MỤC LỤC Trang Chuyên đề 1 1 1 1 2 1 3 1 4 1 5 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa và cách mạng.
Trang 1MỤC LỤC
Trang Chuyên đề 1
1.1
Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộcđịa và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt - Cương lĩnhđầu tiên của Đảng
Luận cương Chính trị (tháng 10 năm 1930) bổ sung,phát triển Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
Nghị quyết Trung ương 6, 7, 8 (năm 1939, năm 1940,năm 1941) chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lượcĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II năm 1951 củaĐảng phát triển, hoàn chỉnh đường lối cách mạng dântộc dân chủ nhân dân
5
5791417
CÁC ĐẢNG PHÁI TRONG THỜI KỲ 1945-1946
Sự hình thành và ảnh hưởng của các đảng phái trongthời kỳ 1945 – 1946
Hoàn cảnh lịch sử phải chấp nhận các đảng phái đối lập
và đối sách của taMột số kinh nghiệm từ trong thực hiện đa đảng thời kỳ1945-1946
22
222931
Một số vấn đề chung về ruộng đất Quan hệ ruộng đất và các hình thức bóc lột nhân dân trong
xã hội Việt Nam trước năm 1945Chủ trương của Đảng về giải quyết vấn đề ruộng đấttrong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Một số nhận xét, đánh giá và kinh nghiệm về cải cách
35
354044
Trang 2
cách ruộng đất 52 Chuyên đề 4
4.1
4.2
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI CỦA CÁCH MẠNG MIỀN NAM Hoàn cảnh lịch sử cách mạng miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ (1954) Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam trong điều kiện mới 49 49 66 71 Chuyên đề 5
5.1 5.2
5.3
PHƯƠNG PHÁP PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP TRONG CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
Một số vấn đề chung về phương pháp cách mạng Quá trình hình thành, phát triển phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Vận dụng phương pháp phát huy sức mạnh tổng hợp trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
87
87 90
101
Trang 3Chuyên đề 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN, HOÀN CHỈNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
MỤC TIÊU
- Về kiến thức: giúp người học nắm được quá trình phát triển nhận thức
và xác định đường lối cách mạng DTDCND của Đảng qua các thời kỳ lịch sử,nhất là việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp được biểu hiện tậptrung trong xác định vị trí, vai trò, mối quan hệ chống đế quốc và chốngphong kiến trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Về kỹ năng: giúp học viên phát triển phương pháp tư duy khoa học
độc lập, nâng cao khả năng vận dụng, giải quyết các vấn đề về mối quan hệgiữa mục tiêu, nguyên tắc chiến lược và chỉ đạo chiến lược, giữa nhiệm vụ
cơ bản với nhiệm vụ chủ yếu; vị trí, vai trò khác nhau của các giai cấp, tầnglớp trong lực lượng cách mạng; lựa chọn phương pháp cách mạng phù hợp;công tác xây dựng Đảng; mối quan hệ của cách mạng Việt Nam với cáchmạng thế giới
- Về tư tưởng: Qua nghiên cứu chuyên đề này, học viên khẳng định trí
tuệ, bản lĩnh của Đảng trong xác định đường lối CMDTDCND tuy cam go,phức tạp, thậm chí thụt lùi tạm thời nhưng đường lối đúng đắn của Đảng làcội nguồn của những thắng lợi trong CMDTDCND; qua đó củng cố niềm tin,tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận chống những quanđiểm sai trái, thù địch, tích cực bảo vệ và xây dựng Đảng
NỘI DUNG
1 Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
* Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa
Từ tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin chuyển biến lập trường từ chủ nghĩa yêu nước chân chính sang lậptrường giai cấp vô sản và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam Từquá trình nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, khảo nghiệm các cuộc cách mạng
Trang 4-trên thế giới và thực tiễn cách mạng thuộc địa -trên thế giới, Đông Dương vàViệt Nam, Người đã hình thành những quan điểm về cách mạng thuộc địa.Theo Người: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nàokhác con đường cách mạng vô sản Vấn đề dân tộc phải kết kợp chặt với vấn đềgiai cấp của giai cấp công nhân, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xãhội Cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa đều có tầm chiếnlược quan trọng ngang nhau, không thể coi nhẹ cuộc cách mạng này hay cuộccách mạng kia Các dân tộc thuộc địa phải tự giải phóng mình, không ỷ lại, trôngchờ ở lực lượng bên ngoài Cách mạng một số nước thuộc địa có khả năng thắnglợi trước cách mạng chính quốc, không những không lệ thuộc, chờ đợi vào cáchmạng chính quốc mà còn tác động tích cực đến cách mạng vô sản ở chính quốc.Cách mạng ở các nước Đông Dương có cùng hoàn cảnh, quan hệ khăng khít vớinhau, mỗi dân tộc phải tự giải quyết vấn đề của dân tộc mình, phải thực hiệnquyền dân tộc tự quyết, phải phát huy tinh thần dân tộc của từng nước, nhưngcần phải xây dựng khối đoàn kết chiến đấu giữa ba nước anh em Những ngườiyêu nước chân chính cần phải tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin để trở thành ngườicộng sản Đạo đức cách mạng là cái gốc của người cách mạng Trước hết phảirèn luyện tư cách người cách mạng.
Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam
Ở Việt Nam, làm dân tộc cách mạng luôn gắn liền với làm giai cấp cáchmạng Ách áp bức dân tộc là đế quốc Pháp, kẻ thù của cách mạng là thực dânPháp (kẻ thù của dân tộc và giai cấp là thực dân Pháp và các thế lực phongkiến phản động)
Mục tiêu của cách mạng là đem lại độc lập cho dân tộc, tự do, hạnhphúc cho nhân dân Quyền lợi của cách mạng phải đem lại cho dân chúng sốnhiều, chớ để trong tay bọn ít người, thế mới khỏi hy sinh làm cách mạngnhiều lần, dân chúng mới được hạnh phúc
Về lực lượng cách mạng: Công nông là gốc của cách mạng, là chủ cáchmạng, giai cấp công nhân phải giữ vai trò lãnh đạo cách mạng, còn học trò,nhà buôn, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông Sĩ, nông, công, thương,phụ nữ, trẻ em đều tham gia cách mạng được, không phân biệt giai cấp, tuổi
Trang 5tác Do đó, phải làm cho nhân dân hiểu cách mạng là việc chung của cả dânchúng, không phải việc của một hai người.
Về đoàn kết quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạngthế giới, ai làm cách mạng trên thế giới đều là đồng chí của cách mạng Việt Nam
Về phương thức hoạt động: Phải giác ngộ, tổ chức quần chúng giảnggiải lý luận và chủ nghĩa Mác - Lênin cho dân hiểu Người cho rằng dân khímạnh thì súng ống nào cũng không chống lại nổi
Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Cách mạng phải có Đảng cách mạnglãnh đạo để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạcvới các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi Đảng là nhân tốquyết định thành công của cách mạng
Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng thuộc địa, về cáchmạng giải phóng dân tộc Việt Nam được Đảng ta kế thừa hoạch địnhCương lĩnh đầu tiên
2 Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt do
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Đó là Cương lĩnh và Điều lệ đầu tiên củaĐảng Cộng sản Việt Nam Cương lĩnh đã trình bày những nội dung cơ bảnnhất về con đường cách mạng Việt Nam, về đường lối “tư sản dân quyền cáchmạng” và “thổ địa cách mạng” ở Việt Nam
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam làm “tư sản dân quyền cáchmạng”… và “thổ địa cách mạng”… để đi tới xã hội cộng sản
Nhiệm vụ của “tư sản dân quyền cách mạng” và “thổ địa cách mạng”làđánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến làm cho nước Nam hoàntoàn độc lập Thâu hết sản nghiệp lớn… của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp
để giao cho Chính phủ công nông binh Quốc hữu hóa toàn bộ đồn điền và đấtđai của bọn đế quốc và tay sai phản cách mạng Việt Nam chia cho nông dânnghèo Tổ chức quân đội công nông Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư
Trang 6sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v để kéo họ đi vào phe vôsản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam
mà chưa ra mặt phản cách mạng thì lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứngtrung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ… Phảiđồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giaicấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp “Đảng là đội tiền phong của vô sảngiai cấp phải thu phục cho được bộ phận mình, phải làm cho giai cấp mìnhlãnh đạo được dân chúng” 1 Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh đầu tiêncủa Đảng đã phản ánh sự vận dụng đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa nửaphong kiến; kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; kết hợptruyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của nhân dân ta với nhữngkinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủnghĩa quốc tế vô sản và kết hợp thực tiễn, yêu cầu của Cách mạng Việt Namvới tư tưởng tiên tiến, cách mạng thời đại Cương lĩnh đầu tiên của Đảng làđường lối chính trị phản ảnh đúng qui luật khách quan, phù hợp nguyệnvọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu của dân tộc, vạch ra mục tiêu, phươnghướng cơ bản của Cách mạng Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cùng với Cương lĩnh đúng đắn đã chấmdứt thời kỳ khủng hoảng đường lối cách mạng kéo dài hơn 7 thập kỷ, mở rathời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam, thời kỳ độc lập dân tộc gắnliền với chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng xác định những vấn đề
cơ bản, định hướng sự phát triển đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam.Nhưng là văn kiện vắn tắt, nên chưa thể bao quát hết những vấn đề lý luận, thựctiễn vốn rất phức tạp của cuộc cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phong kiếnnhư nước ta Do đó, sau Hội nghị thành lập Đảng, đòi hỏi Đảng tiếp tục bổ sung,
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 4.
Trang 7phát triển, từng bước hoàn thiện đường lối cách mạng của Đảng Đó là nhu cầukhách quan của cách mạng, và của chính bản thân Đảng.
3 Luận cương Chính trị (tháng 10 năm 1930) bổ sung, phát triển Cương lĩnh đầu tiên của Đảng
Đồng chí Trần Phú, sau khi nghiên cứu, học tập ở nước ngoài về nước,được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương và được giao nhiệm vụ chuẩn bịLuận cương Chính trị của Đảng Đồng chí đã nghiên cứu khảo sát thực tiễnphong trào cách mạng trong nước; tham khảo tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệmcách mạng của các nước anh em; vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vàothực tiễn Việt Nam; kế thừa Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng đểviết Luận cương Chính trị Luận cương Chính trị do đồng chí Trần Phú soạn thảođược thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng(tháng 10 năm 1930)
Luận cương Chính trị tiếp tục khẳng định sự đúng đắn của con đườngcách mạng trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đề cập và có sự bổsung, phát triển mới Luận cương khẳng định: “Trong lúc đầu cuộc cách mạngĐông Dương sẽ là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền Tư sản dân quyềncách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”2 Sau khi hoàn thành cáchmạng tư sản dân quyền (kiểu mới) tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giaiđoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Xác định hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
tư sản dân quyền là chống đế quốc và phong kiến; mục tiêu là thực hiện độc lập
và dân chủ; chủ lực quân là công nông; phải đoàn kết quốc tế, giành chínhquyền bằng khởi nghĩa vũ trang; cách mạng phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Luận cương Chính trị tháng 10 năm
1930 đều thống nhất khẳng định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giaiđoạn, cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai giaiđoạn có mối quan hệ khăng khít với nhau, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xãhội Luận cương bổ sung, phát triển một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, Luận cương Chính trị chỉ rõ lúc đầu là cách mạng tư sản dân
quyền do giai cấp công nhân lãnh đạo, sau đó bỏ qua thời kỳ tư bản chuyểnsang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, Luận cương xác định
2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 93.
Trang 8những điều kiện bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam.Những điều kiện đó là: Về chủ quan, cách mạng tư sản dân quyền đã thắnglợi, chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo đã được thiết lậptrên phạm vi toàn quốc; khối liên minh công nông được xây dựng và củng cốvững chắc; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản được xác lập trên thực tế Vềđiều kiện khách quan bảo đảm cho sự chuyển biến từ cách mạng tư sản dânquyền lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước phải có sự giúp đỡ quốc tếcủa các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên thế giới Luận cương cũng chỉ rõ,giai đoạn đầu đấu tranh giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày là mụctiêu trực tiếp, tất yếu phải đi qua, nhiệm vụ giai đoạn này thực hiện càng triệt
để càng tạo điều kiện cho giai đoạn sau phát triển vững chắc Giai đoạn xâydựng chủ nghĩa xã hội là phương hướng tiến lên quyết định phát triển củacách mạng Việt Nam, đồng thời có giá trị củng cố, giữ vững thành quả cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân, quyết định tính chất triệt để của giai đoạnđầu Việc xác định đúng phương hướng cách mạng có ý nghĩa hết sức quantrọng, là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở giải quyết đúng đắncác vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, định hướng sự phát triển đúngđắn của cách mạng
Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Luận cương Chính trị (tháng
10 năm 1930) về con đường cách mạng Việt Nam đã được Đảng Cộng sảnViệt Nam thực hiện đối với miền Bắc sau năm 1954, tiến lên chủ nghĩa xãhội; đối với cả nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hoàn thành cách mạng dântộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, chuyển sang giai đoạn cả nước xâydựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Điều đókhẳng định giá trị lý luận, ý nghĩa lịch sử, hiện thực về con đường tiến lên củacách mạng Việt Nam mà các văn kiên đầu tiên của Đảng đã đề cập Với ý nghĩa
đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12 năm 1976)
đã khẳng định: Trong thời đại ngày nay, khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội không thể tách rời nhau, ở nước ta khi giai cấp công nhân giữ vaitrò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhândân cũng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầu của
Trang 9thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự bắt đầu của thời kỳthực hiện nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản.
Thứ hai,Luận cương Chính trị phát triển về phương pháp cách mạng
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã xác định cách mạng nước taphải được tiến hành bằng phương pháp cách mạng bạo lực mới lật đổ đượcchính quyền của bọn thực dân, phong kiến; dựa vào sức mạnh của quần chúngnhân dân được tổ chức lại dưới sự lãnh đạo của Đảng Trung thành với quanđiểm đó, Luận cương Chính trị tháng 10 năm 1930 bổ sung, phát triển phươngpháp cách mạng bạo lực giành chính quyền phải bằng khởi nghĩa vũ trang,không thể là con đường hòa bình, cải lương Luận cương chỉ rõ, khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền không phải là việc bình thường, mà là một nghệthuật, phải theo “khuôn phép nhà binh”; phải đề phòng, ngăn ngừa thái độ
“đùa với khởi nghĩa”; phải đặt khởi nghĩa vũ trang của quần chúng trongkhuôn khổ tình thế cách mạng và theo quy luật của đấu tranh cách mạng.Khởi nghĩa phải dựa trên một cao trào cách mạng của quần chúng, nổ ra đúngthời cơ Thời cơ đó là: Khi kẻ thù hoang mang cực độ, các tầng lớp trung gianngả về phía cách mạng, quần chúng cách mạng và đội tiền phong đã sẵn sàng.Đồng thời, Luận cương cũng chỉ rõ: Lúc thường, chưa có tình thế cách mạngtrực tiếp chỉ sử dụng những hình thức đấu tranh thấp, nhằm đấu tranh giànhquyền dân sinh, dân chủ, thực hiện “đấu tranh phần ít”, qua đó mà tập hợp, tổchức quần chúng và rèn luyện Đảng Khi tình thế cách mạng xuất hiện thìkhẩu hiệu và hình thức đấu tranh phải cao hơn, từng bước đưa quần chúng rađấu tranh từ thấp đến cao, tiến hành khởi nghĩa toàn dân, lập Xô viết, lập hộiđồng tịch ký ruộng đất, sản nghiệp của bọn bóc lột, do giai cấp công nhânkiểm soát…
Nội dung bổ sung, phát triển về phương pháp cách mạng bạo lực trongLuận cương đã thể hiện sự tiếp thu sâu sắc tư tưởng bạo lực cách mạng vàkhởi nghĩa vũ trang của chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp thực tiễn nhu cầu
xã hội Việt Nam Phương pháp cách mạng đó đã giúp cho những người cáchmạng và quần chúng nhân dân chủ động tiến hành đấu tranh, khi tình thế,thời cơ cách mạng xuất hiện kịp thời lãnh đạo tiến hành khởi nghĩa giànhthắng lợi
Trang 10Thứ ba, Luận cương Chính trị bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng
Đảng kiểu mới ở Việt Nam Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chươngtrình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt khẳng định vai trò, vị trí của Đảng “là đội tiềnphong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình,phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”3 Đảng có vững, cáchmạng mới thành công Kế thừa, phát triển tư tưởng cơ bản ấy, Luận cương Chínhtrị một mặt tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Đảng đối với cách mạng ViệtNam, mặt khác, Luận cương đã chỉ ra những nguyên lý về xây dựng Đảng kiểumới ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như nước ta:“Điều kiện cốt yếu cho sựthắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản,
có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quầnchúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành Đảng là đội tiền phong của vô sảngiai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc”4 Sự phát triển về nhữngnguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới do Luận cương Chính trị nêu ra đảm bảo choĐảng luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân, vững mạnh về chính trị, tưtưởng, tổ chức, đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ chính trị của Đảng qua các thời kì, giaiđoạn cách mạng
Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh, côngtác xây dựng Đảng luôn bám sát những nguyên tắc do Luận cương Chínhtrị đã chỉ ra, đảm bảo cho Đảng ta luôn là Đảng chân chính, cách mạnglãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác vàkhông ngừng lớn mạnh, trưởng thành
Bên cạnh những nội dung bổ sung, phát triển nêu trên, Luận cươngChính trị còn một số hạn chế so với Cươnglĩnh đầu tiên được thông qua tạiHội nghị thành lập Đảng
Hạn chế thứ nhất, Luận cương không nêu mâu thuẫn chủ yếu giữa dân
tộc Việt Nam và đế quốc Pháp, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lênhàng đầu Luận cương mới giải quyết được về vấn đề chiến lược, chưa giảiquyết đúng vấn đề sách lược với kẻ thù; chưa xác định được nhiệm vụ, mụctiêu cụ thể trước mắt Đó là hạn chế mang tính “tả” khuynh, nóng vội
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 4.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 100.
Trang 11Hạn chế thứ hai, Luận cương đánh giá không đúng khả năng cách
mạng của giai cấp tiểu tư sản và mặt yêu nước của giai cấp tư sản dân tộc,một bộ phận địa chủ nhỏ, chỉ thấy mặt do dự, cải lương của các giai cấp đó, từ
đó không coi họ là lực lượng của cách mạng tư sản dân quyền Từ hạn chế đó,Luận cương Chính trị chưa đưa ra được chủ trương thành lập một mặt trậnthống nhất rộng rãi để phát huy sức mạnh của cả dân tộc vào nhiệm vụ chống
đế quốc, phong kiến, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc, người cày có ruộng
Những hạn chế trên, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhânchủ quan, trước hết là do trình độ của Đảng lúc đó còn hạn chế, chưa từngtrải, chưa nắm vững thực tiễn cách mạng ở một nước thuộc địa nửa phongkiến, chưa nhận thức sâu sắc đặc điểm truyền thống đấu tranh của dân tộc;đặc biệt, chưa nghiên cứu kỹ và tiếp thu được những tư tưởng cơ bản trongChính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng; có biểu hiện vận dụng máymóc quan điểm của Quốc tế Cộng sản và kinh nghiệm của nước ngoài
Về nguyên nhân khách quan, do tình hình thực tiễn thế giới và ở ViệtNam vào thời điểm đó cũng tác động đến nhận thức của những người đượcgiao nhiệm vụ soạn thảo Luận cương Chính trị Trên thế giới, giai cấp tư sản
đã trở thành giai cấp phản động, chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa
đế quốc Giai cấp tư sản đã phản bội lại lợi ích của dân tộc mình, đang ráo riếtchuẩn bị chiến tranh xâm lược các nước khác Vào thời điểm lịch sử đó, cáchmạng vô sản trên thế giới chưa có tiền lệ về sự liên minh thành công giữa giaicấp vô sản với giai cấp tư sản Thực tiễn cách mạng Nga, cách mạng TrungQuốc, cách mạng Ấn Độ đã chứng minh điều đó
Ở Việt Nam, vào thời điểm của những năm 30 thế kỷ XX, mặt tích cựccủa giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc chưa bộc lộ rõ, trong khi đó một sốđảng phái của các giai cấp đó lại theo khuynh hướng quốc gia cải lương, cóbiểu hiện ngăn cản sự phát triển của phong trào vô sản, phong trào giải phóngdân tộc
So với Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt thìLuận cương Chính trị có sự bổ sung, phát triển rất cơ bản và quan trọng Luậncương Chính trị đã kế thừa, phát triển những nội dung cơ bản của Chínhcương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt Bên cạnh đó Luận
Trang 12cương Chính trị có những hạn chế nhất định, do những nguyên nhân chủ quan
và khách quan nói trên Không vì thế mà cho rằng Luận cương Chính trị đối lậpvới Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt Không nêncho rằng Luận cương Chính trị nhấn vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, Chínhcương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt nhấn vấn đề dân tộc vàđấu tranh dân tộc Cần khẳng định, Luận cương Chính trị và Chính cương, Sáchlược vắn tắt thống nhất trên những vấn đề cơ bản của đường lối cách mạng ViệtNam Cả hai văn kiện trên đều giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp,giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xãhội, đó là đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt,nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ khi
từ đầu Ở trong nước, Chính phủ Pháp thi hành chính sách phát xít, giải tánĐảng Cộng sản Pháp và các Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa, thủ tiêuluật xã hội, các quyền tự do dân chủ Ở Đông Dương, chúng thi hành chínhsách khủng bố, ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp bóc củacải của nhân dân Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh, làm cho mâuthuẫn giữa toàn thể các dân tộc ở Đông Dương với đế quốc Pháp ngày càngsâu sắc hơn Tình thế cách mạng xuất hiện Đảng kịp thời chuyển hướng chỉđạo chiến lược, đưa cách mạng tiến lên từng bước vững chắc Trước tình hìnhmới, Đảng đã họp Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (tháng 11 năm 1939), Hộinghị Trung ương lần thứ bảy (tháng 11 năm 1940) và Hội nghị Trung ươnglần thứ tám (tháng 5 năm 1941), tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối giải phóngdân tộc trên những nội dung sau:
Đảng chủ trương đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai, giải phóng dântộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất
Trang 13Cách mạng Đông Dương lúc này phải là cách mạng giải phóng dân tộc,
đó là một kiểu của cách mạng tư sản dân quyền Chống đế quốc và chốngphong kiến là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền luôn quan
hệ khăng khít với nhau Nhiệm vụ cốt yếu trước mắt là đánh đổ đế quốc vàtaysai giải phóng Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Nghịquyết nêu: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có conđường nào khác là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoạixâm vô luận là da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc”5 Về hậuquả của Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đảng chỉ rõ: “Cuộc khủng hoảngkinh tế, chính trị gây nên bởi đế quốc chiến tranh lần này sẽ nung nấu cáchmạng Đông Dương bùng nổ và tiền đồ cách mạng Đông Dương nhất định sẽvinh quang rực rỡ”6 Đồng thời, Đảng khẳng định: “Cách mạng phản đế vàcách mạng giải phóng dân tộc cao hơn, thiệt dụng hơn, song nếu không làmđược cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế khó thành công Tính chất cơbản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương không thay đổi”7
Mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đế quốc tay sai,giải phóng dân tộc làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Cuộc cách mạnggiải phóng dân tộc Đông Dương vẫn bao gồm hai nội dung chống đế quốc vàchống phong kiến Đó là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sản dânquyền Nhưng lúc này phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc tay saigiải phóng dân tộc Đảng xác định: Trong lúc này nếu không giải quyết đượcvấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc,thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, màquyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được
Trong lúc đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai, giải phóng dân tộc lênhàng đầu, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịchthu ruộng đất của đế quốc Pháp và những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộcchia cho nông dân nghèo, chưa đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ phong kiến;thực hiện giảm tô, giảm tức, xóa nợ, hoãn nợ cho nông dân
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 536.
66 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 112-113.
77. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 536.
Trang 14Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trên là hoàn toàn đúng đắn,đáp ứng đòi hỏi của các giai tầng trong xã hội lúc bấy giờ, cho phép tập hợp,mọi giai cấp tầng lớp trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi để thựchiện nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng đề ra.
Vấn đề dân tộc được giải quyết trong phạm vi từng nước trên nguyêntắc tôn trọng độc lập, tự do, bình đẳng và tự nguyện của các dân tộc ĐôngDương Chủ trương này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin về quyền dân tộc tự quyết, vừa phù hợp với tư tưởng của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Giải quyết vấn đềdân tộc trong từng nước là để khai thác, phát huy sức mạnh của từng dântộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời không ngừng tăng cường,đoàn kết liên minh chiến đấu giữa các dân tộc Đông Dương chống kẻ thùchung, giải phóng các dân tộc ở Đông Dương
Thực hiện chủ trương trên, mỗi nước trên bán đảo Đông Dương thànhlập một Mặt trận dân tộc thống nhất riêng Ở Việt Nam thành lập Việt Namđộc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh Ở Lào thành lập Ai Lao độclập đồng minh và ở Campuchia thành lập Cao Miên độc lập đồng minh Chủtrương đó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân các dân tộc Đông Dương,phù hợp với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới chống phát xít vàxâm lược, bảo đảm cho cách mạng ở các nước Đông Dương thành công
Về lực lượng cách mạng, Đảng chủ trương: Công nông phải đưa cao cây
cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tưsản và những tầng lớp tư sản bản xứ, trung, tiểu địa chủ còn căm tức đế quốc,
vì sự căm tức này có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc
Đảng còn chủ trương thành lập các hội cứu quốc thay cho các hội phản
đế trước đây Do đó các tổ chức quần chúng đều lấy tên là cứu quốc: Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Trên
cơ sở xây dựng lực lượng chính trị, tiến hành xây dựng lực lượng vũ trang làmnòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân
Về vấn đề khởi nghĩa, các Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, Trungương lần thứ bảy đã có những dự kiến và đưa ra phác thảo đầu tiên về khởinghĩa giành chính quyền Sau này, căn cứ vào kinh nghiệm các cuộc khởi
Trang 15nghĩa Bắc Sơn (ngày 27 tháng 9 năm 1940), Nam Kỳ (ngày 23 tháng 11 năm1940) và cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương (ngày 13 tháng 1 năm 1941),Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5 năm 1941) đã xác định rõ điều kiện
và hình thái khởi nghĩa ở Việt Nam
Xuất phát từ tình hình thực tiễn, Đảng xác định chuẩn bị khởi nghĩa
là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân, dự báo thời cơ đến với lựclượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từngđịa phương cũng có thể giành thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổngkhởi nghĩa to lớn Hình thái khởi nghĩa ở nước ta sẽ đi từ khởi nghĩa từngphần, tiến lên tổng khởi nghĩa
Về vấn đề xây dựng Đảng, các nghị quyết Trung ương lần thứ sáu,Trung ương lần thứ bảy và Trung ương lần thứ tám đều nêu chủ trương nhanhchóng chuyển hoạt động của Đảng từ công khai, bán công khai của nhữngnăm 1936 - 1939, sang hoạt động bí mật, bất hợp pháp Tập trung xây dựngĐảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đủ sức lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩagiành chính quyền trong cả nước Tập trung xây dựng cơ sở đảng ở các trungtâm kinh tế, chính trị, văn hóa, chủ động, kịp thời lãnh đạo khởi nghĩa khi thời
cơ đến
Những nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược thời kỳ 1939 - 1945đánh dấu sự trưởng thành của Đảng giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụchiến lược và chỉ đạo chiến lược Về nhiệm vụ chiến lược: Kiên định nhiệm
vụ chống đế quốc và chống phong kiến giành độc lập cho dân tộc, ruộng đấtcho dân cày Về chỉ đạo chiến lược: Đặt nhiệm vụ chống đế quốc, tay sai, giảiphóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất Đó làchủ trương đúng đắn, sáng tạo, là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thắng lợi củaCách mạng Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền trong cả nước
5 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II năm 1951 của Đảng phát triển, hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Sau 16 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng(tháng 3 năm 1935), tình hình thế giới, trong nước có nhiều thay đổi Cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta có bước pháttriển mới, triển vọng giành thắng lợi đã rõ ràng Để tiếp tục lãnh đạo kháng
Trang 16chiến đến thắng lợi hoàn toàn, Đảng kịp thời tổng kết thực tiễn hơn 20 nămđấu tranh cách mạng (1930 - 1951), tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn chỉnhđường lối cách mạng, kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo đưakháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm
1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng được tiến hành tại xãVinh Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Đại hội đã thảo luận Báocáo Chính trị của đồng chí Hồ Chí Minh, Báo cáo “Bàn về cách mạng ViệtNam” của đồng chí Trường Chinh và các văn kiện quan trọng khác của Đảng
Đại hội đã bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân trên những nội dung chủ yếu sau:
Đại hội phát triển, hoàn chỉnh mối quan hệ giữa hai giai đoạn cáchmạng Lần đầu tiên Đảng đưa ra khái niệm cách mạng dân tộc dân chủ nhândân thay cho khái niệm cách mạng tư sản dân quyền trước đây Xét về bảnchất, hai khái niệm này không có gì khác nhau, nhưng xác định cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân để nói rõ tính chất của cuộc cách mạng, nhằm giảiquyết mâu thuẫn xã hội lúc bấy giờ là xã hội dân chủ nhân dân, một phầnthuộc địa nửa phong kiến Yêu cầu khách quan phải giải quyết mâu thuẫnxây dựng chế độ dân chủ nhân dân với những lực lượng phản động ngăn cảnmục tiêu ấy Cuộc cách mạng đó, cho phép huy động lực lượng của cả dântộc để thực hiện mục tiêu chung: độc lập dân tộc, người cày có ruộng, đấtnước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời Đảng còn chỉ rõ mỗigiai đoạn cách mạng có đối tượng, nhiệm vụ, lực lượng, phương pháp cáchmạng, hình thức tổ chức nhà nước khác nhau Song, giữa hai giai đoạn cómối quan hệ khăng khít với nhau không thể tách rời Kết thúc giai đoạn một
là sự mở đầu của giai đoạn hai, giữa hai giai đoạn cách mạng không có bứctường ngăn cách
Về mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến,Đảng khẳng định về mặt chiến lược chống đế quốc, chống phong kiến phảikết hợp đồng thời, song song với nhau Về chỉ đạo chiến lược, hai nhiệm vụ
đó tiến hành không nhất loạt ngang nhau, phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc,tay sai, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến rải ratừng bước có kế hoạch, phục tùng, phục vụ nhiệm vụ chống đế quốc Đại hội
Trang 17chỉ rõ ba bước chống phong kiến là: Bước một, đánh đổ chính quyền thực dânphong kiến, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian, chia lại ruộng côngcho dân cày nghèo Bước hai, thực hiện giảm tô, giảm tức làm suy yếu các thếlực địa chủ phong kiến Bước ba, thực hiện cải cách ruộng đất, giải quyết triệt
để khẩu hiệu “người cày có ruộng”
Về sắp xếp lực lượng cách mạng, Báo cáo “Bàn về cách mạng ViệtNam” đã chỉ rõ: lực lượng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân baogồm bốn giai cấp: công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc Động lựcchính của cách mạng là công nhân, nông dân, tiểu tư sản Động lực chủ yếu làcông nhân, nông dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Đảng chủ trươngtiếp tục con đường cách mạng bạo lực để tiến hành kháng chiến Bạo lực được
sử dụng với hai lực lượng, lực lượng chính trị, lực lượng quân sự, với hai hìnhthức đấu tranh: đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự Trong đó, lực lượngquân sự và đấu tranh quân sự giữ vai trò quyết định, lực lượng chính trị, đấutranh chính trị giữ vai trò hỗ trợ quan trọng Phương thức đấu tranh từ chiếntranh du kích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kíchvới chiến tranh chính quy; kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; phươngchâm chiến lược là đánh lâu dài; chủ động giành thắng lợi càng sớm càng tốt
Về công tác xây dựng Đảng, Đại hội đã quyết định đưa Đảng ra hoạtđộng công khai, trực tiếp lãnh đạo kháng chiến Ở mỗi nước trên bán đảoĐông Dương sẽ thành lập một Đảng Cộng sản riêng, trực tiếp lãnh đạo cáchmạng nước mình, đồng thời các Đảng ở mỗi nước phải phối hợp, giúp đỡnhau trong sự nghiệp chống kẻ thù chung, giải phóng dân tộc
Thực hiện chủ trương đó, ở Việt Nam đổi tên Đảng Cộng sản ĐôngDương thành Đảng Lao động Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo cách mạng ViệtNam Sau đó ở Lào và ở Campuchia thành lập Ban vận động thành lập Đảng ởmỗi nước Đến ngày 28 tháng 6 năm 1951, Đảng Nhân dân cách mạngCampuchia ra đời Ngày 22 tháng 3 năm 1955, Đảng Nhân dân cách mạng Làođược thành lập Từ đó, cách mạng ba nước Đông Dương bước vào thời kỳ pháttriển mới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc ở mỗinước
Trang 18Đại hội lần thứ II (tháng 2 năm 1951) của Đảng đánh dấu một mốcquan trọng trong tiến trình cách mạng Việt Nam Đường lối cách mạng dântộc dân chủ nhân dân được Đại hội bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh, đáp ứngyêu cầu trước mắt và lâu dài của cách mạng Việt Nam, cách mạng ba nướcĐông Dương Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ hai của Đảng là Đại hội kháng chiến; nhiệm vụ chính của Đạihội là đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Laođộng Việt Nam vững mạnh toàn diện
Đại hội đánh dấu sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, theo đường lối cách mạng dân tộc dân chủnhân dân, toàn dân, toàn quân đã đẩy mạnh công cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và can thiệp Mỹ thắng lợi, góp phần thúc đẩy cách mạng ĐôngDương, cách mạng thế giới phát triển
Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân của Đảng đượchình thành từ Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, lần lượt được bổsung, phát triển qua các văn kiện: Luận cương Chính trị (tháng 10 năm1930), các nghị quyết: Nghị quyết Trung ương lần thứ sáu, lần thứ bảy,lần thứ tám (năm 1939, năm 1940, năm 1941), đến Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ II của Đảng phát triển và hoàn chỉnh Đó là quá trình tổngkết thực tiễn, nghiên cứu lý luận của Đảng, để lại cho Đảng ta nhiều kinhnghiệm quý, có thể vận dụng trong việc hình thành, phát triển, hoàn chỉnhđường lối xây dựng đất nước sau này
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Tính tất yếu xây dựng, bổ sung, phát triển đường lối cách mạngDTDCND của Đảng?
2 Qúa trình phát triển nhận thức của Đảng về giải quyết mối quan hệchống đế quốc và chống phong kiến trong cách mạng DTDCND?
3 Sự phát triển về phương pháp cách mạng bạo lực trong đấu tranhgiành chính quyền của Luận cương Chính trị tháng 10-1930 so với Cươnglĩnh đầu tiên tháng 2-1930 ?
4 Ý nghĩa quá trình bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh đường lối trongcách mạng DTDCND?
Trang 19TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu tham khảo bắt buộc
1 Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, VKĐ, Toàn tập, tập 2, Nxb
Chính trị Quốc gia, H tr.2-9
2 Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 19981
3 Luận cương chánh trị của Đảng, VKĐ, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, tr.88-103
4 Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (11-1939, tr.509-567),7 (11-1940, tr 20-82), 8 (5-1941, tr 96-136), VKĐ, Toàn tập, tập
6,7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5 Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng 1951), VKĐ, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 427-496
(2-* Tài liệu tham khảo không bắt buộc
1 Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Vấn đề dân cày, Nhà xuất bản Sựthật, Hà Nội, 1959
2.Lâm Quang Huyên, Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nhà xuất bảnKhoa học xã hội, Hà Nội, 2007
3.Lê Quỳnh Nga, Tìm hiểu chính sách ruộng đất của Đảng trong khángchiến chống Pháp (1930-1954), Tạp chí Lịch sử Đảng tháng 3/2007
4.Trịnh Nhu, Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân Việt Nam(1930-1945), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
5.Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, Thắng lợi và bài học, NxbCTQG, H.1996
6 Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thắng lợi và bàihọc, Nxb CTQG, H.1995
Trang 20Chuyên đề 2 CÁC ĐẢNG PHÁI TRONG THỜI KỲ 1945-1946
MỤC TIÊU
- Về kiến thức: Trang bị cho người học nắm được sự hình thành các
đảng phái và ảnh hưởng của nó đối với cách mạng thời kỳ 1945-1946; Nắmđược những kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện đa đảng
Ý nghĩa lịch sử và hiện thực
- Về kỹ năng: Tạo cho học viên tư duy khoa học độc lập, biết vận dụng
giải quyết các vấn đề thực tiễn hiện nay
- Về tư tưởng: Kiên định, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam; tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức saitrái
NỘI DUNG
1 Sự hình thành và ảnh hưởng của các đảng phái trong thời kỳ 1945 – 1946
Thời kỳ 1945-1946 diễn ra trong khoảng thời gian hơn một năm nhưng
có nhiều sự kiện lịch sử in đậm dấu ấn trong lịch sử cách mạng Việt Namdưới sự lãnh đạo của Đảng Đây là thời kỳ tồn tại chế độ đa đảng duy nhất ởViệt Nam tính đến thời điểm hiện tại Các đảng phái chính trị thời kỳ này baogồm các đảng phái cách mạng và các đảng phái phản cách mạng
1.1 Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh
Đảng Cộng sản Đông Dương, được thành lập đầu năm 1930 Đảng ra
đời cùng với đường lối chính trị đúng đắn đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng
về đường lối cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt lịch sử của cách mạngViệt Nam Trải qua 15 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-1945), Đảng
đã khẳng định vai trò độc tôn lãnh đạo cách mạng, uy tín của Đảng đượckhẳng định trên thực tế thông qua những thắng lợi của cách mạng, trong đóthắng lợi vĩ đại nhất là Đảng lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa giành chính quyềntrong cả nước (8/1945) Với thắng lợi đó, Đảng ta từ hoạt động bí mật, bấthợp pháp trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo chính quyền trong cả nước
Do so sánh lực lượng còn bất lợi cho cách mạng trong những năm1945-1946 và thực hiện sách lược hoà hoãn có nguyên tắc trong thời kỳ đó,
Trang 21ngày 11/11/1945 Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán và thànhlập “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác” Thực chất, Đảng rút vào hoạt động bímật, nhưng vẫn lãnh đạo cách mạng, Đảng vẫn tồn tại cùng với mặt trận ViệtMinh và các đảng phái chính trị khác.
Mặt trận Việt Minh, được thành lập ngày 19/5/1941 theo Quyết
định của Hội nghị Trung ương VIII (5/1941) Ngày 25/10/1941, Mặt trậntuyên bố Tuyên ngôn, Chương trình và Điều lệ của mình Mặt trận đãđoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam, phấn đấu:
“Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập” và “Làm cho dân Việt Namđược sung sướng, tự do”
Mặt trận Việt Minh là một tổ chức chính trị có uy tín và ảnh hưởng rấtsâu rộng trong nước và quốc tế
Mặt trận là nền tảng của chính quyền cách mạng, là người đại diện choĐảng Cộng sản Đông Dương, thông qua hoạt động của Mặt trận, Đảng thựchiện vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam
Mặt trận là người đứng ra tiếp nhận quân Đồng minh vào nước ta giảigiáp vũ khí quân đội Nhật
Mặt trận đảm nhiệm vai trò giải quyết các mối quan hệ và công việc đốivới các đảng phái chính trị thời kỳ này
Thí dụ: Ngày 29/9/1945, Mặt trận Việt Minh đã ký với Việt Nam Quốcdân Đảng một bản thoả hiệp với các nguyên tắc: 1 Đình chỉ các xung độtgiữa hai đoàn thể cách mạng 2 Thả những đảng viên hai bên đã bị bắt và giữlại những tang vật đã bị tịch thu 3 Bãi bỏ những cuộc bắt bớ và bỏ thái độtuyên truyền công kích lẫn nhau Hai bên đã thống nhất chương trình này phảiđược thi hành ngay để đi đến một cuộc hợp tác chặt chẽ giữa hai đoàn thểcách mạng (Đại diện Việt Minh: ông Nguyễn Lương Bằng, đại diện Việt NamQuốc dân Đảng: ông Chu Bá Phượng đã ký)
1.2 Đảng Dân chủ Việt Nam
- Ngày 3/6/1944, Việt Nam Dân chủ Đảng được thành lập tại ThanhXuân, Hà Nội Đến Đại hội II (Tháng 2/1951) đổi tên thành Đảng Dân chủViệt Nam Đây là đảng Cách mạng của tư sản dân tộc, trí thức tiểu tư sản yêu
Trang 22nước tiến bộ Đảng Dân chủ ra đời tham gia Mặt trận Việt Minh, mở rộngthêm Mặt trận Dân tộc thống nhất, đồng thời đập tan âm mưu của Phát xítNhật định lôi kéo học sinh, sinh viên, trí thức theo Nhật.
Từ khi thành lập (Tháng 3/1944) đến khi kết thúc hoạt động (1989),Đảng Dân chủ luôn nằm trong Mặt trận dân tộc thống nhất, thừa nhận sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản và đi theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tuy nhiên, trong từng thời kỳ, Đảng này có những diễn biến phức tạp,
họ nhất trí trên mặt trận chống đế quốc, còn một số mặt khác thì có nhiều vấn
đề chưa thống nhất hoàn toàn với ta
Ví dụ: Năm 1945, xứ uỷ Nam Bộ giao cho họ phụ trách một số đơn vịquân đội ở phía Nam Khi Đảng có chủ trương thực hiện nguyên tắc Đảnglãnh đạo tuyệt đối Quân đội, một số đảng viên Đảng Dân chủ bất mãn, khôngtán thành chủ trương đó lợi dụng vấn đề này để chia rẽ nội bộ Mặt trận
Ở miền Bắc, từ khu IV trở ra đã xảy ra sự chống đối, bất đồng giữa một
số đảng viên Đảng Dân chủ với Đảng Cộng sản Việt Nam…
Ở các thời kỳ sau này, nhất là khi chúng ta gặp nhiều khó khăn thì diễnbiến tư tưởng của số đảng viên Đảng Dân chủ càng phức tạp Điển hình là thời kỳ1949-1957, họ đấu tranh đòi liên minh lãnh đạo, chia sẻ quyền lãnh đạo với ĐảngCộng sản Họ đòi mở rộng chính phủ, đòi được một ghế Phó Thủ tướng Về chínhtrị, họ muốn tự do theo kiểu tư sản, không tán thành chuyên chính vô sản Về kinh
tế, họ muốn phát triển tư bản chủ nghĩa Về văn hoá, họ đồng tình với phái “Nhânvăn Giai phẩm”, không muốn Đảng can thiệp vào văn hoá, văn nghệ Muốn thựchiện phương châm “Trăm hoa đua nở”, gây tình hình xã hội phức tạp hơn
Nhưng có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà nội bộ ĐảngDân chủ đã đi dần vào đúng quỹ đạo, chịu sự lãnh đạo của Đảng Sau cuộcđấu tranh nội bộ của Đảng Dân chủ (tháng 3/1957 đến tháng 5/1957), nhữngphần tử cơ hội trong Đảng Dân chủ đã bị phát hiện, xử lý kịp thời Từ đó trở
đi, Đảng Dân chủ hoạt động mãnh mẽ
Đến năm 1989, Đảng Dân chủ tuyên bố kết thúc hoạt động
Mặc dù có những lệch lạc, sai lầm nhất định trong từng thời gian cụthể Nhưng với tinh thần dân tộc của Đảng Dân chủ và đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản, Đảng Dân chủ đã góp phần vào thắng lợi to lớn của dân tộc ta
Trang 23Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Đảng Dânchủ cho thấy: tuy là Đảng Cộng sản Việt Nam giúp họ tổ chức ra chính đảng của
họ và lãnh đạo họ, nhưng nếu không khôn khéo thì chính họ lại gây cho ta thêmnhiều khó khăn, phải luôn cảnh giác, tích cực, chủ động nắm bắt những vấn đềmới nảy sinh trong Đảng Dân chủ và xử lý kịp thời, nhất là khi cách mạng gặpkhó khăn
1.3 Đảng Đại Việt
Là tên gọi chung của nhiều tổ chức Đại Việt do một số đảng viên củaViệt Nam Quốc dân Đảng cũ Đó là các tổ chức thoái hoá, một số tri thức,quan lại phong kiến, công chức phản động lập ra
- Đại Việt Quốc dân đảng, do Trương Tử Anh thành lập, năm 1938;
- Đại Việt Dân chính, do Nguyễn Tường Tam thành lập, năm 1940;
- Đại Việt Ái quốc, do Nguyễn Xuân Chữ thành lập, năm 1941;
- Đại Việt Quốc xã, do Trương Đình Vũ thành lập, năm 1941
Đây là những tổ chức Đại Việt ở từng địa phương, ảnh hưởng của họkhông lớn nên lực lượng xã hội đi theo họ không nhiều và các thế lực phảnđộng thực dân phong kiến cũng không hoàn toàn tin vào Đại Việt Khi Nhậtđảo chính Pháp (9/3/1945), các tổ chức Đại Việt nhập lại thành Đại Việt quốcgia liên minh phát triển lực lượng, nhất là lực lượng vũ trang để chống lại ảnhhưởng của Mặt trận Việt Minh
Về lực lượng, Đại Việt chủ yếu phát triển trong đội ngũ trí thức, quanlại, công chức bất mãn, đồng thời còn lôi kéo một số học sinh, sinh viên Lựclượng của Đại Việt phát triển mạnh hơn là ở vùng Trung du miền núi phía Bắcnhư ở : Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc…
Cách mạng Tháng Tám thành công ngày 5/9/1945, Chủ tịch Hồ ChíMinh ký sắc lệnh giải tán Đại Việt Quốc dân đảng và Đại Việt Quốc gia xãhội đảng là hai tổ chức Đại Việt chính trong thời kỳ này
1.4 Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), đây là tổ chức phản
động đáng chú ý nhất trong thời kỳ 1945-1946 Chúng có tổ chức, lựclượng và thực hiện chống phá cách mạng một cách quyết liệt, gây cho tanhiều khó khăn
Trang 24Vào đầu năm 1927, một số thanh niên trí thức, nhà báo đã lập ra “NamĐồng thư xá” ở Hà Nội Tại đây, họ bán sách, báo nói về Cách mạng Tân HợiTrung Quốc, nói về Tôn Trung Sơn để tuyên truyền dân chúng về cách mạngdân chủ cũ và tập hợp thanh niên có khuynh hướng quốc gia và yêu nước
Ngày 23/12/1927, chính thức thành lập Việt Nam Quốc dân đảng Sánglập ra Đảng này phần lớn là các thành viên của “Nam Đồng Thư xá” như:Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài…Người đứng đầu là Nguyễn Thái Học
Ngay từ khi mới ra đời Việt Nam Quốc dân đảng có Chương trình và Điều lệ như sau:
- Lý thuyết chính trị là xã hội dân chủ
- Mục đích thành lập là: tập hợp các lực lượng trong dân tộc Việt Namlàm cách mạng quốc gia, thành lập ngay một nền dân chủ, giúp đỡ các dân tộccòn đang bị áp bức
- Việt Nam Quốc dân Đảng chủ trương làm cách mạng xã hội nhưngkhông tán thành đấu tranh giai cấp; làm cách mạng dân chủ chỉ đánh đổ ngôivua, không đánh đổ giai cấp địa chủ, phong kiến nói chung
- Phương pháp cách mạng nặng về ám sát cá nhân, bạo động, đảo chính
Về tổ chức của Việt Nam Quốc dân Đảng, lấy chi bộ làm căn bản, mỗi chi
bộ có trên dưới hai mươi người Trên chi bộ có huyện bộ, tỉnh bộ, kỳ bộ vàtổng bộ
Mỗi chi bộ có các uỷ viên, tuyên truyền, tổ chức, tài chính, trinh thám,lên tới Tổng bộ thì tổ chức thành các ban như: Ban Tuyên truyền, huấn luyện,Ban Tổ chức, Ban Kinh tế tài chính…
Việt Nam Quốc dân đảng chú trọng phát triển đảng viên trong giai cấp
tư sản, tiểu tư sản, trung nông, phú nông, địa chủ, binh lính Đến đầu năm
1929, Việt Nam quốc dân đảng có 120 chi bộ, 1500 đảng viên và cảm tình củaĐảng (trong đó có 120 binh sĩ)
Hoạt động của Việt Nam Quốc dân Đảng:
- Mới đầu, họ tổ chức ra “Nhà hàng Việt Nam” tại phố Hàng Bông, HàNội, để buôn bán, tạo quỹ hoạt động của Đảng và là nơi đặt trụ sở của ViệtNam Quốc dân Đảng
Trang 25- Đầu năm 1929, họ tổ chức phong trào chống bắt phu và tổ chức ámsát tên mộ phu Ba – zanh.
- Tháng 6/1929, Nguyễn Thái Học rút kinh nghiệm chấn chỉnh lại tổchức theo hướng nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái
Mục đích làm cách mạng dân tộc, cách mạng chính trị và cách mạng
xã hội
Hoạt động Việt Nam quốc dân đảng phân làm 4 thời kỳ: Thời kỳ nuôidưỡng (Hết sức bí mật); Thời kỳ chuẩn bị (Tương đối bí mật); Thời kỳ hoạtđộng công khai, bạo động; Thời kỳ kiến thiết lại, nắm chính quyền
- Tháng 2/1930, Việt Nam Quốc dân đảng lãnh đạo khởi nghĩa Yên Báinhưng bị thất bại Thất bại này đánh dấu sự chấm dứt về vai trò lãnh đạo củagiai cấp tư sản Việt Nam đối với cách mạng Việt Nam thông qua Việt NamQuốc dân đảng
- Việt Nam Quốc dân Đảng tan rã, hàng ngũ bị phân hoá, một số chạysang Trung Quốc tập hợp nhau lại thành lập nên Việt Nam Quốc dân đảng,nhưng bản chất đã thay đổi, chúng trở thành tay sai của Tưởng, sau này trở vềhoạt động chống phá cách mạng, đứng đầu là Vũ Hồng Khanh
Tháng 8 năm 1945, theo chân quân Tưởng, Vũ Hồng Khánh và NguyễnTường Tam cầm đầu Việt Nam Quốc dân Đảng về nước ta Chúng dựa vào quânTưởng tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng, thành lập chính phủ do bọn phảnđộng cầm đầu
Về nước, Việt Nam Quốc dân Đảng sát nhập với Đảng Đại Việt nhưngvẫn lấy tên là Việt Nam Quốc dân Đảng Thời kỳ này, cơ quan lãnh đạo tốicao (bí mật) của Việt Nam Quốc dân Đảng có: Trương Tử Anh, Nguyễn Tiến
Kỷ, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ và Nguyễn Tường Tam
Cơ quan lãnh đạo công khai của Việt Nam Quốc dân Đảng gồm:
- Chủ tịch đoàn có:
+ Chủ tịch: Trương Tử Anh
+ Bí thư Trung ương: Vũ Hồng Khanh
+ Ủy viên Chủ tịch đoàn: Xuân Tùng, Nguyễn Tường Long (người củaĐại Việt), và Phạm Khải Hoàn (Đại Việt Quốc dân Đảng)
Trang 26- Uỷ viên Trung ương có:
+ Tổng thư ký: Nguyễn Tường Tam
+ Uỷ viên: Nguyễn Tường Bách, Chu Bá Phượng
- Đảng kỳ: nền đỏ, vàng, xanh, sao trắng ở giữa
- Đảng ca: bài hát “Việt Nam… trời đông”
Từ khi về nước Việt Nam Quốc dân Đảng chống phá cách mạng rất quyết liệt
Họ đã lập được chính quyền phản cách mạng ở một số nơi: Vĩnh Yên, Yên Bái
Việt Nam Quốc dân Đảng còn lập ra các chiến khu để làm căn cứchống phá ta quyết liệt như: Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam…Đệ thất chiến khu
Việt Nam Quốc dân Đảng cùng với các lực lượng phản động còn tiếnhành hàng loạt các vụ cướp phá, tống tiền, giết người, cướp của gây hoangmang trong dân chúng Chính họ là thủ phạm của vụ Ôn Như Hầu (7/1946)
Khi quân Tưởng rút về nước, cơ bản Việt Nam Quốc dân Đảng tan rã
1.5 Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách), là một tổ chức liên
minh các đảng phái, cá nhân lưu vong ở Trung Quốc do Mỹ và Tưởng lập ra
Việt Nam cách mạng đồng minh hội thành lập ngày 1/10/1942 tại LiễuChâu, Trung Quốc do Nguyễn Hải Thần làm chủ tịch
Về tổ chức của Việt Nam cách mạng đồng minh hội có:
Ban Chấp hành cũng là chính phủ lâm thời gồm: Nguyễn Hải Thần(Chủ tịch), Nguyễn Bội Công (Bộ trưởng Quốc phòng), Vũ Hồng Khanh (Bộtrưởng Nội vụ), Nghiêm Kế Tổ (Bộ trưởng Ngoại giao), Nguyễn Minh Du(Bộ trưởng Kinh tế), Trương Trung Phụng (Bộ trưởng Không bộ), Trần Bài(Bộ trưởng Giáo dục)
Mục đích của Việt Nam cách mạng đồng minh hội đề ra là: đánh Nhật,đuổi Pháp, giành độc lập dưới sự giúp đỡ của Chính phủ Trung Hoa và dựatheo đường lối cách mạng của Tôn Trung Sơn
Hoạt động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội từ 1942-1945.Khi mới thành lập, chúng tập trung huấn luyện ở Liễu Châu, TrungQuốc do sĩ quan Tưởng phụ trách Tháng 8 năm 1943, chúng dự định tiếnhành Đại hội Việt Nam cách mạng đồng minh hội tại Liễu Châu nhưng khôngthành Tháng 9 năm 1945, Việt Nam cách mạng đồng minh hội theo chânTưởng về nước, chúng tổ chức lại Ban chấp hành gồm có:
Trang 27Nguyễn Hải Thần (Chủ tịch), Vũ Hồng Khanh (Bí thư), Chu BáPhượng (Bộ trưởng Tổ chức), Nghiêm Kế Tổ (Bộ trưởng Ngoại giao),Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Tường Bách (Phụ trách Báo chí) Chúng đặttrụ sở ở phố Hàng Bún, Hà Nội.
Việt Nam cách mạng đồng minh hội danh nghĩa thì lớn nhưng không cólực lượng, chúng chống ta không quyết liệt bằng bọn Việt quốc Song, hànhđộng chống phá của chúng cũng rất nguy hiểm cho cách mạng trong thời kỳ1945-1946 Do ta cảnh giác nên có chủ trương, đối pháp với chúng, hạn chếnhiều sự chống phá của chúng đối với cách mạng
Sau khi quân Tưởng rút, Việt cách tan rã hoàn toàn, một số tên tiếp tụcchạy sang Trung Quốc nhưng không hoạt động gì với danh nghĩa là Việt Namcách mạng đồng minh hội
2 Hoàn cảnh lịch sử phải chấp nhận các đảng phái đối lập và đối sách của ta
Các đảng phái phản động thời kỳ này chống phá cách mạng rất quyếtliệt gây cho ta nhiều khó khăn Do đó, chính trị thì phức tạp thêm, kinh tế,đời sống nhân dân ngày càng khó khăn; quân sự phải tăng cường lực lượng đểđối phó với chúng, nên không thể tập trung lực lượng để chống Pháp Tronghoàn cảnh đó, buộc ta phải chấp nhận một nền chính trị có sự hoạt động hợppháp của các đảng phái đối lập, thù địch Đây là thời kỳ đa đảng ở Việt Nam
2.2 Đối sách của Đảng với các đảng phái đối lập
Điểm nổi bật nhất trong chính sách của Đảng đối với các đảng phái đốilập là thực hiện hoà hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc, nhưng rất linh hoạtmềm dẻo về sách lược
Trang 28Về nguyên tắc chiến lược: Thực hiện hoà hoãn, phải giữ vững chủquyền dân tộc, giữ vững mục tiêu độc lập, thống nhất đất nước, giữ vữngchính quyền cách mạng và thành quả cách mạng, nhân nhượng nhưng khônglàm cho quần chúng hoang mang, dao động.
Điều này được thể hiện trong các văn bản ký kết của ta với các đảngphái phản động khi đó, luôn đặt lên hàng đầu nguyên tắc độc lập, thống nhất,chủ quyền quốc gia
Tuyên ngôn đoàn kết giữa Việt Nam cách mạng đồng minh hội và ViệtNam độc lập đồng minh ngày 23/10/1945 cam kết đoàn kết vì mục tiêu ủng
hộ chính phủ, chống âm mưu của thực dân Pháp, giữ vững nền tự do, độc lậpcủa Việt Nam dân chủ cộng hoà
Bản cam kết ngày 19/11/1945 về hợp tác giữa Việt Nam cách mạng đồngminh hội, Việt Nam quốc dân Đảng và Việt Minh xác định các nguyên tắc tối caocủa sự hợp tác Trong đó nói rõ các đảng phái hoạt động theo nguyên tắc tự dophát triển vì sự sinh tồn của quốc gia, chứ không dùng thủ đoạn phi pháp để pháhoại lẫn nhau Không gây đổ máu giữa người Việt Nam với nhau Cương quyếtchống lại âm mưu của thực dân đế quốc, chống lại nền độc lập, thống nhất củaViệt Nam
Trong bản tinh thần đoàn kết ký ngày 24/11/1945 giữa Việt Nam cáchmạng đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng và Việt Minh… đều xác lập vàyêu cầu các đảng phái cam kết giữ vững độc lập, thống nhất, giữ vững chínhquyền cách mạng, chống âm mưu, hành động xâm lược của đế quốc…
Về sách lược giữa ta và các đảng phái phải hết sức linh hoạt, mềm dẻotrong hoà hoãn
Việc Đảng ta tuyên bố tự giải tán (11/11/1945) làm thất bại âm mưu lật
đổ chính quyền cách mạng của các đảng phái phản động
Việc Đảng ta cho bọn Việt quốc, Việt cách tham gia vào Quốc hội và bộmáy chính quyền, dành cho chúng những cương vị quan trọng trong Chínhphủ là một sự nhân nhượng lớn
Cụ thể, ta đã dành cho bọn tay sai 70 ghế trong Quốc hội, trong đó 50ghế cho Việt quốc và 20 ghế cho Việt cách Ngày 02/3/1946, Quốc hội khoá I
Trang 29đã họp và thông qua danh sách Đại biểu Quốc hội của Việt quốc, Việt cách(mặc dù chúng không tham gia bầu cử) như sau:
Nguyễn Hải Thần (Việt cách – Phó Chủ tịch nước)
Nguyễn Tường Tam (Bộ trưởng Ngoại giao)
Chu Bá Phượng (Bộ trưởng Kinh tế)
Vũ Hồng Khanh được cử làm Phó Chủ tịch Quân sự uỷ viên Hội
Cụ Huỳnh Thúc Kháng (Người không đảng phái) làm Bộ trưởng Nội vụPhan Hải Anh (Người không đảng phái) nắm chức Bộ trưởng BộQuốc phòng
Đó là những sự nhân nhượng lớn nhưng không vi phạm nguyên tắc củacách mạng lúc bấy giờ là giữ vững độc lập dân tộc, giữ vững vai trò lãnh đạo củaĐảng, giữ vững chính quyền cách mạng, giữ vững quyền làm chủ của nhân dân,củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng
3 Một số kinh nghiệm từ trong thực hiện đa đảng thời kỳ 1945-1946
Kinh nghiệm thứ nhất, đánh giá đúng tình hình địch – ta để định ra đối sách phù hợp.
Chấp nhận đa đảng khi tương quan lực lượng không có lợi cho ta, bắt buộc
ta phải thực hiện đa đảng, phải hoà hoãn, nhân nhượng với các đảng phái đối lập,nhưng không vi phạm nguyên tắc tối cao làm ảnh hưởng đến độc lập dân tộc,thành quả của cách mạng đã giành được Muốn vậy, phải hiểu rõ âm mưu, thủđoạn của từng loại kẻ thù Đánh giá đúng điểm mạnh, điểm yếu của các đảng pháicũng như những hạn chế của ta Trên cơ sở đó, phải biết triệt để lợi dụng mâuthuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, khoét sâu mâu thuẫn kẻ thù, làm cho kẻ thù suy yếu
Thời kỳ 1945-1946, chỗ mạnh của các đảng phái là chúng làm tay saicho quân Tưởng (Quân Tưởng với danh nghĩa là quân Đồng minh vào nước ta
để giải giáp vũ khí quân đội Nhật) Nhưng chỗ yếu của các đảng phái phảnđộng cũng là chỗ yếu của quân Tưởng đó là đội quân ô hợp, phản bội Tổ quốc
và Nhân dân, chiến đấu không có mục tiêu, lý tưởng rõ ràng
Chỗ mạnh của ta là khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo đúngđắn, tài giỏi của Đảng, của Bác Có Mặt trận Việt Minh được tổ chức chặt chẽ
từ Trung ương xuống cơ sở Hạn chế của ta là chính quyền cách mạng mới
Trang 30thành lập, thù trong giặc ngoài thực hiện âm mưu tiêu diệt chính quyền cáchmạng Bên cạnh đó, giặc đói, giặc dốt hoành hành gây cho ta nhiều khó khăn.
Đánh giá đúng so sánh lực lượng giữa ta và các đảng phái là cơ sở để đề rađối sách, xác định chiến lược, sách lược hoà hoãn, nhân nhượng phù hợp
Kinh nghiệm thứ hai: Xây dựng thực lực và dựa chắc vào lực lượng cách mạng trong qúa trình hoà hoãn.
Hoà hoãn, nhân nhượng với kẻ thù là một hình thức đấu tranh cách mạngrất điển hình trong thời kỳ 1945-1946 Cũng như những hình thức đấu tranh cáchmạng khác, bao giờ chúng ta cũng phải chú trọng xây dựng thực lực cách mạngmạnh, coi đó là cơ sở, là chỗ dựa, có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng
Xây dựng thực lực cách mạng phải toàn diện: xây dựng lực lượng lãnhđạo (Đảng), lực lượng chính trị (Mặt trận Việt Minh), lực lượng vũ trang, xâydựng các thực lực kinh tế, chính trị, xã hội…Đồng thời phải biết sử dụng cáclực lượng đó đúng lúc, đúng cách
Kinh nghiệm thứ ba: Hoà hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc là sách lược đúng đắn để vượt qua thử thách hiểm nghèo, đưa cách mạng tiến lên.
Thời kỳ 1945-1946, thực hiện đa đảng, hoà hoãn, nhân nhượng cónguyên tắc với các thế lực phản động nhằm giữ vững mục tiêu cách mạng, thànhquả cách mạng Nguyên tắc phải cứng rắn Sách lược phải linh hoạt, phải mềmdẻo Khi có điều kiện, khi lực lượng đủ mạnh phải chủ động giải quyết ngaynhững vấn đề thoả hiệp, nhân nhượng ta đã ký với các đảng phái phản động, gạt
bỏ ngay các đảng phái phản động ra khỏi chính phủ, quốc hội, và các tổ chứcchính trị khác
Kinh nghiệm thứ tư: Xây dựng Đảng vững mạnh là điều kiện tiên quyết
để thực hiện hoà hoãn, nhân nhượng với các đảng phái phản động trong thời
kỳ đa đảng.
Muốn thực hiện thắng lợi sách lược hoà hoãn, nhân nhượng trong thời
kỳ đa đảng, phải xây dựng và dựa vào thực lực của cách mạng Trong đó, lựclượng lãnh đạo là quan trọng hàng đầu Muốn vậy, phải xây dựng Đảng vữngmạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đảm bảo cho Đảng ở đâu có quầnchúng phải có đảng viên, có tổ chức Đảng để lãnh đạo phong trào Đặc biệtquan tâm xây dựng Đảng về chính trị, đảm bảo cho Đảng có đường lối chính
Trang 31trị đúng đắn, có phương pháp cách mạng phù hợp để đánh bại mọi âm mưu,thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực phản động.
Phải xây dựng mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân ngày càng vữngchắc; loại trừ những phần tử cơ hội, bất mãn trong Đảng, chống phá Đảng,chống phá cách mạng
Thực tiễn thời kỳ 1945-1946 Đảng đã chú trọng đặc bịêt đến công tácxây dựng Đảng Mặc dù Đảng tuyên bố tự giải tán nhưng vẫn giữ độc quyềnlãnh đạo, đưa cách mạng đến thành công
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Cơ sở buộc Đảng phải chấp nhận thời kỳ đa đảng (1945-1946)
2 Nguyên tắc và đối sách của Đảng trong thời kỳ thực hiện đa đảng(1945-1946)
3 Kinh nghiệm rút ra trong thời kỳ đa đảng, ý nghĩa lịch sử, hiện thực
TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tài liệu tham khảo bắt buộc
1 Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng, VKĐ, Toàn tập, tập 2, Nxb
Chính trị Quốc gia, H tr.2-9
2 Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 19981
3 Luận cương chánh trị của Đảng, VKĐ, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, tr.88-103
4 Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (11-1939, tr.509-567),7 (11-1940, tr 20-82), 8 (5-1941, tr 96-136), VKĐ, Toàn tập, tập
6,7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
5 Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng 1951), VKĐ, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 427-496
(2-* Tài liệu tham khảo không bắt buộc
7.Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Vấn đề dân cày, Nhà xuất bản Sựthật, Hà Nội, 1959
8.Lâm Quang Huyên, Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nhà xuất bảnKhoa học xã hội, Hà Nội, 2007
Trang 329.Lê Quỳnh Nga, Tìm hiểu chính sách ruộng đất của Đảng trong khángchiến chống Pháp (1930-1954), Tạp chí Lịch sử Đảng tháng 3/2007.
10 Trịnh Nhu, Lịch sử phong trào nông dân và Hội nông dân ViệtNam (1930-1945), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
11 Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, Thắng lợi và bài học,Nxb CTQG, H.1996
12 Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Thắng lợi và bàihọc, Nxb CTQG, H.1995
Trang 33Chuyên đề 3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ RUỘNG ĐẤT TRONG CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN
MỤC TIÊU
- Về kiến thức: giúp người học nắm được chủ trương và sự chỉ đạo của
Đảng giải quyết vấn đề ruộng đất (1930-1975); nắm vững kết quả, hạn chếnguyên nhân và những kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo giảiquyết vấn đề ruộng đất trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
- Về kỹ năng: giúp học viên phát triển phương pháp tư duy khoa học
độc lập, nâng cao khả năng vận dụng, giải quyết các vấn đề liên quan đếnruộng đất, vấn đề nông dân, nông thôn trong thực tiễn đặt ra hiện nay
- Về tư tưởng: Qua nghiên cứu chuyên đề này, học viên khẳng định chủ
trương giải quyết vấn đề ruộng đất của Đảng trong CMDTDCND tuy cònnhững hạn chế, yếu kém nhưng thắng lợi là cơ bản, đem lại ruộng đất chonông dân; qua đó củng cố niềm tin, tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận
tư tưởng, lý luận chống những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng
Trên thực tế, đã có nhiều cách hiểu về nông nghiệp khác nhau Theonghĩa rộng: Nông nghiệp bao gồm rất nhiều ngành sản xuất, đó là: nông, lâm, ngư,diêm Theo nghĩa hẹp thì: Nông nghiệp chỉ gồm hai lĩnh vực chính, đó là: trồngtrọt và chăn nuôi
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vựcliên quan đến xã hội và cuộc sống của con người, những thành tựu của khoa học
Trang 34công nghệ đã làm thay đổi nhiều quan niệm cũ từng tồn tại rất lâu trong lịch sử.Tuy nhiên, hiện nay nông nghiệp vẫn là ngành duy nhất tạo ra các loại thức ăn cho
con người và những động vật do con người chăn nuôi.
Ruộng đất
Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất
và là tư liệu sản xuất đặc biệt Có nhiều tư liệu khác nhau cùng tham gia vào quá
trình sản xuất nông nghiệp; tuy nhiên, ruộng đất là tư liệu quan trọng hàng đầu
của người nông dân Con người sinh sôi và phát triển không ngừng; nhưng ruộngđất thì đang có xu hướng thu hẹp do đô thị hóa, do nước biển dâng…
Ruộng đất và giải quyết vấn đề ruộng đất là nội dung được Đảng, Nhànước rất quan tâm trong quá trình lãnh đạo cách mạng và công cuộc đổi mới hiệnnay
Ruộng đất là công thổ quốc gia do Nhà nước thống nhất quản lý, nhân dân
có quyền sử dụng Trong phần mở đầu của Luật Đất đai đã ghi rõ: “Đất đai là tàinguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọnghàng đầu của môi trường sống…” Ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân với chủ đạidiện là Nhà nước, người dân được Nhà nước chia để quản lý, sử dụng và canh táctrên phần đất đai được chia của mình
Nông dân
Nông dân là những người lao động cư trú ở khu vực nông thôn, thamgia chủ yếu vào quá trình sản xuất nông nghiệp, nguồn sống chủ yếu là từnông sản Dù tư liệu sản xuất có phát triển cao đến đâu nhưng chính ngườinông dân trực tiếp lao động trên đồng ruộng đóng vai trò là nhân tố quyếtđịnh của quá trình sản xuất nông nghiệp
Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, những người nông dân hìnhthành nên giai cấp và có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội Trong lịch sử,nhiều nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã tạo điều kiện phát triển giaicấp nông dân và có ảnh hưởng nhất định đối với xã hội
Trang 35Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc vào các tầnglớp trên, thường phải lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năngsuất lao động không cao Dưới thời phong kiến, đại đa số nông dân Việt Namthiếu hoặc không có ruộng đất, phải đi làm thuê, vì vậy họ luôn khát vọng đượchoàn toàn làm chủ trên phần ruộng đất thuộc về mình.
Quan hệ giữa nông dân và ruộng đất
Nếu nông dân làm chủ ruộng đất thì họ cũng làm chủ quá trình sản xuất vàcác sản phẩm hoa lợi từ đất đai Do được làm chủ phần đất đai của mình, nên họthường xuyên quan tâm, chăm sóc, cải tạo để ruộng đất ngày càng phì nhiêu hơn.Sau quá trình lao động, ngoài những phần chi phí sản xuất và phần thuế đóng choNhà nước, họ được hưởng thành quả lao động của mình
Nếu nông dân chỉ là người làm thuê trên mảnh đất thuộc sở hữu của ngườikhác thì họ chỉ được trả công một phần nhỏ sản phẩm thu hoạch từ đất, phần thunhập chính thuộc về chủ đất, thuộc về giai cấp bóc lột Vì vậy, nông dân khônggắn bó với ruộng đất, không quan tâm cải tạo đất, cải tiến giống, quy trình sảnxuất, năng xuất và hiệu quả lao động, họ làm việc thụ động, thiếu động lực
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân và đất đai, nông dân được làmchủ ruộng đất sẽ tạo động lực trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp phát triển Cóchính sách ruộng đất phù hợp, đảm bảo lợi ích cho nông dân, động viên nông dângắn bó với ruộng đất, với chính quê hương của mình
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh về ruộng đất 1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn phê phán chế độ chiếm hữu tư
nhân về tư liệu sản, cơ sở xã hội của chế độ bóc lột và bất công Dưới chế độphong kiến, phần lớn ruộng đất nằm trong tay địa chủ, còn nông dân chỉ là ngườilàm thuê, địa chủ chiếm đoạt sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra Sự bất công
đã cản trở sự phát triển của xã hội Nhiệm vụ đặt đặt ra cho nhân loại là phải tướcđoạt đối với bọn chiếm hữu ruộng đất, đưa người nông dân vào vị trí làm chủ
Trang 36ruộng đất Quốc hữu hóa ruộng đất là tất yếu và là yêu cầu của xã hội; ruộng đấtphải thuộc về nông dân, địa tô phải thuộc về quỹ chi tiêu của Nhà nước, phục vụlợi ích cho số đông Đây là mục tiêu và là điều kiện bảo đảm cho thắng lợi củacách mạng
Sau khi chính quyền về tay nhân dân, cần quan tâm giải quyết vấn đề ruộngđất, đây là nguyện vọng ngàn đời của mỗi người nông dân Vì bị tước đoạt, nênnông dân đã đi theo cách mạng để đòi lại ruộng đất mà ông cha họ đã khai phá,phát triển và lưu truyền Sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, vào 2 giờđêm ngày 27/10/1917 (tức 8/11), cùng với “Sắc lệnh về hòa bình” thì “Sắc lệnh vềruộng đất” đã được V I Lênin kí và ban hành
1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về ruộng đất
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh lên án gay gắt đế quốc thực dân và phongkiến cấu kết với nhau để tước đoạt ruộng đất và bóc lột nông dân Người cho rằng:
Bị tước đoạt ruộng đất là căn nguyên của áp bức, bất công và đói nghèo đối vớingười nông dân Ngay trong Hội nghị Quốc tế nông dân (10/1923) và trên rất
nhiều các diễn đàn khác nhau Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp
(1925), Hồ Chí Minh đã phản đối và lột bộ mặt tàn ác của đế quốc thực dân,phong kiến đối với nông dân ở các thuộc địa, trong đó có Việt Nam và các nướcĐông Dương
Hồ Chí Minh đề ra nhiệm vụ giải phóng nông dân khỏi ách cai trị phảnđộng của đế quốc và phong kiến; giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóngnông dân Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởithảo đã xác định: “…chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cáchmạng để đi đến xã hội cộng sản”8 Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chủtịch luôn quan tâm đến vấn đề ruộng đất và chỉ đạo giải quyết vấn đề ruộng đấtmột cách phù hợp khi có điều kiện, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng củanông dân cả nước
Trang 371.3 Kinh nghiệm giải quyết vấn đề ruộng đất ở một số nước trên thế giới Nước Nga Xôviết
“Sắc lệnh về ruộng đất” được V I Lênin kí và ban hành đã đáp ứng đượcnguyện vọng của nhân dân Nga; thể hiện sự quan tâm đúng và kịp thời của V I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga đối với vấn đề ruộng đất Sắc lệnh chỉ rõ: Thủ tiêungay lập tức quyền tư hữu về ruộng đất của bọn địa chủ và không bồi thường.Nông dân Nga được Nhà nước chia cho 163,8 triệu ha ruộng đất Nhờ đó, sức sảnxuất ở nông thôn phát triển mạnh, đời sống nông dân được cải thiện, bộ mặt nôngthôn khởi sắc
Mông Cổ
Là nước thứ hai sau Liên Xô tiến hành quốc hữu hóa ruộng đất năm 1921.Toàn bộ ruộng đất, súc vật đã được tước đoạt khỏi tay giai cấp bóc lột và chia chonông dân Cải cách ruộng đất ở Mông Cổ đã tạo sự phát triển mạnh mẽ cho ngànhnông nghiệp, nhất là lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt
Trung Quốc
Sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi (1949), vấn đề cải cách ruộng đấtđược đặt ra cấp bách Đến ngày 30/6/1950, Luật Cải cách ruộng đất được banhành và thực hiện triệt để, tạo ra khí thế cách mạng rất cao trong nông dân
Cải cách ruộng đất được tiến hành trong toàn quốc, trừ những vùng dân tộcthiểu số Đến năm 1952, cải cách ruộng đất cơ bản hoàn thành Quá trình chỉ đạocải cách ruộng đất của Trung Quốc đã để lại nhiều bài học quý
Cu Ba
Chính phủ Cu Ba và lãnh tụ Phiđen đặc biệt quan tâm đến vấn đề ruộngđất cho người lao động Ngày 01-1-1959, cách mạng Cu Ba thành công, đếntháng 5-1959, cuộc cải cách ruộng đất lần thứ nhất được tiến hành, Chính phủ
đã tịch thu ruộng đất, đồn điền lớn của tư bản ngoại quốc và giai cấp địa chủchia cho 200.000 nông dân Đến tháng 10-1963, Cu Ba thực hiện cải cáchruộng đất lần thứ hai, xóa bỏ hoàn toàn chế độ chiếm hữu ruộng đất của giaicấp phong kiến địa chủ
Trang 382 Quan hệ ruộng đất và các hình thức bóc lột nhân dân trong xã hội Việt Nam trước năm 1945
2.1 Đặc điểm sở hữu ruộng đất trước Cách mạng Tháng Tám
2.1.1.Chế độ quản lý ruộng đất hình thành và được luật hóa từ rất sớm
Các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý… dựng nền độc lập đã rất quantâm đến công tác quản lý ruộng đất và phát triển sản xuất Vua Lê Đại Hành
(980 - 1005) là vị vua đầu tiên tổ chức lễ “Tịch điền” vào đấu xuân năm mới để
cỗ vũ nhân dân hăng say sản xuất Các vua nhà Lý thường chủ trì dâng lễ ởĐàn Xã tắc để mong quốc thái dân an, mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi
Cùng với khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích đất nông nghiệp, ôngcha ta đã có nhiều hình thức khác nhau để mở rộng cương vực lãnh thổ, như:Thái sư Lê Văn Thịnh có công đòi lại các vùng đất khu vực biên giới do một
số tù trưởng người thiểu số dâng cho chính quyền phương Bắc Nguyễn CôngTrứ có công khai phá và tập hợp nhân dân lập làng mới ở vùng biển TháiBình, Nam Định và Ninh Bình…
Các quy định về quản lý ruộng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp
đã dần được đưa vào các văn bản luật dưới chế độ phong kiến Nhà Hồ banhành quy định “hạn điền” và “hạn nô”; nhà Hậu Lê quy định về chế độ banthưởng ruộng đất cho quan lại theo phẩm hàm và công trạng với mức tươngứng Nhà Nguyễn Gia Long quy định: Các vùng đất mới khai hoang Nhànước một phần, một phần thuộc về làng xã, phần còn lại thuộc về người dân
2.1.2 Cùng tồn tại đa dạng các hình thức quản lý ruộng đất
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trong quan hệ ruộng đất đãthêm một “chủ mới” tham gia chiếm đoạt; tuy nhiên, chế độ sở hữu ruộng đất
về cơ bản vẫn không thay đổi so với trước và tồn tại dưới các hình thức sau:
Chế độ ruộng đất công của Nhà nước
Đất công do Nhà nước thống nhất quản lý, được hình thành từ nhiềunguồn sung công khác nhau Là quỹ đất tạo nên “quốc khố” (ngân sách Nhà
Trang 39nước) và được nhà vua dùng để ban thưởng, xây dựng các công trình quốcphòng an ninh… Thời nhà Lý có hình thức “thác đao điền” để ban ruộng đấtcho quan lại từ Trung ương đến địa phương Thời Trần có hình thức ban thực
ấp cho quan lại, họ hành nhà vua… để xây dựng các điền trang, thái ấp
Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau nên Nhà nước quản lý đất côngkhá lỏng lẻo, đã tạo khe hở cho hàng ngũ trong giai cấp thống trị tìm cáchbiến đất công thành đất tư
Chế độ ruộng đất trong các làng xã
Là ruộng đất công nhưng do các làng xã quản lý, phân bổ nộp thuế.Ruộng đất của làng nào thì cứ ba năm mang ra chia lại cho đối tượng tronglàng Khi chia có chia đất ra các hạng: Nhất đẳng, nhị đẳng; các đối tượngđược chia cũng khác nhau: Quan lại, chức dịch, binh lính…
Trước khi chia, mỗi làng đều bớt một phần đất tốt để sử dụng vào việccông như: Bút điền, học điền, phật tự điền, ruộng tuần, ruộng giáo thụ… Đặcbiệt, các làng đều có đất “văn chỉ” là nơi làng xã dành riêng cho những ngườitheo con đường khoa cử, để tế lễ các bậc tiền nhân đỗ đạt trong làng
Chế độ ruộng đất tư
Trong lịch sử, chỉ có hai giai đoạn đó là trước thế kỉ 14 và trong thế kỉ
17, ruộng đất tư được phát triển mạnh, do nhu cầu phát triển thế lực của qúytộc (thế kỉ 14) và do sự tác động của chiến tranh (thế kỉ 17) Các thời kì còn lại,
sở hữu tư nhân về ruộng đất được Nhà nước khống chế và quản lý chặt chẽ.Thời Hồ Qúy Ly ban hành quy định hạn điền và hạn nô rất nổi tiếng bấy giờ
Đa số ruộng đất tư nằm trong tay bọn địa chủ, một số ít nằm trong tayphú nông và nông dân tự canh Sau này có chủ mới là thực dân Pháp
Một số loại ruộng tư trong làng xã: Ruộng “bản thôn điền thổ” là ruộng
do thôn quản lý, sử dụng vào mục đích chung của đại phương Ruộng hươnghỏa, ruộng giỗ… do cá nhân, dòng họ quản lý và sử dụng theo lệ làng Ruộngchùa, ruộng tam bảo thuộc về nhà chùa…
Trang 402.1.3 Quyền sở hữu ruộng đất tập trung vào giai cấp địa chủ phong kiến và một phần trong tay thực dân Pháp
Dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến, ruộng đất bị phân phối khôngđều cho các giai tầng trong xã hội và tập trung lớn vào giai cấp bóc lột Giaicấp địa chủ phong kiến chiếm khoảng 5% dân số nhưng chiếm tới 7/10 diệntích ruộng đất Giai cấp nông dân chiếm gần 95% dân số chỉ sử dụng mộtphần rất nhỏ, khoảng 3/10 diện tích canh tác
Ngoài ra ruộng đất còn nằm trong tay thực dân Pháp và một phần khálớn ruộng đất công của các nhà thờ, nhà chùa, dòng họ…
2.2 Các hình thức bóc lột cơ bản đối với giai cấp nông dân
2.2.1 Các hình thức bóc lột của địa chủ phong kiến
Thứ nhất, bóc lột bằng địa tô, bao gồm các hình thức cơ bản sau:
Tô đóng: Số thóc nông dân phải nộp cho địa chủ trên số đất địa chủ phátcanh cho nông dân đã ấn định trước (bất kể có thu hoạch được hay không)
Tô rẽ: Là hình thức thu tô theo sản lượng từng vụ được chia đôi giữanhà địa chủ và người nông dân, nông dân bỏ hết giống vốn và lao động(Thường được bọn địa chủ nhỏ áp dụng)
Tô lao dịch: Mọi việc làm đều do nông dân, còn địa chủ quản lý, nhưngchúng lấy vụ chính (vụ mùa), nông dân thu vụ phụ (vụ chiêm)
Ngoài tô chính, người nông dân còn phải nộp tô phụ rất hà khắc chonhà địa chủ như hình thức cống nạp, lễ lạt trong những ngày lễ, ngày tết
Thứ hai, bóc lột bằng nợ lãi
Sau khi nộp tô, nông dân không còn đủ sản phẩm để nuôi sống gia
đình, phải đi vay lãi (lãi suất 20 - 50%, thậm chí là 100% nếu vào lúc giáp hạt) Khi đi vay thóc chiêm, nhưng khi trả phải bằng thóc vụ mùa Tình trạng
mua lúa non của nông dân cũng là hình thức cho vay nặng lãi cắt cổ
Thứ ba, bóc lột bằng chế độ làm công nô lệ
Là hình thức phổ biến của địa chủ vừa và nhỏ (thuê theo năm, vụ, ngày) Vídụ: Họ thuê những lực điền làm ruộng, thuê phụ nữ, trẻ em trăn trâu cả năm… Thực