháp về cơ bản đã chiếm xong Bắc Kỳ,nhưng vùng giáp ranh hai tỉnh Lạng Sơn - Bắc Giang, trong đó có huyện YênThế, chúng chưa chiếm được Với truyền thống yêu nước quật cường, nông dânYên Thế đã kiên quyết đánh trả các cuộc hành quân của thực dân Pháp, bảo vệvùng đất của mình
Thủ lĩnh của nghĩa quân Yên Thế là Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) ĐềThám tham gia kháng chiến chống Pháp từ rất sớm và từ những năm 90 củathế kỷ 19 đã nổi lên như một thủ lĩnh xuất sắc, có uy tín lớn, có khả năng tậphợp, lôi kéo đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia Bên cạnh Đề Thámcòn có nhiều tướng lĩnh xuất sắc khác, như Lương Văn Nắm, Đề Tước, ĐềThật, Đề Chung, Đề Lâm,Tổng Tài Trong số các thủ lĩnh của phong trào cónhiều người trong gia đình Đề Thám, như bà ba Đặng Thị Nho, Cả Trung, CảDinh, Cả Huỳnh…
Tháng 12 năm 1885 Pháp điều 300 quân vào càn quét Yên Thế nhưngthất bại Cuối năm 1890, sau khi đàn áp xong khởi nghĩa Cai Kinh và ĐộiVăn, Pháp lại mở tiếp những cuộc hành quân lớn lên vùng Thượng Yên Thế.Nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra giữa nghĩa quân với thực dân Pháp, gâycho chúng nhiều thất bại nặng nề Cuối cùng, vì bị bao vây gắt gao, các toán
vũ trang dần tan vỡ, trừ nghĩa quân Đề Thám còn ở lại bám đất xây dựng lực
lượng tiếp tục chiến đấu Từ năm 1892 đến năm 1897: Sau một thời gian
củng cố lực lượng, Đề Thám cho lập các đồn trại, xây dựng công sự chiếnđấu Ông là thủ lĩnh duy nhất còn ở lại tiếp tục đương đầu với thực dân Pháp,bảo vệ quê hương Ngày 25 tháng 3 năm 1892 Pháp mở cuộc càn quét vàocăn cứ Đồng Hom Nghĩa quân chiến đấu quyết liệt và thắng lợi giòn giã Sautrận này tiếng tăm của Đề Thám càng lớn, những toán vũ trang ở nhiều nơitheo về ông rất đông Tính đến năm 1897, sau 12 năm chiến đấu gian khổnghĩa quân Yên Thế đã gây cho địch những tổn thất nặng nề Từ năm 1897
Trang 15đến năm 1908: là giai đoạn mà hoàn cảnh lịch sử có nhiều thay đổi, có ảnh
hưởng sâu sắc đến cuộc khởi nghĩa (Pháp chấm dứt thời kỳ bình định bướcvào ổn định việc cai trị, các phong trào yêu nước theo xu hướng mới xuấthiện, như phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Duy Tân
và chống thuế ở Trung Kỳ, vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội ) Đứngtrước tình hình đó nghĩa quân Yên Thế đã tổ chức lại lực lượng, tranh thủ sảnxuất trong thời gian giảng hoà, đồng thời có chủ trương cụ thể trong quan hệvới chính quyền thực dân Trong quan hệ với các phong trào cách mạng đầuthế kỷ XX, tuy đã có dịp gặp gỡ và trao đổi với một vài nhà lãnh đạo nhưPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh nhưng do hoàn cảnh địa lý và hạn chế cánhân nên không có bước tiến triển mới
Từ năm 1909 đếnnăm 1913: Sau khi đàn áp xong các phong trào yêu
nước ở miền xuôi thực dân Pháp chĩa mũi nhọn tấn công vào cuộc khởi nghĩaYên Thế Nghĩa quân Yên Thế tiếp tục chiến đấu trong năm 1909 Từ năm
1910 đến năm 1913 là những năm tháng cuối cùng của Đề Thám Cuối năm
1913 thực dân Pháp dùng thủ đoạn hèn hạ sát hại Đề Thám Cuộc khởi nghĩatan rã hoàn toàn
Đặc điểm nổi bật nhất của cuộc khởi nghĩa Yên Thế là tính chất nôngdân tự phát Tính chất này thể hiện rõ ở thủ lĩnh, lực lượng và nhất là ở mụctiêu đấu tranh Đây cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự thất bại của khởinghĩa Yên Thế, đã làm cho cuộc khởi nghĩa không gắn bó được với phongtrào cách mạng mới, tạo ra bước chuyển biến đủ sức vượt qua sự đàn áp của
kẻ thù
Tuy cuối cùng thất bại nhưng cuộc khởi nghĩa Yên Thế có một ý nghĩalịch sử đặc biệt quan trọng Đây là một cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dânViệt Nam kéo dài gần 30 năm, ghi một mốc son trong lịch sử đấu tranh chốngthực dân Pháp trong lịch sử cận đại Việt Nam
2.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản
Những năm đầu thế kỷ XX, trước những biến đổi kinh tế, xã hội do tácđộng của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, phong trào
yêu nước Việt Nam có những chuyển biến mới Đảm đương vai trò lãnh đạo
Trang 16phong trào yêu nước và cách mạng hai thập kỉ đầu thế kỉ XX là lớp trí thứcNho học giàu lòng yêu nước, ảnh hưởng trào lưu dân chủ tư sản Tiêu biểu là
xu hướng bạo động do Phan Bội Châu (1867-1940) tổ chức, lãnh đạo và xuhướng cải cách do Phan Châu Trinh (1872-1926) đề xướng
Phan Bội Châu và xu hướng vũ trang bạo động:
Phan Bội Châu quê ở Nam Đàn, Nghệ An, là nhà Nho (năm 1900 đỗ đầukhoa thi Hương), nhưng đã chịu ảnh hưởng tư tưởng mới được đưa vào Việt Nam
từ những năm đầu thế kỷ XX qua các sách báo mới và trở thành người khởixướng một phong trào yêu nước cách mạng mang tính chất tư sản theo xu hướngbạo động để đánh đuổi Pháp khôi phục độc lập dân tộc Hoạt động của ông chia rahai thời kì:
Thời kì Duy Tân hội và phong trào Đông Du (1904-1908).
Tháng 5-1904 ông cùng Cường Để lập Duy Tân hội tại Quảng Nam.Mục đích chính của Hội là đánh Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc, thiết lậpchế độ quân chủ lập hiến Năm 1905 sang Nhật cầu viện, tổ chức đưa gần
200 người sang Nhật để học khoa học kĩ thuật và quân sự (gọi là phong tràoĐông Du) Tháng 9-1908 Nhật câu kết với Pháp trục xuất học sinh Việt Namkhỏi Nhật
Thời kì Việt Nam quang phục hội (1912-1918):
Sau khi Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công (1911), Phan BộiChâu từ Thái Lan sang Trung Quốc thành lập Việt Nam Quang phục hội tạiQuảng Đông (2-1912) Tôn chỉ mục đích: "Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phụcnước Việt Nam, thành lập nước cộng hoà dân quốc Việt Nam"
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Hội đưa người về nước, tổchức cuộc khởi nghĩa ở Huế và Thái Nguyên, nhưng cuối cùng bị thất bại.Việt Nam Quang Phục hội sau đó tan rã trước sự khủng bố đàn áp khốc liệtcủa quân thù Năm 1925 Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải Thực dânPháp đưa ông về Việt Nam, kết án khổ sai chung thân Trước phong trào đấutranh của nhân dân ta, Pháp buộc phải “ân xá” và đưa ông về “an trí” tại Huếdưới sự kiểm soát chặt chẽ của mật thám Ngày 29-10-1940 ông mất
Trang 17Nguyên nhân thất bại chủ yếu của xu hướng này là phương pháp bạođộng còn nặng về ám sát cá nhân, ít chú trọng đến các tổ chức quần chúng,hành động phiêu lưu dẫn đến sự tan rã nhanh chóng Mặc dù không giànhđược thắng lợi, nhưng xu hướng bạo động cách mạng của Phan Bội Châu đãphát động mạnh mẽ tinh thần yêu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân talúc bấy giờ.
Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách:
Năm 1901 sau khi đậu đỗ phó bảng, Phan Châu Trinh giữ chức quanThừa biện bộ Lễ trong triều đình Huế (1903) Bất bình trước cảnh vua quanquan triều Nguyễn ngày càng khuất phục đầu hàng, biến thành tay sai đắc lựccủa Pháp trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân, cuối năm 1904 ông cáo quan vềquê tiến hành những hoạt động cứu nước
Ông không chỉ chịu ảnh hưởng của Tân thư mà còn chịu ảnh hưởng củanhiều nhà dân chủ tư sản Pháp, Ấn Độ Chủ trương của ông là dựa vào Pháp
để tiến hành cải cách, thực hiện khai thông dân trí, nâng cao dân quyền, làmcho dân giàu, nước mạnh rồi mới tính đến chuyện giải phóng dân tộc
Năm 1906 Phan Châu Trinh cùng với Trần Qúy Cáp, Huỳnh ThúcKháng tiến hành cuộc vận động duy tân ở Trung kỳ Cuộc vận động đó đã châmngòi cho phong trào nông dân rộng lớn ở Trung Kỳ Phong trào chống thuế năm
1908 bắt đầu từ huyện Đại Lộc (Quảng Nam), sau lan rộng ra toàn miền Trung
Trang 18Thực dân Pháp đàn áp dã man, các trường học, hội buôn bị đóng cửa Phan ChâuTrinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Cao Vân và hàng trăm người khác bị đày ra CônĐảo Năm 1911 do sự can thiệp của Liên minh nhân quyền Pháp, Phan ChâuTrinh sang sống ở Pháp Năm 1925 ông được Pháp cho về nước và định tiếp tụchoạt động theo con đường cải cách Nhưng ông lâm bệnh và ngày 24- 3-1926 mấttại Sài Gòn.
Phong trào chống thuế ở Trung Kì thực chất là một cuộc đấu tranh côngkhai, tự phát của nông dân đòi chính quyền thực dân thực hiện những cải cáchdân chủ Phong trào đó đã kết hợp chặt chẽ với cuộc vận động Duy Tân đangphát triển mạnh, buộc chính quyền thực dân sau đó đã phải nới rộng một sốquyền lợi cho nông dân ( giảm thuế thân, giảm số ngày đi xâu công ích ) Tuynhiên, vì thiếu sự lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ, phong trào đã bị đàn áp và cuốicùng tan rã
Tuy thất bại, xu hướng cải cách và những hoạt động của Phan ChâuTrinh đã có tác dụng nhất định trong việc khơi dậy tư tưởng dân chủ, mở ramột cách nhìn về vấn đề dân tộc dân chủ như là một sự bổ sung cần thiết chocách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ
Cùng với hai xu hướng cứu nước đầu thế kỉ XX, phong trào đấu tranhcủa công nhân Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện những hình thức liên minh giaicấp đầu tiên, như ở Bắc Kì xuất hiện Hội ái hữu viên chức ngành lục lộ(1906), ở vùng mỏ Hồng Gai hình thức “ Liên hiệp phường hội” trong côngnhân người Hoa đã lan ra công nhân Việt Nam Thời kì này giai cấp côngnhân đã một số cuộc đấu tranh độc lập mang tính tự phát, mặc dầu chưa trởthành một lực lượng chính trị độc lập, chủ yếu là đấu tranh kinh tế (như cuộcbãi công biểu tình của công nhân mỏ đá Ôn Lậu, Hải Dương năm1900; cuộcbãi công của công nhân viên chức hãng LU.C.I ở Hà Nội năm 1909 ) Nhìnchung, các cuộc đấu tranh của công nhân trong thời kì này đều còn tự phát,mang tính chất đấu tranh kinh tế, nhưng đã báo hiệu sự ra đời của một lựclượng mới trong xã hội
Trang 19Phong trào dân chủ tư sản của tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng
Khi thực dân Pháp tiến hành đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ hai, mâu thuẫn toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp càng gaygắt, các giai tầng mới trong xã hội Việt Nam đều bước lên vũ đài chính trịbiểu hiện phong phú bằng các tổ chức chính trị, các hội văn hóa, các cơ quanngôn luận
Đây là giai đoạn phong trào yêu nước, cách mạng Việt Nam không chỉảnh hưởng bởi những sự chuyển biến về kinh tế - xã hội trong nước, mà cònchịu sự tác động mạnh mẽ của tình hình thế giới: Cách mạng tháng Mười Ngathành công, mở ra con đường cách mạng vô sản cho các dân tộc thuộc địa;Quốc tế Cộng sản được thành lập (1919) trở thành cơ quan lãnh đạo tối caocủa phong trào cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc các nướcthuộc địa Năm 1920 Đảng cộng sản Pháp ra đời Năm 1921 Đảng cộng sảnTrung Quốc thành lập; Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa vàphụ thuộc đã bắt đầu "thức tỉnh" từ châu Á đến châu Phi
Cuộc vận động giải phóng dân tộc Việt Nam thời kì sau chiến tranh đãdiễn ra và phát triển trong bối cảnh lịch sử đó.Trong đó, hoạt động có ảnh
hưởng rộng và thu hút nhiều học sinh, sinh viên yêu nước là tổ chức Việt Nam
Quốc dân Đảngdo Nguyễn Thái Học lãnh đạo Trên cơ sở các tổ chức yêu
nước của tiểu tư sản trí thức theo chủ nghĩa dân tộc cách mạng, Việt Nam Quốcdân Đảng được chính thức thành lập tháng 12 - 1927 tại Bắc Kì Lãnh đạo làcác tiểu tư sản trí thức như Nguyễn Thái Học (chủ tịch Đảng), Nguyễn ThếNghiệp ( phó chủ tịch đảng), ngoài ra còn có Phạm Tuấn Tài, Phó Đức Chính,Nguyễn Khắc Nhu v.v
Mục đích: đánh Pháp giành độc lập, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản,với phương pháp: đấu tranh vũ trang, manh động, ám sát cá nhân và lực lượngchủ yếu là binh lính, sinh viên… Cuộc khởi nghĩa Yên Bái (2-1930) với khẩuhiệu "không thành công thì thành nhân" đã nhanh chóng thất bại Sự thất bạicủa khởi nghĩa Yên Bái chứng tỏ rằng phong trào yêu nước theo khuynhhướng dân chủ tư sản không đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự nghiệpgiải phóng dân tộc Đó là " một cuộc bạo động bất đắc dĩ, một cuộc bạo
Trang 20động non, để rồi chết luôn không bao giờ ngóc đầu lên nổi Khẩu hiệu “khôngthành công thì thành nhân” biểu lộ tính chất hấp tấp tiểu tư sản, tính chất hănghái nhất thời và đồng thời cũng biểu lộ tính chất không vững chắc, non yếucủa phong trào tư sản”5.
Khởi nghĩa Yên Bái thất bại, đánh dấu sự tan rã của khuynh hướngcách mạng dân chủ tư sản và cũng xác nhận sự bất lực của tư tưởng tư sảntrong việc xác lập con đường cách mạng phù hợp với quy luật vận động củacách mạng Việt Nam.Mặc dù thất bại nhưng cuộc khởi nghĩa Yên Bái vớinhững hành động quả cảm của các nghĩa quân VNQDĐ đã thể hiện tinh thầnyêu nước, chí khí quật cường của dân tộc ta, góp phần thổi bùng ngọn lửa yêunước trong các tầng lớp nhân dân
Như vậy, rõ ràng là vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỉ XX, tiếp tụctruyền thống yêu nước, bất khuất kiên cường chống ngoại xâm, các phongtrào chống thực dân Pháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản của nhân dân
ta diễn ra rất sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đều không thành công Cácthế hệ yêu nước của nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng xả thân vì nền độclập dân tộc, trải qua hơn 7 thập kỷ kiên trì tìm tòi, khảo nghiệm các conđường cứu nước, với các phương thức cứu nước khác nhau, nhưng trênthực tế, cho đến những năm 20 cuả thế kỉ XX : “các phong trào cứu nước
từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảonghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”6 Việt Nam lâm vào khủng hoảng bếtắc về đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêunước đương thời là cần phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, cóđường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc
Đây là yêu cầu khách quan, cấp thiết của lịch sử dân tộc Việt Nam.Khi lịch sử đặt ra yêu cầu thì chính lịch sử tạo nên nhân tố đáp ứng yêu cầulịch sử ấy Trên vũ đài chính trị của các dân tộc thuộc địa nói chung, của dântộc Việt Nam nói riêng đã xuất hiện nhân tố đáp ứng yêu cầu lịch sử - đó làNguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
5 Lê Duẩn: Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam, Nxb.ST, H.1959, tr.41
6 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.ST, H.1991,
tr.109
Trang 21CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Bối cảnh của tình hình thế giới tác động đến Việt Nam những nămđầu thế kỷ XX?
2 Sự chuyển biến về kinh tế - xã hội của Việt Nam sau cuộc khai thácthuộc địa của thực dân Pháp
3 Nguyên nhân cơ bản sự thất bại của các phong trào yêu nước trướckhi có Đảng?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu tham khảo bắt buộc:
1 "Các tổ chức tiền thân của Đảng", Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng
Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977
2 Giáo trình lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia,
- Tài liệu tham khảo không bắt buộc:
1 Trần Bá Đệ, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2001
2 Lê Mậu Hãn, Các cương lĩnh cách mạng của Đảng, Nxb Chính trị
Quốc gia, H 2010
3 Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận hiện đại Việt Nam - một số vấn đề
nghiên cứu, Nxb Giáo dục, H 1998.
4 Trịnh Nhu - Vũ Dương Ninh, Về con đường giải phóng dân tộc của
Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, H 1996
5 Phạm Xanh, Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác
-Lênin ở Việt Nam 1921- 1930, Nxb Thông tin Lý luận, H 1990
6 Đ.C Xớckin, Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa,
Nxb Sự thật, H.1960
Trang 22Chuyên đề 2 NGUYỄN ÁI QUỐC TRUYỀN BÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀO VIỆT NAM VÀ CÁC TỔ CHỨC TIỀN THÂN CỦA ĐẢNG
MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Giúp học viên nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, về giá trị
tư tưởng Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam trong chặng đường khủnghoảng, bế tắc về đường lối cứu nước
- Về kỹ năng: Qua nghiên cứu chuyên đề, cung cấp cho học viên
phương pháp phân tích, luận giải những vấn đề lịch sử khách quan, khoa học
- Về tư tưởng: góp phần nâng cao niềm, tin lòng tự hào về Nguyễn Ái
Quốc - Hồ Chí Minh, vững tin vào con đường cách mạng Chủ tịch Hồ ChíMinh và Đảng đã lựa chọn
NỘI DUNG
1 Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định những luận điểm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản
1.1 Qua trìnhNguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác – Lênin,
Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890, quê ở làng Kim Liên, huyệnNam Đàn, tỉnh Nghệ An Lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học lấytên là Nguyễn Tất Thành Lớn lên giữa lúc nước mất nhà tan, đau xót trướccảnh lầm than của đồng bào Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thựcdân Pháp, giải phóng dân tộc
Với nhiệt huyết cứu nước, với thiên tài trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén
và được kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, ngày 5-6-1911,người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứunước, giải phóng dân tộc, với mục đích rõ ràng: xem các nước làm thế nào rồitrở về giúp đồng bào Vượt qua được hạn chế của các nhà yêu nước đươngthời, Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu,
Trang 23Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám, nhưng không đồng ý đi theo con đườngcác bậc tiền bối Trong khi nhiều người còn ngưỡng mộ cách mạng tư sản,trăn trở tìm con đường cứu nước theo khuynh hướng tư sản, Người đã vượtqua sự hạn chế tầm nhìn của các bậc tiền bối, với tư duy độc lập, tự chủNgười đã lựa chọn hướng đi và điểm tới của mình Đặc sắc hơn, Người xácđịnh cho mình phương thức ra đi đó là vừa đi vừa lao động, cùng với sự thayđổi trong lộ trình Đi nhiều nước, khám phá nhiều nền văn minh chứ khôngchỉ dừng lại ở Pháp Đây chính là quá trình hoạt động thực tiễn gắn với tư duykhoa học giúp Người tiếp cận chân lí của thời đại Hướng đi và mục đích đượcxác định là “tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác Saukhi xem xét họ làm thế nào,tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” Nước Pháp lànước có truyền thống cách mạng tư sản, cách mạng triệt để nhất, cách mạng vôsản cũng bắt đầu từ nước Pháp (1871) Nhưng người Pháp lại sang cai trị ởViệt Nam vô cùng tàn bạo Nguyễn Tất Thành muốn khám phá cái gì ẩn đằngsau khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” mà Người từng được học, được nghe
từ sự tuyên truyền của chính quyền thực dân Pháp Như vậy, ngay từ đầuNguyễn Tất Thành đã nhận thức rõ ràng rằng, dân tộc Việt Nam đang cần nhất
là cách thức đánh đuổi thực dân đế quốc hay nói cách khác là lí luận cách mạng
và phương pháp cách mạng để giải phóng dân tộc
Như vậy, xuất thân từ gia đình nhà Nho nhưng Người không bị ràngbuộc bởi tư tưởng trung quân, lại thấm nhuần những giá trị dân tộc và nhânbản của đạo lí Việt Nam: gắn với dân Chính vì thế, trong hành trang vô giá
mà Nguyễn Tất Thành mang theo là tinh hoa của chủ nghĩa yêu nước truyềnthống, vừa bao hàm một tinh thấn đổi mới phù hợp với yêu cầu giải phóngdân tộc và xu thế thời đại
Người thanh niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thốngkhổ của đồng bào Lúc bấy giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóngđồng bào Người luôn trăn trở với những câu hỏi lớn về vận mệnh dân tộc.Người luôn kính trọng những bậc tiền bối, nhưng không bằng lòng với đường đinước bước của những người đi trước và anh không muốn đi theo những vết mòncủa lịch sử
Trang 24Trong vòng 10 năm từ năm 1911 đến năm 1920 Người đã tận dụng mọi
cơ hội để đến nhiều nơi trên thế giới, Người đã xem xét và khảo nghiệm ởnhững nơi mà Người đặt chân tới như Châu Âu, Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ,đặc biệt ở ba nước đế quốc lớn nhất lúc này là Anh, Mỹ, Pháp Người chịuđựng mọi gian khổ, làm mọi thứ nghề lao động nặng nhọc để hiểu và cảmthông với những người lao động Chính vì vậy, chủ nghĩa yêu nước ở Người
có những biến chuyển mới: từ sự đồng cảm với đồng bào mình nânglên thành
sự đồng cảm với nhân dân lao động, với các dân tộc cùng khổ
Và cũng vì thế, Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn khái quát hơn về diện mạo
kẻ thù: không chỉ có thực dân Pháp mà cả chủ nghĩa đế quốc thực dân nóichung Người rút ra kết luận có tính chất nền tảng đầu tiên: ở đâu bọn đế quốctthực dân cũng tàn bạo độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột,
áp bức nặng nề Đặc biệt khi Người tới nước Mỹ, Người xúc động trước cảnhnhững nô lệ da đen dưới chân tượng Thần Tự do và nhận ra một điều rằngtrên thế giới dù ở đâu, dù da vàng, da trắng hay da đen, cũng có hai loạingười: người giàu và người nghèo, người áp bức và người bị áp bức Từ đóNgười càng hiểu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa đế quốc Những nhận biếtmang tính nền tảng đó càng giục giã Người quyết tâm tìm con đường giảiphóng cho dân tộc
Qua mười năm sống và làm việc ở những nước tư bản phát triển, Ngườikhông choáng ngợp trước sự giàu có của giai cấp tư sản mà lại nhận thấy chế
độ tư bản có nhiều khuyết tật Người khẳng định dứt khoát chủ nghĩa tư bảnkhông cứu được nước, không cứu được dân.Quá trình nghiên cứu, xem xétCách mạng tư sản Mỹ (1776) và kể cả triệt để như cuộc cách mạng tư sảnPháp (1789), Người chỉ ra hạn chế của cách mạng dân chủ tư sản là nhữngcuộc cách mạng không giải phóng được công nông và quần chúng lao động.Người đánh giá những cuộc cách mạng tư sản là những cuộc cách mạngkhông triệt để: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cáchmệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kỳ thựctrong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh
Trang 25đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữamới hòng thoát khỏi vòng áp bức”.
Khi Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, Người từnước Anh trở lại nước Pháp và tham gia các hoạt động chính trị tại Pari.Pari thời điểm nàylà trung tâm chính trị,văn hoá không chỉ của nước Pháp
mà cả của châu Âu “Pari như là điểm hẹn lịch sử của các bậc vĩ nhântrên thế giới” Khi được biết thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga,Nguyễn Ái Quốc ngưỡng mộ cuộc cách mạng đó, kính phục Lênin Ngườinhận thức được rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đãthành công, và thành công đến nơi, nghĩa là đân chúng được hưởng cái hạnhphúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốcchủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam” Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh:
“làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho đân chúng số nhiều, chớ để trongtay một bọn ít người: Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mớiđược hạnh phúc” Đây là điểm xuất phát và là điểm khác nhau cơ bản giữacon đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các con đường cứu nước trướckia Người đã tham gia nhiều cuộc vận động ủng hộ nhân dân Nga bảo vệthành quả cách mạng
Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp, mộtchính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp Người có dịp tiếp xúc, hoạt động vớinhiều nhà chính trị nổi tiếng ở Pháp Nguyễn Ái Quốc tìm hiểu và hoạt độngtrong phong trào công nhân, liên lạc và cùng hoạt động với nhiều nhà cáchmạng ở nhiều thuộc địa Người hăng hái tham gia ngay vào các hoạt độngchính trị cùng với giai cấp công nhân Pari và với các bậc đàn anh như PhanVăn Trường, Phan Châu Trinh lập ra “Hội những người yêu nước Việt Nam”
để thu hút Việt kiều ở Pháp đi theo một hướng tích cực Tháng 6-1919, cácnước thắng trận họp Hội nghị hoà bình ở Vécxây (Pháp), Nguyễn Ái Quốcđãthay mặt Hộinhững người Việt Nam yêu nước ở Phápgửi tới Hội nghịVécxây bản yêu sách tám điểm7 Người còn dịch ra chữ Hán và Quốc ngữ bímật gửi về nước Bản yêu sách như một “quả bom” làm chấn động dư luận
Trang 26Pháp, ví như “tiếng sấm mùa xuân đối với Việt kiều tại Pháp” Trong khi chờđợi giải quyết vấn đề dân tộc tự quyết, Người chỉ đề cập những yêu sách “tốithiểu” và “cấp thiết” Tổng thống Mỹ Uynxơn (Wilson), tác giả chương trình
14 điểm với chiêu bài dân tộc tự quyết cũng có mặt ở Hội nghị Nhưng nhữngyêu sách dù khiêm tốn của Người không được Hội nghị đáp ứng Sự kiện này
đã giúp Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ: “Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịpbợm lớn”8 Những lời tuyên bố tự do của nhà chính trị tư sản trong lúc chiếntranh thực ra chỉ là những lời “đường mật” để lừa bịp các dân tộc Muốn đượcgiải phóng, các dân tộc chỉ có không có con đường nào khác phải tự đứng lêngiải phóng Từ sau sự kiện này Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động hăng saytích cực trong các phong trào chính trị quần chúng ở Pháp, theo dõi thườngxuyên báó chí tiến bộ Từ sau sự kiện này Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt độnghăng say tích cực trong các phong trào chính trị quần chúng ở Pháp, theodõi thường xuyên báó chí tiến bộ Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc
bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc
địa của V.I Lênin đăng trên báo L'Humanite (Nhân đạo), số ra ngày 16 và
17-7-1920 Những luận điểm cách mạng của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộcđịa đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển của sựnghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà sau gần mười năm tìm kiếm (1911-1920) Nguyễn Ái Quốc mới bắt gặp Người đến với chủ nghĩa Mác- Lênin ởphương diện rất thực tế rằng chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể chỉ ra choNgười và nhân dân Việt Nam cũng như nhân loại bị áp bức con đường đểgiải phóng Bằng sự hoạt động sôi nổi trong Đảng Xã hội Pháp, trong phongtrào Việt kiều, đặc biệt chứng kiến và tham gia Bônsêvich hoá trongĐảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã bắt kịp hơi thở của thời đại KhiQuốc tế Cộng sản được thành lập, cuộc đấu tranh giữa hai con đường diễn raquyết liệt trong nhiều đảng công nhân và ngày trong Đảng Xã hội Pháp: tiếptục theo Quốc tế thứ hai tức là tiếp tục con đường cải lương hay đi theo Quốc
tế thứ ba, con đường cách mạng của Lênin Đặc biệt gây chú ý với Nguyễn ÁiQuốc là khẩu hiệu của Đại hội II Quốc tế Cộng sản “Vô sản tất cả các nước
8 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000, Tập 1, tr.416
Trang 27và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” Cũng chính từ nghiên cứu Sơ thảo lần
thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.
Lênin, đã giải đáp những vấn đề mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở tìm hiểu,giúp Người thấy rõ con đường thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc,nhận rõ lập trường của Lênin và Quốc tế thứ ba khác hẳn với những lời tuyên
bố suông của Quốc tế thứ hai Lý luận của V.I Lênin và lập trường đúng đắncủa Quốc tế Cộng sản về cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa là cơ sở
để Người xác định thái độ ủng hộ việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, đặt cáchmạng giải phóng dân tộc trong quỹ đạo cách mạng vô sản Từ sự chuyển biến
tư tưởng chính trị, khởi đầu với việc nghiên cứu Luận cương Lênin,Nguyễn Ái Quốc đã đi đến một quyết định sáng suốt về mặt tổ chức tại Đạihội XVIII của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920)
Đây cũng là sự kiện Nguyễn Ái Quốc trở thành một trong những sánglập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản đầu tiên của ViệtNam, người dân thuộc địa duy nhất trong Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện đóđánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và lập trường chính trịcủa Nguyễn Ái Quốc, từ người yêu nước trở thành người cộng sản Sự kiện
đó mang một ý nghĩa phản ánh cho xu thế cách mạng thế giới: Tinh thần đoànkết giai cấp vô sản chính quốc với các dân tộc bị áp bức trên Thế giới.Nguyễn Ái Quốc cũng trở thành người chiến sĩ cộng sản theo con đườngriêng của Người: Từ một người dân thuộc địa (phong trào công nhân chưaphát triển, chưa có ảnh hưởng của Chủ nghĩa cộng sản) song xuất phát từ chủnghĩa yêu nước chân chính Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóngdân tộc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới - “giai đoạn gắn phong tràocách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân ViệtNam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nướcđến với chủ nghĩa Mác-Lênin”9
Như vậy, con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khác với các nhàyêu nước đương thời, Người có một phương pháp nghiên cứu độc lập, tự chủ,sáng tạo, đem lý luận đối chiếu với thực tiễn, lấy mục tiêu giải phóng dân tộc,
9Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do tiến lên chủ nghĩa xã hội,Nxb ST, H, 1976,
Trang 28giải phóng xã hội làm tiêu chuẩn đánh giá các học thuyết, tiếp thu kinhnghiệm cách mạng thế giới có chọn lọc Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạocủa Nguyễn Ái Quốc đã được thể hiện nổi bật trong việc vận dụng học thuyếtMác - Lênin, vạch ra đường lối cứu nước đúng đắn cho dân tộc ta
Từ đây Người tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước,đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bị
các tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ở
Việt Nam
1.2 Nguyễn Ái truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam
Trong hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc sửdụng nhiều phương tiện thông tin khác nhau Trước hết phải kể đến phương
tiện báo chí Ở Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục duy trì quan hệ với báo
chí cánh tả Pháp Bắt đầu tháng 9-1923 đã xuất hiện bài viết của Người trên
các tờ báo L’Humanité và La Vie òuvrière Với tờ Le Paria khi còn ở Pháp,
Người là chủ nhiệm, chủ bút, thì khi tới địa điểm mới Người như là phóngviên thường trú của bản báo ở Mátxcơva Trên cương vị đó, Người đã viếtcho tờ báo những bài viết chứa đựng những thông tin mới mẻ diễn ra ở nướcNga, một xứ sở có sức cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh giải phóng ở các nước
thuộc địa Bắt đầu từ số 18, tháng 9-1923, Le Paria đăng những bài của
Nguyễn Ái Quốc về Quốc tế Cộng sản, về Đại hội lần thứ I Quốc tế Nôngdân, về trường Đại học Phương Đông, về nước Nga Xôviết
Đồng thời với việc hoàn thành nhiệm vụ của một phóng viên thườngtrú ở Mátxcơva cho các tờ báo cánh tả của Pháp, Nguyễn Ái Quốc đặt quan
hệ với những ấn phẩm định kỳ của Quốc tế Cộng sản như Tạp chí
Correspondance Internationale (Thông tin quốc tế) bằng các thứ tiếng như
tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức; của Quốc tế Nông dân như Tạp chí Quốc
tế Nông dân, với báo chí của Đảng Cộng sản Liên Xô như tờ Sự thật, Người nông dân Bacu Với nội dung mang tính chiến đấu cao, Le Paria, phương
tiện tuyên truyền chủ yếu tư tưởng cách mạng cho các dân tộc bị áp bức,chiếm được sự mến mộ của nhân dân lao động ở các thuộc địa Trong mộtbản báo cáo gửi Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, tháng 3-1921, có đề cập đến số lượng
Trang 29người đặt mua báo dài hạn tờ Le Paria “Số lượng người đặt mua báo năm
hiện nay ước khoảng 500 người, chủ yếu từ các thuộc địa và phần lớn làcông chức bản xứ”10
Để báo chí và thư từ trao đổi đến được với những độc giả đặt báo, toàsoạn đã sử dụng đường đây bưu điện thông thường Chính đây là con đường
công khai đưa báo chí từ Pháp về nước ta Đồng thời với việc sử dụng đường
dây liên lạc công khai, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động xây dựng một đường
dây bí mật thông qua những thuỷ thủ yêu nước, có tâm huyết làm việc trên
tuyến đường vận tải biển Pháp - Đông Dương Khởi đầu của đường dây bí
mật ấy là việc gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam dưới dạng truyền đơn
về nước vào quý IV năm 1919 cho hành khách hồi hương tại cảng Mácxây
Từ đó về sau, con đường đó được xây dựng hoàn chỉnh và bí mật với một hệthống các trạm tiếp nhận như Le Havrơ, Mácxây, Sài Gòn, Hải Phòng Vớinhững thuỷ thủ làm giao thông bí mật như Bùi Lâm, Nguyễn Viết Ty, HoàngĐình Lộc, v.v Những thuỷ thủ Việt Nam ấy thực hiện ''Chủ nghĩa cộng sản
Đông Dương trên biển'' như tờ báo L’Ami du peuple số ra ngày 20-1-1931 đã
gọi Thực dân Pháp biết rõ con đường này qua mật báo của bọn mật thám.Chẳng hạn, trong mật báo ngày 24-3-1922bọn chỉ điểm đã báo với cấp trêncủa chúng: ''Báo chí và tài liệu sẽ gửi về Đông Dương qua đường Anvers trên
các chuyến tàu của hãng vận tải Chageurs Réunes có những hành khách hoặc
những người làm việc trên tàu đem về''11 Những tư tưởng cách mạng củaNguyễn Ái Quốc theo những đường dây đó đến với nhân dân ta Một số báochí tiến bộ xuất bản ở Sài Gòn thường xuyên nhận được báo chí từ Pháp gửi
sang và đã đăng lại nhiều bài trên Le Paria, L’Humanité Đồng chí Tôn Đức
Thắng kể: ''Anh em công nhân Nam Bộ đã đón tờ báo ấy một cách tha thiết vàchuyền tay nhau đọc đến nỗi mòn cả giấy, cả chữ Vì bọn lính kín Pháp theodõi rất ngặt nên anh em công nhân đã tổ chức thành từng nhóm 5, 6 người hẹnnhau đi mượn thuyền chèo ra giữa sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, sông Cửu
Long để đọc Le Paria 12
10 Nguyễn Ái Quốc: Những bài đăng trên báo Le Paria, Sđd, tr.137.
11 Thu Trang: Những hoạt động của Phan Châu Trinh ở Pháp 1911-l925, Đông Nam Á, Pari, 1983, tr 142
Trang 30Ngoài báo chí, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu sử dụng các phương tiện thông
tin mới chưa có trước đó như truyền đơn, sách báo, diễn đàn Ở Mátxcơva, từ
những tài liệu sưu tầm, tập hợp từ nhiều năm, Người đã hoàn thành công việc
biên soạn cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp bằng tiếng Pháp.
Tác phẩm được gửi về in tại Pháp vào năm 1925 Trong lần xuất bảnđầu, tác phẩm gồm 12 chương, phụ lục và bài mở đầu của Nguyễn ThếTruyền, lúc đó là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, đang công tác trong BanNghiên cứu thuộc địa của Đảng ở Pari Trong thời gian học ở trường Đại họcPhương Đông, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số sinh viên Trung Quốc viết
cuốn Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc Thời gian hoạt động ở
Mátxcơva cũng là thời gian Nguyễn Ái Quốc tham dự nhiều hội nghị quốc tếlớn Người tham gia Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân họp từ ngày 12 đếnngày 15-10-1923 Tại phiên họp chiều 13-10-1923, Người đọc tham luận xácđịnh vai trò cách mạng của nông dân ở các thuộc địa trong công cuộc giảiphóng ách áp bức thực dân Tiếp đó, Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng
sản họp từ ngày 17-6 đến ngày 8-7-1924 Người đã tham luận nhiều lần về
vấn đề dân tộc và thuộc địa Sau đó, Người tham dự Đại hội III Quốc tế Cônghội đỏ, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên, v.v Tại diễn đàn các đại hội đó,Người đã nói lên tiếng nói của nhân dân thuộc địa, bảo vệ những luận điểmđúng đắn của V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, và tuyên truyền những
tư tưởng cách mạng của mình trên lập trường mácxít Thời kỳ này Nguyễn ÁiQuốc cũng bắt đầu hướng cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam tớiQuốc tế Cộng sản, tới Cách mạng Tháng Mười Nga
Trước hết, Nguyễn Ái Quốc cung cấp cho nhân dân ta những hiểubiết, những thông tin về một tổ chức chính trị quốc tế kiên quyết bênh vực
quyền lợi của các dân tộc thuộc địa, đó là Quốc tế Cộng sản, đứng đầu là
V.I.Lênin, do vậy, phải ''đoàn kết nhau lại Xiết chặt hàng ngũ chúng taquanh lá cờ Quốc tế Cộng sản, lá cờ này là lá cờ duy nhất để giải phóngngười bị áp bức Chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản thì chúng ta mới tìm được
sự giải phóng của chúng ta''13
13 Đoạn trích trên lấy từ bài Tiếng nói của một người Việt Nam của Trần Xuân Hộ, đăng trên Le Paria, số 18-19, tháng 9-1923.
Trang 31Trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, ở chương Nô lệ thức tỉnh, Người đưa vào những văn kiện quan trọng đối với các thuộc địa như Tuyên
ngôn của Ban Chấp hành Đệ tam Quốc tế, phần liên quan tới nhân dân các
thuộc địa Hiệu triệu của Quốc tế Nông dân gửi nông dân lao động các thuộc địa; Tổ chức Công đoàn ở thuộc địa
Những tài liệu mácxít, trong đó có những tác phẩm của Nguyễn ÁiQuốc theo những đường dây bí mật đến được với nhân dân ta Người đã sửdụng đường dây liên lạc của Quốc tế Cộng sản với Đảng Cộng sản Pháp đểgửi tài liệu về Pháp, rồi từ đó theo chân các thuỷ thủ về Việt Nam Như trên
đã nói, các văn kiện của Quốc tế Cộng sản gửi nhân dân ta đã được phổ biến
ở Việt Nam vào tháng 7-1924 Nhiều hồi ký của các chiến sĩ cách mạng lão
thành cho biết tác dụng của cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp đối với phong trào cách mạng nước ta Đồng chí Phạm Hùng kể: ''Hồi ấy, quyển Bản
án chế độ thực dân Pháp có một tác dụng rất lớn đối với thanh niên, học
sinh Hầu hết các trường trung học đều có tủ sách riêng của học sinh tự tổ
chức gồm hàng nghìn cuốn sách và tủ sách nào cũng có quyển Bản án chế
độ thực dân Pháp Phong trào thanh niên học sinh lúc bấy giờ lan rộng và
khá mạnh mẽ Lập trường giai cấp tuy chưa rõ rệt lắm nhưng ý thức chống
đế quốc rất cao, rất sôi nổi nên tập Bản án chế độ thực dân Pháp trả lời đúng
vào ý nghĩ, nguyện vọng và tâm tình thế hệ thanh niên lúc bấy giờ''14
Đối với V.I.Lênin, người sáng lập và là lãnh tụ của Quốc tế Cộng sản,người đứng đầu Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc
đã dành những tình cảm tôn kính: “Tất cả họ, từ những người nông dân AnNam đến người dân săn bắn trong các rừng Đahômmây, cũng đã thầm nghenói rằng ở một góc trời xa xăm có một dân tộc đã đánh đuổi được bọn chủbóc lột họ và hiện đang tự quản lý lấy đất nước mình mà không cần tới bọnchủ và bọn toàn quyền Họ cũng đã nghe nói rằng nước đó là nước Nga, rằng
có những người dũng cảm, mà người dũng cảm nhất là Lênin Chỉ như thế
cũng đủ làm cho họ ngưỡng mộ sâu sắc và đầy nhiệt tình đối với nước đó và
Trang 32lãnh tụ của nước đó”15 Nguyễn Ái Quốc đã viết một loạt bài về nước Nga,Người đã đề cập đến tính ưu việt của xã hội mới:
“a) Giáo dục không mất tiền và bắt buộc; giáo dục phổ thông và báchkhoa đối với trẻ em nam nữ cho đến 17 tuổi; từ 17 tuổi trở lên thì giáo dụcchuyên môn và chuyên nghiệp,
b) Nhà nước chịu phí tổn cho tất cả học sinh về ăn uống, quần áo, giầydép và những thứ cần dùng cho học sinh
c) Thiết lập một hệ thống các trường mẫu giáo và vỡ lòng, nhà giữ trẻ,vườn trẻ, nhà nuôi trẻ, v.v nhằm mục đích cải thiện việc giáo dục của xã hội,giải phóng người phụ nữ
d) Nhân dân lao động tích cực tham gia việc giáo dục quốc dân; pháttriển các ''Hội đồng giáo dục quốc dân''; tất cả những công dân có trình độgiáo dục phổ thông, đều thuộc quyền sử dụng của Nhà nước, v.v
e) Trong ngành đại học, các sinh viên nghèo và nhất là công nhân vànông dân được cấp học bổng và những ưu tiên khác để họ có phương tiện vậtchất theo học ngay cả các trường đại học''16
Nước Nga cách mạng không dừng lại ở sự cổ vũ tinh thần đó, mà đãvươn tới những việc làm cao cả, thiết thực, thắm đượm tinh thần quốc tế vô
sản Chính vì thế mà Người đã dành nhiều bài viết của mình trên Le Paria, La
Vie Ouvrière, L'Unità, giới thiệu về những thành tựu của trường Đại học
Phương Đông:
''Việc thành lập trường Đại học Phương Đông, tập hợp những ngườilãnh đạo trẻ tuổi tích cực, thông minh của các nước thuộc địa đã làm đượcmột công việc to lớn là:
a) Trường đã huấn luyện cho các chiến sĩ tiên phong tương lai ấy nguyên
lý đấu tranh giai cấp, nguyên lý mà một mặt các cuộc đấu tranh chủng tộc vàmặt khác các tập tục của chế độ gia trưởng đã làm lẫn lộn trong đầu óc họ
b) Trường đã làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản các nướcthuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.236-237
16 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.313.
Trang 33một sự hợp tác thật sự sau này, chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm chogiai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng.
c) Trường đã làm cho các dân tộc thuộc địa - từ trước đến nay rời rạcvới nhau - hiểu biết nhau, và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khốiliên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hợp đó là một trongnhững cái cánh cửa cách mạng vô sản
d) Trường đã nêu lên cho giai cấp vô sản các nước mà giai cấp tư sản
có thuộc địa, một tấm gương về những điều họ có thể và phải làm cho nhữnganh em của họ đang bị áp bức''17
Chính những tuyên truyền đó đã tác động đến ý thức của các tầng lớpnhân dân, đặc biệt lớp trí thức thức thời Từ đó dẫn đến những hành độngthực tiễn - xuất dương sang Pháp tìm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tìmconđường cách mạng chân chính Một trong những người đi theo tiếng gọi đó
là Nguyễn Văn Tạo Ông đã kể lại: ''Chúng tôi tìm đến anh em công nhân
Ba Son Gặp những công nhân làm tàu Thế là chúng tôi gặp Lên án chủ
nghĩa thực dân18, Le Paria, Việt Nam hồn Thế là gặp Nguyễn Ái Quốc.
Chúng tôi biết là có Đệ tam Quốc tế, có chủ nghĩa cộng sản, có Liên Xôthành trì của cách mạng xã hội chủ nghĩa Riêng tôi, tôi cũng trốn sangPháp đi tìm Nguyễn Ái Quốc, đi tìm cách mạng kiểu mới”19
Ngay từ giữa năm 1924, khi truyền đơn cộng sản từ Mátxcơva gửi tớixuất hiện ở Đông Dương thì bọn thực dân thuộc địa lo lắng thực sự về nguy
cơ “đe doạ của việc truyền bá tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin ở ĐôngDương'' E.Utơrây, đại biểu Nam Kỳ trong Hạ nghị viện Pháp đã viết bài trên
tờ Impartial: ''Sự đe dọa của chủ nghĩa bônsêvích ở các thuộc địa chúng ta
không còn là huyền thoại nữa… Khi đang thảo luận luật ân xá tại Hạ nghịviện tôi đã chỉ ra nguy cơ tuyên truyền cộng sản ở Đông Dương bằng việcđưa ra trên diễn đàn những tờ truyền đơn bằng tiếng quốc ngữ và chữ Hán bắtđược'', và Utơrây đã nhấn mạnh rằng những tờ truyền đơn như vậy là ''bằngchứng rõ ràng nhất về việc tuyên truyền cộng sản đang được đẩy mạnh ở Việt
17 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.301-302
18 Tên chính xác cuốn sách của Nguyễn Ái Quốc là Bản án chế độ thực dân Pháp.
Trang 34Nam Việc tuyên truyền cộng sản ở thuộc địa đang lan rộng và nếu chúng takhông phản ứng thì có thể rồi đây nó sẽ lan rộng trên khắp lãnh thổ hải ngoạirộng lớn của chúng ta Chúng ta không thể và không được để như vậy Phảithực sự lo lắng trước khi đám cháy xảy ra''20.
Cuối năm 1924, sau khi đến Trung Quốc, tổ chức Hội Việt Nam cách
mạng thanh niên, mở lớp huấn luyện và ra báo Thanh niên, cơ quan ngôn luận
của Hội, ra số đầu tiên vào ngày 21-6-1925 tại Quảng Châu Trong báo cáogửi Quốc tế Cộng sản đề ngày 3-6-1926, Nguyễn Ái Quốc viết: ''Ở đây, chúng
tôi đã xuất bản tờ báo hằng tuần ''Thanh niên”21 Đây là tờ tuần báo tiếng Việt
do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, khai sinh nền báo chí cách mạng Việt Nam.22
Mỗi số báo Thanh niên được in khoảng 100 bản, hầu hết được bí mật gửi về
Việt Nam, một số gửi cho các cơ sở ở Xiêm
Nguyễn Ái Quốc là người sáng lập và là cây bút chủ chốt của tờ báo.Theo Huỳnh Kim Khánh, những bài ký tên là Z.A.C là của Nguyễn Ái Quốc
Đó là những bài quan trọng về mặt chính trị - tư tưởng, về mặt lý luận, thựctiễn Ngoài Nguyễn Ái Quốc, trong ban biên tập gồm các uỷ viên Tổng bộThanh niên như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Duy Điếm, v.v Bài củaZ.A.C trên số 1 ra ngày 21-6-1925 kêu gọi đoàn kết có đoạn: ''Để dẫn dắt nhândân làm một sự nghiệp vĩ đại cần phải có một sức lãnh đạo, sức lãnh đạo đókhông phải có một vài người thôi, mà phát sinh ra từ sự hiệp lực của hàngngàn, hàng vạn người
Muốn cho hàng ngàn hàng vạn người ấy đoàn kết chặt chẽ với nhau thì
họ phải cùng một ý chí như nhau, họ phải nuôi một kỳ vọng giống nhau, cóvậy mới có đoàn kết Khi nào cùng ý chí, cùng kỳ vọng thì khi ấy mới có thểđoàn kết bằng không thì dẫu có hô hào đoàn kết mấy đi nữa cũng không thểnào đoàn kết được Sự nghiệp cách mạng lớn lắm Những người cách mạngphải đoàn kết với nhau để thực hiện sự nghiệp đó Người mình đã làm việc
20 Báo Impartial, ngày 6-6-1925
21 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.224.
22 Báo Thanh niên có khi 4 trang, khi 2 trang Mỗi trang chia làm hai cột như tạp chí, mỗi cột từ 23 đến 26 dòng chữ Báo có những mục lớn: Xã luận, Tân văn (Tin tức), Diễn đàn phụ nữ, Thanh niên, Vấn đáp, Nghiên cứu lý luận, Thư tín, v.v
Trang 35cách mạng đã nhiều năm rồi mà chưa thành công trước hết bởi vì thiếu đoànkết với nhau''23.
Từ ngày 21-6-1925 đến tháng 4-1927, tức là thời kỳ có sự chỉ đạo trực
tiếp của Nguyễn Ái Quốc, Thanh niên ra được 88 số và suốt cả thời kỳ tồn tại
của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, báo ra được trên 200 số24
Từ năm 1927, đáng kể nhất trong loạt sách nhỏ xuất bản tại Quảng
Châu là cuốn Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc, do Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản đầu năm 1927 Trong phần
mở đầu cuốn sách, Nguyễn Ái Quốc đã viết: ''Mục đích sách này là để nói chođồng bào ta biết rõ: (1) Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh (2) Vìsao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một haingười (3) Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi (4)Đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ (5) Ai là bạn ta? Ai là thù ta?(6) Cách mệnh thì phải làm thế nào?”25 Và mục đích là ''Đồng bào xem rồi thìnghĩ lại, nghĩ rồi thì tỉnh dậy, tỉnh rồi thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cáchmệnh.”26Đường cách mệnh được phổ biến khắp cả nước dưới nhiều hình thức:
những bản in ở Quảng Châu, những bản in lại ở trong nước, có địa phương
như ở An Giang, Đường cách mệnh được nguỵ trang ''dưới hình thức kinh
phật (có tựa là Đạo Nam kinh) bên trong là nội dung tác phẩm''
Ngoài các tác phẩm trên, sau khi đến Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc
còn dịch một số tác phẩm của các nhà kinh điển như Nhân loại tiến hoá sử,
Chủ nghĩa cộng sản A.B.C, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Balê công xã,v.v Nếu như từ năm 1921, mở đầu bằng bài Đông Dương trên La Revue Communiste đặt nền tảng cho việc truyền bá chủ nghĩa cộng sản ở Đông
Dương thì đến năm 1927 Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lêninthực chất là truyền bá những tư tưởng cách mạng của Người trên lập trườngmácxít, và năm 1928 Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu dịch và phổ biến các tác
23 Theo bản dịch của Tầm Vu trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 178 năm 1978.
24 Tác giả Huỳnh Kim Khánh cho biết tuần báo Thanh niên ra được 208 số từ ngày 21-6-1925 đến
tháng 5-1930, sau đó báo vẫn tiếp tục ra dưới hình thức đánh máy 4 bản bằng giấy đó, 3 bản cho ba miền Việt Nam, còn một bản làm bản lưu Tác giả Tầm Vu qua tài liệu lưu trữ của Pháp cho biết đến ngày 14-3-1930 báo Thanh niên ra được tất cả là 202 số.
25 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.261-262.
Trang 36phẩm của các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học và các tác giả nổi
tiếng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Một trong những tác
phẩm có ảnh hưởng to lớn nhất đối với những người yêu nước Việt Nam cuối
những năm 20 - đầu những năm 30 của thế kỷ XX là cuốn Chủ nghĩa cộng sản
A.B.Ccủa N.Bukharin và Ph.Phêôbragienxki mà trước đây những nhà cách
mạng Việt Nam thường gọi là Chủ nghĩa cộng sản toát yếu Nhiều nhà cách
mạng đã khẳng định là nhờ cuốn sách đó mà họ đến với chủ nghĩa cộng sản
Đặc biệt trong thời gian hoạt động ở vùng Đông Bắc Xiêm, với điềukiện ở đây cho phép, chủ yếu là Việt kiều quần tụ thành từng làng xóm riêng,Nguyễn Ái Quốc đã áp dụng trên thực tế những điểm mà Người đã từng
chứng kiến ở Liên Xô và đã trình bày trong cuốn Đường cách mệnh - lập
những hợp tác xã và mở những lớp học cho con em Việt kiều Những việc làm
của Nguyễn Ái Quốc dù mang tính chất thể nghiệm vẫn thể hiện đậm nét hoàibão của Người về một xã hội tương lai khi cách mạng thành công Nhữngviệc làm thiết thực đó có ảnh hưởng tốt đẹp đến tình cảm và lý trí của nhữngngười yêu nước Việt Nam đang sống ở Xiêm và dội mạnh về trong nước
Hoạt động tích cực trên nhiều phương diện của Nguyễn Ái Quốc đã dồntoàn bộ sức lực, trí tuệ khai mở con đường đưa tư tưởng cách mạng theo quanđiểm Mác-Lênin về nước mà trọng tâm là thức tỉnh tinh thần cách mạng củanhân dân, tạo tiền đề qua trọng cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ lịch
trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc bóc trần và lên án
những hành động xấu xa, bỉ ổi của thực dân Pháp ở những thuộc địa củachúng, thì trong tác phẩm thứ hai này, Người chỉ ra con đường cụ thể để giảiphóng Tổ quốc mình, đồng bào mình khỏi kiếp nô lệ Nói một cách khác, ởcuốn sách đầu là thức tỉnh, ở cuốn sách sau là định hướng cho hành động
Trang 37E.V.Côbêlép, một nhà nghiên cứu Xôviết am hiểu lịch sử Việt Nam giai đoạn
này đã có lý khi nhận định: ''Tác phẩm Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc đã đóng vai trò tựa như cuốn Làm gì?của Lênin trong phong trào cách
Tháng Mười Nga tính triệt để và tính nhân dân sâu sắc "Trong thế giới bây
giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công, vì thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không tự do bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên Việt Nam"1
Từ đó Người đi đến kết luận "Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên
làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc"2 Từ cách mạng giải phóngdân tộc phải đi tới cách mạng xã hội, đi tới chủ nghĩa xã hội, đó là conđường tất yếu và đúng đắn Cũng từ thực tiễn lịch sử các cuộc cách mạngđối chiếu với lý luận về chủ nghĩa xã hội Nguyễn Ái Quốc ý thức được rằngchủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể thực hiện được ở các nước Châu Á Đối
với Đông Dương, Người cho rằng "sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã
chuẩn bị đất rồi: chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi"3
- Để đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc, thực dân, giành độc lập hoàn toàncho dân tộc, không thể trông mong vào những hứa hẹn của chủ nghĩa đếquốc, phải bằng con đường cách mạng chứ không thể là những yêu sách cảicách, cải lương Phải dựa vào sức của chính mình chứ không thể dựa vào lực
27 E.V.Côbêlép: Hồ Chí Minh (tiếng Nga), Nxb Khoa học, Mátxcơva, 1979, tr.121.
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, CTQG, ST, H, 1995, tập 2, tr.289
2 Sđd, tr.270
Trang 38lượng bên ngoài "muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp
lấy mình đã"1
Đây là kết luận rút ra từ sự nghiên cứu chính sách áp bức của chủ nghĩa
đế quốc đối với các thuộc địa; từ sự kiện đưa yêu cách 8 điểm tới Hội nghị xây (Versailles) Mặc dù đó chỉ là những yêu cầu ôn hoà nhưng cũng không đượcchủ nghĩa đế quốc đếm xỉa đến, trái lại ở tất cả các thuộc địa, người dân bản xứ bịđàn áp, đối xử tàn tệ, dã man Chương trình 14 điểm của Tổng thống Mỹ Uyn-xơnlàm cơ sở cho hội nghị Véc-xây, trong đó có những lời lẽ mị dân về "dân chủ" và
Véc-quyền dân tộc tự quyết" "Nhưng sau một thời gian theo dõi nghiên cứu chúng tôi
nhận thấy rằng "Chủ nghĩa Uyn-xơn" chỉ là một trò bịp lớn Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ
có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cuộc cách mạng thế giới"28
- Để xác định rõ lực lượng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc xuất phát từnguyên lý cơ bản ''có áp bức, có đấu tranh'':
''Vì bị áp bức mà sinh ra cách mệnh, cho nên ai mà bị áp bức càng nặngthì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết Khi trước tư bản bịphong kiến áp bức nên nó cách mệnh Bây giờ tư bản lại đi áp bức công nông,cho nên công nông là người chủ cách mệnh
1 Là vì công nông bị áp bức nặng hơn,
2 Là vì công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết,
3 Là vì công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cáikiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc Vì những cớ ấy,nên công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏcũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông; 3 hạng ấy chỉ làbầu bạn cách mệnh của công nông thôi”29
Nắm vững học thuyết về cách mạng vô sản và từ thực tiễn kinh nghiệmcách mạng thế giới, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn ÁiQuốc đi tới khẳng định: ''Trong thời đại hiện nay, giai cấp công nhân là giaicấp độc nhất và duy nhất có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng
1 .Hồ Chí Minh: Toàn tập, CTQG, ST, H, 1995, tập 2, tr.293.
28 - Hồ Chí Minh: Toàn tập, CTQG,ST, H, 1995, tập 1, tr.416.
29 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.266.