1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI LIỆU THAM KHẢO LỊCH sử ĐẢNG tập bài GIẢNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG xã hội CHỦ NGHĨA và ĐƯỜNG lối đổi mới SAU đại học

147 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá Trình Hình Thành Đường Lối Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa và Đường Lối Đổi Mới
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Đảng
Thể loại Bài Giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 753 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Trang Chuyên đề 1 1 1 1 2 1 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (1954 – 1979) Tác động của nhân tố quốc tế và trong nước đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang Chuyên đề 1

Tác động của nhân tố quốc tế và trong nước đối vớicông cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từnăm 1954 đến 1979

Qúa trình hình thành và phát triển đường lối cáchmạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn 1954-1979

Đánh giá hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảngtrong tiến trình lãnh đạo cách mạng xã hộichủ nghĩa

từ 1954 đến 1978

5

5

619

24

2434

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa

xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội từ năm

1991 đến năm 2011

Sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa

xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam qua Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm2011)

Một số vấn đề rút ra từ quá trình phát triển tư duy lýluận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

50

50

63

71

Trang 2

Bối cảnh và tính tất yếu chuyển sang đường lối pháttriển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩaQuá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về môhình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Một số nhận xét

75

757893

Sự phát triển nhận thức về xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Nhận thức mới và sự phát triển lý luận về Đảng vàcông tác xây đựng Đảng

101

101

108113

117122

126

126140

Trang 3

Chuyên đề 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM (1954 – 1979)

MỤC TIÊU

- Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về quá trình

hình thành và phát triển nhận thức của Đảng về đường lối cách mạng XHCN

từ năm 1954 đến năm 1979; những thành tựu, hạn chế trong hoạt động lý luận

và thực tiễn của Đảng, giai đoạn 1954-1979

- Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp

tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về hoạt động lý luận và thực tiễncủa Đảng, giai đoạn 1954-1979; biết vận dụng kiến thức được trang bị đểphân tích, đánh giá hoạt động lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước hiện nay

-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa

học về vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; tích cực đấu tranhchống lại các quan điểm, nhận thức sai trái

NỘI DUNG

1 Tác động của nhân tố quốc tế và trong nước đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1954 đến 1979

1.1 Quốc tế

Trước hết là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước XHCN

Tại Liên Xô: Mô hình CNXH được hình thành trong điều kiện lịch

sử đặc biệt Đó là sự đối đầu quyết liệt giữa một quốc gia xã hội chủ nghĩavới các nước đế quốc luôn luôn sử dụng mọi thủ đoạn, kể cả chiến tranhvới quy mô lớn để bóp chết nhà nước đầu tiên do nhân dân lao động dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản xây dựng nên Trong hoàn cảnh đó, ĐảngCộng sản Liên Xô đã huy động tối đa mọi năng lực của nhân dân khẩntrương xây dựng đất nước về kinh tế, khoa học kỹ thuật và quốc phòng,đưa Liên Xô phát triển thành một cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới

và là lực lượng rất quan trọng góp phần tiêu diệt chủ nghĩa phát xít trong

Trang 4

cuộc chiến tranh thế giới thứ hai Nhưng mô hình chủ nghĩa xã hội đó chứađựng nhiều khuyết tật được thể hiện ở quan hệ sản xuất không phù hợp vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất; hệ thống chính trị quan liêu,chuyên quyền độc đoán, đặc quyền đặc lợi Do vậy, sau một thời gian pháttriển, các khuyết tật trên đã kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, viphạm quyền dân chủ của nhân dân, đời sống vật chất của họ chậm được cảithiện, đời sống tinh thần gò bó.

Về đại thể, mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu xã hội chủnghĩa cũng tương tự như Liên Xô và tất yếu cũng có hậu quả như vậy

Tại Trung Quốc: Không bao lâu sau khi nước Cộng hòa Nhân dân

Trung Hoa thành lập, công cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành, tiếp đó, tiếnhành hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần

tư bản tư nhân Đến những năm cuối thập kỷ 1950, Đảng Cộng sản TrungQuốc và Chủ tịch Mao Trạch Đông phát động phong trào Đại nhảy vọt và xâydựng công xã nhân dân

Từ cuối thập niên 1970, Trung Quốc đã phát hiện những sai lầm trongxây dựng chủ nghĩa xã hội đã tiến hành cải cách và từng bước đạt được nhiềuthành tựu mới

1.2 Trong nước

Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kinh tế, kỹ thuật lạc hậu, sảnxuất nhỏ là phổ biến Việt Nam bị chia cắt thành hai miền: miền Bắc tiến hànhcách mạng XHCN, là hậu phương của công cuộc đấu tranh giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước; miền Nam bị đế quốc Mỹ áp đặt chủ nghĩa thực dânmới và thực hiện mưu đồ chia cắt lâu dài, đồng bào ta phải chống lại chế độ tànbạo đó

Cả nước chung sức, hy sinh vì thắng lợi của sự nghiệp chống Mỹ, cứunước, và nhận được sự giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế

Trang 5

Sau chiến thắng 30-4-1975, dân tộc ta lại phải đối phó với họa xâm lượctại biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc Nước ta bị bao vây cấm vận.

Những nhân tố trên là điều kiện tồn tại của cơ chế tập trung quan liêu,bao cấp

2 Qúa trình hình thành và phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam giai đoạn 1954-1979

2.1 Quan điểm của Đảng Lao động Việt Nam và Hồ Chí Minh về thời

kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội và hiệu quả thực tiễn của nó trong những năm khôi phục kinh tế miền Bắc (1954-1957)

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Tổng Bí thư Trường Chinhtrình bày quan điểm về củng cố và phát triển chế độ cộng hòa dân chủ nhândân, hoàn thành dân chủ nhân dân để tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong đó,đồng chí nói rõ và nhấn mạnh: "Kinh tế dân chủ nhân dân là kinh tế của thời

kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội"; "Vì trình độ kinh tế nước ta còn thấp,nên thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể ngắn Kinh tế tư nhânnước ta còn tồn tại và phát triển trong một thời gian lâu dài"1

Trong thời kỳ quá độ, tồn tại nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước,kinh tế hợp tác xã, kinh tế nhỏ của nông dân, bao gồm những xí nghiệp do tưbản tư nhân cùng chung vốn với Nhà nước kinh doanh, hoặc các xí nghiệp vàtài nguyên của Nhà nước nhượng cho tư nhân kinh doanh có điều kiện

Kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã đóng vai trò quyết định trongkinh tế quốc gia

Năm 1953, Hồ Chí Minh giải thích: "Kinh tế quốc doanh có tính chất chủ nghĩa xã hội"; "Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp có tính chất nửa chủ nghĩa xã hội"; "Kinh tế tư bản của tư nhân Họ bóc lột công

nhân, nhưng đồng thời họ cũng góp phần vào xây dựng kinh tế" Còn kinh tế

tư bản quốc gia, Người cho rằng: "Trong loại này, tư bản của tư nhân là chủ

nghĩa tư bản Tư bản của Nhà nước là chủ nghĩa xã hội"2

Hồ Chí Minh xác định rõ chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tập 12, tr.106, 107.

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, t 7, Nxb CTQG, Hà Nội,1996, tr.221.

Trang 6

- Công tư đều lợi: Kinh tế quốc doanh là công, là nền tảng và sức mạnh

lãnh đạo của nền kinh tế dân chủ mới Phải ra sức phát triển và ủng hộ nó

Tư: Là nhà tư bản dân tộc và kinh tế cá nhân của nông dân và thợ thủ

công, rất cần thiết cho công cuộc xây dựng kinh tế đất nước Chính phủ cầngiúp họ phát triển; họ phải phục tùng sự lãnh đạo của kinh tế quốc gia, phảiphù hợp với lợi ích của đa số nhân dân

- Chủ thợ đều lợi: Nhà tư bản thì không khỏi bóc lột Nhưng Chính phủ

phải ngăn cấm họ bóc lột quá tay và phải bảo vệ quyền lợi của công nhân.Chủ, thợ đều phải tự giác sản xuất, lợi cả đôi bên

- Công nông giúp nhau: Công nhân ra sức sản xuất nông cụ và hàng

hóa khác để cung cấp cho nông dân Nông dân ra sức sản xuất lương thực vàcác thứ nguyên liệu cho công nhân Do đó mà thắt chặt liên minh công nông

- Lưu thông trong ngoài: Ta khai thác lâm thổ sản bán cho các nước bạn

để mua những thứ ta cần dùng, các nước bạn mua những thứ ta bán và báncho ta những hàng hóa mà ta chưa sản xuất được

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: bốn chính sách ấy là mấu chốt để phát triểnkinh tế nước ta

Nhịp độ đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội được Hội nghị lần thứ támBan Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 8-1955, xác định: "Đường lối củng cố

miền Bắc của ta là: củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc đến chủ nghĩa xã hội" So sánh với các nước dân chủ nhân

dân khác, Trung ương Đảng cho rằng: "tốc độ tiến lên chủ nghĩa xã hội của nước

ta sẽ chậm hơn Trung Quốc và cácnước dân chủ nhân dân khác"3

Những quan điểm và chủ trương trên được Nhà nước và nhân dân miềnBắc triển khai thực hiện rất khẩn trương Tháng 8-1955, Nhà nước ban hànhtám chính sách sản xuất: bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất, tự do thuê mướnnhân công; tự do vay mượn; tự do thuê và cho thuê trâu bò; khôi phục nghềthủ công truyền thống; bảo vệ và khuyến khích làm giàu; khen thưởng chiến

sĩ thi đua; phát triển các hình thức đổi công, hợp tác tự nguyện…

Kết quả đạt được của những năm hàn gắn vết thương chiến tranh,khôi phục kinh tế (1954-1957) là rất to lớn Cuối năm 1956, miền Bắc đã

3.Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, t 16, Nxb CTQG, Hà Nội,.2002, tr.577

Trang 7

đạt và vượt nhiều chỉ tiêu cơ bản trước chiến tranh thế giới thứ hai (năm1939): sản lượng thóc đạt hơn 4 triệu tấn, vượt khoảng 2 triệu tấn, giảiquyết được nạn đói Khôi phục hệ thống giao thông thủy bộ, hệ thống thủynông bị chiến tranh tàn phá và phần lớn đường sắt Khôi phục và xây dựngnhiều xí nghiệp, chủ yếu là công nghiệp nhẹ.

Về giáo dục: thanh toán xong nạn mù chữ; phát triển giáo dục từ vỡlòng đến phổ thông trung học, đại học được chú trọng phát triển

Đến cuối năm 1957, nhiệm vụ khôi phục kinh tế được hoàn thành cơbản, giáo dục có bước tiến bộ rõ rệt Đời sống của nhân dân, chủ yếu là nôngdân, được cải thiện rõ rệt

Dựa trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đánh giá thành tựu của những nămtiến hành hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế (1954-1957):

"Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh Công nghiệp đã khôi phụccác xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới, an ninh trật tự được giữvững, quốc phòng được củng cố"4

Tháng 8-1955, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa II) chủ trương xây dựng thí điểm một số hợp tác xã nông nghiệp Năm

1956 xây dựng 26 hợp tác xã, tháng 10-1957, tăng lên 42 hợp tác xã Ngay từbước thí điểm, đã có một số hợp tác xã tan rã

Tháng 10-1957, Hội nghị sơ kết thí điểm xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp đưa ra một số đánh giá khách quan như sau:

- Về sản xuất: nhìn chung hợp tác xã chưa hơn hẳn tổ đổi công; nếu sovới hộ trung nông thì kém nhiều

- Về thu nhập: ở các hợp tác xã khá, một nửa hộ nông dân có thu nhậptăng Số hợp tác xã còn lại, đại bộ phận thu nhập giảm sút

- Về quản lý: phần lớn hợp tác xã lúng túng, không lập được kế hoạchsản xuất, quản lý kém, chi phí sản xuất lớn (chiếm 30-40%), quản lý tài chínhkhông minh bạch, xã viên thiếu tin tưởng

- Về tư tưởng: trước khi gia nhập hợp tác xã, nông dân được tuyêntruyền viễn cảnh tốt đẹp, nhưng khi vào hợp tác xã lại phải đương đầu vớinhiều khó khăn, nên nhiều xã viên, kể cả đảng viên xin ra hợp tác xã

4 Hồ Chí Minh Toàn tập, t 8, Nxb CTQG, Hà Nội,1996, tr.482.

Trang 8

Hội nghị đặt ra mục tiêu năm 1958 xây dựng 234 hợp tác xã; năm

1960, hoàn thành xây dựng tổ đổi công, đưa 20% hộ nông dân vào hợp tác xã,thí điểm hợp tác xã cao cấp

Những nhận xét trên cho thấy ngay từ bước thí điểm, việc xây dựnghợp tác xã nông nghiệp đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, đòi hỏi phải nghiên cứurất kỹ lưỡng trình độ lực lượng sản xuất để xác định một cách khoa học, thiếtthực những bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của nông nghiệp và nôngdân Việt Nam và những mục tiêu do Hội nghị tổng kết đợt thí điểm xây dựnghợp tác xã rất đáng quan tâm

Dựa trên sự kiểm nghiệm thực tiễn, giá trị đúng đắn của tư duy lý luậnchính trị được khắc đậm trong Cương lĩnh của Đảng Lao động Việt Nam, trongNghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng),tháng 3-1957 Trong các văn kiện đó nhấn mạnh những nét cốt yếu của nền kinh

tế dân chủ nhân dân tiến lên CNXH: "Nội dung của nhiệm vụ củng cố và phát

triển chế độ dân chủ nhân dân là phải dần dần thay đổi tính chất nền kinh tế cũ, phải cải biến từng bước quan hệ sản xuất cũ, xây dựng từng bước quan hệ sản xuất mới, nhằm không ngừng củng cố và phát triển khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa, điều chỉnh và cải tạo từng bước kinh tế tư doanh và kinh tế cá thể"5

2.2 Quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng đưa miền Bắc và cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (1958-1979)

Từ năm 1958, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảngchủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợthủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh

Về chủ trương đẩy mạnh phong trào tổ đổi công và hợp tác xã, Hồ ChíMinh đã phát biểu ý kiến chỉ đạo tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghịquyết 14 của Ban Chấp hành Trung ương:

"Giữ đúng nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi

- Phải có cán bộ để giúp các hợp tác xã về các mặt tổ chức, quản lý…

- Phải coi trọng chất lượng Làm đến đâu phải chắc chắn đến đấy, rồiphát triển dần ra Khẩn trương nhưng hết sức thận trọng"1

5.Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t.18, tr.261 Người trích nhấn mạnh.

1Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t 9, tr.266

Trang 9

Song, trong chỉ đạo thực tiễn, những lời dạy của Người không đượcquán triệt và thực hiện nghiêm túc; chạy theo số lượng, không coi trọng chấtlượng của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp: Trung ương Đảng dự tính đếncuối năm 1960, có thể có từ 70 đến 75% số hộ nông dân lao động vào hợp tác

xã ở nhiều nơi, không tôn trọng các nguyên tắc xây dựng, củng cố hợp tác xã

là tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ, nhưng không được tổng kết, rútkinh nghiệm và chấn chỉnh kịp thời

Phương pháp tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thợ thủ công,người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh cũng tương tự cải tạo kinh tế

cá thể của nông dân

Đại hội III của Đảng, tháng 9-1960, đề ra đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: "đoàn kết toàn dân, phát huy

tinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao độngcần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội

chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh

phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấutranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xãhội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới"2

Để đạt được mục tiêu trên, Đại hội chủ trương: "Sử dụng chính quyềndân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiệncải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệpnhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh; phát triển thành phần kinh tếquốc doanh, thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiênphát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nôngnghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tưtưởng, văn hóa và kỹ thuật; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa cócông nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến"6

Đại hội vạch ra phương hướng và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứnhất (1961-1965) là thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,

2Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.21, tr.558-559.

6Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t.21, tr.559

Trang 10

xây dựng bước đầu cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, hoànthành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Sự chỉ đạo của Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội III củaĐảng được xúc tiến mạnh mẽ trên các lĩnh vực cải tạo xã hội chủ nghĩa vàxây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Trong cải tạo nông nghiệp đến đầu tháng 6-1961 có 85% số nông hộvào hợp tác xã, với 67% diện tích canh tác; 24% số nông hộ vào hợp tác xãbậc cao Năm 1962, số hợp tác xã bậc bao lên tới 33,7% Năm 1965, 88,8%

số hộ nông dân vào hợp tác xã, hợp tác xã bậc cao lên tới 71,7%7

Trong kế hoạch ba năm 1958-1960, công thương nghiệp tư bản tưdoanh, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ cũng được tiến hành cải tạo

Đến đây nảy sinh một vấn đề cần làm sáng tỏ Đó là vì sao từ năm 1954đến năm 1957, Trung ương Đảng chủ trương đưa miền Bắc tiến dần lên chủnghĩa xã hội, nhưng từ năm 1958 trở đi lại thực hiện chủ trương tiến hànhnhanh chóng hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản

tư doanh và thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ theo chủ nghĩa xã hội? Cóthể giải đáp vấn đề này bằng mấy lý do sau đây:

Một là, Hội nghị 64 Đảng Cộng sản và công nhân họp tại Matxcơva,

tháng 11-1957, có đoàn đại biểu của Đảng Lao động Việt Nam do Hồ ChíMinh dẫn đầu, tổng kết công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô vàcác nước xã hội chủ nghĩa khác, đã nhất trí cho rằng: Mặc dù hình thức cảitạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước rất khác nhau, nhưng đều tuân theoquy luật chung: cách mạng do giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó làĐảng Mác - Lênin lãnh đạo, trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với

nông dân và các tầng lớp lao động khác, các nước đều tiến hành xây dựng chế

độ sở hữu công cộng đối với tư liệu sản xuất chủ yếu, kế hoạch hóa nền kinh tế; tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực tư tưởng, văn hóa;

đào tạo đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa; bình đẳng dân tộc; đoàn kết quốc tế;bảo vệ thành quả cách mạng

7 Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II (1954-1975) Nxb CTQG, Hà Nội,1995, tr.179; 188; 189

Trang 11

Điểm quan trọng nhất về kinh tế mà Hội nghị 64 Đảng Cộng sản và côngnhân nhấn mạnh là xây dựng chế độ sở hữu công cộng phương tiện sản xuất chủyếu dưới hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đảng Laođộng Việt Nam không thể không thực hiện quy luật đó do Hội nghị trên tổng kết.

Hai là, đến năm 1958, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn không những

đã xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử thống nhấtViệt Nam, mà còn tiến hành đàn áp, khủng bố man rợ các chiến sĩ cộng sản vàđồng bào ta ở miền Nam Do vậy, sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhấtđất nước ngày càng đòi hỏi phải đẩy nhanh công cuộc xây dựng miền Bắc như

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng trình Đại hội III của

Đảng đã đánh giá: "Miền Bắc càng tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng

về mọi mặt của miền Bắc càng được tăng cường, thì càng có lợi cho cáchmạng giải phóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng cả nước…"8

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chủ trươngcủa Đại hội III của Đảng vẫn được thực hiện

Tháng 9-1975, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn

về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, xác định: "Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là: Hoàn thành thống nhất

nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoànthiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cảitạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội"9 Theo đó, nêu lên phươnghướng phấn đấu "trong vòng 15-20 năm hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ xây dựng

cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta"10

Ở miền Nam, trong một thời gian nhất định còn nhiều thành phần kinhtế: quốc doanh, tập thể xã hội chủ nghĩa, công tư hợp doanh, cá thể, tư bản tưdoanh Cần ra sức sử dụng mọi khả năng lao động, kỹ thuật, vốn, kinh nghiệmquản lý để đẩy mạnh sản xuất

8 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t 21, tr.509.

9 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t 36, tr.397.

10 Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t 36, tr.399.

Trang 12

Đến tháng 12-1976, hơn một năm rưỡi sau khi miền Nam hoàn toàngiải phóng, đất nước thống nhất, Đại hội Đảng lần thứ IV quyết định: "Vớithắng lợi hoàn toàn và triệt để của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,

cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội"11

Đại hội vạch ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa:

"Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan

hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội"12

Đại hội xác định đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa:

"Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp

lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp, cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn

11Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t.37, tr 500.

12Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t 37, tr.523-524.

Trang 13

thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan

hệ phân công, hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, văn hóa, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh, hạnh phúc" 13

Đại hội IV của Đảng đã tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứunước và đúc kết những bài học lịch sử có giá trị to lớn cho dân tộc ta và ĐảngCộng sản Việt Nam

Song, về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, vẫn theo hướng đã vạch

ra từ Đại hội III và được nâng lên tầm mức cao hơn về tốc độ, như dự kiếnhoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lênsản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong vòng 20 năm; các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm(1976-1980) đều quá cao, không hiện thực (lương thực: 21 triệu tấn; điện: 5 tỉKW/giờ; than: 10 triệu tấn; vải: 450 triệu mét; xi măng: 2 triệu tấn; thép250.000 tấn; lợn 16,5 triệu con; cá biển 1.000 tấn)

Đại hội không tiến hành tổng kết, đánh giá 21 năm xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc, nhằm nhìn nhận một cách khách quan những ưu điểm,thành quả và tìm ra những hạn chế, khiếm khuyết cần khắc phục, và nhất là đểtránh không áp dụng một cách máy móc tại miền Nam

Mặt khác sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,cần tiến hành một kế hoạch khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương nghiêm trọng do

đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược của chúng, như Bác Hồ đã dặntrong Di chúc của Người: "Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khókhăn Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động,thiếu sót và sai lầm"14 Nhưng nhiệm vụ này không được thực hiện

Trong chỉ đạo thực tiễn, đường lối chung và đường lối kinh tế càng chủquan, nóng vội Tại miền Nam, trong những năm 1976-1979, tiến hành cải tạo

ào ạt tư sản công nghiệp, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thủ công

13Đảng Cộng sản Việt Nam Văn kiện Đảng, Toàn tập, Sđd, t.37, tr.524.

14 Hồ Chí Minh Toàn tập, Sđd, t 12, tr.503.

Trang 14

nghiệp và tiểu thương Tới cuối năm 1978, đã tiến hành xong công cuộc cảitạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh Đến 1979,

đã căn bản hoàn thành việc đưa nông dân miền Trung và Tây Nguyên vào hợptác xã và tập đoàn sản xuất, ở Nam Bộ, lập hơn 12 ngàn tập đoàn sản xuất vàmột số hợp tác xã nông nghiệp

Tại miền Bắc, đến 1979, đã xây dựng hơn 4000 hợp tác xã toàn xã

Tháng 1-1978, Bộ Chính trị ra chỉ thị về Xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện, nhằm biến 400 huyện thành pháo đài chiến đấu và đơn vị

kinh tế công - nông nghiệp trong một thời gian ngắn Điều đó càng phản ánh

rõ tư tưởng chủ quan, duy ý chí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thành tựu, hạn chế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội từ 1958 đến 1979

- Hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế, xã hội có nhiều điều kiệnthuận lợi cho việc thực hiện chính sách hậu phương, giảm bớt khó khăn chocác gia đình có người ra tiền tuyến; có khả năng huy động kịp thời sức của,sức người phục vụ cuộc kháng chiến

- Đã xuất hiện một sáng tạo trong quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đó là

Nghị quyết 68 NQ/TU của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ngày 10-9-1966 về một số vấn

đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay

Đến giữa năm 1966, toàn tỉnh Vĩnh Phúc đã đưa 97,5% hợp tác xã bậccao với quy mô 216 hộ một hợp tác xã, nhưng một phần do thiên tai, mộtphần chủ yếu do quản lý kém, nên sản xuất nông nghiệp không đạt kế hoạch

Trang 15

Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo tiến hành thí điểmcông tác khoán tại hợp tác xã Thôn Thượng (Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường)theo phương pháp giao khoán cho nhóm, cho lao động và hộ xã viên thực hiệntừng loại việc trong vụ mùa năm 1966 Đợt khoán thí điểm này được Bancông tác nông thôn của Tỉnh ủy rút kinh nghiệm tại chỗ và góp ý kiến hoànthiện cách khoán mới này.

Đầu tháng 9-1966, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc họp bàn và ra Nghị quyết như đãnêu trên, bao gồm các điểm:

+ Ra sức mở rộng kinh doanh nhiều ngành nghề

Kiên quyết thực hiện ba khoán: khoán việc cho nhóm, cho người lao động

và hộ xã viên, bảo đảm sử dụng hợp lý lao động và tăng năng suất lao động

+ Tích cực cải tiến công cụ, trang bị cơ khí nhỏ

Ba khoán có tầm quan trọng hàng đầu trong công tác khoán nhằm tránhtrình trạng lười biếng, ỷ lại của người xã viên; đồng thời, khắc phục tình trạngquan liêu, xa rời quần chúng, tham ô, tư lợi của cán bộ cơ sở

Việc xác định số lao động để khoán được tính theo từng hộ xã viên Do

vậy, chủ trương khoán này được gọi là khoán hộ.

Một số hình thức khoán trồng trọt và chăn nuôi:

+ Khoán sản lượng cho hộ, cho nhóm lao động

Người nhận khoán mỗi sào hưởng 13 công (130 điểm) nếu hoàn thànhđúng mức sản lượng Nếu tăng sản lượng 5kg, được hưởng 1 công, hụt 3kg bịphạt 1 công, theo đó mà nhân lên công thưởng, công phạt

+ Khoán ruộng đất cho hộ: căn cứ theo nhân khẩu mà khoán, gắn tráchnhiệm lao động cho đến sản phẩm cuối cùng

- Về chăn nuôi:

Trang 16

Nhiều hợp tác xã trong tỉnh khoán nuôi lợn, nuôi gia cầm Thí dụ: nếu nuôilợn, thì mỗi con lợn được chi 40 công, 30 đồng lợn giống, 10 thước ruộng để sảnxuất thức ăn cho lợn Mỗi năm phải nộp 40kg thịt lợn, 400kg phân chuồng.

Sau một năm thực hiện, công tác khoán trong hợp tác xã đã thể hiện rõhiệu quả Năm 1967, tổng sản lượng lương thực cả năm của tỉnh đạt 222.000tấn, tăng 4000 tấn so với năm 1966 Đàn lợn đạt 307.000 con, tăng 20% sovới năm 1966 và 38% so với năm 1965

Tổng kết khoán năm 1967, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc kết luận: nhìn lại mộtnăm thực hiện công tác tổ chức lao động trong khu vực nông nghiệp, đã thấynhững chuyển biến tốt… Tuy bị địch đánh phá ác liệt, nhưng vẫn có nhiềuđiển hình thâm canh tốt và phát triển đều hơn, khắc phục dần sự mất cân đốigiữa trồng trọt và chăn nuôi; khẳng định nếu ta quyết tâm cao thì tình trạngnào cũng có thể phát triển nông nghiệp toàn diện, vững chắc

Do quan điểm hợp tác hóa và tập thể hóa nông nghiệp lúc bấy giờ và đềphòng ảnh hưởng bất lợi của công tác khoán đối với nhiệm vụ huy động nhânlực phục vụ chống Mỹ, cứu nước mà Trung ương Đảng không chấp nhậncông tác khoán của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc

Hạn chế:

- Áp dụng một cách máy móc mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô mà nét nổi bật nhất là đồng nhất hợp tác hóa nông nghiệp với tập thểhóa tư liệu sản xuất; hợp tác xã còn đảm nhiệm chức năng quản lý hành chínhcủa địa phương; xóa bỏ nhiều thành phần kinh tế đang đóng vai trò tích cựcđối với sự phát triển kinh tế Xây dựng quan hệ sản xuất không phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất…

- Thiết lập và duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp

- Chủ quan, duy ý chí trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa

- Thiếu tổng kết lý luận và thực tiễn, nhất là trước khi tiến hành Đại hộiIII của Đảng, đến nỗi không tiếp tục thực hiện những sáng tạo lý luận và chỉđạo thực tiễn của Đảng ta và Bác Hồ về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộiđược đề xuất tại Đại hội II của Đảng và trong tác phẩm Hồ Chí Minh như đã

Trang 17

trình bày Trước Đại hội IV, Đảng ta cũng không tổng kết quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội trên miền Bắc mà vẫn tiếp tục thực hiện đường lối cáchmạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội III đề ra đã không còn phù hợp với thựctiễn cách mạng Việt Nam

Những hạn chế trên đã đưa tới những hệ quả không đáp ứng được cácmục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa:

+ Năng suất lao động thấp

+ Lãng phí, tham ô tài sản tập thể ngày càng gia tăng

+ Lưu thông hàng hóa ách tắc do chủ trương "cấm chợ, ngăn sông" + Lương thực, hàng tiêu dùng thiết yếu không đáp ứng được yêu cầucủa đời sống nhân dân…

Có thể thấy rõ điều đó qua các số liệu sau đây: Hầu hết các chỉ tiêukinh tế do Đại hội IV của Đảng đề ra đều không thực hiện được Từ năm 1976đến năm 1979, tỉ trọng vốn đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp tăng từ19% lên 23%, nhưng năng suất lúa lại giảm nhiều: năm 1976: 22,3tạ/ha,1977: 19,4 tạ/ha, 19781: 17,5 tạ/ha, 1979: 20,7 tạ/ha Giá cả tăng vọt, năm

1977 tăng 107%, 1978 tăng 120%, 1979 tăng 119,4% Lương thực thiếu hụtnghiêm trọng, hằng năm phải nhập một số lượng lớn lương thực, tới hàngtriệu tấn

3 Đánh giá hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng trong tiến trình lãnh đạo cách mạng xã hộichủ nghĩa từ 1954 đến 1978

3.1 Những nét nổi bật trên các chặng đường nhận thức lý luận và chỉ đạo thưc tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ

1954 đến 1978.

- Những luận điểm cơ bản về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởViệt Nam do Đại hội II của Đảng đề ra và sự kiểm nghiệm giá trị đúngđắn của nó trong công cuộc xây dựng miền Bắc từ nửa sau năm 1954 đếnnăm 1957

Trang 18

- Đại hội II của Đảng, tháng 2/1951, đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc củaĐảng trên lĩnh vực sáng tạo lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội củaViệt Nam Đó là con đường trải qua những chặng phát triển lâu dài, bao gồm

ba giai đoạn: “giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóngdân tộc; giai đoạn thứ 2, nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ những di tích phong kiến

và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ thuật,hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ 3, nhiệm vụ chủ yếu làxây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”

Sự phân định ba giai đoạn của con đường đi từ cách mạng giải phóngdân tộc lên chủ nghĩa xã hội phản ánh tư duy của Đảng về sự phát triển từngbước vững chắc để đi lên chủ nghĩa xã hội

Cũng tại Đại hội II của Đảng, Tổng bí thư Trường Chinh trình bày rõ

trong Luận cương cách mạng Việt Nam (Văn kiện này còn mang tiêu đề Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội) những quan điểm của Đảng về giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân tức

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Về chính trị, Luận cương cho rằng, điềuquan trọng nhất lúc này là củng cố Nhà nước nhân dân và Mặt trận dân tộcthống nhất phản đế, cơ sở chính trị của chính quyền Luận cương nhấn mạnhtầm quan trọng của chính quyền và vấn đề Đảng lãnh đạo chính quyền: “Đảngnắm vững và củng cố được chính quyền thì là đảm bảo được kháng chiếnthắng lợi và đưa nhân dân tiến tới chủ nghĩa xã hội”.Chính quyền dân chủnhân dân nước ta bao hàm nội dung dân chủ nhân dân chuyên chính và hìnhthức là cơ quan liên hợp các tầng lớp nhân dân, các lực lượng dân tộc, dânchủ, các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp và đảng phái chính trị, không phân biệtnam nữ, lấy nền tảng là liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.Chính quyền đó được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ;lam viêc theo phương châm sử dụng quyền lực của Nhà nước và phương phápgiải thích, thuyết phục để nhân dân tự nguyện chấp hành, nhưng phải lấyphương pháp giải thích, thuyết phục làm cốt yếu

Điều đặc sắc của Luận cương là những quan điểm về kinh tế dân chủnhân dân, đó là nền kinh tế nhiều thành phần: hợp tác xã, kinh tế nhỏ của

Trang 19

nông dân, tiểu thương, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân của tư sản dân tộc vàkinh tế tư bản nhà nước Giữ vai trò quyết định trong nền kinh tế quốc gia làkinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác xã.

Đây là lần đầu tiên mà Tổng bí thư Trường Chinh trình bày quan điểmcủa Đảng ta về mô hình thể chế chính trị và kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở nước ta Những bước đi vững chắc, cụ thể và khá toàn diện cho

sự chuyển biến của một nền sản xuất nhỏ, kém phát triển lấy nông nghiệp làmtrọng tâm, đi lên chủ nghĩa xã hội như đã xác định là phản ánh thành quả tưduy độc lập, sáng tạo, sát hợp với thực tế khách quan của nền kinh tế, xã hộiViệt Nam, xa lạ với cách suy nghĩ chủ quan máy móc và nôn nóng

Nét chủ đạo nổi bật của tư tưởng đó là rất coi trọng phát huy năng lựcsản xuất của các thành phần kinh tế, điều chỉnh dần quan hệ sản xuất phù hợpvới trình độ của lực lượng sản xuất

2 Những thay đổi quan điểm và hoạt động thực tiễn của Đảng về cách mạng xã hội chủ nghĩa năm 1958 đến năm 1978 Những nhân tố tác động đến

sự thay đổi đó và hiệu quả của nó.

Từ năm 1958 đến năm 1978 là thời kỳ diễn ra những thay đổi lớn vềquan điểm và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trên lĩnh vực xây dựng chủ nghĩa xãhội Đó là thời kỳ tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp và cải tạo công thươngnghiệp tư bản tư nhân với tốc độ nhanh, qui mô rộng lớn Và điều đáng chú ý

là những quan điểm về thời kỳ quá độ và chính sách kinh tế nhiều thành phần

đã phát huy tích cực đến sự phát triển kinh tế miền Bắc từ năm 1954 đến năm

1957 bị phủ nhận, kể cả cách khoán hộ ở Vĩnh phúc cũng vậy

Sự thay đổi quan điểm và hoạt động của Đảng ta về cách mạng xã hộichủ nghiã từ những năm cuối thập niên 50 thế kỷ XX như đã trình bày chịutác động rất lớn của bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô mà phe

xã hội chủ nghĩa cho là mẫu mực Đó là con đường tập thể hoá nông nghiệpđưa tới sự ra đời của hệ thống nông trường tập thể, nông trường quốc doanh

và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa biến Liên Xô thành một cường quốc,

Trang 20

đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, trụ cột của hoà bình, của cách mạng giaiphóng dân tộc được coi là biểu tượng tương lai của nhân loại.

Cuộc đại nhảy vọt diễn ra tại Trung Quốc những năm cuối thập niên 50thế kỷ XX cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định về tư tưởng như tư tưởng chủquan duy ý chí, nóng vột trong xây dựng CNXH đối với cách mạng nước ta

Cũng trong thời gian này, cuộc cách mạng của nhân dân ta tại miềnNam bị chính quyền Ngô Đình Diệm (do đế quốc Mỹ dựng lên), thi hành chínhsách đàn áp khốc liệt bằng thủ đoạn: “tố cộng, diệt cộng” Rất nhiều đảng viêncộng sản và chiến sĩ yêu nước bị tàn sát, nhiều tổ chức đảng bị phá vỡ, dẫn tớimâu thuẫn vô cùng gay gắt giữa các lực lượng đấu tranh giải phóng miền Namvới đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn lên tới cực điểm Tình hình đó càngthúc giục Đảng ta phải lãnh đạo nhân dân ta dốc sức xây dựng miền Bắc thànhhậu phương vững mạnh của công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thốngnhất đất nước

Xét về tổng thể, trong những năm chống Mỹ, cứu nước, dù công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc có nhiều hạn chế, nhưng cũng có nhiềuđóng góp về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về giáo dục Đồng thời đây lànhững năm tháng tinh thần yêu nước, ý chí chống ngoại xâm được động viêntới mức tối đa, do vậy, miền Bắc đã thực hiện tốt vai trò hậu phương đối vớichiến trường miền Nam và chiến trường Lào, Cămpuchia

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Làm rõ tác động của nhân tố quốc tế và trong nước đối với công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ năm 1954 đến 1979?

2 Quan điểm và sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng đưa miền Bắc và cảnước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (1958-1978)?

3 Đồng chí đánh giá như thế nào vềquá trình hoạch định đường lối cáchmạng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1954 đến?

Trang 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Tài liệu tham khảo bắt buộc

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương, Báo cáo tổngkết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016),Nxb Chính trị Quốc gia, H 2015

2 Đinh Thế Huyng, Phùng Hữu Phú… (Chủ biên), 30 năm đổi mới vàphát triển ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2015

3 Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốcgia, H 2008

4 Giáo trình Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Quânđội nhân dân, H 2008

5 Hỏi đáp Lịch sử Đảng CSVN, Nxb Quân đội nhân dân, H 2004

- Tài liệu tham khảo không bắt buộc

1 Nguyễn Đức Bình (Chủ biên), Về chủ nghĩa xã hội và con đường lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2004

2 Hồ Chí Minh, Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB CTQG, H, 1998, trang 42-376.

3 Nguyễn Trọng Phúc (2001): Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4 Nguyễn Trọng Phúc (2007): Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhận thức lý luận, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5 Nguyễn Văn Sự, Con đường đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủnghoảng kinh tế xã hội 91986-1996), Nxb Quân đội nhân dân, H 2014

Trang 22

Chuyên đề 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

(1979 – 1986) MỤC TIÊU

- Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về quá trình

hình thành đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1979 đến năm 1986; nhữngthành tựu, hạn chế trong hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng, giai đoạn1979-1986; ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đường lối đổi mới

- Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp

tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về hoạt động lý luận và thực tiễncủa Đảng, giai đoạn 1979-1986; biết vận dụng kiến thức được trang bị đểphân tích, đánh giá hoạt động lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước hiện nay

-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa

học về vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; tích cực đấu tranhchống lại các quan điểm, nhận thức sai trái

Khủng hoảng kinh tế - xã hội và những khó khăn thách thức khác làmcho đời sống nhân dân có nhiều khó khăn Từ trong khó khăn, thách thức đãxuất hiện những sáng kiến, cách thức quản lý mới năng động có hiệu quả từcác địa phương, cơ sở, từ những người lao động Hiện tượng "khoán chui"trong hợp tác xã nông nghiệp ở Hải Phòng và một số địa phương khác, cáchquản lý "phá rào" ở một số đơn vị kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh và một

Trang 23

số nơi khác như là những khởi động thu hút sự chú ý của những người lãnhđạo, quản lý

Cũng từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hộicủa các nước bộc lộ sự phát triển trì trệ, khó khăn và hiệu quả thấp Nền kinh

tế và nhu cầu đời sống của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa cũng đứngtrước những đòi hỏi phải cải cách, cải tổ để phát triển Trung Quốc bắt đầuchủ trương cải cách, mở cửa từ Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XI (12-1978) với chính sách cải cáchkinh tế trong nước, mở cửa, hợp tác thu hút nước ngoài đầu tư, thực hiện 4hiện đại hóa: hiện đại hóa công nghiệp, hiện đại hóa nông nghiệp, hiện đạihóa khoa học, công nghệ và hiện đại hóa quốc phòng

Tình hình trong nước và thế giới nêu trên đặt ra yêu cầu tất yếu đối vớiĐảng ta là phải tìm tòi đổi mới, khắc phục những sai lầm khuyết điểm, đưađất nước tiến lên theo mục tiêu con đường đã chọn Từ năm 1979 đến tháng 8năm 1986 là thời kỳ đổi mới từng phần, có vị trí rất quan trọng đối với quátrình phát triển của cách mạng Việt Nam

1.2 Quá trình tìm tòi con đường đổi mới từ 1979-1986

1.2.1 Thời kỳ 1979-1981

Trước những đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, Hội nghị lần thứ sáu BanChấp hành Trung ương Đảng, khoá IV (8-1979) lúc đầu định bàn về kinh tếđịa phương và sản xuất hàng tiêu dùng, nhưng sau đã chuyển sang bàn vềnhững vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách có liên quan đến đường lối và chínhsách kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước,Hội nghị cho rằng nguyên nhân của tình hình khó khăn về kinh tế là do việcxây dựng kế hoạch kinh tế thiếu căn cứ khoa học; chưa kết hợp chặt chẽ kếhoạch hoá với thị trường; chưa chú ý tăng trưởng kinh tế quốc doanh, kinh tếtập thể và chưa sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; có những biểu hiệnnóng vội, giản đơn trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Từ

đó, Hội nghị đã quyết định những chủ trương và giải pháp mới, mạnh dạn vàsáng tạo, sát hợp với yêu cầu cấp bách của đời sống kinh tế

Trang 24

Trước hết, Hội nghị xác định phải coi nhiệm vụ quan trọng nhất hiện

nay là động viên cao độ và tổ chức toàn dân đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệpnhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung ứng nguyên liệu cho

công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu Để thực hiện nhiệm vụ quantrọng và cấp bách đó, cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuấtnông nghiệp như: ổn định mức nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần còn lạibán cho Nhà nước theo giá thoả thuận hoặc được tự do lưu thông; khuyếnkhích việc tận dụng đất canh tác còn bỏ hoang hoá; ổn định mức bán thịt lợn,phần còn lại bán giá thoả thuận cho Nhà nước hoặc tự do lưu thông; sửa đổi lạigiá lương thực và các loại nông sản khác; bỏ lối phân phối theo định xuất, bảođảm phân phối theo lao động coi đó là nguyên tắc phân phối chủ yếu Đối vớicác xí nghiệp, cần đảm bảo quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủtài chính Việc xây dựng kế hoạch phải tính đến yếu tố thị trường, và sự tồn tạicủa thị trường tự do là tất yếu

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị cho rằng: phải tận dụng các thành

phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể để phát triển sản xuất; phải tuỳ từngngành nghề, từng mặt hàng và xuất phát từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linhhoạt các hình thức tổ chức sản xuất cho thích hợp Hội nghị còn chỉ rõ, cái gìhợp tác xã đã làm tốt thì không vội vàng thay thế bằng quốc doanh Đối với cáthể, kể cả sản xuất, sửa chữa và dịch vụ, xét sản phẩm nào, công việc nào cáthể hiện đang làm tốt, phục vụ tốt thì giúp cá thể tiếp tục làm, một số mặthàng hiện do quốc doanh phụ trách sản xuất, nay nếu xét để cho tiểu, thủ côngnghiệp và tư bản tư nhân sản xuất có điều kiện phát triển thuận lợi hơn thì cầnmạnh dạn giao lại cho tiểu, thủ công và tư nhân làm Đối với công nghiệp tưbản chủ nghĩa ở miền Nam, phải uốn nắn những nhận thức lệch lạc, thực hiệnđúng chủ trương của Đảng về sự tồn tại các thành phần kinh tế để tận dụngmọi khả năng lao động, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý nhằm phát triển sảnxuất Đối với công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, Hội nghị

xác định: phải nắm vững phương châm tích cực và vững chắc, hiện nay phải

nhấn mạnh vững chắc; chống tư tưởng nóng vội, chủ quan, cưỡng ép, mệnhlệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân

Trang 25

Tư tưởng nổi bật của Hội nghị Trung ương sáu là “làm cho sản xuất bung ra”, nghĩa là phải khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý

kinh tế, trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, điều chỉnh những chủ trương, chínhsách kinh tế, phá bỏ những rào cản để cho lực lượng sản xuất phát triển Đó là

bước đột phá đầu tiên trong quá trình tìm tòi, đổi mới của Đảng.

Nghị quyết ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận, bước đầu đãxuất hiện những điển hình về cách làm ăn mới phát huy tác dụng tích cực.Tuy nhiên những giải pháp Hội nghị Trung ương sáu nêu ra chưa đủ sức tháo

gỡ khó khăn Sau một thời gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới:Sản xuất bung ra nhưng không đúng hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiệnnhiều; giá cả ngày càng cao

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, tháng 9-1979 Hội đồngChính phủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang,phục hoá được trả thù lao thích đáng và được sử dụng toàn bộ sản phẩm, đượcmiễn thuế Tháng 10 - 1979 Hội đồng Chính phủ công bố quyết định xóa bỏnhững trạm kiểm soát ngăn sông cấm chợ Người sản xuất có quyền đưa sảnphẩm ra trao đổi ngoài thị trường không phải nộp thuế sau khi làm đầy đủ nghĩa

vụ với Nhà nước Được sự quan tâm của Nhà nước trong đầu tư phát triển nôngnghiệp và cố gắng của nhân dân, năm 1979 sản lượng lương thực tăng 1.718.500tấn so với năm 1978

Trước hiện tượng “khoán chui” ở một số các hợp tác xã nông nghiệp,ngày 22-6-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phépcác địa phương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với câylúa trong các hợp tác xã nông nghiệp

Rút kinh nghiệm qua khoán thí điểm cây lúa trong các hợp tác xã nôngnghiệp, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100/CT-TW về khoán sảnphẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp Theotinh thần của Chỉ thị này, mỗi xã viên nhận mức khoán trên một diện tích nhấtđịnh và tự mình làm 3 khâu, cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâukhác do hợp tác xã đảm nhiệm Nếu thu hoạch vượt mức khoán thì xã viênđược hưởng Phương hướng chủ yếu trong cải tiến khoán là khuyến khích lợi

Trang 26

ích chính đáng của người lao động làm cho mọi người tham gia các khâutrong quá trình sản xuất và quản lý hợp tác xã đều gắn với sản phẩm cuốicùng Chỉ thị ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận Chưa có hìnhthức kinh tế nào khi xuất hiện lại được nhiều người bàn luận sôi nổi và được

mở rộng nhanh chóng, biến thành một phong trào quần chúng sâu rộng, thuhút hàng triệu nông dân, không những đem lại hiệu quả kinh tế lớn mà còn

mở ra triển vọng tốt đẹp cho việc cải tiến quản lý nông nghiệp như Chỉ thị

100 Với hình thức khoán ấy, tuy còn ở trình độ thấp nhưng đã tạo nên khôngkhí phấn khởi trong nông dân Nhiều hiện tượng tiêu cực, lãng phí ngày công

đã từng tồn tại từ nhiều năm trong các hợp tác xã nông nghiệp thì chỉ trongmột vụ đông xuân (1981- 1982) áp dụng cách khoán mới đã giảm nhiều, theo

đó sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong thời kỳ 1981-1985 đã có những bướctiến đáng kể Nếu so với mức bình quân hàng năm của thời kỳ trước đó 1976-

1980 là 1,9% thì tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp trong thời kỳ 1981-1985

là 4,9%, sản xuất lương thực có bước phát triển quan trọng, mức tăng bìnhquân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệutấn trong thời kỳ 1981-1985 Diện tích cây công nghiệp hàng năm tăng62,1%; đàn bò tăng 33,2%; đàn lợn tăng 22%; lương thực cung cấp cho Nhànước tăng 2 lần

Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng "xé rào"

và làm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở Thành phố Hồ ChíMinh và Long An, ngày 21-1-1981 Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-CP

về quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các

xí nghiệp quốc doanh Quyết định nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồngthời sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi; chophép các xí nghiệp quốc doanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba phần(phần Nhà nước giao, phần tự làm, phần sản xuất phụ) Cùng ngày 21-1-1981Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định 26-CP về việc mở rộng hình thứctrả lương khoán, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong cácđơn vị sản xuất kinh doanh của Nhà nước Những chủ trương chính sách nêutrên giúp cơ sở tự giải quyết một phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch

Trang 27

Nhà nước Năm 1981, lần đầu tiên sau chiến tranh sản xuất công nghiệp đạt

kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%

Trên mặt trận phân phối lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị raNghị quyết 26/NQ-TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông Đây là lĩnhvực rất nóng bỏng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta thời đó Nghịquyết đã đề ra mục tiêu, biện pháp và các bước cụ thể của việc cải tiến côngtác phân phối lưu thông Tuy nhiên, hạn chế của Nghị quyết là chủ trươngkhuyến khích sản xuất trước (bước 1) rồi trên cơ sở sản xuất phát triển mớicải tiến công tác phân phối lưu thông (bước 2 và 3) Trong khi thực tiễn lạiyêu cầu phải cải tiến ngay công tác phân phối lưu thông để phát triển sảnxuất Vì thế, tình hình phân phối lưu thông sau Nghị quyết 26 vẫn chưa cóchuyển biến đáng kể

Những tìm tòi, đổi mới từng phần từ 1979-1981 được xuất phát từthực tế cuộc sống, dựa trên những sáng tạo của nhân dân, của địa phương

Đó là những giải pháp tình thế, hướng vào giải quyết những khó khăn trướcmắt về đời sống kinh tế, xã hội Những ý tưởng ban đầu của đổi mới tuy còn

sơ khai, chưa cơ bản và toàn diện, nhưng đó là bước mở đầu có ý nghĩa, đặtnhững cơ sở đầu tiên cho quá trình đổi mới toàn diện sau này Những đổimới từng phần nêu trên chưa đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt

ra vì nó vẫn nằm trong bối cảnh chung là mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, tưduy về kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cơ bản còn tồn tại Thực tiễn đòihỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi đổi mới

Trang 28

Ban Chấp hành Trung ương, khoá V đã bầu ra Ban Bí thư, Tổng Bí thư và Uỷban kiểm tra Trung ương Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thưcủa Đảng.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã có những nhận thứcmới về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Thứ nhất, Đại hội V xác định cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới

có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn

sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau Xây dựng chủnghĩa xã hội đạt những kết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên vềmọi mặt và trong mọi hoàn cảnh thì mới có đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiếntranh xâm lược của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Ngược lại, bảo vệ vữngchắc Tổ quốc thì mới có điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Mỗi nhiệm vụ chiến lược có vị trí riêng: "Trong khi không một phút lơilỏng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân taphải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội"15

Thứ hai, Đại hội đưa ra quan niệm về chặng đường đầu tiên của thời

kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Theo quan điểm của Đại hội V, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta là khó khăn, phức tạp, lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường, hiệnnay nước ta đang ở chặng đường đầu tiên, đồng thời chỉ ra nội dung kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội của chặng đường đầu Đây chính là sự nhận thức vàvận dụng đúng đắn quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ và sựphân kỳ thời kỳ quá độ vào điều kiện thực tiễn nước ta Đại hội xác định:Chặng đường trước mắt bao gồm thời kỳ 5 năm 1981-1985 và kéo dài đếnnhững năm 1990 là khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt

Thứ ba, Đại hội đã có những điều chỉnh về nội dung, bước đị, cách làm của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên.

Đại hội V xác định: Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coinông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn

xã hội chủ nghĩa; ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây

15 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 42

Trang 29

dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, côngnghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nôngnghiệp hợp lý

Nội dung đó phản ánh đúng bước đi của công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa, phù hợp với thực tiễn nước ta; nhằm khai thác, phát huy thế mạnh, tiềmnăng của đất nước về lao động, đất đai, ngành nghề giải quyết đúng đắn mốiquan hệ công nghiệp với nông nghiệp làm cơ sở để thực hiện nhiệm vụ chủyếu của chặng đường đầu tiên, tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc đẩymạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo

Đại hội V có bước tiến mới về đổi mới tư duy trong việc tìm tòi conđường đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên Đại hội V vẫn chưa thấy đúng mứcnguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại hộivẫn khẳng định: “đường lối chung là hoàn toàn đúng đắn; khuyết điểm làtrong khâu tổ chức thực hiện, nên đã không có được những sửa chữa đúngmức và cần thiết”16 Vì chưa xác định đúng nguyên nhân dẫn đến khủnghoảng kinh tế - xã hội, nên Đại hội vẫn tiếp tục chủ trương hoàn thành về cơbản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam trong vòng 5 năm Quá trình chỉ đạothực hiện vẫn tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc phát triển côngnghiệp nặng một cách tràn lan; không dứt khoát cắt bỏ những công trình xét

ra chưa thật cần thiết để dành thêm vốn và vật tư cho phát triển nông nghiệp

và công nghiệp hàng tiêu dùng Đại hội đã không tiếp tục phát triển nhữngkết quả của việc tìm tòi, thử nghiệm những chủ trương, chính sách mới,những cách làm hay có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận đã được nêu ra ởNghị quyết Trung ương 6 - khoá IV, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Quyết định25/CP của Chính phủ, cũng như qua hoạt động thực tiễn của nhiều địaphương, cơ sở

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá V (6-1985) bàn về

đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.Đây là bước đột phá thứ hai trong quá trình

tìm tòi, đổi mới của Đảng Hội nghị chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tậptrung quan liệu bao cấp, thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ bao cấp bằng

16Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975 – 1985, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.22

Trang 30

hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang hoạchtoán kinh doạnh xã hội chủ nghĩa Giá, lương, tiền coi là khâu đột phá đểchuyển đổi cơ chế Hội nghị lần thứ 8 thừa nhận sản xuất hàng hoá và nhữngquy luật sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân.

Hội nghị Bộ Chính trị tháng 8-1986 đưa ra “Kết luận đối với một số vấn

đề thuộc về quan điểm kinh tế” Đây là bước đột phá thứ ba, đồng thời cũng là

bước quyết định cho sự ra đời của đường lối đổi mới

Về cơ cấu sản xuất, Hội nghị cho rằng, chúng ta đã chủ quan, nóng vội

đề ra một số chủ trương quá lớn về quy mô, quá cao về nhịp độ xây dựng cơbản và phát triển sản xuất Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho sảnxuất trong 5 năm gần đây như dẫm chân tại chỗ, năng suất lao động giảm sút,chi phí sản xuất không ngừng tăng lên, tình hình kinh tế xã hội ngày càngkhông ổn định Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng chậm giảiquyết căn bản các vấn đề về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu vàtạo nguồn hàng cho xuất khẩu Bởi vậy, cần tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn

về cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư theo hướng thật sự lấy nông nghiệp là mặttrận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, việc phát triển công nghiệpnặng phải có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ, chú trọng quy mô vừa và nhỏ,phát huy hiệu quả nhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu phát triển nông nghiệp,công nghiệp nhẹ và xuất khẩu Theo hướng đó, cần tập trung lực lượng, trướchết là vốn và vật tư, thực hiện cho được ba chương trình quan trọng nhất vềlương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị cho rằng, do chưa nắm vững quy

luật đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tụctrong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã phạm nhiềukhuyết điểm trong cải tạo xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, phải biết lựa chọn bước

đi và hình thức thích hợp trên quy mô cả nước cũng như từng vùng, từng lĩnhvực, phải đi qua những bước trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mônhỏ đến trung bình, rồi tiến lên quy mô lớn; phải nhận thức đúng đắn đặc

trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, đó là sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng

Trang 31

sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động, phải

sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; cải tạo xã hội chủ nghĩa không chỉ

là sự thay đổi chế độ sở hữu, mà còn thay đổi cả chế độ quản lý, chế độ phânphối, đó là một quá trình gắn liền với mỗi bước phát triển của lực lượng sảnxuất, vì vậy không thể làm một lần hay trong một thời gian ngắn là xong

Về cơ chế quản lý kinh tế, Hội nghị cho rằng, bố trí lại cơ cấu kinh tế

phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, làm cho hai mặt ăn khớpvới nhau tạo ra động lực mới thúc đẩy sản xuất phát triển Hội nghị nêu ranhững nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩalà: Đổi mới kế hoạch hoá theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo củacác quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời sử dụng đúng đắn các quyluật của quan hệ hàng hoá - tiền tệ; làm cho các đơn vị kinh tế có quyền tựchủ trong sản xuất, kinh doanh; phân biệt chức năng quản lý hành chínhcủa Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh của các đơn vịkinh tế; phân công, phân cấp bảo đảm các quyền tập trung thống nhất củaTrung ương trong những khâu then chốt, quyền chủ động của địa phươngtrên địa bàn lãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở

Những kết luận trên đây là kết quả tổng hợp của cả quá trình tìm tòi, thửnghiệm, đấu tranh giữa quan điểm mới và quan điểm cũ, đặc biệt trên lĩnh vựckinh tế Những quan điểm mới được trình bày trong bản kết luận đã địnhhướng cho việc soạn thảo Báo cáo Chính trị để trình ra Đại hội Đại biểu toànquốc lần thứ VI của Đảng, thay cho bản Dự thảo Báo cáo chính trị được chuẩn

bị trước đó, vì trong bản dự thảo ấy vẫn còn giữ lại nhiều quan điểm cũ khôngphù hợp với yêu cầu trước mắt là khắc phục cho được khủng hoảng kinh tế - xãhội, và lâu dài đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

1.3 Nhận xét quá trình tìm tòi đổi mới

Nghiên cứu quá trình tìm tòi đổi mới từng phần từ năm 1979- 1986 có thể rút

ra một số nhận xét sau đây:

Một là, từ năm 1979- 1986 là những năm đất nước phải đương đầu với

hai cuộc chiến tranh biên giới rất phức tạp, phải đối phó với chính sách bao vâycấm vận của các thế lực thù địch, đồng thời cũng là những năm mà nhược điểm

Trang 32

của mô hình và cơ chế quản lí cũ đã bộc lộ ra rất rõ và trở thành lực cản lớn đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hai là, từ khi đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Đảng và nhân

dân ta đã liên tục tiến hành những tìm tòi, thử nghiệm nhằm tháo gỡ khó khăn,đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân

Ba là, quá trình tìm tòi thử nghiệm của Đảng và nhân dân ta từ năm 1979

– 1986 tuy có đạt được một số kết quả quan trọng nhưng không chắc chắn,khủng hoảng vẫn diễn ra và ngày càng trầm trọng, có nguy cơ đe doạ sự sốngcòn của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Nguyên nhân cơ bản là, những tìmtòi thử nghiệm ở thời kỳ này mới chỉ là những đổi mới từng phần, từng lĩnhvực đơn lẻ, chưa có tính tổng thể, trong khi thực tiễn lại yêu cầu cần có mộtchiến lược đổi mới căn bản và toàn diện

Bốn là, những tìm tòi thử nghiệm về đường lối của Đảng và nhân dân ta

ở thời kỳ này tuy chưa khắc phục được khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng đãtạo ra những tiền đề cần thiết cho việc hình thành đường lối đổi mới toàn diện

mà Đại hội VI là mốc mở đầu

2 Đại hội lần thứ VI của Đảng và đường lối đổi mới toàn diện đất nước 2.1 Tính cấp bách phải đổi mới

Đại hội lần thứ VI của Đảng họp từ ngày 15 - 18/12/1986 tại Hà Nộitrong bối cảnh tình hình thế giới, trong nước có nhiều diễn biến phức tạp

Tình hình thế giới:

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ, tác động vàảnh hưởng trực tiếp đến mọi quốc gia, dân tộc; hệ thống các nước XHCN lâmvào tình trạng khủng hoảng KT-XH, phong trào cải tổ, cải cách và đổi mới đã vàđang diễn ra mạnh mẽ; CNTB tuy bản chất không thay đổi nhưng đã có sự điềuchỉnh, thích nghi và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh

tế, KHKT

Tình hình trong nước:

Sau 10 năm cả nước quá độ lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sựnghiệp XD và BVTQ của nhân dân ta đã giành được những thành tựu quantrọng nhưng cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém

Trang 33

Thành tựu: Đại hội VI nêu lên 3 thành tựu nổi bật:Thực hiện thắng lợi chủ trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước; đã đạt được những thành tựu

quan trọng trong sự nghiệp XD CNXH; giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệpbảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa vụ quốc tế Những thànhtựu trên đã tạo cho sự nghiệp cách mạng nước ta những nhân tố mới để tiếp tụctiến lên

Hạn chế và nguyên nhân:

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sựthật, ĐH VI đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm vànguyên nhân dẫn đến tình trạng đó Cụ thể là:

Hạn chế: nhiệm vụ mục tiêu do ĐH IV và ĐH V của Đảng đề ra đều

không hoàn thành, đất nước lâm vào khủng hoảng KT-XH từ cuối nhữngnăm 70 và kéo dài trong nhiều năm Biều hiện của khủng hoảng: Sản xuấttăng trưởng chậm và không ổn định; Nền kinh tế luôn trong tình trạng thiếuhụt, không có tích luỹ; Lạm phát tiếp tục tăng cao và kéo dài trong nhiềunăm; Đất nước bị bao vây, cô lập; Đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lòngtin đối với Đảng, Nhà nước, chế độ giảm sút nghiêm trọng Nguyên nhândẫn đến khủng hoảng:

Nguyên nhân khách quan: Điểm xuất phát lên CNXH của nước ta thấp;

Thiên tai, địch hoạ liên tiếp xảy ra; Quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi

Nguyên nhân chủ quan: ĐH đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ ra 6 vấn đề: Sai

lầm trong đánh giá tình hình, xác định mục tiêu, bước đi; Sai lầm trong bố trí

cơ cấu kinh tế; Sai lầm trong cải tạo XHCN; Sai lầm trong lĩnh vực phânphối, lưu thông; Duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; Cònbuông lỏng chuyên chính vô sản (cả trong quản lý KT, XH, trong đấu tranh

chống âm mưu, thủ đoạn của địch…) Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến

lược và tổ chức thực hiện Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm,

khuyết điểm nói trên, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan.

Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa “tả” khuynh và hữu khuynh Nguyên nhân của mọi

Trang 34

nguyên nhân bắt nguồn từ “những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng và côngtác cán bộ của Đảng”

Như vậy, khi Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,tình hình thế giới, trong nước đã và đang có nhiều biến đổi sâu sắc Nhữngbiến đổi đó đặt ra yêu cầu tất yếu và cấp bách đối với Đảng ta là phải đổi mớichủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại để tiếp tục đưa đất nước phát triểntheo mục tiêu, con đường đã chọn

2.2 Đường lối đổi mới của Đại hội VI

Đường lối đổi mới của Đại hội VI được hoạch định trên những cơ sở lýluận và thực tiễn sau: dựa trên phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác -Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH; dựa trên quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh về CNXH; qua thực tiễn hơn 3 thập kỷ xây dựng CNXH và từ kinhnghiệm quá trình đổi mới từng phần của Đảng và nhân dân ta trong những năm

1979 - 1986

Quan điểm chỉ đạo đổi mới:

- Đổi mới là tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống

còn của Đảng và chế độ XHCN ở nước ta

- Đổi mới không phải là phủ định sạch trơn mà phải biết trân trọng, kếthừa và phát huy những thành tựu đã đạt được trong quá khứ

- Đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xãhội nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp

17 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.42.

Trang 35

phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo rachuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh.

Những mục tiêu trên đây là một thể thống nhất, gắn bó chặt chẽ vớinhau, bao quát mọi lĩnh vực từ sản xuất đến phân phối lưu thông, từ lực lượngsản xuất đến quan hệ sản xuất, từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh

Những giải pháp cơ bản để thực hiện mục tiêu

Một là, đổi mới cơ cấu kinh tế

Đại hội xác định muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rốiren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấuhợp lý Đó là cơ cấu mà ở đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cácloại hình sản xuất có quy mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cânđối, liên kết với nhau phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế pháttriển ổn định

Để thực hiện sự sắp xếp đó, trong những năm còn lại của chặng đườngđầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986 - 1990 phải thực sự tậptrung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình kinh tế: Lươngthực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

Đi đôi với việc bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư theo ngành và

theo vùng, phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế Đại hội xác định

cần có chính sách sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế Chính sách đócho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế, với quy mô, trình độ kỹ thuật thíchhợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông, khai thác mọi khảnăng của các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốcdoanh giữ vai trò chủ đạo

Hai là, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sựthật, Đại hội đã thẳng thắn chỉ rõ những khuyết tật của cơ chế quản lý cũ Đạihội cho rằng cơ chế tập trung quan liêu bao cấp từ nhiều năm nay không tạođược động lực phát triển, làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sửdụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năngsuất, chất lượng hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều

Trang 36

hiện tượng tiêu cực trong xã hội Cơ chế đó quản lý nền kinh tế bằng mệnhlệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh từ trêngiao xuống, không phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ Các cơ quanquản lý hành chính - kinh tế can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinhdoanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chấtđối với các quyết định của mình; các đơn vị kinh tế cơ sở không có quyền tựchủ và cũng không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất kinh doanh.

Cơ chế đó chưa chú ý đầy đủ đến quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh

tế, dẫn đến các cách quản lý kế hoạch hoá thông qua chế độ cấp phát và giaonộp theo quan hệ hiện vật là chủ yếu Hạch toán kinh tế chỉ là hình thức, khôngràng buộc trách nhiệm và lợi ích vật chất đối với hiệu quả sử dụng tiền vốn, tàisản, vật tư, lao động, tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượnglao động Cơ chế đó đẻ ra bộ máy quản lý cồng kềnh, với những cán bộ quản lýkém năng động, không thạo kinh doanh, với phong cách quản lý quan liêu, cửaquyền “Cơ chế cũ gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giảnđơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan, duy ý chí” 18

Trên cơ sở phân tích, chỉ rõ những khuyết tật của cơ chế tập trung quan liêubao cấp và những hậu quả nghiêm trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xãhội của đất nước, Đại hội quyết định phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh

tế là: “xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quyluật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế”19 Thực chất của cơ chếquản lý mới là “cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xãhội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” 20

Đại hội cũng xác định: “Đổi mới cơ chế quản lý là một quá trình cải cách

có ý nghĩa cách mạng sâu sắc, là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến

bộ và cái lạc hậu Cuộc đấu tranh để đổi mới không những bị sức mạnh củathói quen níu lại, mà còn vấp phải những đặc quyền, đặc lợi của một số ngườigắn bó với cơ chế cũ Đây là cuộc đấu tranh trong nội bộ đảng và cơ quan nhànước, đấu tranh giữa những người đồng chí, đấu tranh với chính bản thân

18Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 63.

19Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 63.

20Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 65.

Trang 37

mình”21 Vì vậy, chúng ta phải khắc phục trở ngại chính hiện nay là tư tưởngbảo thủ muốn quay trở lại cơ chế cũ đã quen thuộc, do dự không dám giảiquyết những vấn đề đã chín muồi”.

Ba là, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại

Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, đồng thời trên cơ sởquán triệt, thực hiện những quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh về mở cửa,hội nhập kinh tế quốc tế, Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định: “Nhiệm vụ ổnđịnh và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp pháttriển khoa học - kỹ thuật và công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa của nước ta tiếnhành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mởrộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại”22 Từ đó, Đại hội chủ trương: “Sửdụng tốt mọi khả năng mở rộng quan hệ thương mại, hợp tác kinh tế và khoahọc, kỹ thuật với bên ngoài để phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội”23 Trong đó Liên Xô vẫn được coi là đối tác chủ yếu; đồng thời “tranh thủ

mở mang quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba,các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoàitrên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi”24

Về nội dung chính của chính sách kinh tế đối ngoại, Đại hội xác định,

khâu quan trọng nhất là đẩy mạnh xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu.

Trong đó, các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp được xác định là những mặthàng chủ lực cần được đầu tư đẩy mạnh sản xuất Trong hoạt động nhập khẩu,phải chú ý nhập các mặt hàng phù hợp và phục vụ tốt cho việc bố trí lại cơcấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư Để thực hiện chủ trương đó, phải đổimới cơ chế quản lý, sắp xếp lại các đơn vị sản xuất, kinh doanh xuất nhậpkhẩu; đổi mới hoạt động của Ngân hàng ngoại thương; có chính sách khuyếnkhích Việt kiều gửi tiền và vật tư về nước

Cùng với việc mở rộng hoạt động xuất, nhập khẩu Đại hội chủ trương:

“Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiềuhình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng

21Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 65.

22 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 81.

23 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 31.

24 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 81.

Trang 38

xuất khẩu Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có chính sách và biện pháptạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợptác kinh doanh”25 Đó là chủ trương có tính đột phá, đặt nền móng cho những thành tựu từ việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Đại hội cũng nêu rõ: “Việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại sẽ làm nảysinh những vấn đề phức tạp, cần có biện pháp hạn chế và ngăn ngừa nhữnghiện tượng tiêu cực, song không vì thế mà đóng cửa lại”26 Vì vậy, cần có kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất và năng lực kinh doanh cho đội ngũlàm kinh tế đối ngoại, kể cả những cán bộ làm công tác này và những cán bộ ởcác cơ sở sản xuất, kinh doanh có quan hệ giao dịch với nước ngoài

Bốn là, đổi mới chính sách xã hội

Cùng với việc đổi mới tư duy về kinh tế, Đại hội lần thứ VI của Đảngcũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức về chính sách xãhội Đại hội cho rằng: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sốngcon người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ giađình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc… Cần thể hiện đầy đủ trong thực tếquan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế vàchính sách xã hội”27 Mục đích của chính sách xã hội là phục vụ con người,nhằm phát huy yếu tố con người, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế

và các lĩnh vực khác Coi nhẹ chính sách xã hội là coi nhẹ yếu tố con ngườitrong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội cho rằng: “Trình độ pháttriển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng nhữngmục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế" 28 Vì vậy, cần cóchính sách xã hội cơ bản, lâu dàivà xác định được những nhiệm vụ, mục tiêuphù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên

Từ những quan điểm trên, Đại hội xác định, trong những năm còn lại củachặng đường đầu tiên, cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề cơ bản sau đây:

25 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 85.

26 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 85-86

27 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 86.

28 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 86.

Trang 39

chính sách về dân số, giải quyết việc làm cho người lao động; thực hiệncôngbằng xã hội, lối sống có văn hoá, bảo đảm an toàn xã hội, khôi phục trật tự,

kỷ cương trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo đáp ứng các nhu cầugiáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân; triển khai xâydựng chính sách bảo hộ xã hội; thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sáchdân tộc Đó là những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách, lâu dài; có liên quan vàảnh hưởng trực tiếp đến mọi người cũng như sự ổn định, lành mạnh của cả xãhội Đó cũng chính là mục tiêu của phát triển kinh tế

Năm là, đổi mới chính sách đối ngoại

Trên cơ sở nhận định: “Vấn đề có tính quy luật của cách mạng trong thờiđại ngày nay là sự kết hợp cuộc đấu tranh của nhân dân mỗi nước với cuộc đấutranh chung của nhân dân thế giới”29, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đưa ra hệthống các quan điểm về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chỉ đạo hoạt đôngđối ngoại

Đại hội xác định, mục tiêu hàng đầu của chính sách đối ngoại là hoà bình

và phát triển Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Trong những năm tới, nhiệm vụ của

Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộcvới sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hòa bình ở Đông Dương, góp phầntích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới tranh thủ điều kiện quốc

tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ”30

Để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên, Đại hội xác định sáuchính sách lớn, bao gồm: Tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện với LiênXô; phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương; tăngcường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa khác; ủng hộmột cách nhất quán và triệt để phong trào đấu tranh giải phóng và độc lập dântộc; ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân và nhândân ở các nước tư bản chủ nghĩa; tích cực góp phần vào việc tăng cường đoànkết, hợp tác trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Những chính sách lớn nêu trên, về cơ bản vẫn được hoạch định trên cơ sở

ý thức hệ của thời kỳ đối đầu Đông - Tây Tuy nhiên, những trọng điểm đối

29 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 98.

30 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 99.

Trang 40

ngoại cụ thể được xác định trong Văn kiện Đại hội đã phản ánh rõ nét sự chuyểnhướng quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Cụ thể là:

Đối với việc giải quyết vấn đề Campuchia Đây là vấn đề đối ngoại phức

tạp nhất, cần tháo gỡ Bởi, trên thực tế từ năm 1979, bất chấp những thiện chí củaĐảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam, một số đối tượng như Mỹ, cácnước trong khu vực và một số nước lớn khác luôn đặt vấn đề Campuchia là điềukiện tiên quyết cho việc chấm dứt bao vây, cấm vận và bình thường hoá quan hệvới Việt Nam Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng nêu rõ: “Chính phủ

ta chủ trương tiếp tục rút quân tình nguyện Việt Nam khỏi Campuchia, đồng thờisẵn sàng hợp tác với tất cả các bên để đi tới một giải pháp chính trị đúng đắn vềCampuchia”31

Đối với vấn đề bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc Trêncơ sở

khẳng định mối quan hệ hữu nghị lâu đời, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa nhândân hai nước, Đại hội lần thứ VI của Đảng nêu rõ: “Chính phủ và nhân dân ViệtNam, trước sau như một, quý trọng và nhất định làm hết sức mình để khôi phụctình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Lập trường của chúng ta là lấy lợi ích cơbản và lâu dài của hai nước làm trọng”32 Từ đó, Đại hội ra tuyên bố: “Việt Namsẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ởđâu nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân hainước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới” 33

Đối với các nước trong khu vực Đại hội lần thứ VI của Đảng khẳng định:

“Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nước trong khu vực thương lượng đểgiải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xâydựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác” 34

Đối với Mỹ và các nước phương Tây, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã nêu

rõ lập trường: “Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhânđạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích hoà

31 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 108.

32 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 107.

33 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 107

34 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 108.

Ngày đăng: 13/10/2022, 12:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hồ Chí Minh, Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB CTQG, H, 1998, trang 42-376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
3. Nguyễn Trọng Phúc (2001): Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Nguyễn Trọng Phúc (2007): Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhận thức lý luận, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhậnthức lý luận
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2015 Khác
2. Đinh Thế Huyng, Phùng Hữu Phú…. (Chủ biên), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2015 Khác
3. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2008 Khác
4. Giáo trình Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2008 Khác
5. Hỏi đáp Lịch sử Đảng CSVN, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004.- Tài liệu tham khảo không bắt buộc Khác
1. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên), Về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
5. Nguyễn Văn Sự, Con đường đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội 91986-1996), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH   MẠNG   XÃ   HỘI   CHỦ   NGHĨA   Ở VIỆT NAM (1954 – 1979) - TÀI LIỆU THAM KHẢO LỊCH sử ĐẢNG   tập bài GIẢNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG lối CÁCH MẠNG xã hội CHỦ NGHĨA và ĐƯỜNG lối đổi mới   SAU đại học
1954 – 1979) (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w